Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 14 tháng 1, 2018

Năm mới chuyện cũ: Dân trí và vận mệnh quốc gia



Năm mới chuyện cũ: Dân trí và vận mệnh quốc gia
Nguyễn Quang Dy – 01/01/2018
“Dân hai nhăm triệu ai người lớn / Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con” (Trích bài “Bính thìn Xuân Cảm” của Tản Đà (1916) trong tập thơ “Khối Tình Con”).
Với trái tim nhạy cảm của một thi sỹ lớn nặng tình với đất nước, trong bài thơ thất ngôn bát cú cố tình viết dang dở (thiếu hai câu kết), cụ Tản Đà đã đau lòng nhận xét về dân trí quốc gia bằng mấy vần thơ cô đọng như lời sấm truyền. Và với bộ óc nhạy cảm của một nhân sĩ lớn có tầm nhìn xa, cụ Phan Chu Trinh đã tâm huyết đề xuất giải pháp chấn hưng quốc gia bằng “khai dân trí” (enlightened wisdom) và “chấn dân khí” (heightened morale). Ngày nay các nhà khoa học gọi sự nhạy cảm đó là “trí tuệ cảm xúc” (emotional intelligence).
Nhiệm vụ bất khả thi
Không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Obama đánh giá cao tư tưởng của cụ Phan Chu Trinh như một “triết lý” (philosophy) khi ông đến thăm Việt Nam (23/5/2016). Phải chăng ông Obama muốn nói rằng tư tưởng đó của cụ Phan Chu Trinh vẫn còn nguyên giá trị, và người Việt lúc này vẫn cần “khai dân trí”? Cũng không phải ngẫu nhiên mà tổng thống Trump ca ngợi Hai Bà Trưng khi ông đến thăm Việt Nam (10/11/2017). Phải chăng ông Trump cũng muốn nói rằng người Việt đang cần “chấn dân khí”? Không biết điều đó có phải là dấu hiệu của “Đông Tây hội ngộ” hay không, nhưng chắc chắn nó càng khẳng định những gì các cụ Tản Đà và Phan Chu Trinh nói cách đây gần một thế kỷ đáng để hậu thế suy ngẫm.
Một điều nữa cũng đáng suy ngẫm là vào thời Minh Trị (Meiji era), các nhân sĩ Nhật như ông Fukuzawa Yukichi đã giúp nước Nhật khởi nghiệp quốc gia, trở thành một đế quốc hùng mạnh khi phương Đông còn chìm đắm trong đêm dài lạc hậu. Sau chiến tranh, giới trí thức Nhật một lần nữa lại giúp nước Nhật bại trận chấn hưng, trở thành một cường quốc dân chủ. Người Nhật đã làm được điều đó vì họ trọng dụng trí thức và mở cửa để học hỏi phương Tây. Người Việt không làm được điều đó vì coi thường trí thức và đóng cửa để “bế quan tỏa cảng” với phương Tây, mà họ chỉ coi trọng khổng giáo (nay đã thành hủ nho). Gần đây, Việt Nam phát động “định nghĩa trí thức” thì e rằng đã quá muộn (too little too late).
Việt Nam hiện nay có hàng chục vạn giáo sư tiến sĩ, nhưng chắc chỉ có vài trăm người là trí thức thực sự có tư duy độc lập và sáng tạo. Thói háo danh, thích xu nịnh và trọng bằng cấp (dù bằng giả và đạo văn), làm nhiều người ngộ nhận mình là trí thức. Hệ quả không định trước của chính sách cai trị độc đoán và ngu dân làm cho quan trí ngày càng thấp. Có người gọi đó là “định luật trên dưới cùng ngu”. Dân trí thấp kéo theo mọi cái đều thấp, dẫn đến vô cảm và vô minh, làm cho ý tưởng khai dân trí trở thành “nhiệm vụ bất khả thi”.
Cách đây một thế kỷ, cụ Phan Chu Trinh hô hào “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh” như một triết lý để chấn hưng quốc gia. Nhưng đến nay, người Việt vẫn dậm chân tại chỗ ở ngã ba đường, chưa thoát khỏi bãi lầy ý thức hệ đã lỗi thời. Trong khi người Nhật đã khởi nghiệp quốc gia (từ thời Minh Trị) và chấn hưng đất nước (từ sau chiến tranh thế giới hai) thì người Việt vẫn loay hoay “định nghĩa trí thức”. Trong khi người ta hô hào “công nghệ 4.0”, thì các quan cũng như dân vẫn còn đồng bóng, tin vào bói toán và cúng bái, cầu xin người chết thuộc thế giới âm làm thay việc của người sống ở thế giới dương (như “xin cho”).
Khai dân trí thế nào
Khai dân trí được hiểu là mở cửa trí tuệ để đưa dân trí từ chỗ tối ra chỗ sáng, như một cuộc cách mạng về tư tưởng và văn hóa, nhằm giải phóng trí tuệ con người khỏi vô minh và ngộ nhận do theo đuổi một ý thức hệ đã lỗi thời. Ý nghĩa của Khai dân trí tương tự như Enlightenment trong tiếng Anh. Còn Dân khí thường dùng để chỉ sức mạnh tinh thần, không chỉ dựa trên lý trí mà còn bao gồm cả cảm xúc (EQ). Chấn dân khí chính là nhằm khôi phục và tăng cường sức mạnh tinh thần và nhuệ khí của dân tộc. Một khi dân trí thấp kém và dân khí yếu hèn thì giới trí thức phải giúp nhau và giúp người dân khai mở trí tuệ để đổi mới tư duy, góp phần chấn hưng quốc gia và hội nhập cùng với trào lưu chung của nhân loại tiến bộ.
Có nhiều khái niệm liên quan đến người dân như “của dân, do dân, vì dân” (of the people, by the people, for the people) của tổng thống Mỹ Abraham Lincoln (1863), hoặc “tam dân chủ nghĩa” (three principles of people) của ông Tôn Trung Sơn (1924) bao gồm “dân tộc” (nationalism), “dân quyền” (civil rights), “dân sinh” (people’s livelihood)… Sinh thời, cụ Phan Chu Trinh và các nhân sĩ khác đều quan tâm vận dụng những tư tưởng này. Nhưng các cụ không biết rằng một thế kỷ sau, những tư tưởng cấp tiến đó vẫn còn là khẩu hiệu.
Không phải chỉ có giới cầm quyền, mà cả người dân với tư duy truyền thống, cũng tin rằng “nhất sĩ nhì nông, hết gạo chạy rông, nhất nông nhì sĩ”. Có lẽ vì vậy mà sau khi quốc gia khởi nghiệp bằng bạo lực do “cướp chính quyền” (năm 1945), Việt Nam đã “khai dân trí” bằng hệ thống “bình dân học vụ”, và sau chiến tranh (năm 1954) bằng hệ thống “bổ túc công nông”. Điều đó không sai về công bằng xã hội, nhưng là thảm họa nếu phủ nhận vai trò của trí thức khi người Việt muốn khởi nghiệp hay chấn hưng quốc gia. Nó lý giải tại sao Việt Nam vẫn tụt hậu và chính phủ “kiến tạo” còn gặp khó khăn khi xây dựng một nền kinh tế tri thức. Đó là sự khác biệt cơ bản giữa Việt Nam với Nhật Bản (và các nước khác).
Nhưng làm sao có dân trí cao khi người Việt Nam bắt chước người Trung Quốc đấu tranh giai cấp cực đoan bằng bạo lực (với khẩu hiệu “trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ”). Thời “cách mạng văn hóa”, Mao Trach Đông đã nói thẳng “trí thức không bằng cục phân” và đuổi họ về nông thôn để “cải tạo lao động” (trong đó có cả Tập Cận Bình). Nhiều người vẫn chưa quên những bài học kinh hoàng về “cải cách ruộng đất” và những màn đấu tố đầy bạo lực. Những gì diễn ra ở Trung Quốc thường lặp lại tại Việt Nam, tuy quy mô, mức độ và thời gian có khác nhau, nhưng mô hình và phương thức gần giống nhau (đến tận bây giờ). Việt Nam chống tham nhũng là rất đúng và cần thiết, nhưng vẫn bắt chước Trung Quốc.
Không phải ngẫu nhiên mà chính quyền hành xử cực đoan và thiếu dân chủ. Theo khảo sát của Trung tâm Nghiên cứu PEW (Mỹ), 79% người Việt trả lời là họ ủng hộ dân chủ “vừa phải”, 29% coi chính quyền là thể chế “rất tốt”, 41% coi là “hơi tốt” và chỉ có 3% coi là “rất xấu”. Nhiều người dân vẫn thích chuyên chính (đối với kẻ khác). Cực đoan và thù hận, vô cảm và vô minh là những căn bệnh nan y mãn tính của người Việt (cả trong nước lẫn ngoài nước). Ai đã khủng bố và giết hại năm nhà báo người Việt tại Mỹ (giai đoạn 1981-1990)? Cái gì đã làm người Việt (cả hai phía) khó hòa giải dân tộc để chấn hưng quốc gia?
Một số người phê phán cách dùng chữ “người Việt” là không đúng (mà theo họ phải gọi là chính quyền cộng sản). Phải chăng họ chỉ muốn áp đặt ý của mình cho người khác, và quen đổ lỗi cho người khác, còn mình thì vô can. Chẳng có ai thực sự vô can hay “ngoại phạm” vì người ta hay nói “dân nào thì chính phủ ấy” và “quan tham vì dân gian”. Chính quyền tham nhũng vì người dân hay hối lộ. Có vấn nạn thực phẩm độc hại vì dân gian và tham. Có vấn nạn chạy bằng cấp vì người dân hám danh và thích bằng cấp (do dân trí thấp).
Đánh tráo khái niệm và tụt hậu
Trong bối cảnh Việt Nam, hai chữ “nhân dân” được sử dụng quá nhiều như lạm phát. Từ “ủy ban nhân dân, hội đồng nhân dân, chính quyền nhân dân, đến công an nhân dân, tòa án nhân dân, quân đội nhân dân, và chiến tranh nhân dân…Hầu như cái gì cũng gắn với “nhân dân” như khẩu hiệu dân vận. Người Việt thích vay mượn khái niệm “của dân, do dân, vì dân” của người Mỹ và mặc nhiên coi đó là của mình. Thực ra của ai không quan trọng, nhưng họ có thực sự tin vào điều đó không và lời nói có đi đôi với việc làm không. Gần đây, bộ trưởng Chủ nhiệm văn phòng chính phủ Mai Tiến Dũng có nói một câu làm bộc lộ bản chất, “Nếu ta sai, ta sẽ xin lỗi dân. Nếu dân sai, dân phải chịu trách nhiệm trước pháp luật”. Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Vũ Đình Ánh chia sẻ một kinh nghiệm thu thuế thật ấn tượng, “Thu thuế phải như vặt lông vịt, vặt sao cho sạch nhưng đừng quá vội để vịt nó kêu toáng lên”.
Tại Việt Nam có rất nhiều khẩu hiệu dân túy như “thực hiện quyền làm chủ của nhân dân” với “dân chủ cơ sở”, theo nguyên tắc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trên tinh thần “dân chủ tập trung” trong nền “kinh tế thị trường định hướng XHCN”, nhằm thực hiện các mục tiêu cơ bản “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng các ý tưởng dân chủ đã bị đánh tráo không còn như ban đầu, giống một đoàn tàu bị bắt cóc (hijacked) và người cầm lái bẻ ghi đoàn tàu chạy theo hướng khác. Người ta chỉ giữ lại cái vỏ và những khẩu hiệu mỵ dân để che đậy bản chất mới. Đó chính là “diễn biến” và “suy thoái”.
