Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018
Chấn động NASA tuyên bố tìm ra “trái đất thứ hai”
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Mô hình phát triển đơn độc của Trung Quốc
Dường như bây giờ các lãnh đạo Trung Quốc đã từ bỏ lời răn của Đặng Tiểu Bình “thao quang dưỡng hối” (tao guang yang hui – che giấu ánh sáng, nuôi dưỡng bóng tối - giấu mình chờ thời). Khi tuyên bố một “kỷ nguyên mới” của Trung Quốc tại Đại hội toàn quốc lần thứ 19 của đảng Cộng sản hồi tháng 10 vừa qua,chủ tịch Tập Cận Bình đã trình bày hệ thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu để các quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo muốn “thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì nền độc lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như “một lựa chọn mới”, ông Tập nói.
Các quốc gia đang phát triển, đặc biệt là các nước Đông Nam Á và châu Phi hạ Sahara, dường như bất ngờ với khả năng mới này. Hãng thông tấn chính thức của Trung Quốc, Tân Hoa xã, thậm chí còn đề nghị rằng, khi các nền dân chủ phương Tây chao đảo thì “nền dân chủ giác ngộ của Trung Quốc” có thể là một con đường để tiến tới.
Giữa tất cả những lời hoa mỹ ồn ào đó, cần đặt ra câu hỏi: mô hình Trung Quốc về phát triển kinh tế chính trị chính xác là cái gì? Và nó có thực sự đáng ưa chuộng hơn các hệ thống khác hay không?
Mô hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài. Chắc chắn mô hình này đã sinh ra cuộc tăng trưởng kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc trong hơn ba thập niên qua, đưa hàng trăm triệu người ra khỏi nghèo đói.
Nhưng quan niệm rằng thành tố đầu tiên của mô hình này – chế độ chuyên chế - cần thiết cho sự phát triển nhanh là sai lầm. Trong thực tế, đây chính là đặc điểm của hệ thống Trung Quốc mà các quốc gia khác nên suy xét cho thật kỹ.
Hãy xem các nước láng giềng Đông Á của Trung Quốc – đặc biệt là Nhật Bản, Đại Hàn và Đài Loan. Mỗi nước này đều đạt được tăng trưởng kinh tế cao thông qua chính sách công nghiệp do nhà nước dẫn dắt, công nghiệp hóa nông thôn và mở cửa cho thương mại. Nhưng Nhật Bản đạt được các mục tiêu này trong khuôn khổ nền dân chủ thời hậu chiến, trong khi Đại Hàn và Đài Loan đã là hai nền dân chủ trong suốt ba mươi năm qua. Nói cách khác, chế độ độc tài chuyên chế không có vai trò cần thiết trong công cuộc hiện đại hóa.
Chắc chắn rằng chế độ dân chủ thì chậm chạp một cách khó chịu và thường gây nhiều tranh cãi. Nhưng các quy trình tranh luận và bầu cử của chế độ dân chủ đã giúp giảm thiểu xung đột, đặc biệt là ở những xã hội không thuần nhất và tiềm ẩn nhiều mâu thuẫn. Ngay cả ở một quốc gia tương đối thuần nhất như Trung Quốc, sự thiếu vắng những cuộc tranh luận công khai đã có tác động ngược, bằng chứng là sự xử lý sai lầm của nhà nước đối với các cuộc bất ổn sắc tộc của người Tây Tạng và người Duy Ngô Nhĩ.
Không có một xã hội dân sự vững mạnh hoặc một hệ thống tư pháp độc lập để kiểm soát quyền lực của chính phủ, các nhà lãnh đạo Trung Quốc, trong nhiều trường hợp, đã phạm phải những sai lầm khủng khiếp trong phán đoán và quyết định. Không cần nhìn xa hơn những cuộc Đại Nhảy vọt hoặc Cách mạng Văn hóa của Mao Trạch Đông cũng thấy rõ.
Ông Tập cũng có những sai lầm ngớ ngẩn. Ví dụ, quyết định của ông ta ra lệnh cho các doanh nghiệp nhà nước đổ tiền vực dậy thị trường chứng khoán Thượng Hải trước nguy cơ sụp đổ năm 2015 là một tính toán sai lầm ở tầm sử thi.
Một khi quỹ dự trữ ngoại hối do ngân hàng trung ương Trung Quốc quản lý ngừng bơm tiền vào các doanh nghiệp nhà nước đang khốn khó thì thị trường lại rơi trở về mức độ thấp ban đầu trước khi nhà nước can thiệp. Tới thời điểm đó, hàng trăm tỉ đô la Mỹ đã bị phung phí.
Không có sự kiểm tra chính trị và các cơ chế mang tính thiết chế để kiểm soát dân chúng đã khuyến khích sự lạm dụng quyền lực và tham nhũng ở cấp cao, góp phần vào tình trạng bất bình đẳng trầm trọng, vào những vụ tùy tiện thu hồi đất đai, những điều kiện lao động không an toàn, những cơn ác mộng về an toàn thực phẩm, ô nhiễm chất độc và nhiều vấn đề khác. Trong khi những nỗ lực chống tham nhũng mạnh mẽ của ông Tập có thể ngăn chặn một số tình trạng bất công nào đó, nhưng không cải cách chính trị sâu rộng thì chiến dịch của ông ta chống lại các quan chức đảng xấu xa cũng chỉ giống như dã tràng xe cát (**) – nếu không nói đó chỉ là một mưu đồ loại bỏ các đối thủ chính trị tiềm tàng.
Quản lý kinh tế cũng bị thiệt hại vì tình trạng mù mờ tương tự. Tại thời điểm này, có rất ít, thậm chí không có, sự kiểm soát hoạt động đầu tư bằng tiền nợ vay của các doanh nghiệp nhà nước hoặc các công ty có liên kết về chính trị. Khuyết điểm này, với mức độ mà nó gây ra trong việc phân bổ sai lầm khủng khiếp nguồn vốn liếng, đang và sẽ là cội nguồn những bất trắc chính về kinh tế vĩ mô của Trung Quốc.
Khi kinh tế Trung Quốc trở nên phức tạp hơn, sự thiếu vắng các quy trình quản trị minh bạch và có trách nhiệm giải trình, kết hợp với những vụ trấn áp thường xuyên vào xã hội dân sự, cùng những nỗ lực áp đặt sự tuân phục và kỷ luật, cuối cùng sẽ thui chột tinh thần doanh nhân và khả năng sáng tạo. Cho dù chi tiêu của Trung Quốc vào nghiên cứu và phát triển tính theo tỷ lệ so với tổng sản lượng quốc dân hiện đang ở mức cao thì cũng chẳng ích lợi gì, phần lớn khoản đầu tư này rơi vào khu vực kinh tế công. Nếu các doanh nghiệp nhà nước vẫn “quá lớn, không thể sụp đổ” thì sẽ tạo ra một sự trì kéo về sáng tạo. Khi Trung Quốc đã ra khỏi giai đoạn “đuổi theo” trên con đường phát triển kinh tế thì việc xử lý sự hạn chế này sẽ trở nên ngày càng quan trọng hơn.
Thiếu minh bạch và cởi mở cũng có thể thách thức sự ổn định chính trị. Khi đương đầu với khủng hoảng, các nhà lãnh đạo Trung Quốc thường hành động quá đáng, trấn áp những người bất đồng. Sự lãnh đạo tập thể và thực tế trong những thập niên vừa qua đã xử lý vấn đề một cách hợp lý nhưng công cuộc củng cố quyền lực của ông Tập và sự tôn sùng cá nhân chung quanh ông có thể khiến cho bất ổn trở nên trầm trọng hơn.
Các chính phủ dân chủ, cho dù hỗn độn, đã tỏ ra vững chãi hơn, bởi vì chúng có được tính chính danh từ chế độ đa nguyên và cạnh tranh chính trị hơn là từ tăng trưởng kinh tế cao hoặc từ lời kêu gọi dân tộc chủ nghĩa. Những quyết định của ngành tư pháp đảo ngược lệnh cấm tùy tiện về nhập cảnh của tổng thống Donald Trump ở Hoa Kỳ hoặc sự hủy bỏ tương tự cố gắng của thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi nhằm hình sự hóa người bất đồng chính kiến là những ví dụ cho thấy sự độc lập mang tính thiết chế đã củng cố như thế nào tính chất kiên cường của hệ thống chính trị dân chủ - tính kiên cường mà Trung Quốc không có được.
Không giống như câu chuyện chính thức, phần lớn những đặc điểm của hệ thống cai trị của Trung Quốc mà ông Tập ra sức xiển dương lại ít liên quan tới ông ta. Chúng là di sản của các chính phủ quân chủ hoặc chính phủ cộng sản thời kỳ đầu của Trung Quốc: một hệ thống đề bạt công chức dựa trên năng lực và thành tích hoạt động; một khuôn khổ về tổ chức nhằm bảo đảm sự trung thành từ trên ban xuống mà không gây phương hại cho phẩm chất của sự điều hành ở địa phương; và một hệ thống độc đáo tập quyền về chính trị kết hợp với phân quyền về hành chính và kinh tế.
