Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 20 tháng 1, 2018

Họ Doãn Việt Nam


Mộ tổ họ Doãn Việt Nam
Lăng mộ tổ họ Doãn Việt Nam tại chân núi Nưa, xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Đền thờ họ Doãn Việt Nam ở Cổ Định, thôn 5, làng Bính, xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn tỉnh Thanh Hóa.
Cho đến nay chưa có tài liệu nào nói rằng có sự liên hệ về huyết thống hay nguồn gốc giữa họ Doãn ở Việt Nam và họ Doãn ở Trung Quốc. Họ Doãn là một dòng họ lâu đời ở Việt Nam. Người họ Doãn có mặt trên vùng đất Kẻ Nưa - Nông Cống (nay là Cổ Định, xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn) tỉnh Thanh Hóa khoảng từ thời Hùng Vương (ít nhất cũng được trên 2000 năm)[1][2]. Tuy là một dòng họ có từ lâu đời nhưng phát triển chậm (do sinh con cháu ít và thưa lại thường hay di cư) nên ngày nay họ Doãn vẫn là một dòng họ không lớn lắm ở Việt Nam. Ngày giỗ tổ của họ Doãn toàn quốc (được chọn là ngày kỵ húy (ngày mất) của cụ tổ họ Doãn làng Cổ Định) là ngày 19 tháng 3 âm lịch hàng năm. Cụ tổ họ Doãn là một trong mười người đầu tiên khai hoang lập chạ Kẻ Nưa (dưới chân dãynúi Ngàn Nưa) vào thời Hùng Vương. Đến thời thuộc nhà Hán chạ Kẻ Nưa được gọi là Cà Ná giáp; thời thuộc nhà Tùy - nhà Đườngsách sử ghi là Cà Ná Giáp, dân giã gọi là Kẻ Nưa; thời nhà Lý - nhà Trần được đổi thành hương Cổ Na. Thời Lê sơLê Thái Tổ đổi Cổ Na thành Cổ Ninh, thời Lê trung hưng được đổi thành Cổ Định (do tránh gọi tên húy của vua Lê Duy Ninh), thời nhà Nguyễn thuộc tổng Cổ Định huyện Nông Cống phủ Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa, sau Cách mạng tháng Tám đổi tên thành Tân Ninh (với chữ Tân nghĩa là mới).
Họ Doãn Việt Nam là một họ văn hiến có nhiều đóng góp cho dân tộc Việt Nam. Trong lịch sử Việt Nam, kể từ thời nhà Lý cho đến ngày nay, họ Doãn cũng có những cá nhân xuất chúng đóng góp công sức cho dân tộc Việt Nam.