Trong Hiến pháp 1946, lời nói đầu đã khẳng định ba nguyên tắc cơ bản là: (1) Đoàn kết toàn dân không phân biệt giống nòi, gái, trai, giai cấp, tôn giáo; (2) Đảm bảo các quyền tự do dân chủ; (3) Thực hiện chính quyền mạnh mẽ và sáng suốt của nhân dân. Đó là một hiến pháp tiến bộ, được lòng dân. Trong thời kỳ hậu chiến (1975-1988), tại Việt Nam vẫn tồn tại ba đảng là Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, và Đảng Dân chủ. Nhưng từ năm 1988, Đảng Dân chủ Việt Nam và Đảng Xã hội Việt Nam đã buộc phải “tự giải thể”, chỉ còn một đảng duy nhất lãnh đạo là Đảng Cộng sản Việt Nam. Theo Hiến pháp mới, đảng Cộng sản Việt Nam là chính đảng duy nhất lãnh đạo toàn diện đất nước. Đó là một bước tụt hậu về dân chủ.
Cụ Hồ đã từng định nghĩa dân chủ một cách dễ hiểu: “Dân chủ là để làm sao cho dân được mở miệng ra. Đừng để dân sợ không dám mở miệng, nhưng còn nguy hại hơn là khi người dân không thiết mở miệng nữa” Nhưng thời thế thay đổi, khi dân chủ và tự do báo chí ngày càng bị thu hẹp. Theo xếp hạng của tạp chí Economist (2012) về chỉ số dân chủ, Việt Nam đứng thứ 144 trên tổng số 167 quốc gia được xếp hạng và nằm trong nhóm các nước độc tài thiếu dân chủ, được bộ ngoại giao Mỹ xếp vào nhóm nước “chưa có dân chủ, hạn chế tự do báo chí, tôn giáo. Nhưng để lý giải sự suy thoái và tụt hậu hiện nay, không nên chỉ đổ lỗi cho những người cầm lái đoàn tàu, mà còn phải xem lại dân trí của hành khách đi trên tàu.
Năm ngoái, nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã mượn câu đó của cụ Hồ để nói về tự do ngôn luận, tự do báo chí của người dân trong luật báo chí sửa đổi (GDVN, 18/2/2016). Trong bối cảnh đó, ông Hùng nhấn mạnh: “Ta mà hiểu rằng quản lý là siết lò so lại không cho làm là không được đâu, là vi phạm Hiến pháp”. Theo “quy trình”, Luật Báo chí điều chỉnh các loại hình báo chí và không cho tư nhân hóa báo chí, còn quản lý thông tin trên mạng được điều chỉnh theo Nghị định 72. Ông Hùng lý giải, “Hiến pháp nói về quyền tự do và chỉ hạn chế bằng luật, thế thì bây giờ các đồng chí định hạn chế cái gì, cấm cái gì thì phải đưa vào luật chứ để trong nghị định là không được đâu… Quản lý bằng nghị định cũng được, nhưng nghị định mà đụng đến quyền tự do dân chủ thì không được”. Nhưng sang năm 2017, việc kiểm soát báo chí và mạng xã hội còn bị “siết lò so” mạnh hơn, như một bước thụt lùi.
Thực trạng về dân trí
Dân trí về quản trị đất nước chưa trưởng thành (immature). Tuy kinh tế Việt Nam tiếp tục tụt hậu (một số lĩnh vực thua cả Campuchia), nhưng đất nước vẫn đi theo một mô hình “không giống ai” (mà chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan gọi là “không chịu phát triển”). Tuy chiến tranh lạnh đã chấm dứt gần ba thập kỷ, nhưng Việt Nam vẫn hồn nhiên cử đặc vụ sang Berlin bắt cóc Trịnh Xuân Thanh, vi phạm luật quốc tế và chủ quyền quốc gia Đức, gây khủng hoảng ngoại giao Đức-Việt, làm chính phủ Đức nổi giận, đình chỉ quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam (và có thể phủ quyết EVFTA). Trong khi nhà nước hô hào về “chủ quyền quốc gia” và “an ninh quốc phòng”, thì người Trung Quốc được thuê dài hạn rừng đầu nguồn và chiếm các vị trí hiểm yếu làm dự án. Gần đây, chính phủ do túng tiền đã quyết định bán các doanh nghiệp hàng đầu (Vinamilk và Sabeco) cho nước ngoài kiểm soát. Phải chăng đó là biểu hiện của dân trí thấp như “khôn nhà dại chợ” và “tham bát bỏ mâm” (nên lợi bất cập hại?).
Dân trí về hợp tác và hội nhập còn kém. Người ta nói rằng người Việt làm việc gấp 3 lần người Nhật, nhưng khi hợp lực lại thì 3 người Việt mới bằng một người Nhật. Theo tiến sĩ Lê Thẩm Dương, người Nhật biết cách quản lý thời gian và làm việc nhóm hiệu quả, còn người Việt thì không. Giám đốc VJCC tại Hà nội nhận xét, “Người Việt Nam làm việc rất thông minh, cần cù, khi được các chuyên gia hướng dẫn thì họ biết phải làm gì và học hỏi rất nhanh. Thực tế là các bạn làm việc tốt hơn 3 lần so với người Nhật nhưng chỉ khi các bạn làm một mình. Tuy nhiên, khi các bạn làm việc tập thể thì các bạn làm không tốt bằng người Nhật chúng tôi vì khả năng làm việc nhóm (teamwork) của các bạn không tốt bằng người Nhật, và tôi có thể khẳng định rằng khi làm việc tập thể thì 3 người Việt mới bằng một người Nhật”.
Dân trí về văn hóa ứng xử xuống cấp nghiêm trọng, dẫn đến bạo hành gia đình, bạo lực học đường và bạo lực xã hội (ngay trong các lễ hội văn hóa truyền thống). Trong khi nhiều cô “bảo mẫu” bạo hành với trẻ em mẫu giáo (hết vụ này tới vụ khác), thì Bộ giáo dục và các địa phương vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu để chấm dứt tình trạng đó, mà chỉ rút kinh nghiệm và đổ trách nhiệm cho nhau. Dân trí về lịch sử và ngôn ngữ cũng có vấn đề, khi một số “trí thức” lúc thì đề xuất “bỏ môn lịch sử”, lúc khác lại đề xuất “cải cách chữ viết tiếng Việt”, như một trò đùa vô minh về “cải cách giáo dục”, làm cho dư luận cả nước bức xúc.
Dân trí về bảo vệ sức khỏe của người dân còn lạc hậu, đa số thiếu ý thức “phòng bệnh hơn chữa bệnh”. Họ thường không kiểm tra định kỳ để phát hiện bệnh sớm, vừa do hoàn cảnh vừa do dân trí thấp. Nhiều người mắc bệnh vì thực phẩm độc hại hay ô nhiễm môi trường (do nhân họa) trong khi đó một số “không nhỏ” các quan chức y tế và bác sỹ (thoái hóa) lại tiếp tay cho các công ty dược như VN Pharma nhập thuốc ung thư dổm về bán cho bệnh nhân. Việt Nam đang trở thành tâm điểm của ung thư, mỗi năm có hơn 126.000 ca mắc bệnh ung thư mới, và khoảng 94.000 người tử vong vì ung thư. Xu hướng này ngày càng gia tăng, không những gây tổn thất lớn cho nền kinh tế mà còn làm cho biết bao gia đình điêu đứng.
Dân trí và tham nhũng
Chống tham nhũng “giai đoạn 2.0” quyết liệt hơn với hình tượng “lò đã nóng lên rồi thì củi tươi vào cũng phải cháy” mà TBT Nguyễn Phú Trọng đã cao hứng mô tả. Sau khi Trịnh Xuân Thanh bị bắt tại Berlin (23/7/2017), Đinh La Thăng cũng bị bắt tại Hà Nội (8/12/2017). Nhưng chống tham nhũng chắc không dừng lại ở “đại án PVN” mà còn tiếp diễn nhằm chiếu tướng (tuy chưa rõ là chiếu tướng ai). Trong khi nhiều người tin rằng đánh ông Đinh La Thăng là để chiếu tướng ông X (cầm đầu “bên thua cuộc”), những một số khác cho rằng đánh “Vũ Nhôm” là để chiếu tướng ông Y (đối thủ số một đang cầm quyền). Đây là trò chơi vương quyền (game of thrones) có nhiều ẩn số. Nhưng việc khám nhà và truy nã “Vũ Nhôm” sau khi thả rông để đương sự thoái vốn và bỏ trốn, là một vở kịch vụng về. Dân trí cao hay thấp khi công tác an ninh, tình báo của quốc gia cũng bị “thương mại hóa” và biến thành bi hài kịch.
Gần đây, nhiều người bức xúc hỏi tại sao người ta lại để những người “vi phạm đặc biệt nghiêm trọng” tiếp tục vào Trung ương và Bộ Chính trị… Ông Trần Quốc Hương (nguyên phó chủ nhiệm Ban Tổ chức TW) hỏi lúc đó “các cơ quan kiểm tra, tổ chức của Đảng có ý kiến gì không trước những vi phạm của Đinh La Thăng?” Luật sư Trần Quốc Thuận nói: “Đó là một ẩn số cần làm rõ”. (Tiền Phong, 18/12/2017). Phải chăng vì vậy mà TBT Nguyễn Phú Trọng phải dự họp chính phủ (28/12/2017) để triển khai chủ trương “nhất thể hóa”. Không biết ông Nguyễn Phú Trọng có ý gì khi nói “Từ bé đến giờ mới được dự họp chính phủ”.
Chiến dịch chống tham nhũng nhắm vào hai nhóm đối tượng chính là một số “thái tử đảng” và quan chức địa phương (để đánh “từ vòng ngoài vào vòng trong”). Sau khi xử lý Vũ Huy Hoàng và Trầm Bê, ngày 8/1/2017 sẽ xét xử Đinh La Thăng và Trịnh Xuân Thanh. Dường như vòng vây đang gấp rút khép lại để chiếu tướng ông X, nhưng vụ khám xét và truy nã “Vũ Nhôm” ở Đà nẵng (21/12/2017) lại mở ra một hướng khác như để chiếu tướng ông Y. Nhưng dù chiếu tướng ông nào thì đất nước cũng là “bên thua cuộc” và nhân dân vẫn là nạn nhân của “trò chơi vương quyền” đang làm đất nước phân hóa và kiệt quệ, đứng trước những rủi ro tiềm ẩn về kinh tế và những hiểm họa khôn lường về an ninh và chủ quyền quốc gia.
Thay lời kết
Đã gần một thế kỷ trôi qua kể từ khi cụ Phan Chu Trinh kêu gọi “khai dân trí và chấn dân khí”, nhưng Việt Nam vẫn còn loanh quanh tại ngã ba đường, chưa thoát khỏi hệ tư tưởng đã làm đất nước tụt hậu so với Nhật Bản hàng trăm năm. Muốn “khai dân trí”, Việt Nam phải thay đổi hệ quy chiếu đã lỗi thời, và phải đổi mới thể chế toàn diện. Nếu không thực sự đổi mới thể chế thì việc chống tham nhũng cũng giống như trò “hàn soong hàn nồi”. Để thay cho câu kết, xin mượn lời Albert Einstein (nói cách đây gần một thế kỷ), “Chúng ta không thể giải quyết được vấn đề với cùng một cách tư duy mà chúng ta đã dùng để tạo ra chúng” (We can’t solve problems by using the same kind of thinking we used when we created them).
NQD. 01/01/2018

