Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 19 tháng 1, 2018

Hoãn đêm diễn đoàn nghệ thuật Nội Mông tại Nhà hát lớn



>> GIẶC TÀU HÁT GIỮA THỦ ĐÔ VN, MỪNG NGÀY CƯỚP HOÀNG SA

Đêm diễn của đoàn nghệ thuật Nội Mông, Trung Quốc dự kiến diễn ra tối 19-1 tại Nhà hát lớn Hà Nội đã hoãn lại
TTO – Chương trình biểu diễn của đoàn nghệ thuật Nội Mông, Trung Quốc dự kiến diễn ra vào tối 19-1 tại Nhà hát lớn Hà Nội bị hoãn lại vì sự cố kỹ thuật.
Sáng 19-1, ban quản lý Nhà hát lớn có công văn báo cáo Văn phòng và Cục Hợp tác quốc tế thuộc Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch về sự cố kỹ thuật tại đây.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, ông Nguyễn Thái Bình – chánh văn phòng, người phát ngôn Bộ Văn hóa, thể thao và du lịch – cho biết vì xảy ra sự cố nên buổi biểu diễn của đoàn nghệ thuật Nội Mông, Trung Quốc tại Nhà hát lớn tối nay sẽ phải hoãn lại.
Công văn do bà Nguyễn Thị Minh Nguyệt, giám đốc Nhà hát lớn, ký nêu rõ: “Sau chương trình biểu diễn đêm 18-1 của Nhà hát Nhạc vũ kịch Việt Nam, bộ phận kỹ thuật trong quá trình chuẩn bị phục vụ cho chương trình nghệ thuật kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc theo kế hoạch được tổ chức vào 20h ngày 19-1 đã phát hiện sự cố hệ thống máy cắt liên lạc của điện nguồn hoạt động không ổn định, do đó không thể đáp ứng cho yêu cầu kỹ thuật của buổi biểu diễn này”.
Vì vậy, ban quản lý Nhà hát lớn Hà Nội đề nghị Văn phòng bộ, Cục Hợp tác quốc tế báo cáo lãnh đạo bộ, đồng thời thông báo cho Đại sứ quán nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tại Việt Nam biết về sự cố trên để có phương án xử lý kịp thời.
Trước đó, nhân kỷ niệm 68 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Trung Quốc và mừng xuân Mậu Tuất 2018, Bộ Văn hóa – thể thao và du lịch phối hợp với Đại sứ quán Trung Quốc tại Việt Nam sẽ tổ chức chương trình biểu diễn của đoàn nghệ thuật Nội Mông, Trung Quốc.
Đoàn nghệ thuật Nội Mông sang Việt Nam biểu diễn lần này gồm 28 nghệ sĩ, dự định biểu diễn tại Hà Nội và Nam Định từ 19-1 đến 21-1.

Hahien's Blog

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 16 tháng 1, 2018

- Tha La Thăng hay không tha?

Hiệu Minh 


Tin anh Thăng khóc trước tòa được tiếp nhận nhiều chiều, người thông cảm, người lên án, người thở dài chả biết thế nào mà lần.

Gỡ tội

Chiều qua đi lấy hàng không được, buồn nẫu người vì chờ đợi, nhưng gặp một bác gái rất vui. Bác có nhà cho thuê, đủ tiền cho con cháu đi học nước ngoài, nhưng đi xe bus thường xuyên.

Làm cái vé tháng 100.000VNĐ bác có thể đi ngày ba bốn lần. Cứ chỗ nào trong biên giới Hà Nội thì giá cao nhất chỉ 9.000Đ, đi Hòa Bình, Sóc Sơn, Xuân Mai, về thăm đồng bào dân tộc cũng dưới 10.000Đ. Xe có điều hòa, ghế sạch sẽ, sướng như tiên.

Nhóm về hưu rủ nhau đi chơi quanh Hà Nội bằng xe bus chả thiếu chỗ nào. Thăm thắng cảnh chán, các bác rủ nhau lên sân bay Nội Bài. Xe bus đi Nội Bài thuộc loại đẹp nhất, sạch và có wifi, dùng smartphone vào Facebook, lướt nét, chát với con tận bên Mỹ, xem được máy bay chở Vũ “nhôm” đang trên trời thông qua GPS định vị toàn cầu.

Về mùa hè các bác làm cái vải nhựa như đi tập Yoga, lên sảnh quốc tế như là khách đi máy bay nhưng không có vé. Tha thẩn với cơm nắm, muối vừng, và chai nước La Vie no cả ngày, chiều tối mới bắt xe 90 về Hà Nội. Nghỉ ngơi có điều hòa mát lạnh, đi vệ sinh sạch ơi là sạch.

Rồi các cụ cũng tìm ra anh Thăng là người xây sân bay. Trông rõ là hiền, nói năng lưu loát, làm đâu được đấy. Sân bay nối đường Võ Nguyên Giáp 6-7 làn xe lên Nội Bài, qua cầu Nhật Tân đến Võ Chí Công mà không có anh Thăng, có mà đến mồng thất mới xong. Giỏi thế mà bắt tù, cái nước mình luật lệ chả ra làm sao.

Buộc tội

Nghe các cụ khen anh Thăng mình cứ ớ ra vì sáng gặp một anh thì “dư luận viên” lại khác. Làm kinh doanh và giỏi kỹ thuật, anh lạ gì mấy vụ “trảm tướng” của anh Thăng.

Một vị giám đốc phụ công trình ngàn tỉ chi đó nhưng bị chậm do đợi xi măng có pha chống thấm phải đủ thời gian, nhưng anh Thăng tới thăm thấy tiến độ rùa, thế là trảm. Oan hơn Thị Kính.

Một ông khác ở xí nghiệp Ethanol gì đó trên Phú Thọ cũng “dính chấu”, dù công trình sắp kết thúc nhưng cái bồn xử lý nước thải phải đợi kiểm tra thật kỹ mới cho chạy. Thế mà anh Thăng cho là chậm tiến độ, trảm liền không nói nhiều.

Nhiều ông bị oan do anh Thăng “trảm” nhầm, anh không tiện kể hết.

Nhớ lời cụ Bửu từng nói, nước mình có nhiều người thông minh nhưng không được học hành, có người học đủ trình độ để phá, và có người học hành giỏi thì tròn như viên bi. Anh bảo, anh Đinh La Thăng thuộc loại thứ hai, học đủ trình để phá, nên mới ra nông nỗi này.

Rồi anh còn triết lý, công việc của lớp anh Thăng thuộc típ 3D (không phải 3X): đó là Dangerous (Nguy hiểm), Difficult (Khó) and Dirty (Bẩn).

Nguy hiểm nên giờ vào tù, khó là làm kiểu gì cũng bị chửi, bẩn là phải bẩn mới được việc.

Chỉ trong một ngày mà nghe hai người nói ngược hẳn nhau thì trên mạng 5 người 10 ý là phải. Ai khóc cứ khóc, ai chửi cứ chửi, ai thở dài cứ thở dài.

Dù các cụ lên ngồi mát điều hòa trên sân bay Nội Bài ủng hộ thì tòa cũng không thể tha anh Thăng. Ở nước mình đã bắt là phải có tội. Chưa giết người thì cứ tra vài cú là nhận hết.

Nhóm bị trảm và ghét cay đắng nốt A# có lên tiếng thì số năm tù của anh Thăng cũng bấy nhiêu nhưng thế nào cũng được ân xá và chết trong tự do.

Có khi lúc đó anh Đinh La Thăng còn đủ sức đi xe bus lên Nội Bài ngồi ghế ở phòng đợi cho mát về mùa Hè như các cụ về hưu rỗi việc và nghĩ, ừ quá khứ A# thật 3D.