Các cá nhân của họ Doãn tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Các sách về truyền thống họ Doãn
Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết về mục đích chuyến đi sứ sang Minh của Doãn Hoành Tuấn, năm 1480.
  • Doãn Anh Khái 尹英槩[3], quê Cổ Định Thanh Hóa, giữ chức Lệnh thư gia (thời nhà Lý, triều Lý Thần Tông), đi sứ nhà Tống để đáp lễ việc nhà Tống phong tước Giao Chỉ quận vương cho vua Lý vào năm 1130[4]
  • Doãn Tử Tư 尹子思[5], quê Cổ Định Thanh Hóa, (thời nhà Lý, triều Lý Anh Tông), làm Trung vệ đại phu, dẫn đầu sứ bộ sang nhà Tống và khiến nhà Tống công nhận Đại Việt là một nước độc lập với cái tên là An Nam quốc (xem Quốc hiệu Việt Nam[6][7]Tống sử viết: "九月甲申。...。乙未,交阯入貢。"[8] (Tháng 9 âm năm Giáp Thân,..., ngày Ất Mùi (ngày 13 tháng 9 âm năm Giáp Thân tức là ngày 30 tháng 9 năm 1164[9]), Giao Chỉ sang triều cống.)
  • Doãn Ân Phủ 尹恩甫, nhà thơ, quê phủ Bình Giang châu Thượng Hồng lộ Lạng Giang thời nhà Trần (nay thuộc Hải Dương), làm quan dưới các thời Trần Anh Tông và Trần Minh Tông. Doãn Ân Phủ được vua Trần Minh Tông cử đi sứ sang nhà Nguyên Trung Quốc năm 1317.
  • Doãn Bang Hiến 尹邦憲[10] hay Doãn Băng Hài (1272-1322), quê làng Cổ ĐịnhThanh Hóa, đỗ Thái học sinh hạng Đồng tiến sĩ xuất thân (thứ 6) năm Giáp Thìn - 1304 (thời nhà Trần, triều Trần Anh Tông), giữ chức Hàn lâm Hiệu úy, Thượng thư bộ Lại năm 1314 (là vị thượng thư bộ Lại đầu tiên thời quân chủ ở Việt Nam)[11], sau đổi làm Thượng thư bộ Hình (năm 1322), hàm Thiếu Bảo. Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Khánh thứ 9 (1322) làm Chánh sứ (sứ giả) đi sứ sangnhà Nguyên giải quyết tranh chấp biên giới giữa hai nước (khi về mất ở dọc đường)[12][13][14], được phong tước Hương hầu, hàm Thiếu phó, được vua ban 100 mẫu đất (khoảng 0,5 km2) lập nên làng Doãn Xá (尹舍) thuộc tổng Lê Nguyễn, huyện Đông Sơn phủ Thiệu Thiên[15], Thanh Hóa, nay là các thôn Ngọc Lậu, Đà Ninh, Đại Từ thuộc xã Đông Thịnh và thôn Nhuệ Sâm, xã Đông Xuân, huyệnĐông Sơn[16] và một phần xã Đông Văn (thôn Thiều). Đại Việt sử ký chép: "Nhâm Tuất, [Đại Khánh] năm thứ 9 [1322] (Nguyên Chí Trị năm thứ 2)... Mùa hạ, người Nguyên tranh giành bờ cõi, sai ty Hành khiển Hình bộ Thượng thư là Doãn Bang Hiến sang Nguyên tranh luận. Bang Hiến mất ở dọc đường, vua rất thương tiếc.Nguyên sử quyển 28, Nguyên Anh Tông chép: "英宗二: 二年春正月己巳朔,安南、占城各遣使來貢方物。...。十一月甲午朔,日有食之。...。安南國遣使來貢方物,回賜金四百五十兩、金幣九,帛如之。癸卯,地震。"[17]([Nguyên] Anh Tông 2: Năm thứ 2, mùa xuân tháng giêng, ngày mùng một Kỷ Tỵ (ngày 18 tháng 01 năm 1322), An Nam và Chiêm Thành sai sứ giả đến cống phương vật... Tháng 11 ngày mùng một Giáp Ngọ (ngày 09 tháng 12 năm 1322)[18], có nhật thực, An Nam quốc sai sứ giả đến cống phương vật[a]. [Vua Nguyên] tặng lại 450 lượng vàng, 9 tiền vàng, và tơ lụa. Ngày Quý Mão (18 tháng 12 năm 1322) có động đất.)
  • Doãn Thuấn Thần, được Trần Dụ Tông cử đi sứ nhà Minh năm 1368 ngay sau khi nhà Minh lập quốc, để đáp lễ chuyến thiết lập bang giao của sứ thần Dịch Tế Dân do Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) cử sang Đại Việt. Vua nhà Minh hỏi về quốc sử và úy lạo sứ thần Doãn Thuấn Thần, khen tặng phong tục Đại Việt là: 文獻之邦 (Văn hiến chi bang, đất nước văn hiến)[19][20][21].