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thời mạt nghệ


Năm xưa khi xa Việt Nam (ngày này 5 năm về trước), một trong những điều tôi nhớ nhất là… tòa soạn và những ngày tháng bên cạnh đồng nghiệp báo Pháp luật TP.HCM. Mà một trong những điều tôi nhớ nhất ở tòa soạn là những buổi chiều trên căn gác nhỏ đó và tiếng gõ bàn phím lách cách của mọi người.

Ít ai biết rằng tiếng bàn phím đã trở thành một thứ âm thanh ám ảnh tôi từ những ngày đầu đi làm báo. Có những chiều tôi trùm chăn nằm ngủ dưới gầm bàn, trên ghế, bạn đồng nghiệp vẫn lặng lẽ, lách cách gõ máy. Liên tục tiếng “chát, chát” của phím space bar, xen với tiếng rì rầm nhẩm lại bài. Đôi khi tôi như nhìn thấy đôi lông mày của bạn chau lại, nhíu nhíu khi tìm cách diễn đạt một ý nào đó. Đôi khi tôi cảm thấy cả tiếng thở dài của một bạn nào đó, khi mà “tin còi quá, bài chán quá, chẳng có gì viết”.

Ít ai biết rằng những khi ấy, dù nhắm mắt lơ mơ ngủ, trong đầu tôi vẫn thoáng có ý nghĩ: “Không lẽ chúng ta sẽ sống thế này mãi sao?”.

Thử hình dung bạn là một phóng viên trẻ mới tốt nghiệp ngành báo chí. Bạn đã “thoát ly” gia đình và quê nhà từ thời sinh viên thì bây giờ bạn lại càng phải cố để bám trụ lại Hà Nội và Sài Gòn, không về tỉnh. Bạn sẽ ở nơi thành phố lớn đó, thuê lấy căn phòng trọ con con mà để “ở được” cũng phải 2-3 triệu đồng/tháng. Bạn gom góp nhuận bút từng cái tin còi, bài còi, và không quên… gom phong bì mỗi lần hội thảo, hội nghị, công ty nọ tổ chức sự kiện kia.

Trưa, bạn vạ vật cơm hàng cháo chợ. Chập tối, nếu là đàn ông con trai, bạn thường đi nhậu. Nhậu lè phè suốt từ 5-6h chiều đến 11-12h đêm. Bạn ngậm hột thị, cắm mặt vào ly bia, hoặc nếu có mở miệng thì cũng toàn lè nhè những chuyện cũ rích ấy, những “ưu thời mẫn thế” mà người bình thường “không hiểu được đâu”.