Nói cách khác, dù có sức hấp dẫn, mô hình Trung Quốc rất kém cỏi về nhiều phương diện căn bản và không dễ gì tái lập ở các nơi khác. Bất kỳ quốc gia nào nghe theo lời mời mọc của ông Tập mà bắt chước Trung Quốc trong khi không có một lịch sử tổ chức tương tự thì sẽ nhanh chóng thất vọng. Trung Quốc không chỉ độc đáo về chính trị mà còn có một thị trường nội địa to lớn và ngày càng thịnh vượng, cho phép nước này thu hút đầu tư nước ngoài theo những điều kiện của mình.
Vì thế, cho dù vị hoàng đế mới của vương quốc trung tâm này có tuyên bố gì đi nữa thì phát triển mang đặc điểm Trung Quốc thật sự chỉ dành cho Trung Quốc mà thôi.Pranab Bardhan: China’s Solitary Development Model
Prpject Syndicate, 5 December 2017
Người dịch: Huỳnh Hoa
--
(*) Pranab Bardhan là giáo sư trường Đại học California, Berkeley. Những tác phẩm gần đây nhất của ông là “Globalization, Democracy and Corruption: An Indian Perspective” và “Awakening Giants, Feet of Clay: Assessing the Economic Rise of China and India”.
(**) Nguyên văn: Sisyphean task (công việc của Sisyphus). Theo thần thoại Hy Lạp, Sisyphus hoặc Sisyphos, vua xứ Ephyra, bị trừng phạt phải đẩy một tảng đá lớn lên đồi chỉ để thấy tảng đá lăn trở lại xuống chân dốc, và Sisyphus phải vĩnh viễn làm đi làm lại công việc này. Điển tích Sisyphus, hoặc công việc của Sisyphus, được dùng để chỉ những công việc nặng nhọc nhưng vô ích.
Nguồn: https://www.project-syndicate.org/commentary/china-model-xi-jinping-new-option-to-democracy-by-pranab-bardhan-2017-12
Nguồn:
http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang
THẰNG KHÙNG TRONG TRẠI TÙ CẢI TẠO
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN.
"… Anh ta vào trại trước mình khá lâu, bị trừng phạt vì tội gì, mình không rõ. Người thì bảo anh ta phạm tội hình sự, người lại bảo mắc tội chính trị. Nhưng cả hai tội mình đều thấy khó tin. Anh ta không có dáng dấp của kẻ cướp bóc, sát nhân, và cũng không có phong độ của người làm chính trị. Bộ dạng anh ta ngu ngơ, dở dại dở khùng. Mình có cảm giác anh ta là một khúc củi rều, do một trận lũ cuốn từ một xó rừng nào về, trôi ngang qua trại, bị vướng vào hàng rào của trại rồi mắc kẹt luôn ở đó. Nhìn anh ta, rất khó đoán tuổi, có thể ba mươi, mà cũng có thể năm mươi. Gương mặt anh ta gầy choắt, rúm ró, tàn tạ, như một cái bị cói rách, lăn lóc ở các đống rác. Người anh ta cao lòng khòng, tay chân thẳng đuồn đuỗn, đen cháy, chỉ toàn da, gân với xương.
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen…Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc…
Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Trên người, tứ thời một mớ giẻ rách thay cho quần áo. Lúc đầu mình cứ tưởng anh ta bị câm vì suốt ngày ít khi thấy anh ta mở miệng dù là chỉ để nhếch mép cười. Thật ra anh ta chỉ là người quá ít lời. Gặp ai trong trại, cả cán bộ quản giáo lẫn phạm nhân, anh ta đều cúi chào cung kính, nhưng không chuyện trò với bất cứ ai. Nhưng không hiểu sao, ở con người anh ta có một cái gì đó làm mình đặc biệt chú ý, cứ muốn làm quen…Nhiều lần mình định bắt chuyện, nhưng anh ta nhìn mình với ánh mắt rất lạ, rồi lảng tránh sau khi đã cúi chào cung kính.
Hầu như tất cả các trại viên, kể cả những tay hung dữ nhất, cũng đều thương anh ta. Những trại viên được gia đình tiếp tế người để dành cho anh ta viên kẹo, miếng bánh, người cho điếu thuốc.
Ở trại, anh ta có một đặc quyền không ai tranh được, và cũng không ai muốn tranh. Đó là khâm liệm tù chết. Mỗi lần có tù chết, giám thị trại đều cho gọi "thằng khùng" (tên họ đặt cho anh ta) và giao cho việc khâm liệm. Với bất cứ trại viên chết nào, kể cả những trại viên đã từng đánh đập anh ta, anh ta đều khâm liệm chu đáo giống nhau. Anh ta nấu nước lá rừng, tắm rửa cho người chết, kỳ cọ ghét trên cái cơ thể lạnh ngắt cứng queo, với hai bàn tay của người mẹ tắm rửa cho đứa con nhỏ.
Lúc tắm rửa, kỳ cọ, miệng anh ta cứ mấp máy nói cái gì đó không ai nghe rõ. Anh ta rút trong túi áo một mẩu lược gãy, chải tóc cho người chết, nếu người chết có tóc. Anh ta chọn bộ áo quần lành lặn nhất của người tù, mặc vào rồi nhẹ nhàng nâng xác đặt vào áo quan được đóng bằng gỗ tạp sơ sài
Anh ta cuộn những bộ áo quần khác thành cái gói vuông vắn, đặt làm gối cho người chết. Nếu người tù không có áo xống gì, anh ta đẽo gọt một khúc cây làm gối. Khi đã hoàn tất những việc trên, anh ta quỳ xuống bên áo quan, cúi hôn lên trán người tù chết, và bật khóc.
Anh ta khóc đau đớn và thống thiết đến nỗi mọi người đều có cảm giác người nằm trong áo quan là anh em máu mủ ruột thịt của anh ta. Với bất cứ người tù nào anh ta cũng khóc như vậy. Một lần giám thị trại gọi anh ta lên:
- Thằng tù chết ấy là cái gì với mày mà mày khóc như cha chết vậy?
Anh ta chấp tay khúm núm thưa:
- Thưa cán bộ, tôi khóc vờ ấy mà. Người chết mà không có tiếng khóc tống tiễn thì vong hồn cứ lẩn quẩn trong trại. Có thể nó tìm cách làm hại cán bộ. Lúc hắn còn sống, cán bộ có thể trừng trị hắn, nhưng đây là vong hồn hắn, cán bộ muốn xích cổ, cũng không xích được.
Thằng khùng nói có lý. Giám thị trại mặc, cho nó muốn khóc bao nhiêu thì khóc. Nhưng mình không tin là anh ta khóc vờ. Lúc khóc, cả gương mặt vàng úa, nhăn nhúm của anh ta chan hòa nước mắt. Cả thân hình gầy guộc của anh ta run rẩy. Mình có cảm giác cả cái mớ giẻ rách khoác trên người anh ta cũng khóc…
Trong tiếng khóc và nước mắt của anh ta chan chứa một niềm thương xót khôn tả. Nghe anh ta khóc, cả những trại viên khét tiếng lỳ lợm, chai sạn, "đầu chày, đít thớt, mặt bù loong" cũng phải rơm rớm nước mắt. Chỉ có nỗi đau đớn chân thật mới có khả năng xuyên thẳng vào trái tim người. Mình thường nghĩ ngợi rất nhiều về anh ta. Con người này là ai vậy? Một thằng khùng hay người có mối từ tâm lớn lao của bậc đại hiền?…
Thế rồi, một lần, mình và anh ta cùng đi lùa trâu xuống con sông gần trại cho dầm nước. Trời nóng như dội lửa. Bãi sông đầy cát và sỏi bị nóng rang bỏng như than đỏ. Trên bãi sông mọc độc một cây mủng già gốc sần sùi tán lá xác xơ trải một mảng bóng râm bằng chiếc chiếu cá nhân xuống cát và sỏi. Người lính gác ngồi trên bờ sông dốc đứng, ôm súng trú nắng dưới một lùm cây. Anh ta và mình phải ngồi trú nắng dưới gốc cây mủng, canh đàn trâu ngụp lặn dưới sông. Vì mảng bóng râm quá hẹp nên hai người gần sát lưng nhau. Anh ta bỗng lên tiếng trước, hỏi mà đầu không quay lại:
- Anh Tuân này - không rõ anh ta biết tên mình lúc nào - sống ở đây anh thèm cái gì nhất?
- Thèm được đọc sách - mình buột miệng trả lời, và chợt nghĩ, có lẽ anh ta chưa thấy một cuốn sách bao giờ, có thể anh ta cũng không biết đọc biết viết cũng nên.
- Nếu bây giờ có sách thì anh thích đọc ai? - anh ta hỏi.
- Voltaire! - một lần nữa mình lại buột miệng. Và lại nghĩ: Nói với anh ta về Voltaire thì cũng chẳng khác gì nói với gốc cây mủng mà mình đang ngồi dựa lưng. Nhưng nhu cầu được chuyện trò bộc bạch với con người nó cũng lớn như nhu cầu được ăn, được uống… Nhiều lúc chẳng cần biết có ai nghe mình, hiểu mình hay không. Đó chính là tâm trạng của anh công chức nát rượu Marmeladov bất chợt nói to lên những điều tủi hổ nung nấu trong lòng với những người vớ vẩn trong một quán rượu tồi tàn, mà Dostoievsky miêu tả trong “Tội ác và Trừng phạt”
Anh ta ngồi bó gối, mắt không rời mặt sông loá nắng, hỏi lại:
- Trong các tác phẩm của Voltaire, anh thích nhất tác phẩm nào?