FB HIỆU MINH 16-1-2017

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“cú lừa” nhập lậu gần 100 trực thăng Mỹ của Triều Tiên




Video tạm dừng

Dân trí Cho đến nay, chưa quốc gia nào có thể “vượt mặt” Triều Tiên trong phi vụ chuyển trót lọt gần 100 trực thăng mới xuất xưởng từ Mỹ về nước vào thập niên 1960.
 >> Dàn vũ khí “khủng” Mỹ có thể dùng để đối phó Triều Tiên
 >> Tốc độ phát triển vũ khí mạnh chưa từng có của Triều Tiên

4 trực thăng MD 500 của Triều Tiên (Ảnh: Reuters)
4 trực thăng MD 500 của Triều Tiên (Ảnh: Reuters)
Ngày 27/7/2013, Triều Tiên tổ chức lễ kỷ niệm 60 năm ngày kết thúc cuộc chiến tranh liên Triều (1950-1953). Từng đoàn xe tăng và xe bọc thép diễu binh trước sự chứng kiến của nhà lãnh đạo Kim Jong-un, trong khi trên bầu trời, 4 máy bay trực thăng MD 500E do Mỹ sản xuất cũng đồng loạt phô diễn sức mạnh. Đây chính là những hình ảnh đầu tiên xác nhận việc Triều Tiên sở hữu phi đội gồm 87 chiếc trực thăng do Mỹ sản xuất mà Bình Nhưỡng đã nhập lậu từ hơn 1/4 thế kỷ trước.
MD 500 là phiên bản dân sự của dòng trực thăng trinh sát hạng nhẹ OH-6 Cayuse được quân đội Mỹ đưa vào sử dụng từ những năm 1960. Được gọi là trực thăng “Trứng bay” do thiết kế đơn giản giống hình quả trứng, MD 500 được sử dụng rộng rãi trong các hoạt động sơ tán thương binh, hộ tống các trực thăng vận tải, do thám đối phương và yểm trợ hỏa lực hạng nhẹ cho các lực lượng dưới mặt đất bằng súng cỡ nhỏ và rocket.
Ngoài mức giá rẻ, chỉ khoảng 20.000 USD/chiếc vào thời điểm năm 1962, trực thăng MD 500 còn có ưu điểm về sự linh hoạt và có kích cỡ đủ nhỏ để có thể bay tới những khu vực mà các trực thăng khác không thể tới được. Hiện nay các phiên bản cải tiến của MD 500 là MH-6 và AH-6 vẫn được quân đội Mỹ sử dụng trong các chiến dịch ở châu Phi và Trung Đông.
Đơn hàng bất thường
Trực thăng MD 500 xuất hiện tại triển lãm hàng không ở Triều Tiên năm 2016 (Ảnh: Reuters)
Trực thăng MD 500 xuất hiện tại triển lãm hàng không ở Triều Tiên năm 2016 (Ảnh: Reuters)
Vào thập niên 1980, tập đoàn chế tạo máy bay McDonnell Douglas đã nhận được đơn hàng gồm 102 trực thăng từ Delta-Avia Fluggerate - một doanh nghiệp xuất khẩu đăng ký kinh doanh tại Tây Đức do doanh nhân Kurt Behrens đứng tên. Từ năm 1983-1985, công ty Associated Industries của Mỹ đã nhận chuyển 86 trực thăng MD 500 D và E cùng một trực thăng Hughes 300 (trực thăng 2 chỗ ngồi có kích cỡ nhỏ hơn MD 500) của McDonnell Douglas thông qua 6 chuyến hàng xuất khẩu của Delta Avia tới các nước Nhật Bản, Nigeria, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, tới tháng 2/1985, Bộ Thương mại Mỹ tiết lộ rằng cơ quan này đã phát hiện một số điểm bất thường “đáng ngạc nhiên” trong hoạt động của Delta Avia, bao gồm những khai báo gian dối về điểm cập bến của các tàu hàng chở số trực thăng nói trên. Ví dụ, 15 trực thăng ban đầu được chuyển đến Rotterdam (Hà Lan), sau đó được đưa lên tàu chở hàng Prorokov của Liên Xô bằng đường bộ và tiếp tục được chuyển tới Triều Tiên. Tương tự, một tàu chở hàng tại Nhật Bản cũng đã chuyển 2 trực thăng cho một tàu chở hàng Triều Tiên neo đậu tại Hong Kong và cuối cùng cũng được chuyển đến Triều Tiên. Một thông tin đáng chú ý nữa cũng được phát hiện đó là, anh em nhà Semler, những người điều hành Associated Industries, thực chất nắm phần lớn vốn sở hữu tại Delta Avia.
Trong khi 87 trực thăng được vận chuyển trót lọt, 15 chiếc MD 500 còn lại đã bị thu giữ và anh em nhà Semler cũng đã bị xét xử vào năm 1987 với cáo buộc vi phạm lệnh cấm xuất khẩu các mặt hàng sang Triều Tiên. Các thông tin được phanh phui sau đó cho biết Delta Avia thực chất là một công ty bình phong được dựng lên để chuyển máy bay tới Triều Tiên và những người chủ mưu sẽ được nhận 10 triệu USD sau khi hoàn tất hợp đồng. Một hãng bảo hiểm ở London cũng bị phát hiện dính líu tới phi vụ này và toàn bộ số tiền giao dịch được thực hiện thông qua các tài khoản ngân hàng tại Thụy Sĩ.
Theo National Interest, tập đoàn McDonnell Douglas đã bị lừa ngoạn mục khi chuyển gần 100 chiếc trực thăng sang Triều Tiên - quốc gia vẫn luôn coi Mỹ là kẻ thù. Tuy nhiên, anh em nhà Semler rốt cuộc vẫn được giảm án vì thành khẩn khai báo và số tiền họ phải nộp phạt cũng ít hơn rất nhiều so với số tiền mà họ nhận được trong phi vụ chuyển trực thăng này.
Anh em Semler cũng cáo buộc doanh nhân Kurt Behrens đã cố tình lừa họ về điểm đến của những chiếc trực thăng. Trong khi đó, Behrens vẫn cố bao biện rằng MD 500 không nằm trong diện cấm xuất khẩu sang Triều Tiên của Mỹ vì chúng không phải là trực thăng quân sự.
Sau này, có nguồn tin tiết lộ rằng Cục Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) cũng biết về vụ nhập lậu trực thăng cho Triều Tiên. Vụ việc này được cho là do một tùy viên sứ quán Triều Tiên ở Berlin, Đức dàn xếp và được một công ty xe tải của Liên Xô ở Tây Đức hỗ trợ. Tuy nhiên, CIA quyết định không cung cấp thông tin về vụ nhập lậu trực thăng cho giới chức dân sự Mỹ vì không muốn để lộ việc cơ quan này từng nghe lén Đại sứ quán tại Đức.
Mục đích của Triều Tiên
Các trực thăng MD 500 biểu diễn tại triển lãm hàng không Wonsan ở Triều Tiên năm 2016 (Ảnh: Reuters)
Các trực thăng MD 500 biểu diễn tại triển lãm hàng không Wonsan ở Triều Tiên năm 2016 (Ảnh: Reuters)
Vì sao Triều Tiên vẫn muốn sở hữu MD 500 trong khi mẫu trực thăng phiên bản dân sự này không được trang bị bất kỳ công nghệ tiên tiến hay phụ tùng đặc biệt nào mà Triều Tiên hoặc Liên Xô phải có bằng mọi giá?
Thực tế, nhiều nước vẫn muốn mua MD 500 do giá thành rẻ và có thể dễ dàng trang bị thêm súng cũng như rocket để sử dụng chúng cho mục đích quân sự. Hàn Quốc đã trang bị hơn 270 chiếc MD 500 cho lực lượng Không quân và Lục quân của nước này.
Triều Tiên có thể cũng muốn sở hữu phi đội MD 500 để sử dụng chúng trong các hoạt động xâm nhập qua khu phi quân sự liên Triều, tiến hành các đợt đột kích bất ngờ hoặc đưa gián điệp cũng như các đối tượng chống phá sang lãnh thổ Hàn Quốc.
Triều Tiên hiện có hơn 200.000 lính đặc công trong Lực lượng Tác chiến Đặc biệt, đông hơn bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Trong trường hợp xảy ra xung đột với Hàn Quốc, Bình Nhưỡng sẽ triển khai hàng nghìn đặc nhiệm vào quốc gia láng giềng thông qua hệ thống đường hầm, tàu ngầm, tàu tàng hình hoặc trực thăng để phá hủy đường dây liên lạc và tiếp tế của Hàn Quốc đồng thời gieo rắc nỗi sợ hãi.
Sau khi nghe tin về vụ nhập lậu MD 500 cho Triều Tiên, cựu Tổng thống Hàn Quốc Chun Doo-hwan đã giận dữ chỉ trích Mỹ vì vô tình “tiếp tay” cho kế hoạch xâm nhập của Triều Tiên trở nên dễ dàng hơn.
Triều Tiên đã giữ bí mật về phi đội MD 500 trong suốt hàng chục năm, mặc dù một đại tá Triều Tiên từng tiết lộ về việc mua sắm loại trực thăng này trong cuộc phỏng vấn với tờ Der Spiegel vào năm 1996. Bình Nhưỡng cũng gặp khó khăn trong việc duy trì hoạt động của phi đội này cũng như nguồn cung các phụ tùng cho trực thăng của Mỹ.
Sau khi “trình làng” vào năm 2013, MD 500 cũng được nhìn thấy xuất hiện trong triển lãm hàng không Wonsan hồi năm 2016. Một trong số các trực thăng này còn trình diễn phục vụ khán giả tới xem triển lãm. Triều Tiên đã sửa đổi các trực thăng MD 500 để chúng có thể mang theo 4 tên lửa chống tăng Susong-Po. Điều này cho thấy Bình Nhưỡng đã hướng đến việc phát triển MD 500 thành trực thăng tấn công.
Triều Tiên không phải là quốc gia duy nhất lợi dụng các công ty bình phong để lấy được vũ khí Mỹ. Iran từng nổi tiếng với phi vụ mua các phụ tùng từ Mỹ để trang bị cho các máy bay chiến đấu F-14 Tomcat trong hàng thập niên. Tuy nhiên, cho đến nay, chưa quốc gia nào có thể “vượt mặt” Triều Tiên trong phi vụ chuyển trót lọt 87 trực thăng mới xuất xưởng từ Mỹ về nước như vậy.
Thành Đạt
Theo National Interest

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kỷ niệm 100 năm ra đời Nam phong tạp chí (1917-2017):Tinh thần phản tỉnh trong Du ký Phạm Quỳnh


Nhà văn hóa Phạm Quỳnh với Pháp du hành trình nhật ký (in 27 kỳ, 1922-1925)1, Thuật chuyện du lịch ở Paris (số 64, tháng 10-1922)2 đã có những đóng góp đặc biệt quan trọng ở thể tài du ký viết về nước Pháp, bộc lộ tinh thần phản tỉnh về vị thế dân tộc và mối quan hệ Việt - Pháp hồi đầu thế kỷ XX 3.