Khuya, bạn ngà ngà về nhà, ngủ. Sáng lại dậy lên tòa soạn điểm danh, hop giao ban, rồi liên hệ phỏng vấn làm cái tin còi, bài còi, đi nhặt phong bì sự kiện. Trưa, lại cơm hàng cháo chợ…


Bãi đất trước kia là toà soạn báo Đà Nẵng, hình chụp sáng 13/01/2018. 
Ảnh: Trung Bảo

Bạn sẽ sống như thế đến bao giờ? Khi nào thì bạn lấy vợ/chồng, đẻ con, nuôi con học trường quốc tế cho bằng bạn bằng bè? Khi nào thì bạn hết kiếp ở nhà thuê, có một căn hộ riêng để khỏi chịu cái cảnh cứ vài tuần là con mụ chủ nhà lại gườm gườm “thay đổi thái độ” (thật ra mụ ấy thay đổi suốt ấy mà, quân đồng bóng!).

* * *

Cuộc sống và sự nghiệp của một nhà báo Việt Nam điển hình là như thế đấy, nếu họ không năng động.

Không năng động, nghĩa là không biết cách tạo sự kiện; không biết xào nấu một vụ thành nhiều tin bài, bán cho nhiều báo; không biết cách chèo kéo quảng cáo của doanh nghiệp; không biết vặn cổ doanh nghiệp xin ủng hộ; không biết tận dụng quan hệ để mua lấy vài suất đất rẻ; không biết làm PR cho tổ chức, công ty, mà nhất là không biết làm PR cho cán bộ, quan chức.

Còn nhà báo lớn ở Việt Nam, nghĩa là phải biết làm chính trị. Phải biết nuôi dưỡng quan hệ, chọn đúng phe, trở cờ đúng lúc. Nhưng nói chung việc ấy ngoài tầm của tất cả các phóng viên trẻ - kể cả đứa nuôi mộng làm nghề lẫn đứa nuôi mộng làm giàu.

Đến cái thời mà nhuận bút trả cho những tin còi được tính theo đơn vị “nghìn đồng” (10.000-20.000 đồng/tin), và tiêu chí chấm nhuận bút là “lượng view trên trang điện tử”, thì tôi hiểu rằng nghề báo ở Việt Nam mạt thật rồi.

Bảo sao các phóng viên không điên cuồng giật tít “bố chồng dính con dâu trong nhà tắm”? Bảo sao họ không lên đồng cùng những “bí thư Thăng”, “Đoàn Ngọc Hải”, bởi mỗi “bước chân anh xuống phố”, “mỗi lời anh thốt ra”, là một lần hứa hẹn lượng view, lượng like tăng tới con số hàng nghìn? Đâu dễ kiếm ra những nhân vật báo chí hot đến từng sợi lông chân như thế?

Chính xác, trung thực, công bằng, tôn trọng quyền con người… tất cả những chuẩn mực ấy của nghề báo đều trở thành nhảm nhí trong cái gọi là nền “truyền thông” thời mạt ngày nay.

Còn tự do báo chí ư? Lố bịch. Nhà báo Việt Nam cần đ. gì cái của nợ ấy?

Tự nhiên tôi nhớ đến âm thanh lách cách của tiếng gõ bàn phím ngày nào.

Nhưng tôi cũng chẳng buồn khóc.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đánh bùn sang ao


An Nguyên
TNO - Phiên tòa xét xử các bị cáo thuộc Tập đoàn dầu khí quốc gia VN (PVN) đang nhận được sự chú ý đặc biệt của dư luận, không chỉ vì mức độ “cao cấp” của các bị cáo mà còn vì sự phức tạp của vấn đề.

Ngày 9.1, trả lời Hội đồng xét xử về việc chỉ định Tổng công ty cổ phần xây lắp dầu khí VN (PVC) làm tổng thầu dự án Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2, bị cáo Đinh La Thăng khai: “Việc chỉ định PVC làm nhà thầu của Nhà máy nhiệt điện Thái Bình 2 xuất phát từ chủ trương của Bộ Chính trị trong Kết luận 41 về chiến lược phát triển PVN đến năm 2015, tầm nhìn đến 2025 và xây dựng PVN trở thành một tập đoàn kinh tế mạnh, đa ngành, trong đó có việc đẩy mạnh, tăng doanh thu của tập đoàn; Triển khai Nghị quyết của Bộ Chính trị cũng như Chỉ thị của Bộ Chính trị trong việc người VN ưu tiên dùng hàng VN, triển khai chủ trương chỉ đạo của Chính phủ về việc phát huy nguồn lực, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô...”.

Kiểu “đánh bùn sang ao” của bị cáo Đinh La Thăng đã ngay lập tức khiến cho những người chưa từng biết đến Kết luận số 41-KL/TW (ngày 19.1.2006) của Bộ Chính trị khóa X nghĩ rằng, ông Đinh La Thăng chỉ là một người thừa hành. Kết luận 41 đưa ra chiến lược phát triển ngành dầu khí (đến 2015) thành ngành kinh tế - kỹ thuật quan trọng, đồng bộ, bao gồm: tìm kiếm thăm dò, khai thác, vận chuyển, chế biến, tàng trữ, phân phối, dịch vụ và xuất, nhập khẩu. Xây dựng tập đoàn dầu khí mạnh, kinh doanh đa ngành trong nước và quốc tế. Trên nguyên tắc, “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý”, Kết luận số 41 của Bộ Chính trị không đưa ra các quyết định cụ thể, không đề cập tới dự án Nhiệt điện Thái Bình 2; càng không đề cập tới việc “chỉ định thầu” như lời khai của bị cáo Đinh La Thăng.

Chủ trương xây dựng tập đoàn mạnh không có nghĩa là bất chấp các quy định hiện hành. Ngay cả trong Văn bản 49TB-VPCP ngày 17.2.2009 thông báo kết luận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc họp bàn về triển khai kế hoạch sản xuất kinh doanh năm 2009 của PVN, khi nói về chỉ định thầu cũng yêu cầu PVN làm đúng theo pháp luật.

Trong vụ án cụ thể này, các bị cáo đã thừa nhận hành vi “cố ý làm trái”, hậu quả của nó không còn gì để bàn cãi. Chủ tịch PVN lúc bấy giờ là ông Đinh La Thăng đã chỉ định thầu cho một nhà thầu (PVC) “không có tiền” và “sắp phá sản” (như lời khai của Trịnh Xuân Thanh) để thực hiện một công trình trọng điểm quốc gia. Còn khá nhiều khoảng trống pháp lý đang chờ các cơ quan tố tụng tiếp tục làm cho sáng tỏ.

Không thể dừng lại ở tội danh “cố ý làm trái”, dư luận đòi hỏi các cơ quan tố tụng làm rõ một vấn đề mà các luật sư của ông Đinh La Thăng vừa đặt ra, các bị cáo “động cơ tư lợi” hay không mà PVC, ngày 11.10. 2011 mới chính thức là nhà thầu của dự án Nhiệt điện Thái Bình 2, nhưng từ ngày 28.4.2011 đến 12.7.2011, PVN đã làm các thủ tục chi tạm ứng cho PVC tổng số tiền lên tới hơn 6,6 triệu USD và 1.312 tỉ đồng. Và chỉ trong 10 ngày từ 23 - 31.5.2011, PVC đã rút ra 1.000 tỉ để chi tiêu sai mục đích (theo cáo trạng). Đây là thời điểm “rất nhạy cảm” - ngay sau Đại hội Đảng và ít ngày trước khi ông Thăng rời ghế Chủ tịch PVN về làm Bộ trưởng Bộ GTVT (tháng 8.2011).

Nếu không tiếp tục điều tra làm rõ “dòng tiền” hàng nghìn tỉ đồng được chi ồ ạt cho những cá nhân, pháp nhân không phải là nhà thầu, dư luận sẽ không hiểu hết tầm mức vô cùng nghiêm trọng của vụ án và không có gì ngạc nhiên khi các bị cáo có thể dùng các xảo thuật để “đánh bùn sang ao”, gây hoang mang dư luận.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THIÊN ĐƯỜNG – ĐỊA NGỤC & CHẢ DẠI…


FB Mạc Văn Trang, 9-1-2018 Chúc các bạn cứ “tự sướng” ở “thiên đường” của bạn và cứ “khôn” giữa những đồng bào chân thật của mình!…(Có thể bạn không nhìn ra xung quanh, hoặc mắt bạn mờ, chỉ nhìn được gần, thế thì khi bạn nghe thấy tiếng rên siết, tiếng cầu cứu vọng đến (hoặc trên face), thì đó cũng là sự thật đấy, nhưng bạn chỉ biết nó qua cái khác, người khác… nó đang tồn tại đấy. Nếu bạn không muốn, cứ nhắm, bịt tai lại).
Trong hình ảnh có thể có: 16 người, mọi người đang cười
Bạn Face Hồ Nga phản hồi bài viết của tôi rằng: “Tôi thấy cuộc sống hiện nay là THIÊN ĐƯỜNG, vượt quá ước mong của tôi ngày xưa, sao các bác cứ kêu ca…” Có bạn quý tôi, nhắn tin: “Tôi còn biết nhiều chuyện trong xã hội đồi bại, thối tha hơn những điều ông biết, nhưng CHẢ DẠI viết lên làm gì, vừa mất công, vừa có khi mang vạ vào thân…”

Tôi tôn trọng suy nghĩ, quan niệm của các bạn. Bạn cứ sống với “THIÊN ĐƯỜNG” của mình, và bạn cứ “CHẢ DẠI” làm gì, cứ KHÔN mà sống cho sướng đời! Còn người khác, họ cảm thấy bức bối, bất công, đau khổ, thậm chí như ở địa ngục … họ kêu ca phàn nàn, phẫn nộ… đó cũng là quyền của họ. Dù bạn ở “Thiên đường” hay “Chả dại” cũng cần tôn trọng những người kia. Thế mới là cuộc sống muôn màu, “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh”; “Thiên đường” và “Địa ngục”, “khôn” và “dại” đan xen nhau, sát bên nhau, có khi lồng vào nhau trong cuộc sống thực tại trên đất nước ta.