  • Doãn Nỗ 尹弩 (Lê Nỗ 黎弩) (1393-1439), quê Cổ Định Thanh Hóa, (thời Lê sơ, triều Lê Lợi), Trụ quốc công thượng tướng quân, được phong tước Quang Phục hầu, tham gia Khởi nghĩa Lam Sơn, một Khai quốc công thần nhà Lê. Doãn Nỗ là cháu 4 đời của Doãn Bang Hiến.
  • Doãn Hoành Tuấn hay Doãn Hoằng Tuấn 尹宏濬[22], (Khâm định Việt sử thông giám cương mục bản dịch quốc ngữ chép là Doãn Hoành Tấn), (thời Lê sơ, triều Lê Thánh Tông), đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân năm 1478[23]Thượng thư bộ Lễ, đi sứ nhà Minh năm 1480 mang thư trả lời nhà Minh của vua Lê về việc Đại Việt chinh phạt Ai Lao và tranh chấp biên giới Đại Việt-Đại Minh năm 1479.[24][25], quê An Duyên xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Khâm định Việt sử thông giám cương mục viết: “[...] công văn kể hết tình trạng đánh cướp (của quân nhà Minh) từ đầu đến cuối, nhân tiện kỳ (sứ thần Đại Việt đi sứ), trình lên tổng đốc Lưỡng Quảng tra khám xét hỏi. Gặp lúc đó, hoàng đế nhà Minh có sắc văn (gửi sang Đại Việt) nói rằng: Gần đây, được tin viên trấn thủ Vân Nam tâu rằng quốc vương An Nam vô cớ tự tiện điều binh mã đánh phá nước Lão Qua, rồi đánh tiếp nước Bát Bá Tức Phụ. Nếu (vua An Nam) từng làm như thế trước đây, thì hãy rút quân ngay! Vua (Lê Thánh Tông) đem sắc văn đó ra cho đình thần xem. Lê Thọ Vựcbày cách rằng: Bây giờ nên dùng lời quyền biến đáp lại (vua nhà Minh) là vì có người ở Đông Quan (nước tôi) chạy trốn sang Lão Qua, nên tôi tự sai binh lên biên cảnh truy bắt, chứ thực không liên quan gì đến Lão Qua và Bát Bá. (Vua Lê) bèn sai hàn lâm thị thư Lương Thế Vinh nghĩ ra soạn thành biểu văn phúc tấu đề cập tới việc tướng La Truyền phá (rào lũy biên giới), việc Lý Quảng Ninh bắt (phái viên triều đình Đại Việt) kể hết vào tờ tư. Rồi (vua Lê) sai các chính, phó sứNguyễn Văn Chất, Doãn Hoành Tuấn, Vũ Duy Giáo theo lệ cống sứ hàng năm, (mang theo cả biểu văn phúc tấu), sang nhà Minh tùy từng khoản mà ứng đối.”
  • Doãn Mậu Khôi 尹茂魁, cháu (gọi bằng bác ruột và thừa tự) Doãn Hoành Tuấn, quê An Duyên Thường Tín Hà Tây, đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân năm 1502[26], Thượng thư bộ Lễ, tước Tường An hầu, tới thời Lê Uy Mục được cử đi sứ nhà Minh 1507 [27], sau là Tả phủ tả Đô đốc trấn giữ xứ Hải Dương, sang triều nhà Mạc làm Thượng thư kiêm chưởng Hàn lâm viện[28], hàm Thái bảo, tước Hương Giang công, thọ 100 tuổi.
  • Doãn Đại Hiệu 尹大效 [29] hay Doãn Văn Hiệu,[30] người làng Yên Ninh từng thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang, đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân năm Tân Sửu - 1541, làm quan đến chức Tổng binh, được phong tước Đằng Khê  [31], dòng dõi ngành trưởng của tiến sĩ Doãn Mậu Khôi (cháu gọi bằng ông nội).
  • Doãn Đình Đống hay Doãn Đình Bảo, con trai thứ tư của Doãn Mậu Khôi, làm quan thời nhà Mạc, triều Mạc Mậu Hợp, tới các chức Khâm sai sứ Hải Dương, Tuyên Quang, quan Hiến sát sứ Ninh Sóc vệ hương (Ninh Sóc là tên cũ của xứ Thái Nguyên), Quốc ty sứ xá nhân, Tổng tri giám sát ngự sử, được phong tước La Sơn hầu, về Giao Thủy Nam Định định cư.[32]
  • Doãn Mậu Đàm 尹茂覃 hay còn gọi là Doãn Đàm (1557-?), cháu gọi Doãn Mậu Khôi bằng ông nội, gọi Doãn Đình Đống bằng chú, quê gốc An Duyên Thường Tín Hà Tây, sau chuyển cư tới thôn Cự Phú xã Tam Đa huyện Phù Cừ tỉnh Hưng Yên, đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân năm 1586[33][34], làm Hiến sát sứ Kinh Bắc, Thừa chính sứ Nghệ An, được phong tước Thọ Nham tử. Năm 1593, nhà Mạc thua chạy, ông bị quân nhà Lê-Trịnh bắt được [35], nhưng sau được thả và ra làm quan nhà Hậu Lê đến chức Hiến sát sứ Kinh Bắc.