Mình sửng sốt nhìn anh ta, và tự nhiên trong đầu nảy ra một ý nghĩ kỳ lạ: một người nào khác đã ngồi thay vào chỗ anh ta… Mình lại liên tưởng đến một cậu làm việc cùng phòng hồi còn ở Đài phát thanh, tốt nghiệp đại học hẳn hoi, đọc tên nhạc sĩ Chopin (Sôpanh) là Cho Pin.
Mình trả lời anh ta:
- Tôi thích nhất là Candide.
- Anh có thích đọc Candide ngay bây giờ không?
Không đợi mình trả lời, anh ta nói tiếp:
- Không phải đọc mà nghe… Tôi sẽ đọc cho anh nghe ngay bây giờ.
Rồi anh ta cất giọng đều đều đọc nguyên bản Candide. Anh đọc chậm rãi, phát âm chuẩn và hay như mấy cha cố người Pháp, thầy dạy mình ở trường Providence. Mình trân trân nhìn cái miệng rúm ró, răng vàng khè đầy bựa của anh ta như nhìn phép lạ. Còn anh ta, mắt vẫn không rời dòng sông loá nắng, tưởng chừng như anh ta đang đọc thiên truyện Candide nguyên bản được chép lên mặt sông…
Anh đọc đến câu cuối cùng thì kẻng ở trại cũng vang lên từng hồi, báo đến giờ lùa trâu về trại. Người lính gác trên bờ cao nói vọng xuống: "Hai đứa xuống lùa trâu, nhanh lên!".
- Chúng mình lùa trâu lên bờ đi! - anh nói.
Lội ra đến giữa sông, mình hỏi anh ta:
- Anh là ai vậy?
Anh ta cỡi lên lưng một con trâu, vừa vung roi xua những con trâu khác, trả lời:
- Tôi là cái thanh ngang trên cây thập tự đóng đinh Chúa.
Rồi anh ta tiếp:
- Đừng nói với bất cứ ai chuyện vừa rồi…
Giáp mặt người lính canh, bộ mặt anh ta thay đổi hẳn - ngu ngơ, đần độn như thường ngày.
Cuối mùa đông năm đó, anh ta ngã bệnh. Nghe các trại viên kháo nhau mình mới biết.
Thằng chuyên gia khâm liệm e đi tong. Thế là nếu bọn mình ngoẻo, sẽ không còn được khâm liệm tử tế và chẳng có ai khóc tống tiễn vong hồn… - những người tù nói, giọng buồn.
Mình gặp giám thị trại, xin được thăm anh ta.
Giám thị hỏi:
- Trước kia anh có quen biết gì thằng này không?
Mình nói:
- Thưa cán bộ, không. Chúng tôi hay đi lùa trâu với nhau nên quen nhau thôi.
Giám thị đồng ý cho mình đến thăm, có lính đi kèm. Anh ta nằm cách ly trong gian lán dành cho người ốm nặng. Anh ta nằm như dán người xuống sạp nằm, hai hốc mắt sâu trũng, nhắm nghiền, chốc chốc lại lên cơn co giật…
Mình cúi xuống sát người anh ta, gọi hai ba lần, anh ta mới mở mắt, chăm chăm nhìn mình. Trên khoé môi rúm ró như thoáng một nét cười. Nước mắt mình tự nhiên trào ra rơi lã chã xuống mặt anh ta. Anh ta thè luỡi liếm mấy giọt nước mắt rớt trúng vành môi. Anh ta thều thào nói:
- Tuân ở lại, mình đi đây… Đưa bàn tay đây cho mình…
Anh ta nắm chặt bàn tay mình hồi lâu. Một tay anh ta rờ rẫm mớ giẻ rách khoác trên người, lấy ra một viên than củi, được mài tròn nhẵn như viên phấn viết. Với một sức cố gắng phi thường, anh ta dùng viên than viết vào lòng bàn tay mình một chữ nho. Chữ NHẪN
---------------
Mặc dầu là một Phật tử, xin mời các hiền huynh và quý bạn đọc bài viết nói về Cha Chính Gioan Lasan Nguyễn Văn Vinh là một chứng nhân của thời đại, một linh mục Công Giáo Việt Nam can trường, hậu thế kính tôn và ghi ân ngài.
(viết lại theo lời kể của nhà văn Nguyễn Tuân)
Phần nhận xét hiển thị trên trang
VIỆT NAM: TƯỚNG QUÁ NHIỀU & HỆ LỤY
- Việc tăng quy mô quân đôi, Công An cả về số lượng quân sĩ và tướng tá không bình thường đã ngốn một khoản tiền ngân sách quá lớn, mất đi ngân dành cho đầu tư phát triển và cải thiện dân sinh. Thêm nữa, lực lượng này tham gia vào lãnh đạo cấp cao đã ảnh hướng lớn đến chính sách phát triển của đất nước cũng như công tác điều hành hiệu quả của cơ quan nhà nước.

Vừa qua, nhân việc Bộ Quốc phòng trình Quốc Hội thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sỹ quan QĐND Việt Nam, QĐNDVN có tối đa là 415 sỹ quan cấp tướng, song trong thực tế đã là 489 tướng, “dôi ra” 74 tướng. Đó là chưa kể số “thiếu tướng chìm” hay “đại tá nhô”, là sỹ quan cấp đại tá không phong tướng nhưng hưởng lương thiếu tướng! Con số này là bao nhiêu, hiện chưa có thống kê chính thức.
Năm 1975 khi cuộc kháng chiến chống Mỹ, quân số lực lượng vũ trang khoảng từ 1,1 -1,2 triệu binh sỹ. Và được khoảng 50 tướng lĩnh chỉ huy: 36 sỹ quan cấp tướng trực tiếp tham dự chiến dịch HCM lịch sử. Hiện nay quân đội VN hiện có khoảng 412.000 binh sỹ tại ngũ, có 489 tướng chỉ huy (chưa đến 1000 lính có 1 tướng). Từ 2006-2014, thời Bộ trưởng QP Phùng Quang Thanh, đã có tổng cộng 231 sỹ quan cấp tướng được phong, gồm 10 Thượng tướng, 65 Trung tướng và 157 Thiếu tướng.
Nhìn sang TQ: Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA) luôn là đội quân lớn nhất thế giới, năm 2014 có 2.285.000 binh sỹ. TQ chi cho PLA là 216 tỷ USD, đứng thứ hai TG. Từ 1994 đến nay, TQ bãi bỏ 2 quân hàm Nguyên soái và Đại tướng. Sỹ quan cấp tướng cao nhất của PLA hiện nay chỉ là Thượng tướng. Và điều đặc biệt nữa là, từ 20 năm nay, không một sỹ quan quân đội nào của PLA được tham gia vào Ban Bí thư hoặc Bộ Chính trị của Ban CHTW Đảng CSTQ!
Về mặt quan điểm tổ chức nhà nước, từ thời phong kiến đã cho rằng: các tướng lĩnh chỉ đóng vai trò trong chiến tranh. Khi hòa bình họ được hậu đãi nhưng không bao giờ được tham gia lãnh đạo cấp cao, do đặc trưng nghề nghiệp (tính bạo lực) cũng như hiểu biết rất hạn chế về quản lý đất nước.
Ở Việt Nam, từ thời thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, vốn là gốc công an, nên ông đã cho mở rộng quy mô CA gần bằng lực lượng quân đội (cả quân sĩ và tướng tá). Thông thường, lực lương CA các nước chỉ bằng 1/3 hay 1/4 lực lượng quân đội, đúng với vai trò giữ gìn an ninh trong nước (nội bô). Lương và chi phí khác cho CA và quân đội rất cao (hệ số lương 1,8: gấp gần 2 lần công nhân viên thường). Thêm nữa, vì ưu đãi lực lương nòng cốt bảo vệ Đảng và nhà nước, chi cho ngành CA hiện quá lớn, chiếm tới 12% ngân sách (hơn cả chi cho quân đội, bằng toàn bộ chi cho khu vực hành chinh, đảng đoàn và các tổ chức xã hôi). Trong khi đó con số này ở Mỹ là trên 2%. Đó là lý do phần ngân sách dành chi cho đầu tư phát triển và an sinh của VN rất thấp, dẫn đến giáo dục, y tế xuống cấp năng nề.

Một điều trái với quy luật như đã nói ở trên, đó là việc lực lượng quân đội, CA tham gia vào các bộ phận lãnh đạo cao cấp, đã ảnh hưởng đến chính sách phát triển cũng như điều hành đất nước theo xu hướng xấu.
Trong 19 thành viên bộ Chính trị, có đến 5 người là tướng CA và quân đội (trên 25%). Trong 180 Ủy viên TW đảng, có tới 37 người là CA, quân đội. Những người này cũng là thành viên của quốc hội. Vì thế nhiều luật đưa ra, cũng như chính sách được ban hành có chiều hướng bị CA hay quân đội hóa hay bị các lực lương này chi phối.
Chẳng hạn, chính sách “quân đội làm kinh tế” (đã có nhiều bài phân tich sự nguy hại của nó) hiện nay chỉ có ở Việt Nam đang thực thi. Ở TQ, từ khi Tập Cận Bình lên nắm quyền, ông đã xó bỏ hoàn toàn tình trạng này. Hay một ví dụ khác, Ở sân bay Tân Sơn Nhất, vì các công ty quân đội chiếm một phần đất sân bay để kinh doanh sân Golf và nhà hàng, vận tải hàng không cũng như giao thông của TP CHM luôn bị tắc nghẽn, năng lực vận tải chỉ đạt con số rất thấp.