Nhà văn hóa Phạm Quỳnh (phải) và nhà văn, nhà báo Phạm Duy Tốn.
Theo nhật ký Phạm Quỳnh, chuyến đi khởi hành từ ngày 9-3-1922 tại cảng Hải Phòng và trở về vào ngày 11-9, vừa đủ sáu tháng. Năm ấy Phạm Quỳnh tròn ba mươi tuổi. Trong nửa năm ở Pháp, ông chủ ý Đi - Xem - Nghe càng nhiều càng tốt, từ đó suy nghĩ, so sánh, đối sánh văn minh và thế cuộc nước Pháp với xứ sở Việt Nam. Tại nước Pháp, ông đã trở đi trở lại Marseille, qua Lyon, Versailles, Verdun và thăm thú khắp các công sở, di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh thủ đô Paris... Đến đâu ông cũng ghi chép, bình luận, liên hệ, so sánh thực tại xã hội chính quốc với cuộc sống bên nước nhà và phát biểu cảm tưởng về những điều tai nghe mắt thấy4...
Tới nước Pháp, Phạm Quỳnh ngỡ ngàng bởi nền khoa học, kỹ thuật và đời sống vật chất vượt trội của “chính quốc”. Ông thức nhận trước những cái KHÁC, MỚI LẠ, TIẾN BỘ và khâm phục trước cung điện Le Louvre tráng lệ, tháp Eiffel có thang máy, những tòa nhà cao rộng, những khách sạn, nhà hàng tiện nghi, những cây cầu bắc qua sông Seine uy nghiêm, những công viên, đường phố, biệt thự sang trọng... Hiện đại và ấn tượng thêm nữa là dòng xe ô tô tấp nập qua lại, những chuyến taxi cơ động và đường xe điện ngầm có lúc chạy trên cầu, có lúc đi dưới đất, có lúc chạy ngầm dưới  lòng sông, “nghe nói lạ lắm”, “đi đâu cũng tiện lắm”, “chạy mau vùn vụt như tên bắn vậy”... Phạm Quỳnh chịu khó mua sách, đọc sách, nghe giảng và trực tiếp tham gia diễn thuyết tại nhiều trung tâm văn hóa, khoa học, viện nghiên cứu, trường đại học. Với tư cách nhà trí thức, qua thăm bảo tàng dân tộc học, ông nhận xét: “Ấy cách học vấn của người Tây, bất cứ về môn nào cũng là kỹ càng trọn vẹn, đến chốn đến nơi như thế, không trách sự học của người ta dễ sâu xa và mau tấn tới vậy”... Soi nhìn lại các hội học xứ nhà, ông phản tỉnh và tự phản tỉnh, phản biện: “Ở Hà Nội ta có hội quán Hội Trí Tri và Hội Khai Trí cũng hơi có cái tính cách ấy, nhưng phải chỉnh đốn cho hơn nữa mới được, và hiện nay chỉ hiềm hãy còn ít những cuộc họp tập có ích, bất quá thỉnh thoảng có mấy hội ‘ái hữu’ mượn để họp bàn, mấy ông trị sự hay bàn mấy vấn đề suông, cũng có lúc nói năng to tiếng, cãi cọ rậm lời, nhưng vẫn chưa khỏi cái lối ‘việc làng’, nghĩa là ồn ào lộn xộn mà chẳng nên câu chuyện gì”... Từ góc độ nhà hoạt động xã hội, nhà văn hóa, nhà chính trị, ngay khi ở Marseille, Phạm Quỳnh đã tới nghe một nữ bác sĩ diễn thuyết về “cái phong trào cách mệnh và cái chủ nghĩa quá khích ở nước Nga”. Điều này cho thấy không khí tương đối tự do, dân chủ trong sinh hoạt chính trị, học thuật ở nước Pháp thời bấy giờ. Tham dự một buổi thảo luận về chính sách giáo dục, Phạm Quỳnh tiếp tục thức tỉnh rút ra kết luận: “Ở một nước tự do có khác, bất cứ việc gì cũng có thể đem ra công chúng mà nghị luận được. Kẻ nói đi người nói lại, quốc dân đứng giữa mà phán đoán, Chính phủ ở trên mà chiết trung, tưởng còn hơn là cái chính sách ‘bịt bung’, rút lại chẳng có lợi cho ai hết”... Ông từng tham dự diễn thuyết, từng “vào xem” một cuộc thảo luận, nghe các ông nghị viên chất vấn Chính phủ ở Thượng viện và đi đến suy xét, phản vấn, đề xuất: “Nghe người ta diễn thuyết mà hồi tưởng đến người mình, không những nghề diễn thuyết chưa biết, mà đến nói câu chuyện cho có đầu đuôi manh mối, cũng ít người nói được... Người mình cần tập nói lắm”... Sau này, trong bài Thuật chuyện du lịch ở Paris, Phạm Quỳnh tiếp tục chỉ rõ sự lợi hại của các cuộc tranh luận công khai, dân chủ và hài hước nhấn mạnh: “Hoặc giả nói: Nếu như thế thì làm việc chính trị chẳng là chán lắm ru? Và nơi nghị trường chẳng là giống như chợ hàng rau ư? Nếu như thế thì các ông nghị ta mỗi năm về Hà Nội chơi mấy ngày, xin Chánh phủ cho đi xem hát chèo chớp bóng, há lại chẳng có tư cách hơn các ông nghị Tây kia cứ ngày ngày đem nhau ra chỗ công đồng mà cãi nhau như mổ bò ru?... Đã có nghị viện phải có chính đảng, đã có chính đảng tất phải có cạnh tranh, có cạnh tranh mới hoạt động; cái phép tiến hóa của các dân tộc như thế. Dân tộc mình còn chưa tới trình độ đó, ta nên đáng mừng hay là đáng tiếc? Điều đó xin chất vấn ở quốc dân”... Rõ ràng là Phạm Quỳnh đã phản tỉnh, thức nhận ra những cái khác, cái phát triển, cái tiến bộ ở xứ người và hy vọng quốc dân nước Nam cùng tham chiếu, định hướng, noi theo5.
Liên hệ, đối sánh sở học và nếp nghĩ truyền thống với thực tại miền đất mới, học giả Phạm Quỳnh thấy mỗi ngày ở nước Pháp đều có thể hiểu biết, học hỏi thêm nhiều điều mới lạ. Ông cảm nhận sự mới lạ ngay từ tài năng diễn thuyết của người nữ bác sĩ đến ấn tượng khi thăm nhà bà F. có chân trong hội Đông phương Ái hữu: “Thật là một bà chủ sa lông theo như lịch sử phong nhã của nước Pháp. Bao giờ cho xã hội An Nam ta cũng có những bậc đàn bà nhã thú như thế?”... Phạm Quỳnh còn hiếu kỳ dành cả thời gian đến xóm bình khang “Mông Mạc” được coi như phía khuất lấp của Paris hoa lệ. Rồi khi đến xem điểm binh ở nhà đua ngựa, ông thức nhận ra sự thật đời thường: “Người dân ở đây kể cũng không khác gì người dân bên mình, mà có lẽ người dân ở đâu đại suất cũng thế, cũng thích hội hè đình đám... Lại len lỏi trong đám đông cũng có các trạng ăn cắp, chực lần lưng móc túi. Thật dưới gầm trời, người ta đâu cũng như đâu. Kẻ bình dân vẫn có tính háo hức mà bọn láu cá thì khéo lợi dụng; trò đời chỉ có thế mà thôi”... Ngòi bút Phạm Quỳnh cũng khá tự do và thực sự dũng cảm, trung thực khi viết về việc đức vua mua hàng, “đánh quả”, “đánh công”: “Gần bốn giờ thì Hoàng thượng xuống tầu, kèn trống thổi mừng, quân quan đứng tiễn. Ngài đi Tây chuyến này sắm được vô số đồ, chở xuống tầu từ hai giờ đến bốn giờ, hết kiện ấy đến kiện khác, cái cần máy trục cứ giơ lên hạ xuống hoài mà không dứt”...
Điều quan trọng hơn, Phạm Quỳnh thực sự tỉnh ngộ, đi đến những nhận xét tổng quan, bày tỏ chính kiến về xã hội, về mối quan hệ Việt - Pháp, về tương quan Đông - Tây và xác định con đường tiến hóa, tiến bộ xã hội: “Những đường phố sang trọng xem ra lại không vui bằng những xóm bình dân, người thượng lưu vẫn không muốn dự, cho mới biết dẫu ở nước dân chủ bình đẳng, các giai cấp vẫn có ý muốn đặc biệt nhau, và sự bình đẳng hoàn toàn, có lẽ không bao giờ có được”; “Cho hay cái tên Đông phương đối với những nhà lãng mạn Tây phương vẫn còn có một cái thanh hưởng réo rắt ly kỳ. Nhưng những nhà lãng mạn này không phải số nhiều, còn đối với những tay doanh lợi thì Đông phương chẳng qua là một cái thị trường để tiêu thụ đồ hàng của Tây phương mà thôi”… Từ sự phản tỉnh, Phạm Quỳnh nhấn mạnh yêu cầu phải đổi mới, chuyển hóa, chuyển biến, hướng đến canh tân, hội nhập, phát triển trên căn bản nền tảng sự nghiệp giáo dục và truyền thống văn hóa dân tộc: “Duy cái văn minh của Tây phương nó phồn tạp quá, các ‘phương diện’ nhiều quá, muốn bao quát cho được hết mà thu gồm lấy cái toàn thể, toàn bức, thật là khó lắm. Phải có một cái sức học, một cái trí khôn, một con mắt sáng khác thường, mới có thể xét không sai mà đoán không lầm được. Cho nên còn lâu năm nữa, cái văn minh Tây phương vẫn còn ngộ hoặc người đời nhiều lắm”; “Nghĩ trong các vấn đề thiết yếu cho người mình không gì bằng vấn đề giáo dục... Đại khái nói rằng nước Việt Nam là một nước cổ, vốn đã có một cái văn hóa cũ, nhưng cái văn hóa cũ ấy ngày nay không thích hợp với thời thế nữa, cần phải có cái văn hóa mới đời nay thì mới có thể sinh tồn được trong thế giới bây giờ. Cái văn hóa mới ấy dân chúng ta nhờ quí Đại Pháp truyền bá cho... Nhưng trong sự truyền bá cái học mới ấy, có nhiều nông nỗi khó khăn, quí Chính phủ vẫn chưa giải quyết được ổn thỏa. Nếu dân Việt Nam là một dân mới có, chưa có nền nếp, chưa có lịch sử gì, thì quí quốc cứ việc hóa theo Tây cả, dạy cho học chữ Tây hết cả, đồng hóa được đến đâu hay đến đó. Nhưng ngặt thay, dân Việt Nam không phải là một tờ giấy trắng muốn vẽ gì vào cũng được; tức là một tập giấy đã có chữ sẵn từ đời nào đến giờ rồi. Nếu bây giờ viết đè một thứ chữ mới nữa lên trên, thì e thành giấy lộn mất”...