  • Doãn Hy (尹僖[36],1572-1643), quê Cổ Định Thanh Hóa, làm quan Tả thị lang bộ Hộ kiêm Huy văn viện thiên sự (triềuTrịnh Tùng), hàm Thiếu bảo, nhiều lần theo chúa Bình An vương Trịnh Tùng đánh nhà Mạc, khoảng cuối năm Nhâm Tuất tới đầu năm Quý Hợi (1623) khi Trịnh Xuân nổi loạn. Ông đã cứu thoát Trịnh Tùng nên khi Trịnh Tráng lên ngôi (6/1623) coi ông là ân nhân đã phong cho ông làm Nhân quận công, truy tặng Thượng thư bộ Công.[37]
  • Doãn Năng (尹能, 1600-1643). Người Làng Phù Lưu phủ Đông Thành trấn Thanh Hoá (Chợ Mới Doãn, làng Nhuệ Sâm, xã Đông Xuân, Đông Sơn, Thanh Hóa). Trong Đại Việt sử ký có ghi: “Năm Bính Thân 1656 triều Lê Trung Hưng, niên hiệu Thịnh Đức Thứ 4 đời Vua Lê Thần Tông về việc truy xét những người chết trận, Tặng, Phong ghi “Doãn Năng làm Đô đốc đồng tri-Táo Quận Công cấp cho ruộng, dân, lộc và lập đền thờ”[36]. “Năm Quý Mùi Dương Hoà thứ 8 đời Vua Lê Thần Tông (1643) Hữu tướng Táo Quận Công, Tiền Đô Đốc cùng con trai tử trận ở thành Trào Khẩu- Hưng Nguyên. Dân chúng lập miếu để thờ phụng”.
  • Doãn Tuấn hay Doãn Đình Tá (1601-1666), con trai Doãn Hy, quê Cổ Định Thanh Hóa, làm quan Hiến sát sứ, hàm Thiếu bảo.
  • Doãn Huy Hào (1735-1807) phò vua Quang Trung được phong chức Binh Khoa đô Cấp sự trung (tước Tuân Đức tử) là cụ tổ chi thứ nhất của họ Doãn làng Phú Mỹ, hiện táng tại Chùa Vạc, thôn Văn Khê, xã Nghĩa Hương huyện Quốc Oai Hà Nội
  • Doãn Văn Xuân 尹文春 (-1836), hương cống khoa Kỷ Mão (1819) cùng Trương Đăng Quế làm Trực học dạy hoàng tử con vua Minh Mạng[38], án sát Quảng Yên, án sát Bắc Ninh, lang trung Trấn Tây Thành và án sát Định Tường(1836)[39], quê huyện Thăng Bình tỉnh Quảng Nam[40].
  • Doãn Uẩn 尹蘊 (1795-1850), đời thứ 9 kể từ Doãn Đình Đống, An Tây mưu lược tướng, Thượng thư bộ BinhTổng đốcAn Giang - Hà Tiên thời nhà Nguyễn, được phong tước Tuy Tĩnh tử truy tặng hàm Hiệp biện Đại học sĩ, quê Song LãngVũ Thư Thái Bình.
  • Doãn Khuê 尹 (1813-1878), em họ Doãn Uẩn, đời thứ 9 kể từ Doãn Đình Đống, quê Song lãng Vũ Thư Thái Bình, đỗ Đệ tam giáp tiến sĩ xuất thân năm 1838 (thời nhà Nguyễn)[41], Đốc học kiêm Hải phòng sứ, Doanh điền sứ, hàm Quang lộc tự khanh, là lãnh đạo của cuộc kháng chiến chống Pháp ở Bắc kỳ lần thứ nhất (tại địa bàn hai tỉnh Thái Bình và Nam Định ngày nay) năm 1873-1874.
  • Doãn Chính 尹正 (1829-1862), Tuy Tịnh nam (con cả Doãn Uẩn), quyền tri phủ Phú Bình (Thái Nguyên), chống phỉ nhà Thanh (tàn dư Thái Bình thiên quốc), bị vây hãm, hết lương, phải tuẫn tiết, được Tự Đức tặng hàm Thị giảng (thị độc học sĩ)[42][43]. Sách Thái Bình phong vật chí chépː sau khi ông tuẫn tiết, quân triều đình nhà Nguyễn đánh và thu lại được phủ thành Phú Bình, Nguyễn Tri Phương khi đó đang là Kinh lược đại thần ở Bắc Kỳ đến tận phủ thành Phú Bình lập đàn tế, bài văn tế có câuː遠不愧古人, 近不愧名臣之後, 下則為河岳, 上則為日星之光。Viễn bất quý cố nhân, cận bất quý danh thần chi hậu, Hạ tắc vi hà nhạc, thượng tắc vi nhật tinh chi quang.[42] (Xa không thẹn với cổ nhân, gần không thẹn là con danh thần, Sống với đời ví như sông núi, thác về trời sánh tựa ánh dương dạng ngời.)[44]
