Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 22 tháng 1, 2018

Sừng tê giác, vi cá mập & quốc thể


Mai Quốc Ấn - Nếu search cụm từ “Đại sứ quán” + “sừng tê giác” bạn sẽ có một kết quả thú vị đến… đau lòng. Gần đây, cụm từ “Đại sứ quán” + “vi cá mập” đang hot. Nếu muốn tìm hiểu thêm bạn có thể search thêm cụm từ “Đại sứ quán” + “bê bối”. Và tôi tự hỏi liệu có những kẻ đang trục lợi từ danh dự quốc gia (quốc thể)?


Hàng trăm vây cá mập phơi trên nóc tòa nhà 
ĐSQ VN tại Chile. Ảnh http://m.elmostrador.cl
Đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài chính là hình ảnh Quốc gia Việt Nam trong lòng đất nước có quan hệ bang giao cấp Nhà nước! Xách sừng tê giác, phơi vi cá mập là một hành vi làm xấu tệ hình ảnh Quốc gia. Những người bạn tôi làm lĩnh vực môi trường dù trong hay ngoài nước coi đó là một hành vi man rợ của những kẻ mông muội coi sản phẩm từ động vật là thần dược.

Vi cá mập được phơi trên nóc nhà Đại sứ quán Việt Nam tại Chi Lê. Điều này có hay không thì Bộ Ngoại giao Việt Nam cũng phải lên tiếng. Nếu không, cần phản bác “luận điểm sai trái của các thế lực thù địch”. Nếu có, cần nghiêm trị những kẻ đã làm hoen ố hình ảnh Quốc gia thật thích đáng!

“Ngoại giao là một mặt trận quan trọng!”- đây là quan điểm xuyên suốt từ khi lập nước, cả thời chiến lẫn thời bình. Cán bộ ngoại giao là chiến sĩ trên mặt trận không tiếng súng ấy. Nếu có “chiến sĩ” ngoại giao nào phá hoại mặt trận ấy thì đó chính là loại “đào ngũ”, phản bội tổ chức và thậm chí có thể coi là tội phản quốc.

Mà phản quốc, thì không phải kiểm điểm nội bộ là xong!

Bộ Ngoại giao nếu còn im lặng trước vụ phơi vi cá mập ở Chile thì đó là thái độ vô trách nhiệm của cơ quan đối ngoại. Vì nếu báo chí Chile không đưa tin sai về vụ việc thì im lặng có thể coi là đồng lõa với hành vì sai trái quá nghiêm trọng tới Quốc thể.

Xin đặt lại vấn đề: Cũng như tội phản quốc, im lặng trước tội phản quốc của thuộc cấp thì không phải kiểm điểm nội bộ là xong! Vì đó là hành vì đồng phạm với bọn phản quốc!

Mai Quốc Ấn
(FB Mai Quốc Ấn)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nụ cười hy vọng hay tắt hẳn?


Phạm Chí Dũng - Trong lời khai của mình trước tòa, Đinh La Thăng đã trực chỉ trách nhiệm chỉ định thầu (một cách thức rất dễ sinh tiêu cực) xây dựng Nhà Máy Nhiệt Điện Thái Bình 2 là thuộc trách nhiệm của “chính phủ,” tức được hiểu là trách nhiệm của thủ tướng thời đó là Nguyễn Tấn Dũng. Kịch bản Đinh La Thăng đã “khai sạch” về Nguyễn Tấn Dũng ngay từ trong trại tạm giam ngày càng hiện rõ. Thậm chí trong tương lai không quá xa, Đinh La Thăng còn có thể trở thành nhân chứng để chống lại Nguyễn Tấn Dũng, nếu ông Dũng bị đưa ra tòa. Đó là lối thoát duy nhất của Đinh La Thăng. Và điều đó cũng như một cách giải thích hầu như duy nhất về nụ cười của Đinh La Thăng trong xe công an. 

Nụ cười của Đinh La Thăng trong xe công an - không thật sự tươi tắn và rạng rỡ, nhưng cả khóe miệng lẫn khóe mắt đều lóe lên ánh hy vọng. (Hình: Soha). 



Đinh La Thăng là người tính tình xởi lởi, hay bông đùa và hay cười. Thăng lại là người từng hoạt động và phụ trách một mảng của đoàn thanh niên cộng sản ở công trình thủy điện Sông Đà, có máu văn nghệ và thích thể hiện bằng cây đàn ghi ta, nên càng hay cười. Do vậy, khá dễ để đối sánh nụ cười trong quá khứ của Đinh La Thăng với nụ cười cùng những giọt nước mắt thăng trầm của ông vào lúc sa cơ lỡ vận.

Hiện tại, Thăng không còn ngồi rung đùi ôm cây đàn ghi ta cùng cái cười hết ga, cái cười xả láng và rất anh chị của một thời uy quyền tung hoành, mà phải rên rỉ trong phòng xử của tòa án để sau đó đi thẳng về buồng tạm giam của công an.

Trong buổi chiều ngày xử án thứ tư của phiên tòa “Thăng – Thanh” vào Tháng Giêng, 2018, có một hình ảnh đáng ngạc nhiên và gây nhiều thắc mắc cho dư luận là, ngay sau khi bị Viện Kiểm Sát tối cao đề nghị mức án 14 – 15 năm, cựu ủy viên Bộ Chính Trị Đinh La Thăng – con người hay cười ấy – vẫn nở một nụ cười khi ngồi trong chiếc xe công an đưa trở lại trại tạm giam.

Nụ cười ấy lại không cho thấy vẻ gượng gạo cố cười, mà thực chất là cười khá tươi.


Kẻ biết sợ

Làm thế nào mà Đinh La Thăng lại cười được như thế, khi mức án 14 – 15 năm tù giam là quá nặng cho tội danh “cố ý làm trái…” của ông, trong một phiên xử không chứng minh được Thăng tham nhũng và cũng chẳng làm rõ được việc Thăng, dù cố ý làm trái, nhưng không hẳn gây ra “hậu quả nghiêm trọng,” cho dù người đời thừa hiểu những quan chức làm kinh tế như Đinh La Thăng có quá nhiều cơ hội chấm mút và rất có thể đã chấm mút quá nhiều, quá đủ các loại tiền?

Nếu không phải là cố gượng cười để tỏ mặt yêng hùng, phải chăng Đinh La Thăng vẫn chưa thấm, chưa hình dung được tương lai hàng chục năm đằng đẵng trong phòng giam tối lạnh cô đơn chỉ biết “chăn kiến,” chưa biết sợ cái viễn cảnh “một ngày tù ngàn thu ở ngoài?”