Cuốn Pháp du hành trình nhật ký do NXB Hội Nhà văn và Công ty Sách Phương Nam ấn hành năm 2005. 
Không có gì phải nghi ngờ việc Phạm Quỳnh thực sự bị thuyết phục bởi nước Pháp “quả tim thế giới”, “khối óc văn minh”, “tinh hoa của văn hóa”... Nhìn về nước Pháp, ông thấy đây là mối quan hệ tòng thuộc, cần hướng theo nền kỹ nghệ và cơ cấu chính trị - văn hóa kiểu Pháp6. Ông thức tỉnh, mong muốn dân tộc mình tiến hóa nhưng cũng thấy rõ những hạn chế, thiếu hụt bởi một nền kinh tế tiểu nông, lạc hậu, trì trệ. Có điều cần chú ý là Phạm Quỳnh không rập khuôn máy móc một chiều mà luôn cố gắng tìm ra phương hướng canh tân thích hợp, coi trọng nền văn hóa Pháp nhưng vẫn bảo tồn truyền thống dân tộc, đề cao việc học tiếng Pháp nhưng vẫn đề xuất việc học thành thục tiếng An Nam “nhiên hậu có thì giờ sẽ học đến tiếng ngoài”... Trước sau ông vẫn nhận mình thuộc hàng trí thức, chú trọng rung lên tiếng chuông trước quốc dân đồng bào và trước các nhà chức trách. Tất cả những điều đó cho thấy học giả Phạm Quỳnh thực sự xứng đáng là một nhà trí thức, nhà hoạt động truyền bá tư tưởng khoa học, văn hóa và giáo dục xuất sắc nửa đầu thế kỷ XX…
———-
1Phạm Quỳnh: Pháp du hành trình nhật ký. Nam phong tạp chí, số 58, tháng 2-1922 đến số 100, tháng 10+11-1925. In lại trong Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký (Nguyễn Hữu Sơn sưu tầm, giới thiệu). Tái bản. Nxb Tri thức, Hà Nội, 2014, tr.171-419. Các trích dẫn Pháp du hành trình nhật ký trong bài đều theo sách này.
2 Phạm Quỳnh: Thuật chuyện du lịch ở Paris. Nam phong tạp chí, số 64, tháng 10-1922. In lại trong Phạm Quỳnh – Tuyển tập du ký. Sđd, tr.421-459.
3 Xem thêm Phạm Quỳnh: Tiểu luận viết bằng tiếng Pháp trong thời gian 1922-1932 (Phạm Toàn giới thiệu và biên tập). Nxb Tri thức, Hà Nội, 2007, 528 trang.
4 Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Thể tài du ký trên Tạp chí Nam phong (1917-1934). Nghiên cứu Văn học, số 4-2007, tr.21-38.
5 Nguyễn Hữu Sơn: Thể tài du ký trên tạp chí Nam phong (1917-1934). Nghiên cứu Văn học, số 4 (422)-2007, tr.21-38.
6 Xin xem Nguyễn Hữu Sơn: Du ký của người Việt Nam viết về các nước và những đóng góp vào quá trình hiện đại hóa văn xuôi tiếng Việt giai đoạn thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX, trong sách Văn học cận đại Đông Á từ góc nhìn so sánh (Đoàn Lê Giang chủ biên). NXB TP Hồ Chí Minh, 2011, tr.632-645.
Nguyễn hữu Sơn / Tia Sáng


Phần nhận xét hiển thị trên trang

GÁI ĐẸP HÓA HỔ


FB Đinh Bá Truyền 

- Ngày xửa ngày xưa, Ngọc Trinh là cô gái đẹp, tất cả cơ thể này chỗ nào cũng đẹp. Cô ấy chỉ chọn những tay chơi tinh túy nhất, chứ không phải là ai cũng cho chơi. 
Một ngày nọ, tướng nước Vệ muốn chơi Ngọc Trinh, nhưng nàng ấy không cho. Ghét mặt, tướng sai mụ phù thủy Mã Khắc Tư làm phép biến nàng Ngọc Trinh từ một cô gái đẹp thành con hổ dữ.



Từ hôm đó, Ngọc Trinh bỗng nhiên mắc bệnh lạ, trên người mọc lông hổ, ngồi xổm chụp người, cuồng loạn, gầm gừ đáng sợ. Khắc Tiệp phải làm cũi vàng nhốt nàng trong đó. Khi ấy có đứa bé ở Gia Định hát rằng:

"Ngọc Trinh muốn hết bệnh
Cần giáo sư Bùi Hiền
Ban cho toa thuốc tiên"


Khắc Tiệp vội vàng sắm lễ đến nhà giáo sư Bùi Hiền cầu toa thuốc tiên. Thấy Tiệp, giáo sư cười bảo:
- Đây không phải là việc cứu hổ đó ư?


Tiệp ngạc nhiên:
- Sao thầy sớm biết trước?
Giáo sư bảo:
- Ta đã biết việc này trước ba mươi năm!


Trong hình ảnh có thể có: 1 người

Rồi giáo sư vung bút khai toa: "Kởi cần, ôm cặt hổ, bôi tin' zịc sẽ hết". Tiệp nhận lấy, khấu đầu lạy tạ. Nhưng khi đọc toa thuốc, Tiệp tá hỏa:
- Thưa thầy, người bệnh là con hổ cái, làm gì có cần, có cặt mà kởi cần, ôm cặt?

Giáo sư Bùi Hiền điềm nhiên phán:
- Đây là toa thuốc tiên, nên phải dùng thứ chữ trên thiên đình, kẻ hạ giới như cậu làm sao hiểu nổi. Ý của toa thuốc là: "Cởi trần, ôm chặt hổ, bôi tinh dịch sẽ hết"!