  • Doãn Đê (尹) (1840-1874), tức Doãn Chi, con cả của Doãn Khuê, tri huyện Chân Định (Kiến Xương - Thái Bình), tri phủ Nam Sách - Hải Dương, tham gia lãnh đạo kháng chiến chống Pháp năm 1873-1874, tại Thái Bình, Nam Định. Tử trận tại phủ lỵ Nam Sách năm 1874. Ông được dân làng Phú Mỹ tổng Thịnh Quang huyện Trực Định phủ Kiến Xương (nay thuộc xã Bình Minh huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình) thờ làm thành hoàng làng[45].
  • Doãn Vị 尹 (1855-1910), con trai thứ ba của Doãn Khuê, quê Song Lãng Vũ Thư Thái Bình, tham gia lãnh đạo kháng chiến chống Pháp năm 1873-1874 tại Thái Bình và Nam Định, nhà nho yêu nước hoạt động trong Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục ở tỉnh Thái Bình đầu thế kỷ XX.
  • Doãn Kế Thiện 尹繼善 (1891-1965), nhà văn hóa, Chủ tịch Mặt trận tổ quốc thành phố Hà Nội, quê Phú Mỹ huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây.
  • Doãn Tuế (1917-1995), trung tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, tư lệnh binh chủng Pháo Binh, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, quê thôn An Lãng xã Văn Tự huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây, dòng dõi ngành trưởng của tiến sĩ Doãn Mậu Khôi.
  • Doãn Mẫn (1919-2007), quê làng Hoàng Mai (Kẻ Mơ) Hà Nội, nhạc sĩ thuộc thế hệ đầu tiên của nền tân nhạc Việt Nam.
  • Doãn Quốc Sỹ (1923-), anh ruột Doãn Nho, nhà văn thời Việt Nam Cộng hòa.
  • Doãn Quang Khải (1925-2007), cháu gọi Doãn Kế Thiện bằng bác ruột, quê Phú Mỹ huyện Quốc Oai thành phố Hà Nội, nhạc sĩ quân đội, tác giả bài Vì nhân dân quên mình.
  • Doãn Sửu (1927-2017)[46], quê xã Hưng Chính huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An, thiếu tướng, cục trưởng Cục Chính sách Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam.
  • Doãn Nho, (1933-), quê Hạ Yên Quyết quận Cầu Giấy Hà Nội, Nghệ sĩ Nhân dân, nhạc sĩ Quân đội Nhân dân Việt Nam,giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật năm 2017[47].
  • Doãn Thanh Tùng, (1935-2017), quê Mỹ Lộc tỉnh Nam Định, là nhà thơ với nhiều bài được phổ nhạc thành bài hát như:Thời hoa đỏ,...
  • Doãn Hoàng Giang (1938-), quê Kim Sơn Ninh Bình, cháu 5 đời của Doãn Uẩn và Doãn Khuê, Nghệ sĩ Nhân dân, đạo diễn sân khấu.
  • Doãn Thế Cường (1958-), Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Hưng Yên nhiệm kỳ 2013 – 2016.
  • Doãn Văn Hưởng (1956-), Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Lào Cai nhiệm kỳ 2013 – 2016.
  • Doãn Mậu Diệp (1959-), quê ở Phú Mỹ huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây, nguyên phó bí thư tỉnh ủy Hòa Bình, nguyên hiệu trưởng trường Đại học Lao động - Xã hội, thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (Việt Nam).
  • Doãn Văn Sở, chuẩn đô đốc, Tư lệnh Vùng 5 Hải quân Nhân dân Việt Nam.
  • Doãn Bảo Quyết, thiếu tướng (2016)[48], nguyên Chính ủy Bộ Tư lệnh Vùng Cảnh sát biển 4, Phó Chính ủy Cảnh sát biển Việt Nam từ tháng 6 năm 2015.
  • Doãn Thái Đức, Tư lệnh[49] (nguyên Phó Tư lệnh-Tham mưu trưởng)[50] Quân đoàn 1, Quân đội Nhân dân Việt Nam, nguyên Tư lệnh Sư đoàn 308, Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 2011-2013.
  • Doãn Quốc Đam, diễn viên Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Freedom House: Quá nửa thế giới “không tự do” hoặc “tự do một phần”