Nhưng chỉ một ngày sau nụ cười trong xe công an, trong phần tự bào chữa của mình tại tòa, Đinh La Thăng đã sụt sùi xin tòa: “Việc xử lý để tạo cơ hội cho cán bộ sửa chữa, bản thân gia đình bị cáo, bố mắc bệnh hiểm nghèo, có 2 con gái, 1 cháu phát triển không bình thường, rất cần sự chăm sóc của bố mẹ… Khả năng, khi bố bị cáo mất, bị cáo khó có điều kiện gặp bố, cũng như chăm sóc gia đình và chăm sóc con gái…” Bản thân bị cáo bị rất nhiều bệnh. Bị cáo chỉ mong muốn làm sao chấp hành án, trước khi chết thì được ra tù để được chết tại nhà mình, trong vòng tay người thân. Bị cáo cũng mong muốn, nếu có chết thì là ma tự do, chứ không phải ma tù…”

Biểu cảm trong lời tự bào chữa lâm ly trên được dư luận đánh giá là thật, bởi ở Đinh La Thăng đã biến mất vẻ ngông nghênh tự mãn và coi trời bằng vung trước đó. Cũng khác hẳn với với thái độ vẫn còn giữ cung cách quan quyền khi tiếp xúc với luật sư trong trại tạm giam, khẩu khí của Đinh La Thăng đã “cừu” hẳn.

Chỉ còn một cách giải thích: như một con sói rừng đã được thuần hóa, hoặc ít ra cũng có vẻ bớt hoang dã và hung dữ, Đinh La Thăng đã thực sự phải nhận một trận đòn đau và đã thực sự biết sợ.

Chí ít, việc Đinh La Thăng dùng từ lóng “ma trong tù” rất đặc thù của nhà tù đã cho thấy cựu ủy viên bộ chính trị này bắt đầu thấm cảnh tù đày và cũng bắt đầu run sợ trước tương lai.

Tương lai ấy, phía trước Đinh La Thăng lại là một vụ án khác: vụ 800 tỷ đồng của Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam mà chính Đinh La Thăng đã quá nhiệt tình chỉ đạo gửi vào Ngân Hàng Đại Dương của Hà Văn Thắm, để số tiền này sau đó đã hoàn toàn biến mất.

Biến mất hay biến vào túi ai?
Nhiều dư luận và cả những nguồn tin khá tin cậy cho biết chính Đinh La Thăng đã chấm mút một phần không nhỏ số tiền 800 tỷ đồng đó.

Nếu vụ “800 tỷ” bị phanh phui làm rõ và chứng minh được Đinh La Thăng tham gia tham nhũng số tiền này, tội danh dành cho Thăng sẽ không chỉ là “cố ý làm trái…” mà sẽ là “chiếm đoạt tài sản…” – với một mức án có thể lên tới vài ba chục năm hoặc chung thân.Đó chính là tương lai mà Đinh La Thăng sợ hãi khi trần tình trước tòa, xin tòa không nên từ một tội danh để tách thành hai vụ mà “bất lợi cho bị cáo.”

Và một khi đã biết sợ, đã đủ sợ, con người ta sẽ tự biết tìm đường sống cho mình.

Vẫn nụ cười hy vọng hay tắt hẳn?

Giờ đây, Đinh La Thăng đã trở về buồng giam công an với cái án tù giam nhiều năm trời. Hy vọng ở phiên tòa đầu tiên về một kết thúc không đến nỗi nào đã biến thành nước mắt nuốt vào trong.

Nhưng có lẽ Đinh La Thăng vẫn còn hy vọng, dù là một niềm hy vọng có phần vô vọng.

Hẳn Đinh La Thăng, qua luật sư, đã biết việc không phải ngẫu nhiên, mà rất có chủ ý rằng trước khi phiên tòa “Thăng- Thanh” được mở, cả Cơ Quan Điều Tra lẫn Viện Kiểm Sát Tối Cao đều chủ ý thông tin cho báo chí là “Đinh La Thăng đã thành khẩn khai báo.”

Cũng không thể ngẫu nhiên khi trong lời khai của mình trước tòa, Đinh La Thăng đã trực chỉ trách nhiệm chỉ định thầu (một cách thức rất dễ sinh tiêu cực) xây dựng Nhà Máy Nhiệt Điện Thái Bình 2 là thuộc trách nhiệm của “chính phủ,” tức được hiểu là trách nhiệm của thủ tướng thời đó là Nguyễn Tấn Dũng.

Nguyễn Tấn Dũng lại là “đối thủ truyền kiếp” của Nguyễn Phú Trọng. Cho tới giờ, không còn hồ nghi gì nữa, ông Trọng hẳn rất muốn đưa ông Dũng ra tòa. Một phiên tòa còn “lịch sử” hơn nhiều so với vụ xử “Thăng – Thanh.”

Kịch bản Đinh La Thăng đã “khai sạch” về Nguyễn Tấn Dũng ngay từ trong trại tạm giam ngày càng hiện rõ. Thậm chí trong tương lai không quá xa, Đinh La Thăng còn có thể trở thành nhân chứng để chống lại Nguyễn Tấn Dũng, nếu ông Dũng bị đưa ra tòa.

Đó là lối thoát duy nhất của Đinh La Thăng. Và điều đó cũng như một cách giải thích hầu như duy nhất về nụ cười của Đinh La Thăng trong xe công an. Một nụ cười không thật sự tươi tắn và rạng rỡ, nhưng cả khóe miệng lẫn khóe mắt đều lóe lên ánh hy vọng. Có thể khi đó Thăng đã đã đạt được một kết quả khả quan nào đó trong “đàm phán” với cơ quan chức năng, đã nhận được một lời hứa hẹn nào đó để hy vọng sớm thoát tù của ông lại bay bổng.

Một nụ cười khấp khởi hy vọng. Hoặc ít nhất cũng là hy vọng thoát chết và thoát án chung thân để không phải làm “ma trong tù” mà sẽ được là “ma tự do.”

Nhưng liệu Đinh La Thăng có biết tận dụng cơ hội cuối cùng cho mình? Hay là không?

Những người thương cảm cho số phận của Đinh La Thăng thật ái ngại khi kết thúc phiên tòa “119 tỷ đồng” vẫn chưa có ánh sáng nào rạng lên. Thay cho nụ cười hy vọng trước đó, ánh mắt Đinh La Thăng âm u hẳn.

Dù biết Thăng là kẻ xài tiền như nước, các đồng chí của ông vẫn chẳng tìm ra chứng cứ nào đủ thuyết phục. Một trong những lần hiếm hoi người ta chứng kiến hiện tượng “quan oan.”
Phía trước ông vẫn còn một phiên tòa nữa, ít nhất một phiên tòa nữa. Nụ cười trong Thăng sẽ tắt hẳn chăng?