Khắc Tiệp về làm đúng theo toa. Tự nhiên lông, móng, đuôi đều rụng hết, Ngọc Trinh hoàn phục như cũ. Tiếng lành đồn xa, mọi người trong nước đều tôn Bùi Hiền là quốc sư.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu nghiên cứu:

Phạm Nguyên Trường
Karl Marx 1818-1883

Chủ nghĩa Marx tất nhiên là có nhiều sai lầm và vì vậy mà đã gây ra nhiều tai họa cho nhân quần, nhưng thời gian có hạn, chỉ xin bàn 3 sai lầm mà người viết cho là những sai lầm quan trọng nhất.

1. Bãi bỏ sở hữu tư nhân

Trong tất cả các loài động vật sống thày bày đàn/xã hội, chỉ có ba loài là ong, kiến, mối là toàn tâm toàn ý, sống chết với đàn mà thôi. Các thành viên của những loài động vật sống thành bày khác như trâu rừng, linh dương đầu bò, chó sói, sư tử… tuy sống trong đàn, nhưng vẫn giữ cho mình mức độ độc lập nhất định, thậm chí nếu bị con đầu đàn o ép quá thì có thể bỏ đi. Loài người cũng như thế. Không có người nào muốn để cho người khác chi phối hoàn toàn cuộc sống của mình. Chỉ có một khác biệt: con người không thể bỏ xã hội, con người giữ độc lập bằng cách có sở hữu riêng. Đấy là lý do câu châm ngôn của người Anh: “Nhà tôi là pháo đài của tôi”.

Không có sở hữu tư nhân, không thể tự kiếm sống, con người trở thành nô lệ. Cả xã hội đều là nô lệ. Đấy là lí do vì sao trong lòng xã hội dựa trên sở hữu tập thể luôn luôn và bao giờ cũng có những người đứng lên chống lại nó. Đấy là những người còn giữ được tính người, còn chứa trong tim mình khát vọng tự do, tự chủ. Số người đứng lên chống lại cái xã hội phi nhân đó, trái với suy nghĩ của các ông trùm cộng sản, lại ngày càng đông thêm. Nếu có xã hội bên ngoài để người ta so sánh thì thời gian tồn tại của xã hội dựa trên sở hữu tập thể sẽ không thể lâu. Đấy là lí do vì sao các xã hội dựa trên sở hữu tập thể phải dựng lên những bức màn sắt, nhằm ngăn chặn cả con người lẫn thông tin, nội bất xuất ngoại bất nhập.
Tuyên ngôn cộng sản

Không có sở hữu tư nhân, người ta không thể mạo hiểm với những quy trình sản xuất hay sản phẩm mới. Lưỡi gươm: thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng lúc nào cũng treo ngay trên đầu. Tất tất đều phải chở chỉ đạo của cấp trên. Xã hội không thể nào phát triển được.

Những người hoạt động trong các ngành nghệ thuật cảm nhận được chuyện này rõ ràng nhất. Bộ trưởng văn hóa có là người tài giỏi và phóng khoáng đến đâu thì cũng chỉ là người thích một số bộ môn nào đó mà thôi. Những bộ môn không được ông/bà ta ưa thích tất nhiên là sẽ không được nhà nước tài trợ và không phát triển được. Chỉ có xã hội dựa trên sở hữu tư nhân, tức là chính người nghệ sĩ là những người giàu có hoặc được những người giàu có tài trợ thì nghệ thuật mới đa dạng và đơm hoa kết trái.
Vì vậy mà, xã hội dựa trên sở hữu tập thể là xã hội đơn điệu, nghèo nàn, bàng bạc, thiếu sức sống, thậm chí là thoái hóa dần cả về vật chất lẫn nhân cách.

2. Thuyết vế giá trị lao động

Đây là học thuyết nói rằng, lượng lao động hao phí của con người trong việc sản xuất ra sản phẩm sẽ quyết định giá trị của sản phẩm. Hay lao động là cội nguồn của mọi giá trị.

Tương tự như quan điểm địa tâm, học thuyết về giá trị lao động bề ngoài dường như là hợp lý, vì thường thường, dường như món hàng cần nhiều sức lao động có giá trị cao hơn. Nhưng, tương tự như những câu chuyện trong môn thiên văn học, lý thuyết ngày càng trở nên phức tạp khi nó tìm cách giải thích một số mâu thuẫn hiển nhiên. Bắt đầu từ những năm 1870, trong kinh tế học đã diễn ra cuộc cách mạng tương tự như cuộc cách mạng của Copernicus, đấy là khi lý thuyết chủ quan về giá trị (subjective theory of value) được nhiều người sử dụng để giải thích giá trị của hàng hóa và dịch vụ. Hiện nay, thuyết về giá trị lao động chỉ còn rất ít tín đồ, đấy là nói trong số các nhà kinh tế học chuyên nghiệp, nhưng trong các môn học khác, cũng như trong dân chúng nói chung, nó vẫn được nhiều người sử dụng khi thảo luận các vấn đề kinh tế.

Luận cứ cho rằng chủ nghĩa tư bản bóc lột công nhân được xây dựng chủ yếu trên quan điểm cho rằng lao động là nguồn gốc của tất cả các giá trị và lợi nhuận của nhà tư bản, vì vậy mà người công nhân - những người xứng đáng được hưởng những giá trị này đã bị tước đoạt. Nếu không có thuyết về giá trị lao động, thì không rõ lời phê phán chủ nghĩa tư bản của Marx còn giá trị đến mức nào.

Trong kinh tế học, câu trả lời xuất hiện khi, tương tự như Copernicus, một số nhà nhà kinh tế học nhận ra rằng cách giải thích cũ đã thuộc về quá khứ. Điều này đã được trình bày một cách rõ ràng trong tác phẩm của Carl Menger, cuốn Những nguyên lý của kinh tế học của ông không chỉ đưa ra lời giải thích mới về bản chất của giá trị kinh tế, mà còn tạo ra nền tảng của trường phái kinh tế học Áo.
Menger và những người khác khẳng định rằng, giá trị là chủ quan. Nghĩa là, giá trị của một món hàng không được xác định bởi những yếu tố đầu vào có tính vật lý, trong đó có lao động, giúp tạo ra nó. Thay vào đó, giá trị của một món hàng hình thành trong nhận thức của con người về tính hữu dụng của nó đối với những mục đích cụ thể mà người ta có tại một thời điểm cụ thể nào đó. Giá trị không phải là một cái gì đó khách quan và siêu nghiệm. Nó là một chức năng của vai trò mà đối tượng đóng như là phương tiện nhằm đạt được những mục tiêu vốn là một phần của những mục đích và kế hoạch của con người.

Nói một cách đơn giả: Món hàng mà bạn làm ra chỉ có giá trị khi có người mua, còn món hàng mà bạn làm ra, dù mất bao nhiêu công sức nhưng xã hội không có nhu cầu về món hàng đó thì công sức bạn của bạn là dã tràng xe cát biển đông. Cụ thể hơn: Nếu bạn có sức khỏe nhưng không có tài đắp tượng bằng cát thì có bỏ ra bao nhiêu công xúc cát trên bãi biển bạn cũng chẳng được ai trả đồng tiền công nào. Nhưng nếu bạn có tài đắp tượng cát, thu hút du khách tới ngắm tượng của bạn thì chắc chắn công ty du lịch địa phương sẽ trả tiền cho bạn.

Tóm lại: Lao động phải tạo ra sản phẩm mà xã hội có nhu cầu thì mới có giá trị.

Những người cộng sản, sau khi giành được chính quyền đã áp dụng học thuyết về giá trị lao động, được tóm tắt bằng câu: “Làm theo năng lực hưởng theo lao động” để trả lương cho người lao động.

Xin nói về vế thứ nhất: “Làm theo năng lực”. Xin hỏi: Ai biết năng lực của bạn? Không ai biết, chính bạn cũng không biết. Năng lực của bạn được thể hiện qua thử và sai. Trừ những người có năng lực quá kém, còn nói chung, trong cuộc đời mình, tất cả mọi người đều thử làm khá nhiều việc, cho đến khi tìm được công việc phù hợp nhất với mình. Cách đây 20 năm, người viết những dòng này không thể nào ngờ được rằng mình sẽ là người dịch sách, càng không thể ngờ được là một lúc nào đó mình sẽ viết những dòng chữ như thế này. Năm 1954, ai dám bảo vị tướng quân lừng danh, đánh đông dẹp bắc một ngày nào đó bỗng có năng lực quản lí về món kế hoạch hóa gia đình. Không ai biết được năng lực của người khác, cho nên nếu để cho tổ chức phân công thì người có thực tài có thể phải đi rửa bát, quét nhà; còn bọn ba lăng nhăng ăn không nên đọi, nói không nên lời, nhưng con ông cháu cha thì lại có quyền to chức lớn. Năng lực được thể hiện qua thử và sai. Và vì vậy kinh tế thị trường là nơi rèn luyện và kiểm tra năng lực của người làm kinh tế; còn chế độ dân chủ là nơi rèn luyện và kiểm tra năng lực của người làm chính trị. Không có cách nào khác.