Báo cáo thường niên mới nhất của một tổ chức phi chính phủ nổi tiếng của Mỹ chỉ ra bức tranh u ám năm 2017: giá trị dân chủ bị tấn công, xu thế đi xuống, năm thứ 12 liên tiếp tiếp tục xấu đi, các quyền chính trị và tự do công dân rơi xuống mức thấp nhất.
Báo cáo Độ tự do Thế giới 2018 của Freedom House cho rằng nền dân chủ đang bị tấn công và bao vây.
Hôm thứ Ba (ngày 16/1), tổ chức Freedom House chuyên nghiên cứu dân chủ, tự do chính trị và nhân quyền, đã công bố “Báo cáo về Tự do Thế giới 2018”. Báo cáo đánh giá trong số 195 quốc gia có hơn một nửa (55%) bị xem là “không tự do” hoặc “tự do một phần”.
Như thường lệ, Trung Quốc Đại Lục và Việt Nam nằm trong loại “không tự do” (NOT FREE), Trung Quốc chỉ được 14/100 điểm, Việt Nam đạt 20/100 điểm. Mức độ tự do tại Hồng Kông cũng đã giảm nghiêm trọng, với 59 điểm, xếp vào loại “tự do một phần” (PARTLY FREE). Tây Tạng có độ tự do thấp nhất trên thế giới, chỉ được 1 điểm, thấp hơn cả Bắc Triều Tiên được 3 điểm.
Phân loại tự do của Việt Nam năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Phân loại tự do của Trung Quốc năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Phân loại tự do của Tây Tạng năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Phân loại tự do của Hồng Kông năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Phân loại tự do của Bắc Triều Tiên năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Phân loại tự do của Mỹ năm 2018 bởi tổ chức Freedom House
Chủ tịch Michael Abramowitz của Freedom House cho biết, trên thế giới, các nguyên lý cơ bản của nền dân chủ gồm có: đảm bảo bầu cử tự do và công bằng, quyền lợi của người thiểu số, xuất bản tự do và nhà nước pháp trị.
Ông nói: “Chúng tôi nghĩ rằng dân chủ đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh”.
Một bước phát triển quan trọng là năm 2017 Mỹ không còn là ngọn đèn dân chủ. Freedom House đã chỉ ra rằng, trong 7 năm qua, các quyền chính trị và tự do dân sự của Mỹ đã giảm dần, nhưng sự suy giảm này đã bất ngờ tăng tốc nhanh vào năm ngoái. Về khía cạnh này ngày càng nhiều bằng chứng cho thấy Nga can thiệp vào cuộc bầu cử tổng thống năm 2016, mặt khác, dưới sự lãnh đạo của chính quyền mới, tính minh bạch chính trị của Mỹ suy giảm.
Báo cáo cho rằng ngọn thủy triều dân chủ suy thoái là rất đáng lo lắng, nhưng đồng thời hai chế độ độc tài Trung Quốc và Nga tận dụng cơ hội này, một mặt tăng cường đàn áp trong nước, mặt khác mang những tác hại của nó ảnh hưởng sang các nước khác.
Báo cáo cho biết, Trung Quốc và Nga kiên định cho rằng dân chủ đặt ra một thách thức đối với chế độ áp bức của họ. So với Nga, dã tâm của Bắc Kinh lớn hơn và có nhiều nguồn lực hơn để thực hiện. Ví dụ, Bắc Kinh đã thiết lập hệ thống tuyên truyền và kiểm duyệt có thể liên quan đến toàn thế giới; sử dụng sự ép buộc về kinh tế và các phương tiện khác để ảnh hưởng đến các nước dân chủ như Úc và New Zealand; thúc ép nhiều nước buộc phải cho hồi hương công dân Trung Quốc đến lánh nạn, hỗ trợ ngoại giao và vật chất cho các Chính phủ áp bức từ Đông Nam Á đến châu Phi.
Rosenberg, người từng làm việc tại Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ và Chính phủ Mỹ nói: “Tôi nghĩ rằng Mỹ đã lơ là điều này, cho đến gần đây thì các phương tiện truyền thông, giới học thuật, nhà làm chính sách mới bắt đầu chú ý quan tâm hơn.”
Tuần trước, chi nhánh Austin Đại học Texas (Mỹ) đã từ chối số tiền hiến tặng của “Quỹ giao lưu Trung Quốc – Mỹ”, vì lo ngại quỹ do cựu Đặc khu trưởng Hồng Kông Đổng Kiến Hoa sáng lập này có quan hệ thân với Chính phủ Trung Quốc, sẽ ảnh hưởng đến sự tự do học thuật và tính liêm chính của nhà trường.
Rosenberg nói với đài VOA rằng, nhận thức được những mối đe dọa này là bước đầu tiên, nhưng Mỹ còn có nhiều điều phải làm, một mặt để hiểu Chính phủ Trung Quốc đang làm gì, mặt khác để đẩy lùi nó.
Báo cáo của Freedom House chỉ ra, nếu không đẩy lùi nó, hậu quả dùng uy quyền thay cho dân chủ sẽ ngày càng gia tăng: điều này có nghĩa là truyền thông tự do bị truyền thông tuyên truyền (phi tự do) thống trị; phe đối lập bị gạt sang bên lề; kẻ cai trị sẽ được nhào nặn như là vị thần toàn năng; quốc gia kiểm soát Internet và truyền thông xã hội, thông tin không thể thoát khỏi kiểm duyệt và bóp méo…
John Norris, một chuyên gia thuộc Trung tâm Tiến bộ Mỹ cho biết: “Đây sẽ là một lời kêu gọi thức tỉnh cho nền dân chủ trên toàn thế giới. Thực sự chúng ta đang trải qua suy thoái nghiêm trọng.
Nhưng khác nhiều quan điểm chính thống phổ biến hiện nay, Norris tin rằng các cuộc tấn công lớn của Trung Quốc và Nga vào các nền dân chủ trên thế giới phản ánh điểm yếu của hai Chính phủ này.
Lấy ví dụ Trung Quốc đang đẩy mạnh phát triển công nghệ nhận dạng khuôn mặt, ông nói rằng một chính phủ nắm quyền lực lớn, nắm giữ thông tin khuôn mặt hơn một tỷ người, không ngừng theo dõi họ, chấm điểm họ, phát xét ai là người tốt, ai là người gây nguy cơ tiềm ẩn cho Chính phủ. Đây không thể xem là điều hay ho, vì chính họ thiếu tự tin vào vai trò của họ.
Norris nói: “Nhìn vẻ ngoài, Trung Quốc và Nga thực sự là những lực lượng chính phá hoại nền dân chủ, nhưng thực tế nội lực của nó là rất yếu.
Tuyết Mai / TrithucVN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MỘT PHẦN HOÀNG SA VÀ 6 NĂM CÒN LẠI