Bạn bị bệnh, bay sang Sing chữa, cảm thấy như Thiên đường; bạn kia vào bệnh viện ta, có tiền, đút cho nhân viên, được ở phòng riêng, chăm sóc đặc biệt, vậy là “khôn”; người bệnh khác nằm 3 – 4 người một giường, bị hắt hủi, vậy là “dại”; và người khác nữa phải đưa mẹ về chờ chết, vì không có tiền nằm viện, mua thuốc, họ cảm thấy “địa ngục” dưới chân…

Trong hình ảnh có thể có: 2 người, mọi người đang ngồi, xe môtô và ngoài trời

Con bạn vừa dốt, vừa hư, bạn cho nó đi Tây du học, cảm thấy con mình lên Thiên đường; con anh thì vào đại học thiếu điểm, anh “chạy” được vào và cảm thấy mình khôn; còn con chị kia, đỗ vào đại học điểm cao, nhưng không có tiền đóng học, phải bỏ về, đi đóng gạch, nó cảm thấy tiền đồ tối đen như thân phận chị Dậu

Bao người nông dân bị cưỡng chế lấy đất, họ đi khiếu kiện khắp nơi, vô vọng, rồi họ chống lại kẻ cướp đất và bị đánh đập, bị tù, bị tuyên tử hình… Họ cảm thấy như sống dưới địa ngục, chung quanh là quỷ dữ; còn các đại gia thấy mình khôn, mua đất của nông dân 100 ngàn đồng 1m2, san ủi đi, bán 100 triệu đồng 1m2; và mấy quan ký giấy dự án, “bỗng nhiên” được tặng tiền, tặng mấy suất đất “thơm”, cảm thấy như đang trên thiên đường…
Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, ngoài trời và văn bản

Anh Phạm Sỹ Quý, Giám đốc sở Tài – Môi ở Yên Bái, buôn chổi đót, nấu rượu… xây được biệt phủ hoành tráng, dân tố anh tham nhũng; Thanh tra TƯ về điều tra cả năm, hoãn họp báo 6 lần để “hoàn chỉnh kết luận” và anh chỉ bị phê bình “Kê khai tài sản chưa đầy đủ, chứ không phải không trung thực”! Vậy là anh Quý rất “khôn” và Thanh tra cũng “chả dại”! Còn anh Cường Kiểm lâm Yên Bái, bắn chết Bí thư tỉnh, Trưởng ban tổ chức tỉnh, rồi anh tự bắn vào gáy mình… Thế là cả ba đồng chí cộng sản cùng xuống âm phủ, không biết có phải là địa ngục không?

Mới ngày nào, anh Thăng, anh Thanh… như sống trên Thiên đường; hôm nay đứng trước vành móng ngựa, các anh có cảm thấy “địa ngục” rất gần không? Và nhiều người cũng “hoàn cảnh” như các anh, nhưng biết cách lựa chiều, chọn thời điểm để “chạy”, nên chưa việc gì, lại còn lên chức. Họ khôn nhỉ!

Cuộc sống là vậy, đừng bắt người khác phải nghĩ như mình, nói như mình, làm như mình, nếu khác đi, ngược lại, cho là “PHẢN ĐỘNG”!

Bạn uống rượu, nhắm thịt gà, rung đùi hát “chưa có bao giờ đẹp như hôm nay”… đó là quyền của bạn. Bà hàng xóm mất gà, bắc ghế chửi “năm đời, mười đời, cao tằng tổ khảo, cao tằng tổ tỉ… đứa bắt trộm gà của bà”… đó là quyền của người dân, có từ thời phong kiến, đế quốc, vẫn thế.

Mất gà còn có quyền chửi đến mức có bao nhiêu từ ngữ độc địa nhất, tục tĩu nhất đem ra trút lên “năm đời, mười đời”, “cả nhà, cả họ” đứa bắt gà, vậy mà giặc ngọai xâm chiếm đất đai, biển đảo của Tổ quốc, không có quyền chửi sao? Giặc nội xâm tham lam, cậy quyền phá nát đất nước, đầu độc môi trường sống của dân tộc, giống nòi… không được chửi hay sao? Bọn “lợi dụng chức quyền, nhóm lợi ích” cướp ruộng đất mồ hôi nước mắt của nông dân, họ không có quyền chửi hay sao? Bọn buôn thuốc giả về làm chết oan bao nhiêu người, không có quyền chửi rủa chúng hay sao?

Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người

Chúc các bạn cứ “tự sướng” ở “thiên đường” của bạn và cứ “khôn” giữa những đồng bào chân thật của mình!…(Có thể bạn không nhìn ra xung quanh, hoặc mắt bạn mờ, chỉ nhìn được gần, thế thì khi bạn nghe thấy tiếng rên siết, tiếng cầu cứu vọng đến (hoặc trên face), thì đó cũng là sự thật đấy, nhưng bạn chỉ biết nó qua cái khác, người khác… nó đang tồn tại đấy. Nếu bạn không muốn, cứ nhắm, bịt tai lại).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

'Tôi cần lời xin lỗi từ Nhà hát Kịch Việt Nam'


Nhà văn Nguyễn Quang Thiều.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều.


Tuổi trẻ
13/01/2018 19:00 GMT+7
TTO - Liên quan đến truyện ngắn ‘Mùa hoa cải ven sông’ bị vi phạm bản quyền, nhà văn Nguyễn Quang Thiều cho biết ông vẫn đang cân nhắc cách thức giải quyết vụ việc này.

Ngày 3-1, nhà văn Nguyễn Quang Thiều viết trên Facebook chúc mừng vở Khát vọng của Nhà hát Kịch Việt Nam đã đoạt sáu giải thưởng tại Sân khấu Thanh niên La Hồ - Thẩm Quyến (Trung Quốc). Vở do NSƯT Lâm Tùng làm đạo diễn, kịch bản của tác giả Tạ Xuyên.


Đồng thời ông Thiều nêu ra vấn đề: tác giả Tạ Xuyên đã chuyển thể truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông của ông thành vở Khát vọng. Tuy nhiên, ê-kíp vở kịch đã không đề tên của ông trong thành phần sáng tạo của vở kịch.
.
Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Tôi cần lời xin lỗi từ Nhà hát Kịch Việt Nam - Ảnh 1.
Vở "Khát vọng" - Ảnh: Nhà hát Kịch Việt Nam

Khi báo chí đưa tin, Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam là NSND Anh Tú đã trả lời trên một tờ báo, giải thích lý do như sau: Nhà hát chỉ thanh toán tác quyền với gia đình cố tác giả Tạ Xuyên. Còn chuyện tác quyền giữa tác giả Tạ Xuyên và nhà văn Nguyễn Quang Thiều, nhà hát không liên quan. 

Ông Anh Tú cũng cho biết chỉ vì poster giới thiệu vở kịch khi đi Thẩm Quyến (Trung Quốc) phải in cả tiếng Anh và tiếng Trung nên mới không đưa tên nhà văn Nguyễn Quang Thiều vào thành phần sáng tạo. Còn các buổi diễn trong nước, trước mỗi giờ khai màn đều có giới thiệu vở diễn được chuyển thể từ Mùa hoa cải ven sông của nhà văn Nguyễn Quang Thiều.

Khi Tuổi Trẻ Online liên lạc với NSND Anh Tú, ông cho biết vở diễn này là vở tốt nghiệp của đạo diễn Lâm Tùng, và trách nhiệm trả lời về vụ việc này thuộc về đạo diễn Lâm Tùng.