Xin bàn sang vế thứ hai: “Hưởng theo lao động”. Đây là việc làm bất khả thi. Bởi vì, ví dụ, trong một ngày một người thợ thịt giết thịt được 5 con bò, còn ông bác sĩ phẫu thuật thì mổ ruột thừa cho 3 người. Lương của ai cao hơn và cao hơn bao nhiêu lần? Không ai trả lời được câu hỏi này. Làm theo năng lực hưởng theo lao động hóa ra chỉ áp dụng được cho những người làm trong cùng ngành nghề và là những ngành nghề đơn giản: Người thợ may may được 3 cái áo tất nhiên sẽ được nhận lương bằng 3/5 người thợ may may được 5 cái áo trong cùng thời gian.

Tất cả những giải pháp, cải tiến, cải lùi đều chẳng đi đến đâu. Cuối cùng, nhà cầm quyền chỉ còn 2 lựa chọn: Cào bằng hay trả theo cấp bậc. Cào bằng thì chẳng ai còn muốn làm, mà trả theo cấp bậc thì sẽ dẫn đến những bất hợp lý và đẩy tất cả mọi người vào cuộc đua tranh giành quyền chức.

Một trong những nguyên nhân dẫn xã hội dựa trên sở hữu tập thể lâm vào bế tắc, dẫm chân tại chỗ chính là không tìm được cách trả lương nhằm khuyến khích người lao động.

Học thuyết về giá trị lao động mà Marx dựa vào còn dẫn đến sai lầm quyết định hơn, đấy là công thức để đo lường giá trị thặng dư: GT= C+ V+ m => m= GT - (C+V).

3. Gía trị thặng dư

Giá trị thặng dư là một trong những khái niệm trung tâm của kinh tế chính trị học Marxist. Công thức như sau:

GT= C+ V+ m => m= GT - (C+V), trong đó: trong đó: GT là giá trị sản phẩm bán được, m là giá trị thặng dư;

C là phần tư bản bất biến được chuyển vào giá trị hàng hóa. C bao gồm 02 bộ phận là c1 và c2. c1 là phần khấu hao tài sản cố định phân bổ cho mỗi đơn vị hàng hóa, phần này không tăng lên hay giảm đi trong quá trình sản xuất mà nó chỉ chuyển dịch giá trị từ tổng tài sản cố định vào giá trị hàng hóa, sau đó nhà tư bản thu hồi lại bằng trích quỹ khấu hao. C2 là giá trị nguyên, nhiên, vật liệu, phụ liệu, phụ gia, phụ phẩm... và giá trị công cụ, dụng cụ rẻ tiền, mau hỏng phân bổ cho mỗi đơn vị hàng hóa. Phần này được chuyển hết 01 lần vào giá trị của hàng hóa Cả c1 và c2 đều không trực tiếp tạo ra giá trị mới (nên nó mới có tên gọi là tư bản “bất biến”), mà nó chỉ là phương tiện để sinh ra giá trị thặng dư mà thôi, chính đặc điểm này đã che đậy giá trị thặng mà lại biểu hiện ra bên ngoài bằng lợi nhuận;

V là phần tiền công mà nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động của người công nhân, nó còn gọi là lao động sống tạo ra giá trị mới của hàng hóa. Phần giá trị tăng thêm này cũng được hình thành do hao phí lao động trừu tượng của người công nhân kết tinh vào hàng hóa (khả biến), nhưng bị nhà tư bản chiếm đoạt, không trả cho người tạo ra nó, tức là nhà tư bản đã mua giá trị lao động thấp hơn giá trị thật của nó, phần chênh lệch gía trị thật của sức lao động này với giá trị mà nhà tư bản bỏ ra để mua sức lao động của công nhân chính là Giá trị thặng dư - vấn đề cốt lõi đang bàn tới.

Công thức được coi là thiên tài nói trên thiếu hai thành tố cực kì quan trọng: Tiền lãi trả cho C và kĩ năng quản lí của người chủ hay của giám đốc điều hành doanh nghiệp.

1. Lãi suất: Tại sao người có vốn lại được hưởng lãi? Câu trả lời là như sau: Nếu có 100 USD (100 ngàn hay 1 triệu thì cũng thế), tôi có thể tiêu dùng ngay trong ngày hôm nay. Nhưng doanh nhân/ngân hàng có thể nói với tôi: Đưa cho tôi số tiền đó, đúng ngày này, tháng này sang năm anh sẽ có 105 USD (lãi suất 5%). Cơ chế đơn giản là: Hoãn tiêu dùng trong hiện tại để có thể được tiêu dùng nhiều hơn trong tương lai và hiện tượng đó được gọi là tích lũy tư bản. Không có tích lũy tư bản (nôm na là tiết kiệm) thì nhân loại mãi mãi chỉ có mấy hòn đá để ném chim và ném nhau mà thôi. Nhưng công thức thiên tài của Karl Marx không có thành tố này. Xin hỏi Marx thông minh, trí tuệ hơn người ở chỗ nào?

2. Kĩ năng quản lí/kinh doanh. Hồi ông Phan Văn Khải còn làm thủ tướng, đi đâu ông cũng hỏi: “Trồng cây gì? Nuôi còn gì?”. Có thể nói một cách tồng quát hơn là: “Sản xuất cái gì?” Đấy là câu hỏi cực kì khó, thậm chí, “Mua cây giống/con giống ở đây? Rồi bán sản phẩm ở đâu?” cũng là những câu hỏi rất khó. Chỉ có một ít người biết câu trả lời cho những câu hỏi nói trên. Họ chính là doanh nhân/quản trị doanh nghiệp. Họ chính là những người có công rất lớn trong quá trình phát triển của nền văn minh. Có những doanh nhân thiên tài như Bill Gates, Mark Elliot Zuckerberg… họ là những người đã đưa nền văn minh thế giới lên những nấc thang mới, họ đã đưa chiều kích mới vào nền tự do của nhân loại. Nhưng Marx đã bỏ qua công lao của họ. Mà nói những chuyện đó làm gì cho xa xôi, Marx không biết cái điều mà ngay từ xa xưa người đàn bà Việt Nam nào cũng biết: “Một người hay lo bằng một kho người hay làm”. Marx không biết và không tính đến cái điều đơn giản ấy. Xin hỏi lại một lần nữa: Marx thông minh, trí tuệ hơn người ở chỗ nào?

Không những Marx không thông minh hơn người mà công thức đó còn tố cáo rằng Marx không có hiểu biết trung bình về kinh tế học, cũng như chưa từng làm gì hay buôn bán bất cứ thứ gì. Ông ta chỉ là con mọt sách tự sướng mà thôi.

Những người đã từng giảng đến rách mép cái công thức ấy không thể nào trả lời được câu hỏi bên trên.. Nhưng họ lại rỉ tai những người công nhân đang ù tai vì tiếng động cơ/máy móc rằng: “Các anh bị bọn tư bản bóc lột đến tận xương tủy. Hãy vùng lên. Đấu tranh này là trận cuối cùng. Hãy tước đọat của những kẻ đã và đang tước đoạt các anh. Một ngày không xa, khi thế giới đại đồng các anh sẽ làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu”.

4. Làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu

Nói đấy là lời hứa vô căn cứ vì 2 lí do sau đây:

1. Con người, cho đến nay, là sinh vật duy lí và tư lợi, muốn thỏa mãn một cách cao nhất những nhu cầu của mình với ít đau khổ nhất, hay nói nôm na là muốn ăn mà không muốn làm. Chính vì thế người ta mới lừa dối nhau, tranh giành nhau, chém giết nhau; các quốc gia thì gây chiến tranh hao người tốn của với nhau để tranh giành đất đai, tài nguyên thiên nhiên. Nếu được làm theo năng lực mà lại được hưởng theo nhu cầu thì bạn có thức khuya dậy sớm, có cố gằng học cho bằng được một kĩ năng hay một môn ngoại ngữ nào hay không? Bạn có bắt con, em mình đi học thêm đến mụ người như hiện nay hay không? Và nói chung là có cố gắng tiết kiệm, cố gắng làm bất cứ chuyện gì hay không? Câu trả lời tất nhiên là Không! Bạn không, tôi và những người khác tất nhiên là cũng Không!
Cách mạng là ngày hội của quần chúng

Khi mọi người đều không cố gắng làm bất cứ chuyện gì thì lấy đâu ra mà hưởng thụ? Đấy là chưa nói hưởng theo nhu cầu, ngày nào cũng tôm hùm, trứng cá hồi đen, thịt bò Úc, rượu vang Pháp, whisky Scotland… Cá nhân tôi, nếu được hưởng theo nhu cầu thì không những chỉ ăn những món ngon như thế mà thìa dĩa cũng phải bằng bạc nguyên chất, bồn tắm mạ vàng, mỗi năm phải đi Hawaii tắm biển vài lần..v.v. Và làm sao đáp ứng được cái nhu cầu khủng khiếp như thế của tất cả mọi người?