Luân Lê

Theo luật quốc tế, một quốc gia chiếm giữ một thực thể trong vòng 50 năm liên tục mà không có tranh chấp thì thực thể đó thuộc chủ quyền của quốc gia đang thực hiện việc chiếm giữ, quản lý.

Vậy quần đảo Hoàng Sa bị Trung Cộng đánh chiếm thời VNCH vào ngày này 44 năm trước, ngày 19/01/1974 và giết chết 74 người lính quyết tâm giữ đảo nhưng bất thành, có được coi là đang có tranh chấp hay không kể từ năm 1974 đến nay?

Quần đảo Hoàng Sa lúc đó đang thuộc chủ quyền của chính thể VNCH, xác lập theo Hiệp định Geneva năm 1954 ký giữa 6 bên, bao gồm cả Trung Cộng trong bàn đàm phán và ký ước. Và phía VN Dân chủ Cộng hoà vào năm 1958 đã có công hàm từ Thủ tướng Phạm Văn Đồng xác nhận về chủ quyền đối với vùng 12 hải lý của Trung Quốc tại một số đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa. Ngay cả từ khi bị đánh chiếm năm 1974, phía Việt Nam DCCH vẫn chưa bao giờ có một động thái đưa vấn đề này thành tranh chấp chủ quyền về lãnh thổ đối với phần biển đảo bị Trung Cộng cưỡng chiếm từ VNCH.

Chính phủ Việt Nam thống nhất từ năm 1975 cho đến nay, chỉ phản đối các hành vi quân sự hoá và bồi đắp đảo đá nhân tạo tại quần đảo Hoàng Sa làm phức tạp thêm tình hình trên biển đông, mà chưa khi nào gửi một văn bản chính thức phản đối vấn đề chủ quyền về quần đảo Hoàng Sa bị cưỡng chiếm bằng vũ lực trái phép năm 1974 tới chính quyền Trung Quốc và/hoặc quốc tế.
 
Chính phủ Việt Nam phải đối mặt với việc bành trướng lớn hơn của Trung Quốc bằng việc nước này gần đây đã liên tục gây hấn và tự công nhận đường lưỡi bò 9 đoạn gần như chiếm trọn biển đông, mà phần lớn ăn sâu vào vùng đặc quyền kinh tế cũng như lãnh hải của Việt Nam. Và vì hành động bành trướng bất chấp luật pháp và lấn chiếm phần lớn diện tích vùng biển, hải đảo không chỉ ở các vùng đã bị cưỡng chiếm trước đây, mà còn bao gồm cả một vùng rộng lớn hơn rất nhiều lần đã xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam, nên việc phản đối của chúng ta thực chất mới chỉ nhằm giải quyết tình thế đối với hành động đơn phương bành trướng của những phần mà Trung Quốc cố tình nới rộng thêm, tức tạo ra một tranh chấp mới và lớn hơn, nghiêm trọng hơn để buộc một nước phải chống đỡ với những xung đột trực tiếp mà làm mờ đi phần tranh chấp trước đây.

Việc cần thiết để coi việc chiếm giữ một phần quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc từ năm 1974 cho đến nay là bất hợp pháp và thực thể do Trung Quốc đang quản lý là một thực thể vẫn đang có tranh chấp, thì buộc phía Việt Nam phải: 
 
(i) hoặc đưa đơn kiện Trung Quốc ra toà án quốc tế nhằm có một phán quyết; hoặc 
 
(ii) ít nhất phải có một thông báo chính thức tới Liên Hiệp quốc cũng như chính Trung Quốc về vấn đề quần đảo Hoàng Sa thực chất thuộc chủ quyền đương nhiên và không bàn cãi của Việt Nam, bao gồm cả đối với phần biển, hải đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa mà Trung Quốc đã dùng vũ lực và quân sự để cưỡng chiếm 44 năm trước từ VNCH.

Đó chính là giải pháp chính trị và luật pháp hữu lý cũng như giá trị nhất để có thể cữu vãn và thiết lập lại được phần chủ quyền đối với một phần lãnh thổ là máu thịt thiêng liêng của tổ quốc, mà dân tộc ta từ bao đời đã gắng công xây đắp, bảo vệ và gìn giữ bằng vô vàn xương máu của rất nhiều những thế hệ đã qua và cho đến ngày nay.
 
 






Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kể lại chuyện xưa nhân một chuyện mới


PHẠM QUANG LONG

Hai hôm nay trên mạng xã hội dày đặc tin về chương trình biểu diễn của đoàn Nghệ thuật Nội Mông ở Nhà hát Lớn vào tối 19/1/2018, đúng vào ngày 44 năm trước Trung Quốc nổ súng xâm lược Hoàng Sa của chúng ta. Rất nhiều căm phẫn. Rất nhiều lo lắng, bực bội. Sáng nay, qua FB của anh Xuân Đức thấy buổi biểu diễn vì lý do kỹ thuật đã bị hoãn. Thở phào vì ít ra cái điều tệ hại ấy đã không diễn ra vào cái ngày nó không được phép này.