Cụ thể, năm 2015 NSƯT Lâm Tùng (thuộc biên chế Nhà hát Kịch Việt Nam) dàn dựng vở Khát vọng để làm vở tốt nghiệp lớp Đạo diễn Sân khấu, Đại học Sân khấu - Điện ảnh (Hà Nội). Ông Tùng đã liên lạc để xin phép tác giả truyện ngắn là nhà văn Nguyễn Quang Thiều và đã nhận được sự đồng ý. Vào lễ tốt nghiệp, ông Tùng đã gửi giấy mời cho ông Thiều qua Facebook. 

Vở diễn này có nhận được sự hỗ trợ từ nhà hát và đã từng được nhà hát tổ chức biểu diễn bán vé, cũng như cho đi lưu diễn tại một số tỉnh thành.

Một câu hỏi đặt ra, khi đã tổ chức biểu diễn bán vé thì nhà hát có "vô can" không?. Trong vụ việc này nhà hát hay đạo diễn Lâm Tùng sẽ phải có trách nhiệm về bản quyền với tác giả truyện ngắn là nhà văn Nguyễn Quang Thiều?

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Tôi cần lời xin lỗi từ Nhà hát Kịch Việt Nam - Ảnh 2.
Trong website của Nhà hát Kịch Việt Nam có quảng bá vở kịch "Khát vọng" được chuyển thể từ tác phẩm văn học "Mùa hoa cải bên sông" của nhà văn Nguyễn Quang Thiều.Ảnh chụp màn hình.

Trả lời Tuổi Trẻ Online, nhà văn Nguyễn Quang Thiều cho biết sinh thời, tác giả Tạ Xuyên đã trả ông 200.000 đồng tiền tác quyền, và có nói sau này ai dàn dựng vở kịch sẽ có trách nhiệm trả tiền tác quyền cho ông Thiều. Ông Thiều cho biết ông thấy cách giải thích của NSND Anh Tú trên báo chí về vấn đề này không thỏa đáng.

"Có 2 thành phần rất quan trọng liên quan đến vở diễn là đạo diễn và tác giả (tác giả cụ thể trong vở diễn này là tác giả kịch bản và tác giả truyện ngắn). 

Vậy sao Nhà hát Kịch Việt Nam lại lấy lý do vì in poster nhiều thứ tiếng mất nhiều diện tích mà quên đề tên tác giả gốc, trong khi lại ghi đủ các thành phần khác? Tôi chưa bao giờ được nhà hát mời một lần nào đến xem vở diễn. Nếu mời thì ai mời? Ai gửi giấy mời? 

Nếu đây là vi phạm của cá nhân thì tôi chấp nhận, nhưng Nhà hát Kịch Việt Nam - một đơn vị hoạt động nghệ thuật chuyên nghiệp - không nên làm như thế. Cách trả lời của NSND Anh Tú vòng vo và thiếu trách nhiệm", ông Thiều nói.

Nhà văn Nguyễn Quang Thiều: Tôi cần lời xin lỗi từ Nhà hát Kịch Việt Nam - Ảnh 3.
Giấy mời đạo diễn Hoàng Lâm Tùng gửi nhà văn Nguyễn Quang Thiều 
qua Facebook - Ảnh: NVCC

Liên lạc với đạo diễn Lâm Tùng anh nhận sơ sót khi không để tên tác giả Nguyễn Quang Thiều trên poster, và đã đến xin lỗi ông Thiều. Anh nhận đây là vở diễn của cá nhân anh, chứ không phải của nhà hát. Anh cũng thừa nhận nhà hát có hỗ trợ cho anh "một ít", và vở Khát vọng đã từng được bán vé. Và anh cũng đồng quan điểm với giám đốc nhà hát của anh.
"Tôi đã làm bản quyền rất chặt chẽ với gia đình bác Tạ Xuyên. Về lý, bác Tạ Xuyên dựa trên ý tưởng của truyện ngắn nào thì bác Tạ Xuyên phải có trách nhiệm với tác giả đó. Chúng tôi không thể mời hai tác giả đến để làm việc được", đạo diễn Lâm Tùng nói.

Chiều 12-1, phóng viên đã liên lạc lại với nhà văn Nguyễn Quang Thiều, ông cho biết đã ủy quyền cho Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam bảo vệ các tác phẩm của ông, nhưng đã yêu cầu trung tâm chưa có động thái gì.

"Hiện tại tôi đang rất bận, nên tôi sẽ tạm ngưng vụ việc này. Tạm ngưng không có nghĩa là bỏ qua", ông Thiều nói.

Tuổi Trẻ Online đã trao đổi với Phó Giám đốc thường trực Trung tâm Quyền tác giả Văn học Việt Nam, nhà thơ Đỗ Hàn, ông nhận định:

"Việc Nhà hát Kịch Việt Nam chuyển thể tác phẩm của nhà văn Nguyễn Quang Thiều mà không ghi thông tin này ở các nơi đi biểu diễn là sai. Về luật khi chuyển thể tác phẩm của ai phải ghi rõ tên tác giả đó.

Tác giả Tạ Xuyên đã trả cho nhà văn Nguyễn Quang Thiều tiền bản quyền một lần, chứ không phải hợp đồng vĩnh viễn. Nên những người sau này sử dụng kịch bản đó có nghĩa vụ phải trả tiền bản quyền cho ông Thiều", nhà thơ Đỗ Hàn nói. 
 


NGỌC DIỆP


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tập Cận Bình kêu gọi quân đội không sợ chết.


Tom Phillips 
Phạm Nguyên Trường dịch

Chủ tịch Tập Cận Bình nói quân đội phải có “khả năng đánh và chắc thắng” trong một động thái nhằm củng cố địa vị chính trị của ông ta.

Tập Cận Bình đã tái khẳng định địa vị như là nhà lãnh đạo có quyền lực nhất, kể từ thời Mao Trạch Đông. Ông ta đã tới kiểm tra một đơn vị quân đội, nơi hàng ngàn binh sỹ thao diễn sức mạnh quân sự của đất nước này.

Tập Cận Bình phát biểu trước quân đội

Phát biểu trước khoảng 7 ngàn binh sĩ ở tỉnh Hà Bắc, miền Bắc Trung Quốc, Tập Cận Bình kêu gọi họ “không sợ khó khăn và không sợ chết” vì họ đang thực hiện mệnh lệnh của Đảng Cộng sản.

Quân đội phải là “tầng lớp ưu tú và mạnh mẽ, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và tin tưởng vào thắng lợi nhằm hoàn thành nhiệm vụ mà Đảng và nhân dân đặt ra trong thời đại mới”, Tập Cận Bình nói thêm. Ông này gần đây được phong là một trong những nhà cai trị quyền lực nhất của nước Trung Quốc thời hiện đại.

“Bài giáo huần của Tập Cận Bình đã bị ngắt quãng bằng những tràng pháo tay như sấm và kéo dài”, tờ Nhân Dân Nhật Báo tường thuật trên trang nhất, cùng với bức ảnh chụp Tập mặc quân phục và đeo đôi găng tay bằng da màu đen.

Tờ báo này tuyên bố rằng quân đội đã tập trung tại 4.000 địa điểm khác nhau trên khắp nước Trung Quốc để nghe lệnh của người Tổng chỉ huy của họ. Quay về phía lá cờ đỏ của Quân Giải phóng Nhân dân (PLA), họ thề sẽ “kiên quyết tuân theo mệnh lệnh của Chủ tịch Tập”.
Tờ Hoàn Cầu (Global Times), một tờ báo khổ nhỏ do Đảng Cộng sản quản lý, gọi cuộc tập hợp mới nhất trong một loạt các cuộc thao diễn quân sự công khai ở Trung Quốc đại lục và Hồng Kông - là sự kiện có tính bước ngoặt.

“Từ ngày lập quốc, đây là lần đầu tiên, Chủ tịch quân ủy Trung ương trực tiếp đưa ra các chỉ thị về huấn luyện quân sự và sự kiện này chứng tỏ rằng việc cải thiện sự tinh thần sẵn sàng chiến đấu hiện nay là nhiệm vụ chiến lược của quân đội Trung Quốc”, Xu Guangyu, một vị tướng hồi hưu, nói với tờ báo này như thế.

Sự kiện này diễn ra trong khi nhiều người đang lo sợ trước khả năng bùng phát xung động trên biên giới Bắc Triều Tiên. Hôm thứ tư tuần trước, Tổng thống Mỹ, Donald Trump, đã sử dụng Twitter để chế diễu nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, Kim Jong-un và chế độ “đã kiệt sức và chết đói của ông này”.