Trong khi nước ta đang nghèo, không tận dụng được sân bay Tân Sơn Nhất mà phải bỏ tiền rất lớn để xây sân bay Long Thành. Thật vô lý. Chúng ta đang sống trong một xã hội bạo lực tràn lan, tàn bạo, vô lương trì, do ảnh hưởng trực tiếp từ những hành xử bao lực, tàn bạo từ chính các cơ quan công quyền CA & quân đội (3 năm từ 10/2011 đến 9/2014, có 226 người chết trong đồn CA khi bị tam giam).
Phân tích sơ lược trên đây cho thấy, việc tăng quy mô quân đôi, CA cả về số lượng quân sĩ và tướng tá không bình thường đã ngốn một khoản tiền ngân sách quá lớn, mất đi ngân dành cho đầu tư phát triển và cải thiện dân sinh. Thêm nữa, lực lượng này tham gia vào lãnh đạo cấp cao đã ảnh hướng lớn đến chính sách phát triển của đất nước cũng như công tác điều hành hiệu quả của cơ quan nhà nước
Phân tích sơ lược trên đây cho thấy, việc tăng quy mô quân đôi, CA cả về số lượng quân sĩ và tướng tá không bình thường đã ngốn một khoản tiền ngân sách quá lớn, mất đi ngân dành cho đầu tư phát triển và cải thiện dân sinh. Thêm nữa, lực lượng này tham gia vào lãnh đạo cấp cao đã ảnh hướng lớn đến chính sách phát triển của đất nước cũng như công tác điều hành hiệu quả của cơ quan nhà nước
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Hài tháng 1: Phạm Sỹ Quý rất cầu thị, rất tiến bộ
Không hiểu baomoi.com đăng bài này làm gì. Trong chế độ độc tài, công lý, lẽ phải chỉ là thằng hề. Bà Trà chị gái của ông Quý vẫn là đương kim Bí thư tỉnh ủy thì bố ai dám nói xấu em bà. Nhưng cứ chờ xem, thời thế thay đổi, hoàng đế khác lên ngôi, có thể sẽ lôi cả 2 chị em bà ra tòa, sẽ tù hàng chục năm... Không biết khi đó baomoi.com có phải hối hận hay rút bài này không ? Hay baomoi.com nhận chỉ thị phải đăng bài này để tiến tới phục chức cho Sĩ Quý ?

Theo ông Thịnh, ông Phạm Sỹ Quý là Phó văn phòng HĐND, giúp việc cho Chánh văn phòng, thực hiện các công việc, nhiệm vụ do Chánh Văn phòng giao. "Quá trình ông Quý chuyển sang vị trí mới, lãnh đạo HĐND tỉnh, các phòng ban đều hết sức tạo điều kiện cho ông Quý hoàn thành tốt các công việc được giao"- ông Triệu nhấn mạnh.
Đánh giá về quá trình gần 3 tháng chuyển sang công tác tại HĐND tỉnh Yên Bái của ông Phạm Sỹ Quý, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái nói: "Nhận công việc mới này cũng là rất bình thường. Đã nhận nhiệm vụ thì phải hoàn thành. Ông Quý rất cầu thị, rất tiến bộ".
Ông Triệu Tiến Thịnh cho biết dư luận trong cơ quan cũng rất ủng hộ và giúp đỡ ông Phạm Sỹ Quý hoàn thành công việc trên cương vị mới.
Trước đó, ngày 27-10-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái đã có các quyết định kỷ luật về Đảng và Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái đã có các quyết định kỷ luật về chính quyền đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái.
Cụ thể, kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Phạm Sỹ Quý, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái; cho thôi các chức vụ Bí thư Đảng ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời, kỷ luật cảnh cáo về mặt chính quyền, cho thôi chức vụ Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; điều động đến nhận công tác tại Văn phòng HĐND tỉnh Yên Bái, đảm nhiệm chức vụ Phó Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh.
Thời điểm ông Quý được điều động đảm nhiệm chức vụ Phó Văn phòng HĐND, nhiều ý kiến cho rằng ông Quý bị kỷ luật nhưng vẫn được giữ chức vụ tương đương cấp Sở. Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh Yên Bái thời điểm đó lý giải Văn phòng HĐND là cơ quan giúp việc cho HĐND tỉnh, không phải cơ quan quản lý nhà nước như cấp Sở.
Trước đó vào ngày 23-10, Thanh tra Chính phủ (TTCP) đã công bố kết luận việc quản lý đất đai, cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng; việc chấp hành pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập liên quan đến khu đất tại tổ 42 và tổ 52, phường Tân Minh, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Khu đất này thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Huệ (vợ ông Quý).
Kết luận thanh tra chỉ rõ ông Quý vi phạm khoản 4, Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng khi để vợ kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp. Ngoài ra, TTCP xác định khi được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở TN-MT, ông Quý kê khai thiếu 7.905 m2 đất ở, hơn 27.500 m2 đất nông nghiệp vợ đứng tên, không kê khai căn nhà đang xây dựng diện tích xây dựng 600 m2 tại tổ 51 phường Minh Tân và không kê khai tiền vay ngân hàng hơn 9,1 tỉ đồng và nợ bạn bè 60 cây vàng.
TTCP cho rằng những vi phạm của ông Phạm Sỹ Quý đến mức phải thi hành kỷ luật một cách nghiêm minh.
Minh Chiến
https://baomoi.com/s/c/24655571.epi?utm_source=desktop&utm_medium=facebook&utm_campaign=share
Nhận nhiệm vụ mới, ông Phạm Sỹ Quý rất cầu thị, rất tiến bộ
17/01/2018 Lãnh đạo HĐND tỉnh Yên Bái đã có những đánh giá về thời gian làm việc của ông Phạm Sỹ Quý kể từ khi đảm nhiệm chức vụ mới là Phó văn phòng HĐND tỉnh. Đánh giá về quá trình gần 3 tháng chuyển sang công tác tại HĐND tỉnh Yên Bái của ông Phạm Sỹ Quý, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái nói: "Nhận công việc mới này cũng là rất bình thường. Đã nhận nhiệm vụ thì phải hoàn thành. Ông Quý rất cầu thị, rất tiến bộ".
"Biệt phủ" của gia đình ông Phạm Sỹ Quý ở Yên Bái - Ảnh: M. Chiến
Ngày 17-1, trao đổi với phóng viên Báo Người Lao Động, ông Triệu Tiến Thịnh, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái, cho biết ông Phạm Sỹ Quý, Phó Văn phòng HĐND (nguyên Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường), đang làm tốt công việc được giao kể từ thời điểm thi hành kỷ luật hồi cuối tháng 10-2017.Theo ông Thịnh, ông Phạm Sỹ Quý là Phó văn phòng HĐND, giúp việc cho Chánh văn phòng, thực hiện các công việc, nhiệm vụ do Chánh Văn phòng giao. "Quá trình ông Quý chuyển sang vị trí mới, lãnh đạo HĐND tỉnh, các phòng ban đều hết sức tạo điều kiện cho ông Quý hoàn thành tốt các công việc được giao"- ông Triệu nhấn mạnh.
Đánh giá về quá trình gần 3 tháng chuyển sang công tác tại HĐND tỉnh Yên Bái của ông Phạm Sỹ Quý, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Yên Bái nói: "Nhận công việc mới này cũng là rất bình thường. Đã nhận nhiệm vụ thì phải hoàn thành. Ông Quý rất cầu thị, rất tiến bộ".
Ông Triệu Tiến Thịnh cho biết dư luận trong cơ quan cũng rất ủng hộ và giúp đỡ ông Phạm Sỹ Quý hoàn thành công việc trên cương vị mới.
Trước đó, ngày 27-10-2017, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái đã có các quyết định kỷ luật về Đảng và Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái đã có các quyết định kỷ luật về chính quyền đối với cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Yên Bái.
Cụ thể, kỷ luật bằng hình thức cảnh cáo về mặt Đảng đối với ông Phạm Sỹ Quý, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái; cho thôi các chức vụ Bí thư Đảng ủy, Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ Sở Tài nguyên và Môi trường. Đồng thời, kỷ luật cảnh cáo về mặt chính quyền, cho thôi chức vụ Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường; điều động đến nhận công tác tại Văn phòng HĐND tỉnh Yên Bái, đảm nhiệm chức vụ Phó Văn phòng Hội đồng nhân dân tỉnh.
Thời điểm ông Quý được điều động đảm nhiệm chức vụ Phó Văn phòng HĐND, nhiều ý kiến cho rằng ông Quý bị kỷ luật nhưng vẫn được giữ chức vụ tương đương cấp Sở. Tuy nhiên, lãnh đạo tỉnh Yên Bái thời điểm đó lý giải Văn phòng HĐND là cơ quan giúp việc cho HĐND tỉnh, không phải cơ quan quản lý nhà nước như cấp Sở.
Trước đó vào ngày 23-10, Thanh tra Chính phủ (TTCP) đã công bố kết luận việc quản lý đất đai, cấp phép xây dựng và quản lý xây dựng; việc chấp hành pháp luật về minh bạch tài sản, thu nhập liên quan đến khu đất tại tổ 42 và tổ 52, phường Tân Minh, TP Yên Bái, tỉnh Yên Bái. Khu đất này thuộc sở hữu của bà Hoàng Thị Huệ (vợ ông Quý).