Nhân chuyện ấy, nhớ lại hai chuyện:

Chuyện thứ nhất: trong "Sống mãi với Thủ đô" của nhà văn Nguyễn Huy Tưởng có kể chuyện trên thành Cửa Bắc có một lỗ thủng do đại bác của tàu chiến Pháp khi xâm lược Hà Nội lần 1 bắn vào. Người Hà Nội mỗi khi đi qua nơi này đều thấy nhục và căm giận quân xâm lược. Một hôm tất cả những người đi qua thành Cửa Bắc đều ngạc nhiên vì không còn thấy vết thủng nữa. Có ai đó đã dùng gạch, vữa xoá đi vết thủng đó rồi. Nhưng hôm sau thì cái lỗ ấy lại như cũ. Có ai đó lại dỡ chỗ vá ra, cho nó hiện hình như cũ. Người lấp vết thủng, chắc là một công dân tử tế của HN đêm đến lại mang gạch, vữa lấp đầy lỗ thủng. Trước khi rút, ông còn để lại tờ giấy viết đại ý: lỗ thủng này là dấu vết ô nhục. Tôi đã lấp đi. Xin vị nào nghĩ đến nỗi nhục này, đừng moi lên nữa. Nhưng hôm sau đi qua lại thấy người nào đã moi hết chỗ đã lấp, anh ta giận lắm. Đêm xuống, anh ta lại mang gạch vữa leo lên định lấp kín vết đạn thì thấy ở đó có tờ giấy viết: ông có lòng tự trọng, không muốn thấy nỗi nhục chúng ta đang chịu là phải. Nhưng ông tưởng lấp đi thì không nhục nữa ư? Phải để đó cho mọi người thấy nỗi nhục này mà nghĩ cách rửa nhục. Ông đồng tình với tôi thì đừng làm cái chuyện giấu nhục nữa. Ngẫm thấy người kia đúng, anh ta rút lui và cái lỗ thủng ấy còn đến bây giờ.

Chuyện thứ hai: ngày còn đi làm, độ gần cuối năm 2008 gì đó, một hôm quãng hết giờ chiều thì tôi nhận được công văn của một đơn vị xin phép phối hợp với một đơn vị kinh tế Trung Quốc làm triển lãm băng đăng. Họ xin bắn pháo hoa vào ngày kết thúc triển lãm, bắn miễn phí, lại ở tầm cao, thời gian 30 phút. Xin nói để mọi người rõ, đón Tết ta chỉ bắn 15 phút, chủ yếu tầm thấp, có rất ít ở tầm cao mà đã tốn kém lắm rồi. Thế mà họ bắn 30 phút, tầm cao cả thì được quá còn gì?

Vì cuối giờ, tôi đọc qua rồi đem cả công văn về nhà. Tối ấy, có 2 cuộc điện thoại gọi đến. Cả hai đều có ý giục tôi ủng hộ việc bắn pháo hoa. Lý do ta chả mất gì, lại có dịp vui chơi, lại mở rộng hợp tác. Tóm lại là lợi nhiều mặt. Tôi chột dạ vì thấy việc này cần gì họ phải can thiệp? Lấy văn bản ra đọc lại không thấy có gì bất thường. Chỉ là một văn bản giao dịch thông thường. Nhưng không yên tâm nên ngẫm nghĩ một lúc thì giật mình. Ngày họ xin kết thúc triển lãm và bắn pháo hoa đúng vào 17-2, ngày họ xua quân xâm lược nước ta trong một cuộc chiến tàn khốc, phản phúc. Toát mồ hôi nếu mình vô ý bỏ qua điều này. Tôi trả lời không đồng tình vì những lý do khác nhau. Thế là người ta trách tôi cố tình gây khó, suy diễn không có cơ sở. Tôi chịu trận nhưng không cho phép. Thấy không ổn, tôi gọi điện cho lãnh đạo cao nhất thành phố. Nghe tôi trình bày, anh ủng hộ tôi. Lại còn dặn: Nếu họ không nghe, ông cho dẹp luôn cuộc triển lãm đi. Người ta đang tổng kết cuộc chiến ấy, trao huân chương, khen thưởng tùm lum mà mình lại cho họ bắn pháo hoa vào ngày ấy thì không được. Chắc có ý kiến của anh nên cuộc triển lãm này bị dẹp bỏ.

Rất có thể do chúng ta không có cách nghĩ lắt léo nên dễ bỏ qua lắt léo của người ta. Nhưng người ta thì không vô tình đâu, tôi tin thế vì qua một số việc với họ tôi cũng hiểu họ phần nào. Ngày hôm nay 19/1 xin được góp thêm một chuyện gần với chuyện đã xảy ra từ lâu. Trưa, lúc ăn cơm vợ nhắc: chuyện này gần ngày ấy em đã nghe một anh cùng cơ quan băn khoăn và đã nhắc anh. Chắc anh quên thôi. Nghĩ lại mà hãi. Mình bỏ qua chuyện này chắc không gì tạ tội được với những người đã bỏ mình vì nước. Xin đa tạ anh linh các vị đã mách tôi không quên điều này.

19.1.2018
Phạm Quang Long
(theo Facebook Phạm Quang Long, https://www.facebook.com/long.phamquang.35/posts/2037036259645492?pnref=story)

Phần nhận xét hiển thị trên trang