“Tôi cũng có nút bấm hạt nhân, nhưng nút của tôi to hơn hẳn và mạnh hơn hẳn nút của ông ta, nút của tôi hoạt động!” Trump viết trên Tweet như thế.


Nguồn: https://www.theguardian.com/world/2018/jan/04/xi-jinping-tells-army-not-to-fear-death-in-show-of-chinas-military-might

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Buồn vui chuyện ‘lấy chồng Mỹ’


Người Việt 11-1-18 Trúc Linh WESTMINSTER, CA (NV) – Kết hôn với người không cùng màu da, ngôn ngữ, văn hóa,… đang trở nên khá phổ biến trên thế giới, đặc biệt là ở Mỹ. Tương tự, việc các phụ nữ Việt Nam lấy chồng người Mỹ, cũng đã và đang trở thành chuyện bình thường. Tuy nhiên, bên cạnh những cặp vợ chồng hạp nhau và gắn bó đến ‘đầu bạc răng long’ thì cũng không thiếu những cuộc hôn nhân sớm kết thúc. Lý do thì có muôn vàn, bởi “mỗi cây mỗi hoa, mỗi nhà mỗi cảnh.”
Nhà thơ Trần Mộng Tú và chồng. (Hình do nhân vật cung cấp)
Không trọn vẹn
Trường hợp thứ nhất là chị Thảo Phạm ở thành phố Santa Ana, 32 tuổi, hiện đang làm nail. Cách đây 2 năm, chị kết hôn với một nha sĩ người Mỹ tên Matthew vào dịp Giáng Sinh 2016.

Anh Matthew làm việc ở trung tâm thành phố Los Angeles, nhưng vì chiều vợ nên thuê nhà ở Santa Ana cho hai vợ chồng ở vì chị Thảo muốn gần nhà cha mẹ ruột. Thế nhưng sau Tết Âm lịch, tức mới hơn hai tháng sống cùng nhau, Matthew dọn trở về sống cùng cha mẹ ở gần Los Angeles và cương quyết ly hôn với chị Thảo.
Chị Thảo Phạm kể: “Trước khi cưới, Matthew rất yêu em, rất lãng mạn, ngày nào cũng chạy xe hơn 20 miles đón em về. Matthew còn giúp em học tiếng Mỹ, thậm chí lúc mới quen có một tuần, anh ấy còn làm cho em hai cái răng sứ. Thế nên lúc anh ấy dọn ra khỏi căn apartment hai đứa thuê, đòi ly hôn, gia đình em ai cũng sốc. Bạn bè nói chắc tại em đòi hỏi nhiều quá, nhưng em thấy những điều đó là bình thường, có gì quá đáng đâu?”

Khi được hỏi “đã đòi hỏi những gì,” chị Thảo thật thà kể tiếp: “Sau khi kết hôn vài tuần, em nói với Mathew rằng trong văn hóa Việt Nam, chồng đi làm về phải đưa hết tiền cho vợ, chỉ giữ lại một ít tiêu xài riêng nên Matthew cũng phải làm như vậy. Matthew từ chối nên tụi em cãi nhau dữ dội, em bảo không đồng ý thì ly hôn. Hai đứa giận nhau mấy ngày, sau đó em chủ động làm hoà. Vì gần đến Tết nên em không nhắc lại chuyện đưa tiền em giữ, định đợi sau Tết sẽ nhắc. Rồi đưa cho anh ấy một danh sách dài những thứ cần mua cho gia đình em ngày Tết, trong đó có loại gạo Nhật rất ngon, hơi khó tìm nhưng Matthew đã tìm được và mua đầy đủ những thứ yêu cầu cho gia đình vợ, vì em bận đi làm. Ngày Tết em bảo Matthew phải cho tiền tất cả những người trong gia đình em và tất cả cháu của em, cho bằng tiền của riêng của anh ấy. Anh ấy làm theo tất cả những điều em yêu cầu, vậy mà sau Tết lại dọn ra ở riêng và đòi chia tay. Đàn ông như vậy là chưa trưởng thành, em cũng không cần.”

Một trường hợp khác là Jennifer Hà, 29 tuổi, chủ một nhà hàng ở thành phố San Grabriel. Jennifer Hà kết hôn với người đàn ông Việt gốc Hoa khi chị mới 21 tuổi. Chồng bảo lãnh chị sang Mỹ, cho đi học tiếng Mỹ rồi mở cho chị một nhà hàng để chị không phải đi làm công cho ai. Theo miêu tả của Hà, chồng chị là người siêng năng, hiền lành, tốt bụng nhưng “khô như ngói”, không bao giờ làm một điều gì lãng mạn, không bao giờ khen chị đẹp, trong khi mỗi ngày gặp những người đàn ông Mỹ lúc nào cũng ngọt ngào, khen ngợi chị. Dần dần chị mất tình cảm với chồng, mâu thuẫn càng lúc càng nhiều và rồi ly hôn. Sau khi ly hôn, chị thề với lòng “chỉ lấy người Mỹ.”

Sau khi hẹn hò vài người Mỹ, cuối cùng Jennifer Hà quyết định kết hôn với một người lớn hơn chị 8 tuổi, làm việc trong một trường trung học. Thời gian hẹn hò Jennifer Hà ngập tràn trong phúc vì theo chị, đó là người đàn ông lãng mạn, tâm lý, chìu chuộng chị hết mực.

Thế nhưng chỉ sau vài tuần sống cùng với nhau, Jennifer bắt đầu vỡ mộng bởi những khác biệt, trong khi chồng chị không còn chìu chuộng chị như lúc hẹn hò. Chị thích ăn cá nhưng chồng chị không chịu được mùi cá, không chịu được mùi nước mắm trong nhà. Chị Jennifer vốn rất sạch sẽ, không bao giờ mang giày vào nhà, còn chồng chị đi làm về là mang cả giày vào nhà, lên cả phòng ngủ. Trời nắng thì không sao nhưng trời mưa thì nhà rất bẩn. Chồng chị có con chó bec-giê rất to, lông rụng rất nhiều nhưng vì cưng chó nên chồng chị cho chó nằm trên sofa, giường ngủ của hai vợ chồng. Nơi nào trong nhà cũng đầy lông chó. Chưa kể là mỗi ngày phải nướng thịt gà hoặc thịt bò cho chó ăn. Chị Jennifer nói chị gặp rất nhiều người cưng chó nhưng chưa thấy người nào quá đáng như chồng chị. Đến nỗi khi đi ngủ cũng cho chó nặng gần 90 pounds lên nằm ở giữa hai vợ chồng đến khi nào nó muốn nhảy ra khỏi giường thì thôi. Đi làm về, chồng của Jennifer chỉ thích nằm trên sofa ôm chó và xem tivi chứ chẳng muốn đi đâu với chị. Mâu thuẫn càng lúc càng nhiều, cuối cùng chị quyết định ly hôn sau gần 2 năm sống chung.

Khi được hỏi “còn muốn hẹn hò đàn ông Mỹ nữa không?” Jennifer nói chắc chắn là không và cho rằng “đàn ông Việt vẫn là nhất,” bởi sau khi chia tay, hết yêu, vẫn còn nghĩa nhưng với người Mỹ thì “đừng mơ chuyện đó.”

Một phụ nữ lấy chồng Mỹ khác là chị Holland Truong, 42 tuổi, là chuyên viên của ngân hàng Wells Fargo. Chị Holland tự nhận mình là người sống tình cảm nhưng cá tính, độc lập và có phần hoang dã (wild) khó thuần phục. Trước khi kết hôn, chị và chồng cũ có 3 năm sống cùng với nhau. Thế nhưng chỉ sau hai năm kết hôn, khi con trai chung của hai người mới vừa 8 tháng tuổi, Holland là người chủ động chia tay chồng, mặc cho chồng cũ của chị cố gắng níu kéo.


Chị Holland Trương. (Hình do nhân vật cung cấp)


Chị kể: “Anh ấy là người chồng, người cha tuyệt vời, chuyện chia tay là do tôi. Bởi vì lúc đó tôi bị trầm cảm nặng sau khi sinh, cộng với nhiều áp lực khác, tôi cảm thấy nếu đi tiếp, cuộc hôn nhân của tôi sẽ nặng nề, tôi không vui mà chồng cũng đau khổ. Thà là chấm dứt để giữ lại được tình cảm và không bị ảnh hưởng đến con trai.”

Sau khi chia tay chồng năm 2001 đến nay, Holland hẹn hò vài người Mỹ trắng nhưng vì những lý do khác nhau, chị chưa muốn kết hôn, mặc dù những người đó rất yêu chị, từng cầu hôn chị.

Theo Holland, ngoài đàn ông Mỹ trắng, chị không hề bị hấp dẫn bởi đàn ông Mỹ gốc Phi hay đàn ông Châu Á. Chị chưa từng và cũng không thích hẹn hò với đàn ông Việt. Chị thích đàn ông Mỹ trắng cao, khoẻ mạnh, có chơi thể thao, lãng mạn, tình cảm và phải có công việc ổn định. Một điều nữa theo Holland rất quan trọng trong mối quan hệ tình cảm là tình dục. Chị cho rằng: “Tình dục rất quan trọng trong hôn nhân. Nếu người vợ hoặc người chồng không thoả mãn với người bạn đời của mình, sẽ rất dễ dẫn đến ngoại tình. Theo tôi, đàn ông Mỹ rất giỏi chuyện này.”

Làm sao để hôn nhân vợ Việt – chồng Mỹ bền vững?

Không phải cuộc hôn nhân vợ Việt – chồng Mỹ nào cũng kết thúc bằng chia tay. Cũng có nhiều cặp sống với nhau rất hạnh phúc. Đơn cử là cuộc hôn nhân của nhà thơ Trần Mộng Tú.

Nhà thơ Trần Mộng Tú, hiện sống ở Seattle, tiểu bang Washington, cùng chồng là ông Frank Pease.

Khi được hỏi về cuộc hôn nhân Việt – Mỹ của mình, bà dí dỏm cho biết: “Chúng tôi kết hôn chưa lâu lắm, chỉ mới có… 42 năm thôi. Chúng tôi có ba con: hai trai, một gái và 2 cháu ngoại, một cháu nội. Dĩ nhiên cũng như phần lớn những cuộc hôn nhân lúc đầu vợ chồng nào cũng có những khoảng thời gian ‘thăm dò, chịu đựng lẫn nhau.’ Cuộc hôn nhân dị chủng lại càng khó khăn hơn trong những năm đầu vì khác biệt văn hóa. Cứ nghĩ xem, cha mẹ và con cái sống cùng nhau còn mâu thuẫn huống hồ hai người sinh ra, lớn lên ở hai đất nước khác nhau, ngôn ngữ, văn hoá, phong tục tập quán khác nhau. Chuyện ăn uống cũng khác nhau, làm sao có thể hoà hợp tuyệt đối ngay lập tức được. Cũng may, Frank là người có cái tâm lành, chu đáo và rất đơn giản nên mọi chuyện cũng dễ dàng. Frank cũng rất thích thức ăn Việt nên chúng tôi không gặp khó khăn trong vấn đề ăn uống.”

Với bà, ông Frank không chỉ là người chồng mà còn là một người bạn. Bà nói: “Frank cũng tôn trọng những người bạn Việt Nam của tôi nữa. Ông quý mọi người và không có tính kỳ thị. Về sở thích văn chương của tôi. Khi tôi viết truyện ngắn thỉnh thoảng tôi muốn Frank góp ý, nhưng về thơ thì Frank ‘xin hàng’. Tuy không chia sẻ được 100% trong việc sáng tác, nhưng Frank khuyến khích và ủng hộ tôi tối đa. Ở cửa phòng viết của tôi, Frank treo chữ ‘Poet at work’ và đóng cửa lại khi tôi ở trong đó, để các con không làm phiền mẹ.”

Khi chúng tôi hỏi, làm sao để có cuộc hôn nhân trọn vẹn với người chồng Mỹ, trong khi cả hai có quá nhiều khác biệt? Bà Trần Mộng Tú khuyên: “Bất kể bạn là ai, bao nhiêu tuổi, đẹp xấu thế nào, nếu bạn muốn được ‘nhận’, trước hết bạn phải ‘cho’ đi. Cũng đừng đòi hỏi, đặc biệt với những thứ mà người ta không có. Ví dụ, tôi hiểu Frank là người cực kỳ đơn giản, hiếm khi nào làm điều gì lãng mạn, cũng chẳng biết đi mua quà tặng vợ bởi Frank rất vụng trong việc mua bán, nên tôi không đòi hỏi điều gì Frank không có (vì không có thì làm sao biết cách cho), chắc chắn tôi sẽ thất vọng và sẽ tự làm khổ mình. Người ta hay nói đến hai chữ ‘hạnh phúc’ trong hôn nhân.Thật ra hai chữ này trong thơ văn nhiều hơn ở ngoài đời. Đừng cầu toàn quá, cái gì cũng tương đối thôi. Miễn là cả hai cùng nhân nhượng nhau, thì một đời sống êm ả cũng là quý rồi. Theo tôi, dù cuộc hôn nhân đồng chủng hay dị chủng, người vợ có lẽ là người phải ‘hy sinh hơn một chút’ trong cuộc hôn nhân của mình để có được cuộc hôn nhân tốt đẹp. Cuối cùng, tôi muốn nói: Không phải yêu nhau ghê lắm mới giữ được hạnh phúc đâu. Điều quan trọng là phải ‘nể trọng’ và quan tâm tới nhau. Chúng tôi cũng có những ngày ‘biển động’ và ‘núi gầm gừ’ chứ, sao không? Có như thế mới quý ngày êm ả.”

Một trường hợp nữa là bà Nguyễn Thị Phượng, hiện làm việc cho FBI ở Maryland. Bà Phượng gặp chồng, người hiện đang làm việc cho Cục Quan Thuế và Biên Phòng Mỹ, khi cả hai còn đang học đại học. Tính đến nay họ đã kết hôn được 39 năm và vẫn đang rất hạnh phúc bên nhau.

Bà Phượng cho biết, chồng bà là người ít nói, trầm tính nhưng rất chu đáo, chân thành, không bao giờ giấu giếm bà bất cứ điều gì. Từ nhiều năm trước, ông ấy đã chuẩn bị sẵn mọi thứ để nếu đột ngột qua đời, bà Phượng sẽ không gặp khó khăn khi sống một mình.

“Dĩ nhiên trong một, hai năm đầu sau khi kết hôn, tôi và chồng cũng có những thời gian khó khăn. Điều này cũng dễ hiểu vì hai con người, hai nền văn hóa và tính cách, sở thích, thói quen, ăn uống… khác nhau về ở chung một nhà, chắc chắn sẽ có những mâu thuẫn. Thế nhưng vì chúng tôi rất yêu nhau nên từng bước, từng bước chúng tôi dần dần chấp nhận những khác biệt của nhau và hòa hợp nhau.”

Về lời khuyên dành cho những phụ nữ Việt đang hẹn hò hoặc chuẩn bị kết hôn với người Mỹ, bà Phượng nói: “Điều quan trọng thứ nhất là cả hai phải thắng thắn nhìn nhận xem họ có thể chấp nhận được sự khác biệt về văn hóa của người bạn đời của mình hay không. Sống ở Mỹ nhưng chúng ta vẫn là người Việt, văn hóa của chúng ta khác xa so với văn hóa của người Mỹ. Nếu không chấp nhận được, khi về ở chung nhà sẽ xảy ra rất nhiều mâu thuẫn. Kế đến là chuyện ăn uống, nếu người chồng Mỹ không ăn được đồ ăn Việt và người vợ Việt không thích đồ ăn Mỹ thì làm sao? Chẳng nhẽ mỗi buổi vợ nấu đồ ăn cho vợ, chồng nấu đồ ăn cho chồng và không ngồi cùng bàn ăn với vợ vì không chịu được mùi nước mắm? Nếu điều này xảy ra thì vợ chồng sẽ mất đi sự gắn kết vì bữa ăn tối cùng nhau rất quan trọng. Bởi vậy, trước khi kết hôn nên bình tĩnh xem xét cẩn thận ở mọi góc độ, đừng nghĩ rằng tình yêu sẽ giải quyết được tất cả mọi chuyện. Điều này chỉ có trên lý thuyết thôi.”

Khác biệt văn hoá, ngôn ngữ, phong tục tập quán, không hẳn là lý do để nhiều cuộc hôn nhân vợ Việt – chồng Mỹ sớm tan vỡ. Qua cuộc hôn nhân của nhà thơ Trần Mộng Tú, bà Nguyễn Thị Phượng và chắc chắn còn nhiều cuộc hôn nhân viên mãn khác giữa vợ Việt, chồng Mỹ mà phóng viên báo Người Việt chưa có dịp gặp, có thể thấy hạnh phúc không phải tự dưng mà có, phải vun đắp, xây dựng dựa trên tình yêu thật sự, không vụ lợi; phải thấu hiểu, chia sẻ, nhường nhịn, hy sinh cho nhau. Nếu làm được những điều này thì rào cản ngôn ngữ, khác biệt văn hoá, không còn là vấn đề quan trọng. 

(Trúc Linh)https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/buon-vui-chuyen-lay-chong-nguoi/

Phần nhận xét hiển thị trên trang