Kết luận thanh tra chỉ rõ ông Quý vi phạm khoản 4, Điều 37 Luật Phòng, chống tham nhũng khi để vợ kinh doanh trong phạm vi do mình quản lý trực tiếp. Ngoài ra, TTCP xác định khi được bổ nhiệm giữ chức Giám đốc Sở TN-MT, ông Quý kê khai thiếu 7.905 m2 đất ở, hơn 27.500 m2 đất nông nghiệp vợ đứng tên, không kê khai căn nhà đang xây dựng diện tích xây dựng 600 m2 tại tổ 51 phường Minh Tân và không kê khai tiền vay ngân hàng hơn 9,1 tỉ đồng và nợ bạn bè 60 cây vàng.
TTCP cho rằng những vi phạm của ông Phạm Sỹ Quý đến mức phải thi hành kỷ luật một cách nghiêm minh.
Minh Chiến
https://baomoi.com/s/c/24655571.epi?utm_source=desktop&utm_medium=facebook&utm_campaign=share
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Về Việt Nam sinh sống Việt kiều chấp nhận đánh đổi gì?
Nói chung, nếu đã chọn hồi hương về VN thì đừng đặt nặng chuyện được hay mất. Mà hãy cố gắng thích nghi cuộc sống ở VN , tuy không bị rào cản là ngôn ngữ, nhưng có những thứ mà bạn sẽ phải gặp còn khó khăn hơn cả trên xứ người. Ngoài việc chúc những người đang và sắp sửa hồi hương sẽ gặp nhiều may mắn và hạnh phúc trên quê hương của mình. Thì tôi cũng chỉ có lời khuyên với những người hồi hương, nếu bạn mang quốc tịch Tây thì không nói làm gì. Nhưng nếu vẫn còn quốc tịch VN , thì đừng quăng vội cái thẻ định cư khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất như nhiều người đã từng làm khi hồi hương.
Nhưng ngày nay, người muốn hồi hương về VN còn có cả một số người từ 35 trở lên, họ cũng muốn một ngày nào đó sẽ gom thật nhiều tiền ở Tây để về VN mua nhà và sống hết quãng đời còn lại .Vì tâm lý ”lá rụng về cội ” vẫn còn ở trong một số người Việt mà vì lý do nào đó ví dụ như : cô đơn, buồn chán, không chấp nhận xã hội Đức vì cảm thấy khó hòa nhập ,không biết tiếng..v..v .
Có lẽ điều này cũng dễ hiểu , vì nếu họ rời xa VN khi tuổi đã lớn . Thì những kỷ niệm vui buồn hay những thói quen của họ từ khi còn ở trong nước, dù tốt hay xấu cũng rất khó thay đổi mặc dù họ có sống ở Đức bao lâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào ..v..v.
Nhưng dù họ quyết định đi hay ở , thì đó là quyền của họ.Chính phủ Đức cũng không ngăn cản bất cứ người nào muốn rời khỏi nước Đức kể cả công dân Đức.
Nếu ai muốn hồi hương về VN thì có thể đọc và tìm hiểu về những cái được và mất khi hồi hương về VN .
Đương nhiên khi quay về VN, ngoài việc được gặp lại người thân, cha mẹ , bạn bè hay họ hàng . Thích ăn gì , đi đâu đều có ở VN và nhất là Sài Gòn là một nơi luôn ồn ào và náo nhiệt với những tòa nhà cao tầng xen lẫn những khách sạn , nhà hàng và quán bar sang trọng . Không những chỉ có Sài Gòn , mà Đà Nẵng cũng đã thay da đổi thịt , nhìn rất đẹp và hào nhoáng khi về đêm.v.v… Nói chung là rất vui vì hàng quán , siêu thị luôn mở cửa bất kể ngày cuối tuần .Cho nên bạn sẽ không cảm thấy buồn tẻ và chán như bên Đức, vì ở Đức cứ vào ngày chủ nhật là tất cả đều đóng cửa , đường xá thưa thớt người qua lại .Cho nên nhiều người Việt mới sang cảm thấy hơi schock vì phố xá vắng tanh , còn hàng quán đóng cửa im lìm….Cho nên có thể nói đó là những cái được của bạn khi hồi hương về VN .
Có lẽ điều này cũng dễ hiểu , vì nếu họ rời xa VN khi tuổi đã lớn . Thì những kỷ niệm vui buồn hay những thói quen của họ từ khi còn ở trong nước, dù tốt hay xấu cũng rất khó thay đổi mặc dù họ có sống ở Đức bao lâu và trong bất cứ hoàn cảnh nào ..v..v.
Nhưng dù họ quyết định đi hay ở , thì đó là quyền của họ.Chính phủ Đức cũng không ngăn cản bất cứ người nào muốn rời khỏi nước Đức kể cả công dân Đức.
Nếu ai muốn hồi hương về VN thì có thể đọc và tìm hiểu về những cái được và mất khi hồi hương về VN .
Đương nhiên khi quay về VN, ngoài việc được gặp lại người thân, cha mẹ , bạn bè hay họ hàng . Thích ăn gì , đi đâu đều có ở VN và nhất là Sài Gòn là một nơi luôn ồn ào và náo nhiệt với những tòa nhà cao tầng xen lẫn những khách sạn , nhà hàng và quán bar sang trọng . Không những chỉ có Sài Gòn , mà Đà Nẵng cũng đã thay da đổi thịt , nhìn rất đẹp và hào nhoáng khi về đêm.v.v… Nói chung là rất vui vì hàng quán , siêu thị luôn mở cửa bất kể ngày cuối tuần .Cho nên bạn sẽ không cảm thấy buồn tẻ và chán như bên Đức, vì ở Đức cứ vào ngày chủ nhật là tất cả đều đóng cửa , đường xá thưa thớt người qua lại .Cho nên nhiều người Việt mới sang cảm thấy hơi schock vì phố xá vắng tanh , còn hàng quán đóng cửa im lìm….Cho nên có thể nói đó là những cái được của bạn khi hồi hương về VN .
Nhưng rồi ngày vui cũng qua mau, vì bạn về VN để sống lâu dài chứ không phải như những Việt kiều khác về chơi rồi lại đi .
Bạn sẽ bắt đầu phải đối mặt với những khó khăn khi bạn hồi hương , cái khó khăn này còn rắc rối và phức tạp hơn ngay chính trên quê hương của bạn đó là :
* Bạn phải tìm kiếm công việc hay kinh doanh một cái gì đó ở VN để sống và tồn tại .Vì ở VN ,thì cuộc sống sẽ phụ thuộc vào chính túi tiền nhiều hay ít của bạn. Bạn không có bất cứ một trợ cấp nào về nhà cửa, con cái, hưu trí kể cả chữa bệnh.Có nghĩa là phải tự lực cánh sinh tất cả mọi sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống , chứ bạn không được nhận bất cứ trợ giúp nào từ chính phủ Việt Nam .
* Rồi đến một lúc nào đó , cha mẹ của bạn cũng chẳng sống mãi bên cạnh bạn được .Còn anh em thì ai làm nấy ăn , bạn bè cũng chỉ vui một lúc rồi ai về nhà nấy.Còn hàng xóm ở VN sẽ dòm ra ngó vào và xì xào ….” sao Việt kiều mà lại về VN sống vậy ta ? “Chắc ở Tây làm nghề ” vét dĩa” ….” thôi chết,hay nó làm gì bậy bạ ở Tây bị người ta đá về “…v.v
Ở VN chắc mọi người không lạ gì sự bàn ra tán vào của mọi người nếu bạn về ở luôn . Không riêng gì những người hồi hương , kể cả Việt kiều mà thường về VN chơi sẽ bị cho là thất nghiệp, còn lâu lâu mới về thì bị nói là không có tiền để về . Nói tóm lại , kiểu gì bạn cũng bị họ đem ra làm đề tài bàn tán , chỉ khác một điều là Việt kiều họ về rồi họ lại đi nên họ sẽ ít nghe hơn bạn . Còn bạn về sống hẳn VN thì phải nghe thường xuyên hơn , nếu có tiền thì không sao ,mà chỉ cần sa sút một chút về kinh tế thì còn bị coi thường nhiều hơn cả những người chưa từng đi Tây.
*Ngoài việc phải đi làm kiếm tiền , thì bạn cũng nên tập làm quen với đủ mọi tin tức hàng ngày xảy ra thường xuyên ở VN mà báo chí trong nước đề cập đến hàng ngày , mà lại toàn những tin ” hot” như : cướp giật, giết người, hiếp dâm, tai nạn giao thông, tiền mất giá, tiền tỷ của dân gởi ngân hàng thường xuyên bị mất, người dân ở Mỹ Đức bắt hàng chục cảnh sát cơ động làm con tin, Trung quốc xây nhiều Casino ở VN nhưng cấm người Việt vào, Formosa xả thải gây ô nhiễm làm cá chết hàng loạt còn biển thì ô nhiễm nặng, bác sĩ bỏ mặc bệnh nhân chết vì không có tiền.. v.v.
Sống giữa một đất nước mà bạn phải nghe hàng ngày đủ loại tin tức như vậy mà bản thân bạn chẳng biết phải làm gì để thay đổi, chưa kể nói ra sẽ bị khép vào tội ” phản động ” chống phá nhà nước ”.... và sẽ bị bắt bỏ tù.
*Cố gắng giữ gìn sức khỏe thật tốt để khỏi phải sử dụng y tế của VN. Nên tập yoga để ăn uống ít hơn vì ở VN đồ ăn toàn tẩm hóa chất, giống như vừa rồi có anh Tây nào đó về VN sống rồi uống trúng rượu dỏm và bị hỏng luôn cả hai con mắt. Cho nên bạn phải lưu ý điều này.
*Nếu mua nhà chung cư thì không nên mua nhà quá cao, vì nếu bị cúp điện hoặc xảy ra sự cố ngoài ý muốn thì rất phiền phức. Cũng đừng mua nhà ở khu lao động vì an ninh kém hay ở xa thành phố vì sẽ khó khăn nếu đi mua sắm, cấp cứu, gọi công an….
*Giao thông ở VN giống như cái mạng nhện, ngoài đường thì bụi bặm ô nhiễm. Đi xe máy mà không đeo khẩu trang đảm bảo trong vòng 2 phút mặt của bạn sẽ đen như trong lò than mới ra . Cảnh sát giao thông ở VN thì rất nhiều, nhưng đừng hy vọng gì ở họ. Vì nhiệm vụ của cảnh sát giao thông ở VN không phải là để giữ trật tự an toàn giao thông, mà cái chính của họ là làm việc khác, mà việc gì thì dù không nói ra nhưng ai sống ở VN đều biết.
Nói chung, nếu đã chọn hồi hương về VN , thì đừng đặt nặng chuyện được hay mất. Mà hãy cố gắng thích nghi cuộc sống ở VN , tuy không bị rào cản là ngôn ngữ, nhưng có những thứ mà bạn sẽ phải gặp còn khó khăn hơn cả trên xứ người. Ngoài việc chúc những người đang và sắp sửa hồi hương sẽ gặp nhiều may mắn và hạnh phúc trên quê hương của mình. Thì tôi cũng chỉ có lời khuyên với những người hồi hương, nếu bạn mang quốc tịch Tây thì không nói làm gì. Nhưng nếu vẫn còn quốc tịch VN , thì đừng quăng vội cái thẻ định cư khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất như nhiều người đã từng làm khi hồi hương. Vì chẳng ai biết ngày sau sẽ ra sao .Nếu cuộc sống ở quê nhà mà suông sẻ thì không sao, còn nếu chỉ gặp toàn chông gai sóng gió thì lúc đó có muốn đi cũng chẳng được mà ở cũng chẳng xong .
Nguồn: Facebook An Thanh Le
Bạn sẽ bắt đầu phải đối mặt với những khó khăn khi bạn hồi hương , cái khó khăn này còn rắc rối và phức tạp hơn ngay chính trên quê hương của bạn đó là :
* Bạn phải tìm kiếm công việc hay kinh doanh một cái gì đó ở VN để sống và tồn tại .Vì ở VN ,thì cuộc sống sẽ phụ thuộc vào chính túi tiền nhiều hay ít của bạn. Bạn không có bất cứ một trợ cấp nào về nhà cửa, con cái, hưu trí kể cả chữa bệnh.Có nghĩa là phải tự lực cánh sinh tất cả mọi sinh hoạt hàng ngày trong cuộc sống , chứ bạn không được nhận bất cứ trợ giúp nào từ chính phủ Việt Nam .
* Rồi đến một lúc nào đó , cha mẹ của bạn cũng chẳng sống mãi bên cạnh bạn được .Còn anh em thì ai làm nấy ăn , bạn bè cũng chỉ vui một lúc rồi ai về nhà nấy.Còn hàng xóm ở VN sẽ dòm ra ngó vào và xì xào ….” sao Việt kiều mà lại về VN sống vậy ta ? “Chắc ở Tây làm nghề ” vét dĩa” ….” thôi chết,hay nó làm gì bậy bạ ở Tây bị người ta đá về “…v.v
Ở VN chắc mọi người không lạ gì sự bàn ra tán vào của mọi người nếu bạn về ở luôn . Không riêng gì những người hồi hương , kể cả Việt kiều mà thường về VN chơi sẽ bị cho là thất nghiệp, còn lâu lâu mới về thì bị nói là không có tiền để về . Nói tóm lại , kiểu gì bạn cũng bị họ đem ra làm đề tài bàn tán , chỉ khác một điều là Việt kiều họ về rồi họ lại đi nên họ sẽ ít nghe hơn bạn . Còn bạn về sống hẳn VN thì phải nghe thường xuyên hơn , nếu có tiền thì không sao ,mà chỉ cần sa sút một chút về kinh tế thì còn bị coi thường nhiều hơn cả những người chưa từng đi Tây.
*Ngoài việc phải đi làm kiếm tiền , thì bạn cũng nên tập làm quen với đủ mọi tin tức hàng ngày xảy ra thường xuyên ở VN mà báo chí trong nước đề cập đến hàng ngày , mà lại toàn những tin ” hot” như : cướp giật, giết người, hiếp dâm, tai nạn giao thông, tiền mất giá, tiền tỷ của dân gởi ngân hàng thường xuyên bị mất, người dân ở Mỹ Đức bắt hàng chục cảnh sát cơ động làm con tin, Trung quốc xây nhiều Casino ở VN nhưng cấm người Việt vào, Formosa xả thải gây ô nhiễm làm cá chết hàng loạt còn biển thì ô nhiễm nặng, bác sĩ bỏ mặc bệnh nhân chết vì không có tiền.. v.v.
Sống giữa một đất nước mà bạn phải nghe hàng ngày đủ loại tin tức như vậy mà bản thân bạn chẳng biết phải làm gì để thay đổi, chưa kể nói ra sẽ bị khép vào tội ” phản động ” chống phá nhà nước ”.... và sẽ bị bắt bỏ tù.
*Cố gắng giữ gìn sức khỏe thật tốt để khỏi phải sử dụng y tế của VN. Nên tập yoga để ăn uống ít hơn vì ở VN đồ ăn toàn tẩm hóa chất, giống như vừa rồi có anh Tây nào đó về VN sống rồi uống trúng rượu dỏm và bị hỏng luôn cả hai con mắt. Cho nên bạn phải lưu ý điều này.
*Nếu mua nhà chung cư thì không nên mua nhà quá cao, vì nếu bị cúp điện hoặc xảy ra sự cố ngoài ý muốn thì rất phiền phức. Cũng đừng mua nhà ở khu lao động vì an ninh kém hay ở xa thành phố vì sẽ khó khăn nếu đi mua sắm, cấp cứu, gọi công an….
*Giao thông ở VN giống như cái mạng nhện, ngoài đường thì bụi bặm ô nhiễm. Đi xe máy mà không đeo khẩu trang đảm bảo trong vòng 2 phút mặt của bạn sẽ đen như trong lò than mới ra . Cảnh sát giao thông ở VN thì rất nhiều, nhưng đừng hy vọng gì ở họ. Vì nhiệm vụ của cảnh sát giao thông ở VN không phải là để giữ trật tự an toàn giao thông, mà cái chính của họ là làm việc khác, mà việc gì thì dù không nói ra nhưng ai sống ở VN đều biết.
Nói chung, nếu đã chọn hồi hương về VN , thì đừng đặt nặng chuyện được hay mất. Mà hãy cố gắng thích nghi cuộc sống ở VN , tuy không bị rào cản là ngôn ngữ, nhưng có những thứ mà bạn sẽ phải gặp còn khó khăn hơn cả trên xứ người. Ngoài việc chúc những người đang và sắp sửa hồi hương sẽ gặp nhiều may mắn và hạnh phúc trên quê hương của mình. Thì tôi cũng chỉ có lời khuyên với những người hồi hương, nếu bạn mang quốc tịch Tây thì không nói làm gì. Nhưng nếu vẫn còn quốc tịch VN , thì đừng quăng vội cái thẻ định cư khi vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất như nhiều người đã từng làm khi hồi hương. Vì chẳng ai biết ngày sau sẽ ra sao .Nếu cuộc sống ở quê nhà mà suông sẻ thì không sao, còn nếu chỉ gặp toàn chông gai sóng gió thì lúc đó có muốn đi cũng chẳng được mà ở cũng chẳng xong .
Nguồn: Facebook An Thanh Le
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Có thực người sang Trung Hoa năm 1790 là hoàng đế Quang Trung ? (Tc Xưa & Nay vs Nguyễn Duy Chính)
Bài của vị nào đó chưa rõ trên Tc Xưa và Nay (của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam) số 1 năm 2018.
Chép nguyên về website của Tc.
---
Có thực người sang Trung Hoa năm 1790 là hoàng đế Quang Trung?
Vài trao đổi với học giả Nguyễn Duy Chính
Năm 2016, Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh cho ra mắt bạn đọc quyển sách nhan đề Giở lại một nghi án lịch sử “Giả Vương nhập cận” – Có thực người sang Trung Hoa là vua Quang Trung giả hay không? của học giả Nguyễn Duy Chính. Tác giả là người rất đam mê khám phá lịch sử Việt Nam thời cổ. Với vốn ngoại ngữ (Anh, Pháp) thành thạo và khả năng Hán học vững vàng, Nguyễn Duy Chính đã dành nhiều tâm sức tìm hiểu, làm rõ một số khía cạnh của lịch sử Việt Nam thời trung đại, đặc biệt là giai đoạn cuối thế kỷ XVIII liên quan đến vương triều Tây Sơn. Quá trình tìm hiểu, khám phá sử Việt của ông được cụ thể hóa thành nhiều bài viết đăng trên Tạp chí Xưa&Nay, được xuất bản thành nhiều đầu sách khác nhau. Đó là điều đáng trân trọng về một người đầy tâm huyết với khoa học lịch sử, có ý thức tìm về cội nguồn, dụng tâm soi sáng các vấn đề lịch sử bằng những nguồn tài liệu mới và hiếm quý.
Trở lại quyển sách nói trên. Thông qua nhan đề, tác giả đã nêu rõ dụng ý muốn nhìn nhận lại một vấn đề lớn trong lịch sử vương triều Tây Sơn dưới thời Quang Trung, một vấn đề có ý nghĩa đối với nền hòa bình và sự phát triển đất nước sau cuộc vệ quốc chống Thanh thắng lợi, một vấn đề đã được nhất loạt khẳng định từ lâu và tưởng như không cần băn khoăn hay bàn luận gì thêm. Đó là có đúng người sang Trung Hoa năm 1790 là Quang Trung giả hay chính là Quang Trung thật? Cách đặt vấn đề rồi tìm cách giải đáp trong toàn bộ công trình đã thể hiện quyết tâm lớn của tác giả, không ngần ngại đương diện với quan điểm chính thống trước nay cho rằng vua Quang Trung sang nhà Thanh chỉ là giả vương.
Như vậy, vấn đề học giả Nguyễn Duy Chính đưa ra là một vấn đề khoa học lớn, có khả năng ảnh hưởng đến nhận thức xã hội và các kết luận khoa học hiện tồn về vương triều Tây Sơn – Quang Trung, nếu không giải quyết triệt để sẽ gây hoang mang, nghi ngờ, thậm chí làm đảo loạn cách tiếp cận, sự nhìn nhận của người đương thời về quá khứ đất nước, đi xa hơn dẫn đến sự nghi ngờ không cần thiết đối với tính khách quan, chân xác của các công trình sử học chuyên sâu về thời Tây Sơn thuộc nền khoa học lịch sử Việt Nam hiện đại. Xuất phát từ nhận thức này, trên tinh thần góp ý xây dựng, chúng tôi muốn trao đổi một vài ý kiến phản biện với học giả Nguyễn Duy Chính sau khi đọc công trình của ông.

Đền thờ nhà Tây Sơn Tam Kiệt ở Tây Sơn, Bình Định
Trong toàn sách, tác giả đã đưa ra nhiều chứng cứ và lí lẽ để đặt lại/nghi ngờ vấn đề Quang Trung giả. Có thể tóm lược như sau:
– Hệ thống hành chính và giám sát, truyền tin của nhà Thanh rất chặt chẽ, Phúc Khang An không thể tự chuyên và qua mặt triều đình về việc xếp đặt với Tây Sơn để đưa một người đóng giả Quang Trung sang triều kiến.
– Nhóm người Lê Chiêu Thống đang ở Trung Hoa, nhiều người biết mặt Nguyễn Huệ, nếu giả sẽ lộ ngay.
– Người đóng giả Quang Trung, theo một số sử sách là Phạm Công Trị hoặc Ngô Văn Sở, đều có mặt trong phái đoàn sang Thanh và phía nhà Thanh biết hai người này.
– Dư luận Việt Nam đương thời nhầm lẫn phái bộ Nguyễn Quang Hiển với phái đoàn Quang Trung. Từ chỗ lan truyền tin Nguyễn Quang Hiển không phải là cháu Quang Trung dẫn đến chỗ hiểu lầm Quang Trung sang Thanh là giả.
– Trong thời gian Quang Trung sang Trung Hoa, Thái tử Quang Toản thay cha quản lý triều chính. Hai trong số văn kiện thời Tây Sơn năm 1790 thể hiện điều này, không văn kiện nào chứng tỏ Quang Trung ở trong nước. Bên cạnh đó, còn có những dấu chỉ khác là thư từ giao thiệp giữa Quang Trung với Nguyễn Thiếp dường như bị gián đoạn trong năm 1790; thái độ hân hoan của các sứ thần Đại Việt khi sang Thanh năm này.
– Trong các tác phẩm của những người trong phái đoàn năm 1790 ấy, không có dòng, đoạn nào nhắc đến việc người sang Trung Hoa là Quang Trung giả.
– Tác giả còn dẫn một đoạn trong Khâm định An Nam kỷ lược nói đến chuyện Quang Trung về nước và phải đối diện với tin đồn không hay liên quan đến việc ông sang Trung Hoa.
– Nhà Nguyễn sau này viết về Tây Sơn đã bêu xấu Quang Trung phải “ôm gối” vua Thanh và hợp thức hóa tin đồn giả vương để làm giảm hào quang của triều Tây Sơn.
– Ghi chép của các bộ sử Trung Quốc là Việt Nam tập lược (nửa sau thế kỷ XIX), Thanh sử cảo và Thanh sử (đầu thế kỷ XX) tuy khăng định người sang Trung Hoa là Quang Trung giả nhưng không nói rõ dựa vào tư liệu nào, có thể do nghe được từ phía Việt Nam.
Từ những điều kể trên, Nguyễn Duy Chính đi đến kết luận: Người sang nhà Thanh chính là Quang Trung. Kết luận này làm nền dẫn đến các nhận định tiếp theo (trực tiếp hoặc ngụ ý):
– Bác bỏ toàn bộ tính xác thực trong ghi chép của các thư tịch cổ Việt Nam có đề cập đến vấn đề giả vương. Xem những ghi chép về sự kiện này của sách vở trong nước là không đúng.
– Nhà Nguyễn (cụ thể là vua Minh Mạng) đã chỉ đạo hợp thức hóa tin đồn giả vương, biến nó thành sự thật.
– Phủ nhận những ghi chép của các bộ sử Trung Quốc về vấn đề “giả vương”.
– Quang Trung sang Trung Hoa là một sự kiện trọng đại đương thời, đã nâng cao quốc thể và uy tín của nước Việt trong bối cảnh “Trung Hoa đang là một đế chế thịnh trị bậc nhất trong thiên hạ [hay người ta nghĩ thế] mà mọi quốc gia đều thèm khát có quan hệ ngoại giao, còn nước ta khi đó chỉ là ba tiểu quốc qua phân, trên uy tín quốc tế chưa mấy nơi biết đến” (trích Phi Lộ của sách).
Tuy nhiên, khi xem xét các cứ liệu cùng lập luận trong sách, có thể nhận thấy tác giả đã đi từ chỗ đoán định đến khẳng định và nâng lên thành kết luận chính thức trong khi còn nhiều vấn đề chưa được chứng minh rõ ràng, “rốt ráo”. Cụ thể:
Thứ nhất, tác giả luôn nói tin đồn Quang Trung giả là do nhầm lẫn từ tin đồn Nguyễn Quang Hiển là giả. Tin này lan rộng trong nước khiến mọi người tin như vậy và một số sách vở cũng chép theo hướng đó. Nhưng xét kĩ, ngoài việc chứng minh có tin đồn Nguyễn Quang Hiển không phải là cháu Quang Trung thì tác giả không đưa ra được cứ liệu chắc chắn nào để xác nhận người thời bấy giờ đã lẫn lộn Nguyễn Quang Hiển giả với Quang Trung giả.
Thứ hai, đâu là căn cứ để bác bỏ toàn bộ ghi chép của thư tịch Việt Nam về chủ trương đưa giả vương sang Trung Hoa thay Quang Trung? Hay chỉ dựa vào một số chi tiết đại loại như ghi chép bất nhất của các sách về tên nhân vật thế thân để rút ra nhận định? Những tác giả của Hoàng Lê nhất thống chí, Lê quý dật sử, Nghệ An kí, Phan gia thế tự lục… đều sống cách sự kiện 1790 không quá xa, ít nhiều nắm thông tin về sự kiện này rõ hơn chúng ta ngày nay.
Thứ ba, tư liệu xác tín nào nào chứng minh việc nhà Nguyễn chỉ đạo biến vấn đề Quang Trung thật thành giả vương? Nếu chỉ đoán rằng nhà Nguyễn bôi nhọ Quang Trung bằng cách gán lễ “ôm gối” thay vì “bão kiến thỉnh an” cho ông và cách viết khinh miệt, hạ thấp Quang Trung như kiểu dùng chữ Cô (姑) trong sử sách nhà Nguyễn thì chưa chứng minh được vấn đề đã nêu, có chăng chỉ là cho thấy thái độ hằn học của triều Nguyễn với Tây Sơn. Không thể qua các chi tiết đó để đoán rằng nhà Nguyễn đã chỉ đạo các sử thần dàn dựng chi tiết, xác thực tin đồn (vốn không có thật – như quan điểm xuyên suốt của tác giả) và chính thức đưa mệnh đề giả vương vào quốc sử.
Thứ tư, trong khi chưa tìm cách xác minh được nguồn tư liệu mà Việt Nam tập lược, Thanh sử hay Thanh sử cảo sử dụng để dẫn các sách này đến khẳng định người sang Trung Hoa là Quang Trung giả, đã cho rằng chúng không đáng tin. Các tác giả của hai bộ sách trên là người Trung Quốc, sống cách sự kiện không phải là quá xa nên có thể tiếp cận nhiều nguồn tài liệu mà bên ngoài chưa dễ khai thác được. Vì vậy, nếu không có tư liệu khả tín để chứng minh các sách này viết sai thì không nên cho rằng thông tin chúng cung cấp là không xác thực.
Thứ năm, các thư tịch của nhà Thanh dưới thời Càn Long đương nhiên không thể ghi rằng đó là Quang Trung giả. Các ghi chép của người Việt Nam trong phái đoàn năm 1790 cũng vậy. Nếu cho rằng sử tịch nhà Thanh không ghi, các sứ thần Đại Việt không nói đến, để suy ngược vấn đề thật – giả là cách làm không khoa học. Trong bối cảnh lúc ấy, nếu quả thật đó là Quang Trung giả thì vì thể diện, nhà Thanh không bao giờ dám tiết lộ. Các sứ thần Đại Việt cũng không dại gì đưa vào thơ văn khi họ còn phục vụ dưới triều đại Tây Sơn; kể cả sau này, khi Tây Sơn không còn thì họ cũng không có lí do gì để nói lại một vấn đề mà trong dân gian đều biết Quang Trung không hề sang nhà Thanh.
Thứ sáu, nếu lấy Đại Việt quốc thư làm một bằng cớ để cho rằng Quang Trung đã sang nhà Thanh thì cũng không thuyết phục. Người thay Quang Trung vẫn có quyền xem mình chính là Quang Trung để thư từ qua lại với nhà Thanh, thậm chí “chỉ đạo” từ xa một số công việc trong nước. Đó là cách làm quyền biến có thể chấp nhận vào lúc ấy.
Thứ bảy, vẫn biết các văn kiện thời Quang Trung nay không còn nhiều, nhưng liệu tác giả đã tiếp cận hết chưa hay chỉ dựa vào hai văn kiện được gửi đến Quang Toản hay có đóng dấu của Quang Toản vào thời gian phái đoàn sang Thanh để cho rằng Quang Trung lúc ấy không ở nhà? Việc xây kinh đô mới ở Nghệ An đến khi Quang Trung mất vẫn chưa hoàn thành, nên không có gì chắc chắn để nói trong năm 1790 hễ không có thư từ qua lại giữa Quang Trung với Nguyễn Thiếp (hay việc xây kinh đô tạm dừng lại) thì đó là một chỉ báo của việc Quang Trung đang vắng mặt. Thêm nữa, sau chiến thắng, phái đoàn Đại Việt sang Thanh và được đối thủ tiếp đón trọng thị như vậy thì ai lại không hân hoan, phấn khích trong lòng?
Thứ tám, xuyên suốt công trình, tác giả không thể đưa ra những sử liệu đủ mạnh để bác bỏ hoàn toàn quan niệm giả vương và khẳng định hai năm rõ mười vấn đề “thật vương”. Thao tác nghiên cứu từ đầu đến cuối là nêu nghi vấn rồi suy diễn – đoán định qua một số tư liệu của nhà Thanh và đi đến khẳng định quan điểm. Muốn bác bỏ A để khẳng định B nhưng không chứng minh chắc chắn được B, mà chỉ đưa ra vài điểm bất hợp lí của A để khẳng định B. Đó chưa phải là cách làm khách quan, khoa học trên cơ sở thu thập, xử lí, giám định và phân tích tư liệu vốn dĩ rất chặt chẽ của khoa học lịch sử.
Như trên đã nói, vấn đề học giả Nguyễn Duy Chính đặt ra là một vấn đề khoa học lớn. Vì vậy, muốn thay đổi nhận thức vốn đã định hình về nó là điều không dễ dàng, đòi hỏi sự nỗ lực cao của nhà nghiên cứu, dựa trên hệ thống các nguồn tư liệu được khai thác và phân tích thấu đáo, chặt chẽ với một phương pháp nghiên cứu đúng đắn, khách quan và toàn diện. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh tinh thần thận trọng trong các công bố khoa học hay phát hiện khoa học mới. Trong công trình của mình, học giả Nguyễn Duy Chính đã công bố nhiều tư liệu có thể nói là mới mẻ về thời đại Tây Sơn. Tuy nhiên, khi còn nhiều điều chưa chứng minh rõ ràng, tác giả đã vội vàng khẳng định theo hướng đảo chiều các kết luận và nhận thức xưa nay (mặc dù ông từng nói đã tìm hiểu vấn đề trên 15 năm). Điều này rõ ràng đã khiến dư luận xã hội có phần hoang mang, nhất là khi trong một số buổi nói chuyện và bài viết về sau, tác giả mỗi khi nhắc đến Quang Trung sang nhà Thanh đều cho rằng đó là Quang Trung thật, xem như vấn đề ông đặt ra đã được xác quyết và nhận thức xã hội cũng dần phải điều chỉnh theo hướng như vậy. Đó cũng chưa phải là cách làm nghiêm túc, thận trọng của một nhà nghiên cứu có trách nhiệm đối với xã hội và khoa học lịch sử.
Cuối cùng, chúng tôi muốn lưu ý rằng, các nghiên cứu của tác giả nên được đặt trong bối cảnh đặc thù với những thông lệ, quan điểm nhất quán của nền bang giao Việt Nam đối với Trung Hoa dưới thời phong kiến. Trong quan hệ với nhà nước phong kiến Trung Hoa thời trung đại, các triều đại quân chủ Việt Nam luôn quán triệt sâu sắc chiến lược ngoại giao được lịch sử gọi là “thần phục giả vờ, độc lập thật sự”. Vì vậy, trong những tình huống bang giao phức tạp nhất, kể cả giai đoạn đối trí ngoại giao cam go và quyết liệt dưới triều Trần giữa hai cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất và thứ hai, chưa hề có vị quân chủ nào của nước Việt (đương nhiên không tính đến việc Lê Chiêu Thống sang nhà Thanh cầu viện) thân hành sang Trung Hoa để chầu hầu Hoàng Đế phương Bắc. Với ý thức tự tôn dân tộc rất cao, luôn xem Nam bang là nước văn hiến, cùng phương Bắc “mỗi bên hùng cứ một phương”, cac Đế Vương và tầng lớp chính trị tinh hoa, rộng hơn là toàn bộ các giai tầng trong nước đều mặc nhiên xem việc một vị vua nước Nam tự mình sang Trung Hoa là biểu hiện của thái độ quy phục thật sự. Đó là điều không thể chấp nhận và xúc phạm nghiêm trọng đến niềm tự hào dân tộc trong bối cảnh lịch sử Việt Nam thời trung đại, khi tư tưởng “vô tốn Trung Hoa”, ý thức tự cường luôn hiện hữu trong lòng dân tộc như một phương sách hằng xuyên để tự thức, tự lập và tự chủ trước một quốc gia to lớn cạnh bên luôn lăm le chờ đợi cơ hội để tiến chiếm nước Việt bé nhỏ.
Ở cuối thế kỉ XVIII, nhận thức xã hội về chiến lược bang giao với Trung Hoa chưa có những thay đổi rõ ràng về cấu trúc cùng chiều sâu, nên việc một vị Hoàng Đế nước Việt đã giành được vinh quang chiến thắng trước Bắc quốc lại tự động sang chúc thọ hoàng đế nhà Thanh là điều không thể chấp nhận trong tư tưởng, tình cảm của xã hội rộng lớn, càng không thể cho đó là sự kiện giúp nâng tầm hình ảnh và vị thế của nước Đại Việt. Khi nhà Thanh vẫn luôn xem Đại Việt là thuộc quốc, là chư hầu thì cũng không thể nói với việc Quang Trung đích thân sang Trung Hoa sẽ đánh dấu một bước ngoặt hệ trọng trong mối bang giao giữa hai nước. Đó là chưa kể, Quang Trung và đội ngũ dưới quyền không thể không tính đến những nguy hiểm tiềm tàng cho bản thân ông khi sang triều kiến nhà Thanh – kẻ chiến bại trước đó chưa lâu. Với hoàn cảnh lúc ấy, không có lí do đủ lớn khiến Quang Trung hành động như vậy. Cho nên, phương án dùng người đóng thế với tất cả sự công phu, tinh tế và sắp đặt kĩ càng của nó là giải pháp hợp thời hơn cả.
Trước lịch sử, sự thật việc Quang Trung sang Trung Hoa chỉ có một và rất đáng được nhận hiểu kỹ càng, chân xác thông qua hệ thống các tư liệu có độ tin cậy cao, giàu sức thuyết phục. Vậy nên, chúng tôi cho rằng trước khi chứng minh đầy đủ vấn đề thì bất kỳ ai, dù tâm huyết đến mấy, chỉ nên dừng lại ở góc độ quan điểm cá nhân hoặc đặt thành giả thuyết khoa học chứ không nên công bố rộng rãi như một thành tựu đáng ghi nhận. Chúng tôi cũng hi vọng học giả Nguyễn Duy Chính có thể từ chỗ đặt giả thuyết đi đến giải quyết thấu đáo các lỗ hổng hay sơ hở còn tồn tại để chiếu rọi, làm minh xác vấn đề đặt ra một cách thuyết phục và khoa học nhất, góp phần “trả lại một sự thật cho lịch sử” như ông tâm nguyện.
https://xuanay.vn/co-thuc-nguoi-sang-trung-hoa-nam-1790-la-hoang-de-quang-trung/
Phần nhận xét hiển thị trên trang
Đăng ký:
Nhận xét (Atom)