Phạm Chí Dũng
(Người Việt)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin buồn!


Ảnh chụp màn hình tấm bằng tốt nghiệp đại học bị đốt. (Ảnh: Đ.Q) 
 
Cựu sinh viên Trường Đại học Kinh tế 
Thành phố Hồ Chí Minh… đốt bằng đại học 
Báo Giáo dục
06:22 22/01/18

(GDVN) - Cựu sinh viên Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh lại đốt bằng tốt nghiệp khiến nhiều người phải suy ngẫm. 
Kỹ sư cơ khí Bách Khoa đi bán trà, từng nghĩ chuyện đốt bằng

Ngày 21/01, trên mạng xã hội xuất hiện một cựu sinh viên của Trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đốt bằng đại học. Hành động của cậu sinh viên nhanh chóng được dư luận quan tâm.

Đoạn clip dài hơn 2 phút, diễn tả cựu sinh viên tẩm hóa chất lên tấm bằng đại học rồi phóng hỏa đốt và được đăng trên trang cá nhân. 
 
Cậu sinh viên đăng tải cảm nghĩ của bản thân: “Cảm giác không còn gì để làm chỗ dựa sẽ khiến người ta cố gắng nhiều hơn. P/s: Từ bỏ mọi thứ để đến với ước mơ”.

Nhiều câu hỏi, chia sẻ của bạn bè về hành động của cậu sinh viên tỏ vẻ “phấn khích” trước việc làm trên.

Tìm hiểu của Phóng viên Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam, cựu sinh viên họ tên đầy đủ là Phạm A.T., sinh năm 1992, quê Tiền Giang, tốt nghiệp Hệ đại học Chính quy, chuyên ngành Chứng khoán, ngành đào tạo Tài chính – Ngân hàng.

T. là sinh viên khóa K36, tốt nghiệp đại học xếp hạng Trung bình khá và năm tốt nghiệp 2014...

Hiện vẫn chưa rõ cựu sinh viên này đốt bằng Đại học với lý do gì, nhưng việc hủy hoại bằng cấp như T. đã từng gây sóng gió trong dư luận. 

Đan Quỳnh


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 21 tháng 1, 2018

Tranh cãi về ‘Di chúc Lenin muốn loại Stalin’


Một trong những vấn đề còn gây tranh cãi về lịch sử Liên Xô xoay quanh tài liệu thường được gọi là “Di chúc” của Vladimir Ilyich Lenin (1870-1924).
Trong văn bản ngắn ngủi chỉ khoảng 600 chữ, Lenin đã lên án Stalin và kêu gọi các đồng chí của mình loại Stalin ra khỏi chức Tổng bí thư.
Từ 1922 đến 1924, lãnh tụ vô sản và là người sáng lập liên bang Xô Viết bị nhiều lần đột quỵ, khiến ông rốt cuộc gần như bất động, dẫn tới việc không kịp sắp xếp người kế vị.
Từ ngày 22/12/1922 đến 4/1/1923, Lenin bắt đầu đọc nội dung “Di chúc”, chủ yếu cho người thư ký Maria Volodicheva.
Ông yêu cầu đánh máy thành 5 bản. Lenin giữ một, ba bản đưa cho người vợ Nadezhda Konstantinovna, và một cho ban bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô có dấu “tuyệt mật”.
Trong văn bản này, Lenin không nêu ai sẽ thay ông, và cũng chỉ ra yếu kém của toàn bộ những nhân vật cao nhất trong đảng, từ Stalin tới Trotsky, Kamenev, Zinoviev và Bukharin.

Phê phán Stalin

Phần viết về Stalin tháng 12/1922 nói: “Đồng chí Stalin, sau khi thành Tổng bí thư, đã tích lũy trong tay mình quyền lực vô hạn, và tôi không chắc, liệu đồng chí có thể, luôn luôn sử dụng quyền lực này thận trọng và thích hợp.”
Đoạn viết tháng Giêng 1923 nói tiếp: “Stalin quá thô lỗ, và điểm yếu này, tuy có thể chấp nhận được trong các đồng chí, lại trở nên không thể chấp nhận cho một Tổng bí thư. Vì vậy tôi đề nghị các đồng chí nghĩ cách đưa Stalin ra khỏi vị trí này, và bổ nhiệm một người khác biệt với đồng chí Stalin, dung thứ hơn, trung thành hơn, lịch sự hơn, và quan tâm nhiều hơn đến các đồng chí khác, ít thất thường, vân vân.”
“Hoàn cảnh này có vẻ chỉ là chi tiết nhỏ, nhưng tôi cảm thấy, từ quan điểm ngăn chặn sự chia rẽ trong tương lai, và từng những gì tôi đã viết về quan hệ giữa Stalin và Trotsky, đây không phải là việc nhỏ, hoặc là một việc lặt vặt như vậy lại có thể trở nên rất quan trọng.”
Lenin qua đời lúc 6.50 tối ngày 21/1/1924, khi chỉ mới 53 tuổi.

Bỏ qua ‘Di chúc’

Bộ tam quyền lực lúc này – Stalin, Kamenev và Zinoviev – lo lắng về nội dung văn bản, nhất là khi người vợ Lenin, Nadya, muốn công bố nội dung trên khắp nước để loại bỏ Stalin.
Bà Nadya cố gắng vận động để ý muốn của chồng được thi hành, nhưng bà không có quyền lực.
Một nguyên do giới chóp bu Liên Xô không muốn công bố văn bản rộng rãi, vì tất cả họ đều bị Lenin phê phán trong tài liệu.
Sau lễ tang Lenin, Đại hội Đảng Cộng sản nhóm họp tháng Năm 1924.
Một phần “Di chúc chính trị” được Kamenev đọc, nhưng đã bỏ đi phần Lenin kêu gọi loại trừ Stalin.
Tại Đại hội toàn thể này, các đại biểu bị cấm ghi chép, và không được kể lại với ai bên ngoài về văn bản.
Một cuộc bỏ phiếu diễn ra, và tất cả cùng “thông qua” nội dung văn bản.
Sau đó, tại một cuộc họp nhỏ hơn của Ban chấp hành trung ương, quy định giống hệt như vậy được thực thi, mặc dù lần này Trung ương đảng được nghe trọn vẹn nội dung “Di chúc”.
Có chút ngỡ ngàng nhưng rồi Zinoviev phát biểu: “Mỗi lời nói của Ilyich đều là luật pháp. Chúng ta đã thề thực hiện mọi điều Lenin ra lệnh.”
“Nhưng có một điểm mà lo lắng của Lenin không có cơ sở. Đó là về Tổng bí thư.”
Tất cả đồng ý để Stalin tiếp tục nắm quyền – ngay cả Trotsky cũng bỏ phiếu tán thành.
Cuộc đấu đá chính trị diễn ra sau đó. Nạn nhân ban đầu là Trotsky, đối thủ hàng đầu của Stalin nhưng lại bị giới chóp bu rất ghét vì cho là kiêu ngạo. Ông ta bị khai trừ khỏi đảng tháng 11/1927.
Nhưng hai nhân vật trong bộ tam quyền lực, Kamenev và Zinoviev, cũng không sống lâu. Cả hai bị xử bắn năm 1936.
Nikolai Bukharin, đồng minh chính giúp Stalin loại bỏ Trotsky, bị hành hình năm 1938.
Nội dung “Di chúc chính trị” của Lenin không được công bố rộng rãi ở Liên Xô, tuy nó được báo Mỹ New York Times công bố năm 1926.
Tại Liên Xô, cho mãi tới năm 1956, khi Stalin đã qua đời, nó mới được Nikita Khrushchev tiết lộ trong bài diễn văn lên án Stalin.
Trong bài nói chuyện tại phiên họp kín đại hội ĐCSLX lần thứ XX ngày 25 tháng Hai năm 1956, Khrushchev nói: “Trí tuệ sáng suốt của Lenin còn thể hiện ở chỗ đồng chí đã để ý kịp thời nhiều đặc điểm tiêu cực của Stalin, là cái sau này đã mang lại những hậu quả rất tồi tệ.”