2. Đây là lúc chúng ta bàn về nguồn lực. Nói chung, tất cả các nguồn lực, kể cả thời gian sống của một con người, đều là của hiếm và có giới hạn. Hiện nay mới chỉ có đa số người dân ở các nước Bắc Mỹ, Tây Âu, Nhật, Australia, New Zealand và một phần dân chúng ở một số nước khác là có cuộc sống xứng đáng với đời sống của con người mà thôi. 3 tỷ người hiện sống với thu nhập chưa tới 2 USD một ngày, trong đó 1,2 tỷ người có thu nhập chưa bằng nửa số đó; 2 tỷ người sống thiếu điện, 1,5 tỷ người thiếu nước sạch. Thế mà tài nguyên thiên nhiên đã cạn kiệt, nước và không khí đã bị ô nhiễm trầm trọng. Chỉ cần hơn một tỉ dân Trung Quốc và hơn một tỉ dân Ấn Độ được hưởng mức sống như người dân Tây Âu thì thế giới chắc chắn sẽ mất cân bằng thật sự, thậm chí là cạn kiệt tài nguyên và loài người có thể bị diệt vong.

Như vậy là, làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu là lời hứa vô trách nhiệm, quá nhẩm nhí, một cái utopia, không thể nào xứng đáng với một người tự nhận hay vẫn được coi là triết gia biện chứng số 1. Nhưng tác hại và di hại của nó thì vô cùng khủng khiếp. Những nước mắc phải cái bả utopia này đã phải gánh chịu biết bao nhiêu đau thương, cà về người, về của, lẫn đạo đức, phong tục.

5. Vĩ thanh

1. Lịch sử nhân loại là lịch sử của quá trình vươn tới tự do, vươn tới tình trạng ngày càng tự do hơn. Không cần đọc lịch sử, cũng chẳng cần đọc triết học cũng có thể cảm nhận được điều này. Có thể nói, hiện nay những người trên bốn mươi tuổi ở nước ta đều cảm thấy chân trời tự do ngày càng mở rộng ngay trước mắt mình, làn gió tự do đang mơn man ngay trên da thịt, tuy chân trời chưa thật rộng và làn gió tư do chưa đủ mạnh như một số người mong muốn. Và, điều đặc biệt là càng tự do hơn thì chúng ta càng sung túc hơn: Mức độ tự do của xã hội quyết định mức độ thịnh vượng của xã hội đó.

Nhưng, có thể nói, bằng tuyên bố “những người cộng sản có thể tóm tắt lý luận của mình thành một luận điểm duy nhất này là: xoá bỏ chế độ tư hữu”, Marx và các đồ đệ của ông ta muốn đưa nhân loại vào chế độ nô lệ toàn triệt chưa từng có trong lịch sử nhân loại. Bởi vì, như lịch sử thành văn đã cho thấy, ngay cả thời của các pharaoh, trong các chế độ nô lệ hay các bạo chúa khủng khiếp nhất vẫn có những người giữ được khoảng cách nhất định với nhà nước, giữ được quyền tự kiếm sống. Khi nhà nước nắm tất cả phương tiện sản xuất thì không có cá nhân nào còn được độc lập với nhà nước nữa. Trotsky, một trong những lãnh tụ của cuộc Cách mạng Tháng mười Nga từng nói: “Ở đất nước mà nhà nước là người sử dụng lao động duy nhất thì đối lập nghĩa là chết đói một cách từ từ. Nguyên tắc cũ: Không làm việc thì không được ăn, đã được thay bằng nguyên tắc mới: Không vâng lời thì không được ăn”. Xã hội loài người, nếu thực hiện triệt để nguyên tắc này của Tuyên ngôn cộng sản, sẽ trở thành một tổ mối vĩ đại với những con người chẳng còn chút nhân tính nào, tức là trở thành những con vật vẫn đi bằng hai chân, nhưng không phải giống người trong quan niệm của chúng ta hiện nay.

2. Lý thuyết về giá trị lao động và công thức tính giá trị thặng dư là hoàn toàn sai, còn lời hứa về “làm theo năng lực, hưởng theo lao động” là hoàn toàn vô căn cứ. Nhưng đây lại là những khẩu hiệu tuyên truyền, kích động, là động lực của “đấu tranh này là trận cuối cùng”. Giai cấp công nhân, được những đồ đệ của Marx - thực ra đều là những người chỉ biết lí thuyết suông, chưa từng sản xuất hay kinh doanh bất cứ thứ gì - kích động, đã làm được những cuộc cách mạng bạo lực long trời lở đất và đã thiết lập được các chế độ chuyên chính vô sản với kinh tế tập thể là chủ đạo. Nhưng hóa ra kinh tế tập thể và kế hoạch hóa, không sử dụng cơ chế thị trường, không thể phân bố một cách hiệu quả các nguồn lực. Xã hội lâm vào khủng hoảng thiếu triền miên. Tình trạng khủng hoảng kinh tế thường trực như thế sẽ dẫn đến những lời kêu gọi kế hoạch hóa nhiều hơn nữa. Nhưng kế hoạch hóa kinh tế thù địch với tự do. Vì trong xã hội tự do, người ta không thể đồng ý với nhau về một kế hoạch duy nhất, việc tập trung hoá quá trình ra quyết định về kinh tế phải song hành với tập trung hóa quyền lực chính trị vào tay một nhóm nhỏ. Cuối cùng, thất bại của kế hoạch hóa tập trung trở thành hiện tượng không thể nào phủ nhận được, các chế độ toàn trị thường bịt miệng những người bất đồng chính kiến - đôi khi bằng những vụ giết người hàng loạt. Đàn áp và dối trá gia tăng. Còn thiếu thốn thì tạo ra nạn ăn cắp, móc ngoặc và hối lộ. Thiệt hại lớn nhất mà chủ nghĩa xã hội gây ra không phải là kinh tế mà là tinh thần.

3. Cuối cùng, tất cả các nước từng đi theo con đường mà Marx và các đồ đệ của ông ta vẽ ra đều phải quay trở về với chế độ dân chủ và kinh tế thị trường tự do. Nhưng, do con người trong những xã hội đó đã quen với lối sống tùy tiện, vô đạo đức, hối lộ, móc ngoặc, coi thường pháp luật, cho nên ở các quốc gia đó người ta thường thấy chế độ độc tài và nền kinh tế tư bản hoang dã cực kì vô liêm xỉ. Có thể nói, chủ nghĩa xã hội chính là con đường rất dài và đầy đau khổ để đi từ chủ nghĩa tư bản có trật tự sang chủ nghĩa tư bản hoang dã. Nghe đồn rằng cách đây 40-50 năm người ta đã thấy trên bàn sinh viên trong trường đại học ở Đức có câu: “Vô sản toàn thế giới hãy tha tội cho tôi”.

HẾT. 

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự thật về đơn vị đặc nhiệm mới của quân đội Việt Nam


Nguyễn Thế Phương
Phạm Nguyên Trường dịch

Cần phải hiểu Lực lượng 47 như là một phần của thách thức rộng lớn hơn đối với chế độ và những lựa chọn hạn chế mà chế độ đang gặp.
Ghi chú: Ông Nguyễn Trọng Nghĩa cho biết hiện lực lượng này (gọi là lực lượng 47 - theo chỉ thị 47) đã có hơn 10.000 người là hạt nhân đấu tranh trên không gian mạng, "vừa hồng vừa chuyên", kiên định lập trường, có trình độ, kỹ năng sử dụng công nghệ cao thực hiện nhiệm vụ.


Quân đội Nhân dân Việt Nam chính thức công nhận Lực lượng 47 tác chiến trên không gian mạng đã gây ra cuộc tranh luận và chỉ trích gay gắt trong thời gian gần đây không chỉ trên bình diện quốc tế mà cả ở trong nước.

Các luận cứ được đưa ra cho đến nay là có thể dự đoán được: Lực lượng đặc nhiệm này là vũ khí mới của Việt Nam nhằm chống lại những người bất đồng chính kiến trên không gian mạng, và việc kiểm duyệt và thái độ ít khoan dung hơn đối với các quan điểm khác nhau cũng có thể gây ra hậu quả đối với tốc độ tăng trưởng kinh tế trong tương lai.

Tuy nhiên, ít người để ý đến tổ chức thực sự lực lượng này, và quan trọng hơn là Đảng Cộng sản Việt Nam đang cầm quyền nhận thức như thế nào về cuộc đấu tranh chống lại cái được gọi là “diễn biến hòa bình” trong thời đại của truyền thông xã hội. Do sự quan tâm dành cho tổ chức này, cần phải khảo sát nó một cách chặt chẽ dưới góc độ đó.