Có thật là của Lenin?

Ở trên là câu chuyện thường được kể về “Di chúc” của Lenin.
Tuy vậy, gần đây một sử gia Nga Valentin Sakharov cho rằng Lenin không phải là tác giả của các tài liệu này.
Ông Sakharov cho rằng các tác giả của huyền thoại “Di chúc Lenin” này “chỉ có thể là Trotsky, Fotijewa, Zinoviev, Bukharin”.
“Họ đã chờ cho đến khi Lenin không còn có thể viết thư, sai khiến hay đọc các tài liệu, họ đã viết các văn bản này như một biện pháp chính trị của cuộc đấu chống Stalin,” sử gia Nga này cáo buộc.
Đến năm 2014, sử gia Mỹ Stephen Kotkin, từ Đại học Princeton, công bố tác phẩm đồ sộ Stalin Volume I: Paradoxes of Power, 1878-1928. Trong sách, Kotkin, dẫn lại Sakharov, tỏ ra nghi ngờ về tài liệu này.
Kotkin nhấn mạnh: “Tôi không hề xem cái gọi là Di chúc của Vladimir Lenin là bịa đặt.”
“Tôi chỉ ra, giống như học giả Nga Valentin Sakharov là người đầu tiên nói chi tiết, rằng không có bằng chứng vững chắc để xác nhận Lenin tạo ra văn bản.”
“Hoàn cảnh xuất hiện những lời đọc cho ghi được cho là của Lenin giai đoạn 1922-23 rất đáng nghi ngờ, và nội dung thì thay đổi theo năm tháng (cho đến lần in ấn bản thứ 5 của Toàn tập Lenin trong thập niên 1960)”.
Kotkin nói thêm rằng “Di chúc”, dù là ai viết ra, đã có “tác động rất lớn” đến Stalin.
Nó “ám ảnh ông ta” và đã “tác động đến tính cách” của Stalin, theo Kotkin.
Như vậy, tính chân thực của “Di chúc” của Lenin vẫn đang còn là vấn đề gây tranh luận.
Nguồn: BBC

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Di sản khủng khiếp' của ông Đinh La Thăng: Đâu chỉ có thế

Báo Thanh niên thông qua lời ông Dương Thanh Biểu đã kết luận hộ tòa: "Việc Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử với mức án 14 - 15 năm đối với bị cáo Đinh La Thăng là hoàn toàn phù hợp, là đã cân nhắc, xem xét đến quá trình cống hiến của bị cáo".
'Di sản khủng khiếp' của ông Đinh La Thăng: Đâu chỉ có thế
'Di sản' nổi bật nhất của ông Đinh La Thăng là hàng chục dự án BOT giao thông không đúng bản chất tốt đẹp của BOT, tạo ra nhiều bất cập, khó khăn mà giờ đây chúng ta đang phải tập trung xử lý. Ông Dương Thanh Biểu, nguyên Phó viện trưởng Viện KSND tối cao: Mức án đề nghị đã có giảm nhẹ rất lớn cho bị cáo

Hình minh họa
Hôm nay, sau 5 ngày nghị án, TAND TP.Hà Nội sẽ tuyên án vụ "cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng" và "tham ô tài sản" xảy ra tại Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) và Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí Việt Nam (PVC).


Đây là phiên tòa đầu tiên được tiến hành trên tinh thần cải cách tư pháp về cả nội dung lẫn hình thức; trong suốt 7 ngày tranh tụng, các luật sư đã được tạo điều kiện tranh biện một cách đầy đủ, có nhiều thời gian để bào chữa. Báo chí cũng được tạo điều kiện tối đa, người dân được biết nhiều hơn các thông tin tự nhận tội, xin tha lỗi cũng như những lập luận biện hộ cho các bị cáo. Tuy nhiên diễn biến tại tòa chưa cho thấy hết tính chất, mức độ nghiêm trọng của vụ án này và những sai phạm khác vốn chưa được đưa ra xét xử.

Hậu quả nghiêm trọng khôn lường
Con số 119 tỉ đồng thiệt hại mà các cơ quan tố tụng chứng minh được và con số 13 tỉ đồng tham ô, tạo cảm giác “hậu quả” có vẻ như “ít nghiêm trọng” hơn những gì mà nhiều người dân chờ đợi. Trên thực tế, đây chỉ là mức thiệt hại ban đầu được định lượng trong khi hành vi cố ý làm trái của các bị cáo đã làm cho thời gian thực hiện dự án Nhiệt điện Thái Bình 2 kéo dài gấp đôi, làm đội vốn đầu tư gần chục ngàn tỉ đồng, số tiền nếu phạt theo tiến độ của hợp đồng đã lên tới hàng trăm triệu USD. Đặc biệt, hàng nghìn tỉ đồng vốn tạm ứng đã được sử dụng tùy tiện, trái nguyên tắc, gây thất thoát rất lớn mà kết luận điều tra chưa thể làm rõ hết.

Đây cũng là sai phạm điển hình của PVN trong những năm mà bị cáo Đinh La Thăng giữ trọng trách cao nhất của tập đoàn. Thực tế cho thấy, bằng việc đầu tư, góp vốn tràn lan, dàn trải, thiếu kiểm soát, mang tính lợi ích nhóm đã dẫn tới việc kinh doanh thua lỗ, thất thoát vốn nhà nước hàng chục ngàn tỉ đồng ở nhiều dự án khác nữa chứ không riêng gì 2 vụ được đem ra xét xử.

Trước tòa, các bị cáo khai rằng, dù biết sai vẫn không ai dám làm trái ý Chủ tịch Đinh La Thăng. Cách làm của bị cáo Thăng, xét trên toàn cục các vi phạm thì không phải là quyết đoán, táo bạo mà là bất chấp pháp luật, bất chấp hậu quả. Cung cách lãnh đạo này, không chỉ đưa chính ông Thăng ra tòa mà còn kéo theo hàng loạt cán bộ, lãnh đạo chủ chốt các cấp của tập đoàn bị xử lý; đau xót hơn, trong đó có nhiều người xuất sắc, nhiều người đã từng là những chuyên gia có đóng góp to lớn trong ngành dầu khí.

Không “động cơ tư lợi” thì là gì ?

PVC - thành viên của Tập đoàn dầu khí Việt Nam (PVN) - do Trịnh Xuân Thanh làm chủ tịch hội đồng quản trị, Vũ Đức Thuận làm tổng giám đốc (từ 2008 - 2012). Năm 2010 do việc đầu tư dàn trải, không hiệu quả dẫn tới tình hình tài chính của PVC lâm vào tình trạng mất cân đối nghiêm trọng. Để cứu vớt con tàu đang chìm đắm, thay vì có các giải pháp căn cơ để tháo gỡ khó khăn cho PVC, PVN lại giao cho PVC gánh vác thêm các khoản đầu tư có nợ xấu và thua lỗ của 5 dự án tại PVFC với giá trị lên tới 793 tỉ đồng. Tính đến năm 2011, PVC đã đầu tư tài chính vào 43 đơn vị với tổng giá trị đầu tư 3.460 tỉ đồng/2.500 tỉ đồng vốn điều lệ làm mất cân đối dòng tiền đầu tư gần 1.000 tỉ đồng.

Mặc dù biết rõ PVC đang gặp khó khăn rất lớn về tài chính và chưa có năng lực, kinh nghiệm để thi công những dự án nhiệt điện lớn nhưng ông Đinh La Thăng với vai trò là chủ tịch của PVN vẫn giao cho PVC thực hiện gói thầu EPC dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 - một công trình trọng điểm quốc gia theo hình thức chỉ định thầu. Các công tố viên cho rằng, hành vi này là “vì lợi ích và động cơ cá nhân”. Đúng vậy, nếu không là động cơ cá nhân thì là động cơ gì mà một dự án chưa được phê duyệt, chưa có thiết kế FEED, chưa dự toán…, chưa có hồ sơ dự thầu và các thủ tục pháp lý khác có liên quan, ước giá trị lên tới 1,2 tỉ USD lại được giao cho một nhà thầu không có kinh nghiệm thi công và năng lực tài chính?

Bị cáo Vũ Hồng Chương, nguyên Trưởng ban Quản lý dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, khai biết hợp đồng EPC số 33 có vấn đề, đã ba lần gửi công văn báo cáo rõ về tình trạng, đề nghị tập đoàn xem xét có ý kiến nhưng không ai trả lời. Ông Chương khai, ban phải thực hiện việc chuyển tiền tạm ứng cho PVC bởi bị “sức ép của lãnh đạo PVN”, trong đó có Nguyễn Xuân Sơn. Trả lời HĐXX, bị cáo Nguyễn Xuân Sơn khai việc ký “công văn hỏa tốc”, cho PVC tạm ứng với “yêu cầu chuyển tiền ngay trong ngày”, là thực hiện theo chỉ đạo của Chủ tịch Tập đoàn Đinh La Thăng. Chỉ trong vòng chưa đầy 10 ngày (từ 23 - 31.5.2011), PVC đã được PVN “tạm ứng” 1.000 tỉ đồng và 6,6 triệu USD trái quy định. Trong đó, 1.115 tỉ đồng đã bị PVC sử dụng không đúng mục đích.

Tại tòa, hầu hết các bị cáo đều khai nhận hành vi phạm tội. Tuy nhiên, bị cáo Đinh La Thăng không thừa nhận trách nhiệm như cáo buộc mà đổ cho “trách nhiệm của các đơn vị, cá nhân trực tiếp thực hiện”. Bị cáo Thăng chỉ thừa nhận trách nhiệm là người đứng đầu, “do sức ép về tiến độ nên nôn nóng, chưa chỉ đạo kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên”.


Hình minh họa
Đâu chỉ có bấy nhiêu sai phạm

Không chỉ phạm sai lầm trong chỉ đạo đầu tư, can thiệp trực tiếp tạo ra sai phạm trong dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, ở vị trí là Chủ tịch PVN (2006 - 2011), ông Thăng còn biến mình và các cộng sự vốn là cán bộ cấp cao của PVN thành bị cáo trong vụ án thiệt hại 800 tỉ đồng xảy ra tại Ocean Bank.

Ông Đinh La Thăng cũng “ghi dấu ấn” trong các dự án thua lỗ nghìn tỉ khác của ngành dầu khí: Xơ sợi Đình Vũ, Nhà máy bio-ethanol Dung Quất, Nhà máy ethanol Phú Thọ, Nhà máy đóng tàu Dung Quất…

Đặc biệt, cũng với kịch bản “tiền trảm hậu tấu” kiểu như ở dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, ông Thăng đã đẩy PVN sa lầy và mất trắng cả chục ngàn tỉ đồng ở dự án liên doanh khai thác dầu tại Venezuela. Bằng những con số báo cáo không thật, dưới sự chỉ đạo của ông Đinh La Thăng, PVN đã ký hợp đồng lập liên doanh với Venezuela vào tháng 6.2010, trước khi các cấp có thẩm quyền chính thức cho phép, bất chấp cảnh báo rủi ro của các bộ ngành liên quan. Nhưng điều đáng nói hơn, trong bản hợp đồng này, PVN đã chấp nhận những điều khoản cực kỳ vô lý, chẳng hạn như trả phí (1 USD/thùng dầu) bất kể có dầu hay không. Trong vòng 30 tháng kể từ ngày hợp đồng được ký kết, PVN phải trả cho đối tác 584 triệu USD tiền mặt.

Tính từ tháng 5.2011 đến tháng 5.2012, PVN đã nộp cho đối tác 442 triệu USD mà không có một giọt dầu nào được tìm thấy. Năm 2013 (khi ông Thăng đã yên vị Bộ trưởng GTVT), ban lãnh đạo mới của PVN phải “cứu” 142 triệu USD cuối cùng bằng quyết định đơn phương chấm dứt liên doanh, chấp nhận mất 442 triệu USD “phí tham gia”, mất luôn 90 triệu USD tiền góp vốn (tương đương khoảng hơn 11.000 tỉ đồng).

Cũng cần phải nói thêm rằng, mãi tới ngày 25.10.2010, cấp có thẩm quyền mới đồng ý về mặt nguyên tắc cho PVN đầu tư vào Venezuela, nhưng từ ngày 29.6.2010, ông Đinh La Thăng đã cho ký hợp đồng với phía Venezuela. Hợp đồng này mặc dù có nhiều rủi ro đã được các bộ ngành cảnh báo, đã đặt các cấp thẩm quyền trước “sự đã rồi” dẫn đến những tổn thất vô cùng to lớn.

Khi ông Đinh La Thăng làm bộ trưởng, ngành giao thông được đánh giá có nhiều chuyển biến tích cực; nhưng, hạ tầng giao thông được cải thiện dù có công đóng góp của ông Thăng, đa phần là thừa hưởng thành quả đầu tư từ các nhiệm kỳ trước (đưa vào sử dụng trong nhiệm kỳ của ông). “Di sản” nổi bật nhất của ông Đinh La Thăng là hàng chục dự án BOT giao thông không đúng bản chất tốt đẹp của BOT, tạo ra nhiều bất cập, khó khăn mà giờ đây chúng ta đang phải tập trung xử lý.

Ông Thăng đã từng được ghi nhận là cán bộ trẻ, năng động, là nguồn để đào tạo, bổ sung nhân sự lãnh đạo cao cấp. Chính vì vậy, từ một cán bộ tại Tổng công ty Sông Đà, ông Thăng đã trưởng thành qua nhiều vị trí quản lý cho đến khi từng là lãnh đạo cấp cao trong hệ thống chính trị. Công của ông - về “bề nổi” đã được tưởng thưởng.

Sai phạm của ông, đã bắt đầu ngay từ khi chưa giữ những cương vị cao, đã chậm được phát hiện; có thể nhờ khéo léo che đậy. Và khi được phát hiện từng phạm sai lầm thì ông Thăng phải được xét xử nghiêm trong cái lẽ công bằng. Đây là vụ án đầu tiên xử ông Thăng với vai trò chủ mưu; việc truy cứu trách nhiệm của ông còn đang tiếp tục. Chắc chắn các cơ quan tố tụng sẽ lần theo sát các “dòng tiền” và chứng minh động cơ cố ý làm trái của ông Thăng.

Công cuộc đấu tranh chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước đã chứng minh là không hề có vùng cấm; quan chức phạm pháp đều phải bị xét xử nghiêm khắc, bị thu hồi tài sản do tham ô mà có, cho dù họ ở bất kỳ cương vị nào.

Ông Dương Thanh Biểu, nguyên Phó viện trưởng Viện KSND tối cao: Mức án đề nghị đã có giảm nhẹ rất lớn cho bị cáo

Đây là lần đầu tiên trong lịch sử tư pháp, một nguyên Ủy viên Bộ Chính trị bị đưa ra xét xử với tội đặc biệt nghiêm trọng là tội cố ý làm trái. Điều này khẳng định quan điểm “không có vùng cấm” của Tổng bí thư. Lâu nay người ta vẫn nói “đánh tham nhũng chỉ từ vai trở xuống”, hay chỉ hô hào “tăng cường, đẩy mạnh”, thì lần này đã chứng minh việc chống “giặc nội xâm” đã đi vào thực chất, mở ra sự tin tưởng của nhân dân vào quyết tâm của Đảng.

Có nhiều dư luận khác nhau xung quanh phiên tòa. Tuy nhiên, tội cố ý làm trái với trường hợp này là đặc biệt nghiêm trọng với khung tối đa lên tới 20 năm tù.Việc Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử với mức án 14 - 15 năm đối với bị cáo Đinh La Thăng là hoàn toàn phù hợp, là đã cân nhắc, xem xét đến quá trình cống hiến của bị cáo. Tuy nhiên, việc áp dụng mức án cụ thể như thế nào còn phải phụ thuộc vào quá trình nghị án của Hội đồng xét xử.

Vũ Hân (ghi)
(Thanh Niên)
https://thanhnien.vn/thoi-su/di-san-khung-khiep-cua-ong-dinh-la-thang-dau-chi-co-the-926274.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Việt Nam 2018: Tìm cơ hội và tránh rủi ro





Nguyễn Quang Dy

Năm Đinh Dậu (2017) sắp qua và năm Mậu Tuất (2018) đang tới, là lúc người Việt thường nhìn lại năm cũ để rút kinh nghiệm và chuẩn bị đón năm mới, với tất cả hy vọng và lo âu lẫn lộn. Nếu năm Đinh Dậu có những điểm sáng và khoảng tối chồng chéo, với những diễn biến bất thường đầy kịch tính, thì năm Mậu Tuất cũng sẽ có nhiều cơ hội và rủi ro lẫn lộn. Việt Nam đang trải qua những năm tháng đầy sóng gió của thời kỳ hội nhập và chuyển đổi còn dang dở và hỗn độn, với chiến dịch chống tham nhũng ngày càng quyết liệt. Nhưng năm mới ai cũng mong điều tốt lành và nuôi hy vọng trong họa có phúc, trong nguy có cơ, trong âm có dương, để “cùng tắc biến, biến tắc thông”.

NHỮNG ĐIỂM SÁNG VÀ KHOẢNG TỐI NĂM ĐINH DẬU

Theo Tổng cục Thống kê, Việt Nam đã đạt và vượt cả 13 chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội. Tăng trưởng GDP trong quý III/2017 đạt mức 7,46% so với 5,15% (quý I) và 6,28% (quý II), tính cả năm tăng 6,7% (cao nhất trong 10 năm qua). Khu vực nông lâm thủy sản tăng 2,78% so với năm trước (là 0,62%) trong khi khu vực dịch vụ tăng 7,25% so với năm trước (là 6,67%). Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mức 400 tỷ USD, riêng xuất khẩu nông thủy sản đạt mức 36 tỷ USD. Vốn FDI vượt mức 16 tỷ USD (cao nhất từ trước đến nay). Đó là những điểm sáng đầy ấn tượng của năm 2017.

Tuy thành tích nói trên không thể phủ nhận, nhưng cũng gây tranh cãi. Các chuyên gia kinh tế có những cách lý giải và đánh giá hơi khác nhau. Tiến sĩ Trần Đình Thiên (Viện trưởng Viện Kinh tế) lý giải trong năm 2016 vốn đầu tư của khu vực tư nhân tăng 48% đã “trở thành động lực thúc đẩy tăng trưởng GDP trong năm 2017… Khi nguồn vốn nhà nước gặp khó khăn thì nguồn vốn của tư nhân đã bù đắp cho động lực tăng trưởng”. Trong chín tháng đầu năm 2017, tuy vốn đầu tư của tư nhân tiếp tục tăng 43,5%, nhưng xu hướng này chậm lại có thể tác động đến tăng trưởng GDP năm 2018. Tuy tăng trưởng GDP trong mấy năm vừa qua không tồi (trung bình trên 6%), “nhưng cơ cấu tăng trưởng vẫn chậm thay đổi, nên kinh tế chậm trưởng thành, làm doanh nghiệp chậm lớn”.

Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thành (Giám đốc Phát triển, trường Đại học Fulbright Việt Nam) cho rằng “chưa năm nào có sự cải thiện tăng trưởng từ quý I đến quý III như năm nay… Với dự kiến quý IV còn cao hơn nữa… Có lẽ không cần đợi số liệu thực tế vào cuối năm, chính phủ đã có thể báo cáo ngay với Quốc hội là mục tiêu tăng trưởng 6,7% của 2017 sẽ đạt được”. Ông Nguyễn Xuân Thành phân tích (trong 9 tháng đầu năm 2017) “trong khi điện chỉ tăng 8,3%, thì làm sao công nghiệp chế biến - chế tạo tăng được 12,8%?”. Theo quy luật và kinh nghiệm những năm trước, khi GDP tăng 6 - 6,5%, và công nghiệp chế biến-chế tạo tăng 11 - 12% thì điện phải tăng 11 - 12%.

Trong khi dư luận mừng thì các chuyên gia kinh tế quan tâm đến chất lượng tăng trưởng. Liệu tăng trưởng GDP cao hơn có phản ánh đúng thực chất bức tranh kinh tế? Ông Lưu Bích Hồ (nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược Phát triển) nhận xét chỉ số tăng trưởng cao trong quý III/2017 “rất khó hiểu và khó lường”. Tại phiên họp Ủy ban Thường vụ Quốc hội (12-10-2017) Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tăng trưởng GDP 6,7% nhưng tăng thu ngân sách so với dự toán chỉ 2,3%? Giải ngân vốn đầu tư thì chậm mà tăng trưởng lại cao, điều này nghe có mâu thuẫn?” (Tăng trưởng kinh tế ấn tượng dựa vào đâu? Thanh niên 13-10-2017).

Theo thông báo chính thức, Chính phủ sẽ mời TBT Nguyễn Phú Trọng đến dự và phát biểu chỉ đạo hội nghị mở rộng tổng kết năm 2017 với các địa phương (28/12/2017). Đây là một sự kiện chưa từng có tiền lệ từ trước tới nay, như một dấu hiệu “nhất thể hóa Đảng và Chính phủ”, tiếp theo Hội nghị TW 6 đã mở màn chủ trương “nhất thể hóa” với triển vọng thay đổi về nhân sự trong hai năm tới. (VNEconomy 15-12-2017).

Trong bốn động lực tăng trưởng chính của Việt Nam (kinh tế nhà nước, kinh tế tư nhân, nông nghiệp và FDI), chỉ có khu vực FDI là “ăn nên làm ra”. Tiến sĩ Võ Trí Thành (nguyên Viện phó Viện nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương) cho rằng Việt Nam đạt mức tăng trưởng GDP 6,7% chủ yếu nhờ vào tăng trưởng sản xuất và xuất khẩu của Samsung. Theo chuyên gia thống kê Vũ Quang Việt, “nếu thống kê theo tiêu chí của Liên Hiệp Quốc thì xuất khẩu của Samsung, Intel, Nike, v.v. thực chất là xuất khẩu của Hàn Quốc và Mỹ, không được ghi là của Việt Nam. Đây là hàng hóa thuộc sở hữu của nước ngoài do họ định giá và gửi tới khách hàng của họ ở nước khác, và họ chỉ trả phí gia công cho Việt Nam. Như vậy, Việt Nam chỉ xuất 5-10% phí gia công trên tổng số 41 tỷ USD hàng điện thoại di động của Hàn Quốc xuất khẩu từ Việt Nam”.

Bức tranh kinh tế năm 2017 có những khoảng tối, trong đó có sự kiện trạm thu phí BOT Cai Lậy đã đặt sai chỗ và tận thu phí khiến người dân bức xúc nên đã phản ứng quyết liệt. Giống như sự kiện Đồng Tâm, Cai Lậy đã trở thành một sự kiện truyền thông lớn được báo chí cả nước lên tiếng. Nhưng câu chuyện BOT giao thông không phải mới xảy ra mà đã âm ỷ suốt mấy năm qua. Nó không chỉ liên quan đến ngành giao thông, mà còn làm bộc lộ những góc khuất của cơ chế độc quyền đã bị các nhóm lợi ích thân hữu thao túng để làm giàu bất minh, làm khủng hoảng lòng tin của nhân dân.

Một sự kiện khác gần đây làm dư luận xôn xao là EVN vừa quyết định tăng giá điện lên 1.720,65 đồng/kwh (bằng 6,08%) từ 1-12-2017. Đợt tăng giá lần này diễn ra trong bối cảnh giá than trên thế giới tăng cao làm các nhà máy nhiệt điện chạy than (gây ô nhiễm môi trường) bị thua lỗ (do phải nhập than giá cao). Nhưng nếu không tăng giá để “bù lỗ vào dân” do hệ quả kép của chủ trương đầu tư trái ngành (trước đây) và vào nhiệt điện (gần đây) thì EVN có thể phá sản (vì nợ gần 487,000 tỷ VNĐ).

CƠ HỘI VÀ RỦI RO NĂM MẬU TUẤT

Mặc dù có nhiều dự báo thế giới tiếp tục chu kỳ tăng trưởng trong năm 2018-2019, nhưng tăng trưởng kinh tế của Việt Nam năm 2018 vẫn là một bài toán đố khó giải, vì năm mới còn nhiều ẩn số. Hầu hết các chuyên gia kinh tế đều cho rằng khả năng bứt phá trong năm 2018 chắc không thuận lợi bằng năm 2017. Rủi ro vĩ mô có thể đến từ việc làm thế nào giữ được tăng trưởng bền vững trong môi trường lạm phát thấp. Họ khuyến nghị cần xử lý hài hoà giữa tăng trưởng ngắn hạn và tái cấu trúc thể chế, đồng thời chú ý đến diễn biến phức tạp trên thế giới và khu vực, vì thách thức lớn nhất thường đến từ bên ngoài. Có lẽ vì vậy mà Quốc hội đã thận trọng đặt ra mục tiêu tăng trưởng cho năm 2018 ở mức 6,5 - 6,7% (thấp hơn hoặc tương đương với mức tăng trưởng năm 2017).

Theo ông Trần Đình Thiên, động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trước đây đã cạn kiệt, phải thay bằng động lực mới. Cần tái cơ cấu và đổi mới thể chế làm nền tảng cho tăng trưởng, nhưng mấy năm qua vẫn chưa làm được. Hiện vẫn còn 5.719 giấy phép kinh doanh và các doanh nghiệp muốn thành lập vẫn phải xin mấy chục thứ giấy phép. Sắp tới phải tập trung dọn dẹp các cơ chế và điều kiện kinh doanh trói buộc doanh nghiệp. Trong ba năm tới Chính phủ cần cải cách thể chế, tập trung vào các mục tiêu cơ bản dài hạn, không nên ưu tiên phát triển ngắn hạn bằng mọi giá (The Leader 11-12-2017).

Về câu chuyện cổ phần hóa, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân nói “đây là chủ trương đúng, song khi thực hiện không nên cố làm bằng mọi giá…cứ được giá là bán mà không tính đến nguy cơ để mất những thương hiệu lớn”. Việc bán “thành công” 53,59% cổ phần Sabeco cho Thai Beverage là một ví dụ về “lợi bất cập hại” chỉ thấy cái lợi trước mắt mà không tính đến thiệt hại lâu dài (như “khôn nhà dại chợ”). Nếu muốn phát triển bền vững thì đừng “tham bát bỏ mâm”. Nhà báo Vũ Kim Hạnh đặt câu hỏi, “đây là bước đi tình cờ hay cái bẫy thâu tóm?” sau khi Berli Jucker đã thâu tóm cả hệ thống bán lẻ Metro C&C. Sau Vinamilk là Sabeco, và sau Sabeco chắc là Habeco.

Việc xử lý 12 dự án trọng điểm của ngành công thương trong năm 2017 tuy có một số kết quả bước đầu, nhưng chưa đủ quyết liệt nên các tồn đọng chắc được chuyển sang năm mới. Năm 2018 không hứa hẹn điều gì tốt lành cho những “sân sau” của các nhóm lợi ích thân hữu thao túng nền kinh tế. Nếu Chính phủ quyết liệt triển khai kế hoạch “tái cơ cấu ngân hàng”, một số ngân hàng yếu kém sẽ đứng bên bờ vực phá sản.

Nợ công của Việt Nam gần đây dường như đang “đi vào ổn định” khi số nợ của các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước (khoảng 230 tỷ USD) không được đưa vào tổng số nợ công quốc gia, vì vậy mức nợ công chính thức của Việt Nam chỉ “sát trần” (65% GDP), mặc dù nếu tính theo thông lệ của Liên Hợp Quốc (như ông Vũ Quang Việt đã đề cập) thì nợ công của Việt Nam vào khoảng 450 tỷ USD (bằng 210% GDP).

Sang năm 2018, quan hệ Việt-Trung vẫn phức tạp. Trung Quốc không chỉ theo đuổi tham vọng kiểm soát Biển Đông mà còn muốn từng bước kiểm soát kinh tế Việt Nam bằng cách đầu tư vào các dự án trọng điểm, mua lại cổ phần các doanh nghiệp lớn, lập các khu hợp tác kinh tế qua biên giới theo mô hình “hai nước một khu vực thương mại” (khép kín). Theo ông Vũ Quang Việt, cho đến nay không có hiệp định thương mại nào quy định về tự do mua bán doanh nghiệp vì bán hay không là quyền của mỗi nước. Vì vậy không nên để cho nước ngoài (đặc biệt là Trung Quốc) mua và kiểm soát các doanh nghiệp lớn (ảnh hưởng đến an ninh kinh tế). Đến nay, cũng chưa có nước nào trong khu vực cho phép tư nhân nước ngoài làm chủ đất đai (nguy hại đến chủ quyền quốc gia).

Theo Bộ Công Thương (năm 2016), trong khi Việt Nam xuất siêu sang Mỹ 29,4 tỷ USD thì nhập siêu của Trung Quốc 28 tỷ USD (chưa tính qua đường tiểu ngạch gần 20 tỷ USD). Tuy xuất khẩu nông nghiệp của Việt Nam ngày càng quan trọng, nhưng hiện nay nông nghiệp của Việt Nam lạc hậu khoảng 20 năm so với Trung Quốc. Hầu hết hàng hóa nhập từ Trung Quốc thường là các loại vật tư nông nghiệp đã lạc hậu khoảng bảy đến mười năm. Hơn nữa, việc buôn lậu và gian lận thương mại được bảo kê bởi các ban ngành chức năng cùng với thương lái, đang giết chết dần sản xuất trong nước.

Tuy Việt Nam vẫn phải làm ăn với Trung Quốc nhưng phải thận trọng và cảnh giác. Cần tạo dựng lòng tin với các đối tác chiến lược khác (như Mỹ, Nhật, Ấn, Úc) làm đối trọng để cân bằng và đa dạng hóa quan hệ. Chiến lược đa phương hóa của Việt Nam là đúng nhưng cần vận dụng linh hoạt để tập hợp lực lượng và xây dựng lòng tin (qua TPP-11 và EVFTA) nhằm đối phó hiệu quả hơn với tham vọng của Trung Quốc.

N.Q.D. 12-2018


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài diễn thuyết dậy sóng sinh viên Bắc Kinh: “Tự do là một trách nhiệm”


Bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, và đã gây ra những tranh luận mạnh mẽ.
Hồi tháng 7/2017, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm đến vận mệnh của đất nước.
Bài phát biểu này được đăng trên Wechat của viện, tuy nhiên nó đã bị xóa trong chưa đầy 12 giờ sau khi đăng tải. Toàn văn bài phát biểu sau khi được đăng trên trangsohu.com, cũng đã bị gỡ xuống trong 24 giờ.
Những lời nói xúc động của ông Trương Duy Nghênh đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, bên cạnh đó cũng có nhiều tranh luận của cư dân mạng xoay quanh bài phát biểu này.
Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh được lưu truyền trên internet:
Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!
“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen.
Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh, chiếm 3%.
30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500, chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh. Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo.
Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.
Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc
Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo Albernathy,Clark and kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.
Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.
Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.
Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.
Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.
Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa!
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.
Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?
Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế? (Ảnh: Pinterest)
Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.
Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ. 
Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo, sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.
Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500, một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.
Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo
Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.
Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.
Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in
Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.
Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.
Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.
Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”
Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!
Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.
Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.
Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”.
Tuệ Tâm (s/t)

Phần nhận xét hiển thị trên trang