Lực lượng 47, như nó được hình dung, trên thực tế chỉ toàn các sĩ quan quân đội và và binh sĩ, những người vốn là thành phần của lực lượng vũ trang. Hầu hết trong số họ đều được đào tạo về tuyên truyền và được trang bị những kỹ năng nhằm chống lại cái mà chế độ thường coi là yếu tố của “diễn biến hòa bình” trên Internet, trong giai đoạn mà những người có ảnh hưởng đang sử dụng rộng rãi những đường truyền trực tuyến ở Việt Nam cũng như ở các nước khác trên thế giới.

“Diễn biến hoà bình”, theo Đảng cộng sản Việt Nam, là chiến lược nhằm thâm nhập và phá hoại nhà nước xã hội chủ nghĩa bằng cách truyền bá những tư tưởng chính trị và lối sống của phương Tây, kích động thái độ bất mãn, và khuyến khích các nhóm người nhằm thách thức sự lãnh đạo của Đảng. Thành phần rất quan trọng của lý thuyết về diễn hòa bình là tư tưởng “tự chuyển hóa”, nghĩa là một số người trong giới cầm quyền hay các quan chức của đảng có thể bám vào các tư tưởng ngoại lai, chứ không bị bất cứ quốc gia hay tổ chức nào ép buộc.

Đơn vị đặc nhiệm này không có cơ cấu tổ chức hoặc vật chất cụ thể, và như được hiểu cho đến nay, tổ chức là tương đối tính phi chính thức và linh hoạt, dựa trên các nhiệm vụ cụ thể. Số 47 cũng chỉ đơn giản là số hiệu chứ không phải là tên hiệu với mức độ tập quyền cao.

Thay vào đó, tùy thuộc vào quy mô và phạm vi của nhiệm vụ cụ thể nào đó, các thành viên của lực lượng này (khoảng 5.000 đến 10.000 người) sẽ tham gia vào việc chống lại “quan niệm sai trái” theo cách riêng của họ. Mệnh lệnh và kiểm soát là tối thiểu, thậm chí trong một số trường hợp hoàn toàn không có, vì các thành viên của đơn vị đặc nhiệm được quyền hoạt động độc lập và chủ động trên Internet. Đảng Cộng sản vẫn có thể duy trì trật tự và kỷ luật về ý thức hệ của lực lượng này (và dĩ nhiên là đưa ra những phương hướng chung) thông qua mạng lưới chính trị viên độc đáo của mình, được triển khai xuống đến cấp đại đội.

Nói cách khác, các binh sĩ của Lực lượng 47 thực hiện các nhiệm vụ và sứ mệnh chính thức hàng ngày của mình, trong đó có đào tạo, nghiên cứu và tương tác với các đối tượng cụ thể, theo bộ quy tắc ứng xử của họ, đồng thời trở thành những người tranh luận trên internet, nếu cần. Cơ chế chỉ huy và kiểm soát linh hoạt này cho phép các bi nh sĩ của lực lượng đặc nhiệm được miễn các thủ tục nghiêm khắc thường thấy trong các mạng lưới truyền thống của Đảng Cộng sản.

Có một số biện pháp để Lực lượng 47 sử dụng nhằm thực hiện các mục tiêu của mình. Phương pháp rõ ràng nhất là sử dụng mạng truyền thông xã hội nổi tiếng nhất tại Việt Nam: Facebook. Nhiều trang Facebook đã được tạo ra nhằm ủng hộ các lợi ích quân sự hoặc ít nhất là tài trợ và quản lý từ quân đội hoặc nhân viên quân sự (tại ngũ và đã nghỉ hưu). Khi sự cố xảy ra, các trang Facebook này kiên quyết bảo vệ chính sách của chính phủ hoặc tấn công các đối thủ một cách dữ dội. Nếu biết rằng gần một nửa dân số Việt Nam hiện đang sử dụng Facebook (và vẫn đang gia tăng) và nhiều nhà bất đồng chính kiến và lực lượng chống chế độ cũng đang sử dụng Facebook làm căn cứ nhằm quảng bá chương trình nghị sự của họ, thì đây là điều không làm người ta ngạc nhiên.

Đối với Đảng Cộng sản, xét từ quan điểm rộng hơn này, việc thành lập Lực lượng 47 có thể được coi là có lợi về một số khía cạnh. Thứ nhất, không tốn nhiều tiền. Thay vì thuê một số người, quân đội có thể đưa sĩ quan và binh sĩ của mình tham gia, trong khi vẫn kiểm soát cách suy nghĩ của họ, đồng thời cho phép họ tự chủ khi thực hiện các nhiệm vụ đề ra. Thứ hai, nó là sự mở rộng của những nỗ lực của chế độ nhằm bảo vệ các tư tưởng của Đảng, như đã thấy trên các trang Facebook nói trên (những người theo, thích, và nhắc tới đã gia tăng) và sự vươn lên của cái gọi là những trang “đỏ” và bảo thủ trên Facebook và thậm chí là trên Youtube.

Vấn đề là tại sao Đảng Cộng sản lại chọn thời điểm cụ thể hiện nay để thành lập và công khai hóa lực lượng đặc nhiệm này. Trên thực tế, sự kiện phải được hiểu là một phần của chiến dịch mà chính phủ đang tiến hành. Ví dụ, tháng 8 năm ngoái, Chủ tịch nước Trần Đại Quang đã kêu gọi kiểm soát Internet một cách khắt khe hơn trước việc “các thế lực thù địch đe doạ không chỉ an ninh mạng mà còn làm suy yếu uy tín của lãnh đạo Đảng và nhà nước”. Trong hội nghị Quân ủy Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hồi giữa tháng trước, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cho biết: “Quân đội phải quan tâm hơn nữa tới cuộc đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, bảo vệ cái đúng và sự thật, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ, cương quyết bác bỏ những quan điểm sai trái và những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Quân đội phải là lực lượng tiên phong và có những hành động quyết liệt hơn trong lĩnh vực này”.

Cũng phải hiểu hành động này trong bối cảnh các lựa chọn có giới hạn của chính phủ Việt Nam so với các nước khác, trong đó có Trung Quốc. Nói một cách đơn giản, Việt Nam không có đủ tiền và trình độ chuyên môn để có thể xây dựng hệ thống ngăn chặn các trang web hùng mạnh và hiệu quả như Vạn Lý Trường Thành Trên Mạng của Trung Quốc.

Tương tự như thế, chính phủ cảm thấy rằng không thể đơn giản là cấm Facebook hay Google hoặc bất kỳ mạng xã hội nào khác vì những mạng xã hội này đang ngày càng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế. Đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam, truyền thông xã hội là kênh tiếp thị quan trọng đối với người tiêu dùng trẻ tuổi và giàu có trong nền kinh tế có tốc đô tăng trưởng hơn 6% một năm. Thiết lập Vạn Lý Trường Thành Trên Mạng, tương tự như của Trung Quốc, không chỉ là một cơn ác mộng về mặt tài chính và kỹ thuật đồi với chính phủ, mà còn là cơn ác mộng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, đang sử dụng Internet để tiến hành công việc kinh doanh. Kiểm soát Internet khắt khe hơn cũng có thể làm chậm lại quá trình đổi mới và ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế số và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam.

Việc sử dụng các cán bộ tuyên truyền và các nhà bình luận truyền thống cũng có những hạn chế, mà chế độ đang phải cảnh giác. Những người tham gia vào công việc này có thể bị kiểm soát gắt gao, nhưng họ có thể không đủ khả năng nhằm tạo ra ảnh hưởng đáng mong muốn và trên thựcc tế, có thể gặp những trở ngại khi làm việc vì một số nhóm bị mang tiếng xấu là được nhà nước bảo trợ một cách quá đáng, nhất là đối với các thanh niên và người dân thành thị đang ngày càng Tây hóa hơn. Bên cạnh đó, như đã nói bên trên, nhà nước cũng cần đầu tư nhiều tiền hơn để duy trì và ủng hộ quá trình này.

Với tất cả những điều đã trình bày, sử dụng các “chiến binh trên không gian mạng” chuyên nghiệp và được đào tạo là lựa chọn tốt hơn đối với chế độ. Cách tiếp cận này được Đảng và Chính phủ thông qua có thành công hay không, hiện nay chưa thể đánh giá đươc. Nhưng rõ ràng là, trong thời gian gần đây, các cán bộ tuyên truyền và những nhà bình luận truyền thống đã không còn hấp dẫn đối với thế hệ trẻ có kiến thức và có đầu óc cởi mở hơn, và chiến thắng trên không gian ảo đòi hỏi một cách tiếp cận khác.

Nguyễn Thế Phương là nghiên cứu viên của Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế Sài Gòn (SCIS), Đại học Quốc gia Việt Nam - Thành phố Hồ Chí Minh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang