Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 18 tháng 11, 2017

bày trò đào tạo tiến sĩ thật?


Ông Phùng Xuân Nhạ khai năm 2000: Tiến sĩ; Viện Kinh tế Thế giới; Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế.Vào thời điểm này ông Nhạ chỉ là giáo viên ở Đại Học Tổng Hợp Hà Nội (cũ), tức Đại Học Quốc Gia Hà Nội khi đã đổi tên. Trong năm 1999, ông được cấp bằng Tiến sỹ Kinh tế nhưng lại chưa học qua thạc sĩ?

Bộ trưởng GDĐT Phùng Xuân Nhạ. Hình internet
Tròn một năm sau khi nổ ra vụ các cô giáo mầm non bị giới lãnh đạo Hà Tĩnh điều động đi tiếp khách với yêu cầu về “nhiệm vụ chính trị” như thể “chăm khách như chăm bé”, cùng thao tác tỏ ý bao che cho những kẻ điều động càn của Bộ trưởng giáo dục Phùng Xuân Nhạ mà đã khiến dư luận phẫn nộ khi, ông Nhạ lại tiến thêm một bước dài vào cung đường không có lối ra của bộ trưởng giáo dục đào tạo thời trước là Nguyễn Thiện Nhân: dự án đào tạo 9.000 tiến sỹ.

Vào thời Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân, chương trình đào tạo 20.000 tiến sỹ đã “nuốt” một khoản tiền khổng lồ từ đôi vai gày guộc è cổ đóng thuế của người dân, nhưng hiệu quả của chương trình này cho tới nay vẫn là một dấu hỏi rất lớn.

Những chương trình đào tạo tiến sỹ như thế lại phần nhiều là “hướng ngoại”, tức Bộ GDĐT hoặc những cơ sở do bộ này ủy quyền đã ký hợp đồng liên kết với một số trường đại học – nếu không được Hiệp hội các trường đại học quốc tế xếp vào loại 1 thì cũng phải là loại 2, loại 3… để đào tạo tiến sĩ cho Việt Nam.

Tuy nhiên, sau khoảng một chục năm đào tạo theo cách này và đã cho ra lò không ít tiến sỹ, phần lớn người tốt nghiệp trở về nước và được đưa về một số cơ quan để làm việc đã nhận phải thái độ đố kị lộ rõ từ dàn lãnh đạo của những cơ quan này. Khá nhiều trường hợp tiến sĩ “ngoại” đã chỉ được bố trí làm công việc văn thư, soạn thảo văn bản, đánh máy và… điếu đóm. Kể cả một số tiến sĩ ngoại về công tác ở Bộ GDĐT cũng lâm vào sự cám cảnh như thế.

Một thời gian sau, lâu là 4-5 năm, còn ngắn chỉ một vài năm hoặc sáu tháng, một số “tiến sỹ ngoại” đã bỏ luôn cơ quan nhà nước để vù ra khu vực tư nhân làm việc vì được ưu đãi hơn và công việc phù hợp với chuyên môn hơn. Trong khi đó, “rút kinh nghiệm sâu sắc” từ lớp đàn anh đi trước bị cho ngồi chơi xơi nước, nhiều người sau khi đã tốt nghiệp tiến sĩ ở nước ngoài đã không chịu quay trở về Việt Nam. Có thể cho rằng tình trạng trên là hậu quả từ nguồn cơn “đem con bỏ chợ” của Bộ GDĐT – cơ quan phát động phong trào đào tạo tiến sỹ nhưng cũng là một cơ quan thuộc loại vô trách nhiệm nhất, đặc biệt với những bộ trưởng thích hô hào hơn hành động như Nguyễn Thiện Nhân.


Bộ trưởng GDĐT Phùng Xuân Nhạ. Hình internet

Còn vào lần này, dự án đào tạo 9.000 tiến sĩ của Bộ GDĐT dưới thời bộ trưởng mới là Phùng Xuân Nhạ đã nhận được ưu ái bất ngờ từ Chính phủ và Quốc hội. Dự toán cho dự án này được trình cho Chính phủ là 12 ngàn tỷ đồng, nhưng Quốc hội đã vừa duyệt chi con số lên đến 14 ngàn tỷ đồng.

Ngay lập tức, giới chuyên gia phản biện và người dân đã lên tiếng phản bác quyết định đào tạo lẫn chi ngân sách bị xem là “lợi bất cập hại ấy”. Trong bối cảnh ngân sách cạn kiệt và chính quyền sôi sục đè đầu dân chúng để tróc thuế má mà đã khiến nhiều người dân phải thốt lên “thuế thời cộng sản còn dã man hơn cả thời thực dân”, cơ chế vung tiền cho những dự án trời ơi đất hỡi là một tội ác thật sự.


Bộ trưởng GDĐT Phùng Xuân Nhạ. Hình internet

Cần nhắc lại, vào năm 2016 Bộ GDĐT đã ra gây ra một chấn động dư luận xã hội khi phát ra một cái giá trên cả kinh khủng để đòi Quốc hội và Chính phủ cấp tiền cho “đề án đổi mới sách giáo khoa”: 34.000 tỷ đồng. Nhưng sau đó khi bị dư luận xã hội phản ứng dữ dội, mức giá của đề án này đột ngột lao dốc chỉ còn… 400 tỷ (!?) Đó là một minh họa không thể hoàn chỉnh hơn về điều dược gọi là “tư cách” của giới quan chức Bộ GDĐT quen ăn trên ngồi trốc.

Cũng cần nhắc lại, vào năm 2016 nhiều dư luận đã đặt dấu hỏi về “thành tích” mà ông Phùng Xuân Nhạ đã đạt được, về văn bằng sau đại học của ông và ngày càng dấy lên những đòi hỏi về ông Nhạ phải từ chức. Một số người trên mạng xã hội đã truy tìm hồ sơ học vị của ông Phùng Xuân Nhạ và đặt ra nhiều dấu hỏi:

Năm 2002, ông Phùng Xuân Nhạ khai là “Sau Tiến sĩ” (Fulbright Scholar), Georgetown University (USA). Nhưng chỉ là được nhận vào chương trình học bổng Scholarship trao đổi học sinh, do Đại Sứ Quán Mỹ tổ chức tại Việt Nam. Ông Nhạ có tên được nhận chương trình Scholarship trao đổi học sinh của Đại Sứ Quán Mỹ, nhưng chưa bao giờ học tại Mỹ. Do đó, ông khai là “Sau Tiến sĩ” là khai man.

Ông Phùng Xuân Nhạ khai năm 2000: Tiến sĩ; Viện Kinh tế Thế giới; Chuyên ngành: Kinh tế thế giới và Quan hệ kinh tế quốc tế.Vào thời điểm này ông Nhạ chỉ là giáo viên ở Đại Học Tổng Hợp Hà Nội (cũ), tức Đại Học Quốc Gia Hà Nội khi đã đổi tên. Trong năm 1999, ông được cấp bằng Tiến sỹ Kinh tế nhưng lại chưa học qua thạc sĩ?

Ông Phùng Xuân Nhạ khai năm 1994: Sau Đại học Manchester University (UK); Chuyên ngành: Kinh tế phát triển. Thực tế là năm 1994, ông Nhạ ghi danh học trường Manchester University (UK) chi nhánh ở Nga, chứ không phải ở UK. Ông không hề ra trường cử nhân tại Manchester University (UK), mà chỉ là ghi danh học với Transcript là bằng Cử Nhân ở Đại Học Hà Nội.

Ông học trường Manchester University (UK) với Certificate kinh tế tương đương cấp Trung Học “Graduate diploma in economy from Manchester University in the UK”.

Ông khai có bằng Sau Đại học Manchester University (UK). Sự thật ông chưa đậu bằng Cử Nhân nào ở Manchester University (UK), thì không thể gọi là “Postgraduate Diploma in Economics” ở trường này. Ông chỉ có thể được gọi là “Postgraduate Diploma in Economics” ở Đại học Hà Nội mà thôi!

Vietfact


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Với chất lượng đào tạo hiện nay, thêm 9.000 hay 90.000 tiến sĩ cũng vậy


18/11/2017 Thanh Niên Online - Với chất lượng chung đào tạo tiến sĩ như hiện nay, bạn sẽ lắc đầu ngao ngán là dù có thêm 9.000, hay 90.000 người, thì cũng vậy thôi”, giáo sư Vũ Hà Vănbình luận. Nhà nước vừa ra một dự thảo dự án là sẽ dành 12.000 tỉ để đào tạo 9.000 tiến sĩ trong vòng một số năm. Dự thảo dự án tạo dư luận lớn, và nổi lên hai câu hỏi sau: (1) Chúng ta có cần thêm 9.000 tiến sĩ? (2)Nếu câu trả lời là có, làm thế nào để đầu tư một cách hiệu quả?

Giáo sư Vũ Hà Văn giảng bài tại Viện nghiên cứu 
cao cấp về toán trong một dịp về nước.ẢNH QUÝ HIÊN
Theo tôi, câu trả lời cho (1) là có. Nếu Việt Nam muốn nâng cao chất lượng giảng dạy và chất lượng nghiên cứu khoa học nói chung, thì cần thêm rất nhiều nhà nghiên cứu trẻ có trình độ quốc tế.

Câu thứ hai mới là khó. Một lẽ là chất lượng đào tạo tiến sĩ trong nước gần đây là vấn đề nóng, vì sự thật hiển nhiên là một số rất lớn tiến sĩ được đào tạo ra còn xa mới đạt chuẩn quốc tế. Nhưng nếu gửi cả đi nước ngoài, thì xem ra lại không đủ tiền. Một số người chỉ ra phí đào tạo một tiến sĩ tại môt trường tương đối tốt tại Âu-Mỹ chừng 200.000 - 300.000 USD, tức là cỡ 5,6 tỉ môt người, mà khoản tiền nghìn tỉ kia chia đều ra mỗi tiến sĩ tương lai chỉ được 1.3 tỉ.
"Với câu hỏi là có nên tiếp tục sử dụng ngân sách để đào tạo tiến sĩ ở nước ngoài hay không, thì câu trả lời là không. Ít nhất không phải ở quy mô như chúng ta đang nghe nói", giáo sư Ngô Bảo Châu bày tỏ.

Cảm tường của tôi về vấn đề này như sau.

Thứ nhất, không nên đem hết tiền cho sinh viên làm bằng tiến sĩ ở nước ngoài. Lý do chính là các nghiên cứu sinh, nếu được một trường tương đối danh tiếng nhận học, thường được học bổng của trường, và được thầy giáo giao làm các công việc nghiên cứu hay giảng dậy có lương. Nếu ai đó được nhận làm bằng tiến sĩ tại một đại học nào đó chỉ vì anh ta trả đủ số tiền đại học đó đòi hỏi, ta rất nên đặt câu hỏi về chất lượng của đại học này. Lý do thứ hai, theo thống kê, số lượng tiến sĩ loại giỏi tốt nghiệp ở nước ngoài về Viêt Nam là không nhiều.

Vây số tiền to kia, sẽ chia cho các tiến sĩ làm luận án trong nước? Câu trả lời cũng là không nốt. Với chất lượng chung tiến sĩ được đào tạo như hiện nay, bạn sẽ lắc đầu ngao ngán là dù có thêm 9.000, hay 90.000 người, thì cũng vậy thôi.

Phải chăng nên dùng phần lớn tiền ấy không phải cho các tiến sĩ, mà đầu tư vào các giáo sư? Một sự thật hiển nhiên là chất lượng của tiến sĩ phụ thuộc phần nhiều vào người thầy của họ. Một số luận án được phản ánh trên báo chí, sẽ không thể tồn tại dưới sự hướng dẫn của một giáo sư nghiêm túc. Ngoài ra, người làm luân án tiến sĩ, khi mới vào trường, thường hoàn toàn không biết nghiên cứu khoa học là gì. Điều này đúng với cả các đại học quốc tế. Thái độ và chuẩn mực của anh ta đối với việc nghiên cứu, hoàn toàn là ảnh hưởng từ người thầy và môi trường nghiên cứu xung quanh. Việc rất nhiều tiến sĩ còn xa mới đạt chuẩn quốc tế, hay thậm chí không biết việc nghiên cứu khoa học thật sự là như thế nào, phản ánh một sự thật đáng buồn về sự cẩu thả và thiếu sót về chuyên môn của những người hướng dẫn họ.

Đội ngũ các giáo sư giỏi, có kiến thức và thật sư yêu nghề ở Viêt Nam không nhiều. Và đáng tiếc, họ không phát huy được hết khả năng, vì điều kiện làm việc khá vất vả. Số giờ dậy ở các trường đại học rất cao và kinh phí làm nghiên cứu hạn hẹp. Một giáo sư giỏi có thể cùng lúc hướng dẫn nhiều nghiên cứu sinh, vì họ cập nhật được các vấn đề nghiên cứu "nóng" trên thế giới. Nếu một giáo sư như vậy được trao một khoản kinh phí đáng kể, để họ có thể tăng thu nhập, giảm giờ dậy, mua sắm thiết bị, tham gia hội thảo quốc tế để trau dồi kiến thức, dám chắc hàng năm có thể cho ra lò đều đều 1 - 2 tiến sĩ với chất lượng hơn hẳn.

Nói nôm na, muốn sản xuất công nghiệp ta cần đầu tư máy mẹ thật tốt, hay muốn tăng gia, cần có lợn giống thật khoẻ. Việt Nam hiện cũng không có chính sách gì cụ thể để mang về các nhà nghiên cứu tầm cỡ từ nước ngoài, điều mà Trung Quốc và Hàn Quốc đã làm từ rất lâu. Nhiều tiến sĩ đào tạo từ hai nước này đã đủ trình độ cạnh tranh vào các trường đại học tại Mỹ, nếu họ muốn.

Vũ Hà Văn (Giáo sư Đại học Yale, Mỹ)
https://thanhnien.vn/giao-duc/voi-chat-luong-dao-tao-hien-nay-them-9000-hay-90000-tien-si-cung-vay-901412.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Siêu đô thị 20 triệu dân: Rồi chúng ta trèo lên đầu nhau mà sống



ANH ĐÀO





















LĐO - Hà Nội: 7,2 triệu dân, mật độ 2.171 người/km2. TPHCM: 8,1 triệu dân, mật độ 3.888 người/km2. Điều gì sẽ xảy ra nếu chúng trở thành những siêu đô thị 15-20 triệu dân?

Biến TPHCM thành một siêu đô thị với dân số khổng lồ là “không đúng”. Tuổi trẻ dẫn khẳng định của GS.TS Nguyễn Trọng Hoà, chuyên gia Viện Nghiên cứu phát triển TPHCM trong một hội thảo về “tầm nhìn”. 

GS Nguyễn Trọng Hoà cũng nói, cho dù ý kiến có thể bị phê phán nhưng ông sẽ kiên quyết bảo vệ quan điểm này: “Một siêu đô thị quá chật chội thì mục tiêu trở thành TP sống tốt sẽ càng xa vời, chỉ là mơ ước".

Ở giác độ hạ tầng, TP đáng sống là TP kẹt xe chỉ là hãn hữu. Nơi mà thay vì stress triền miên trên những con đường chỉ có thể cụng cựa, người dân có thể thong thả dạo bộ vỉa hè, đi lại trên một hệ thống xe bus, Metro, tàu điện thuận tiện. TP đáng sống là nơi người ta đi, chứ không phải bơi trên những con đường. Và TP đáng sống dứt khoát không phải là TP phải bế tắc đến mức nghĩ cả chuyện làm cáp treo để vào một sân bay cứ mưa là ngập, tắc từ dưới đất tắc đến luôn trên trời.

Vậy thì mục tiêu một siêu đô thị, nghe có vẻ khoái lỗ tai, lại phải đặt ra làm gì khi mà dân số càng lớn, càng tỷ lệ nghịch với các điều kiện về hạ tầng.

Xin hãy thử tưởng tượng những TP như Hà Nội thay vì 7-8 triệu dân nay mai sẽ tăng lên 15, thậm chí 20 triệu. 

Khi ấy, nó là những siêu thị cá hộp chứ siêu đô thị gì. Khi ấy con người dứt khoát phải trèo lên đầu nhau chứ đâu còn chỗ để mà gọi là sống. Khi ấy, điểm đen ùn tắc sẽ không còn là vài chục nữa, mà chỉ còn có 1, nhưng là 1 điểm ùn tắc toàn thành phố. Và khi ấy, có khi phải lập đàn cầu trời đừng có mưa, nếu không muốn chứng kiến ngần đó con người bì bõm khổ ải dùng phương tiện giao thông đường bộ trên những con sông có tên là đường.

Trong cái hội thảo về tầm nhìn kia, KTS Nguyễn Thị Hậu chắc không vô tình khi nói đến những căn hộ quá nhỏ trong lòng đô thị. Thưa KTS, nó chính là những ổ chuột tân thời, nó chính là một trong những biểu hiện cho tầm nhìn quy hoạch. 

Hà Nội cũng như TPHCM đã và đang phải trả giá quá đắt cho mấy chữ viển vông siêu đô thị, trả giá quá đắt trong sự khập khiễng giữa quản lý dân cư và quy hoạch phát triển đô thị.

Càng nhiều dân, càng phải có nhiều nhà cao tầng, những con đường càng nhỏ lại, TP ngày càng hẹp đi, càng không còn đáng sống. Vậy thì phải đặt mục tiêu siêu đô thị làm gì? 

Hay ưu tiên số 1 giờ đây lại là lợi ích của số ít các DN xây dựng, các tập đoàn địa ốc rồi?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bàn về bệnh hay ganh ghét, đố kỵ của người Việt



Nếu không biết dừng lại, tính ganh đua sẽ trở thành tính đố kỵ, rất uổng phí mộtđời người vì không làm được nghiệp lớn.
Bài viết thể hiện góc nhìn và văn phong của Tony Buổi Sáng – một blogger sinh sống tại Cần Thơ.
Đọc Tam quốc, ai cũng biết đến nhân vật Chu Du vì ghen tỵ với tài năng của Khổng Minh mà hộc máu chết ( theo truyện Tam Quốc, không phải lịch sử). Đó là cái chết vì đố kỵ, mang đậm màu sắc của văn hoá Trung Hoa. Các nước lân bang thì càng gần khoảng cách địa lý với Trung Quốc thì càng bị cái tính này nó lây lan, hẻm phải riêng Việt Nam mà bên Hàn, bên Nhật…cũng bị. Càng xa biên giới, càng thoát văn hoá Trung Hoa thì tính đố kỵ cũng bớt dần. Chẳng hạn như vùng Cà Mau, trong làng ai có gì vui như đỗ đạt, trúng số, trúng lúa, thăng chức… thì hầu như cả làng bưng đồ đến, đổ bánh xèo, uống gụ, chung vui mừng rỡ một cách thật lòng. Bên kia sông Cầu có người đỗ tiến sĩ, ngày vinh quy bái tổ, thay vì chèo thuyền qua sông chung vui, nhiều người xã Đoài bên này ngồi chửi đổng, điên tiết vì không biết vì sao nó giỏi thế. Rồi tự an ủi AQ, rằng nó may mắn chứ chả hay ho gì, chắc có ai đó nâng đỡ. Tóc xoã vai gầy, ăn không ngon, ngủ không yên, chỉ mong nó thất bại hay bị tai nạn bệnh tật ốm đau mà chết quách để hả lòng hả dạ. Thôi thì cũng thông cảm, văn hoá tiểu nông ăn sâu quá rồi, con gà tức nhau tiếng gáy, và cũng, vì chút Chu Du còn sót lại. Cả ngàn năm Bắc thuộc còn gì.
Tony thích văn hoá miền Tây Nam Bộ, là vùng đất mới, chưa từng bị phong kiến Trung Hoa ra sức đồng hoá, nó gần với văn hoá Miên Thái, hào sảng và phóng khoáng, bao dung và thiệt tình. Tỷ lệ người nhiễm virus Chu Du cũng không phải là không có, nhưng ít hơn, do xung quanh mọi người ít để ý và so sánh hơn thua. Vì là vùng đất mới nên người ta phải đùm bọc nhau trong những ngày gian khó đi mở cõi, đau thật với nỗi đau bà con chòm xóm, vui thật với niềm vui của người khác, hằn trong suy nghĩ qua nhiều thế hệ, trở thành nét hào sảng phương nam. Không có chuyện giả lả giả tạo, ăn nói cho hay nhưng trong lòng nghĩ khác, chỉ muốn mình hơn, còn mong ai cũng te tua, nghèo khổ, dốt nát, xui xẻo, xấu xí.
Tony có khá nhiều bạn học. Và họ từng là những người bạn thật tốt. Nhiều lúc thời sinh viên, Tony đói xanh mặt, qua nhà trọ của bạn mượn tiền, bạn chỉ có 20 ngàn, bạn chia cho một nửa. Ra trường, nhóm bạn bắt đầu chia rẽ, vì có ai đó khó chịu khi đứa khác tìm được việc làm ngon hơn. Rùi rạn nứt khi bạn cùng nhà trọ mua nhà ở thành phố. Sự bực bội dâng đến đỉnh cao, mời đi tân gia là không đi, hay đi cũng qua nói vài câu xỉa xói móc méo. Ngồi lầm bầm, kiểu mẹ tức muốn chết, mình vẫn còn nhà trọ mà nó đã chung cư cao cấp rùi. Rùi chấm dứt quan hệ, không rõ tại sao.
Khi Facebook ra đời, âm thầm theo dõi ngày đêm. Thấy anh bạn post tấm hình nhà mới, 2 đêm mất ngủ, ra sân đá thúng đụng nia, quánh mèo quánh chó, khiến chó mèo tàn tật hết trơn. Thấy cô bạn post status đi Mỹ du lịch với chồng, nói cái con nhỏ này ăn gì mà may mắn thế, mất ngủ 3 đêm. Tất cả stt đều không bấm like, chỉ đọc. Rồi một ngày anh bạn post status mất việc, thì lòng vui mừng khôn xiết, lấy bia ra uống, lần đầu tiên bấm like. Rồi thấy cô bạn post status ly hôn, ôi trong lòng vui sướng biết bao, cho chừa, cái tội hôm bữa khoe đi Mỹ với chồng nha mậy, nhảy vô comment, ghi đại loại như ” sao vậy bạn ơi, có cần gì thì mình giúp” mà trong lòng thì ngược lại, hả hê, vui sướng, vừa tắm vừa hát vang. Đi nhậu lúc ngà ngà say, nghe bạn nói ” tôi vái ông bà cho ông bầu A rớt máy bay chết cho rồi, nhìn ông ấy sở hữu chiếc máy bay riêng mà ngứa mắt. Còn ông tỷ phú B, ông đó mà phá sản, tôi mở tiệc ăn mừng”. Phụ nữ thành đạt nào cũng bị gán câu ” ôi cái con đó tài năng gì, nó cặp với ông này ông kia mới được như vậy”. Lúc này, sự đố kỵ không còn bình thường nữa, nó đồng nghĩa với cái ác, cái vô lương và nếu bạn gặp những người như vậy, không đáng giao du, kết bạn. Cái xứ mình nó thế, dù có học có hành, có chức vụ, học vị học hàm, có tiền có bạc, có vợ đẹp con khôn, vẫn mang cái văn hoá Chu Du ấy trên người, tự mình làm khổ mình ghê gớm. Mình không chọn được nơi sinh ra, không tránh được văn hoá địa phương ảnh hưởng, nhưng mình hoàn toàn có thể nhận ra và từ bỏ văn hoá cũ và không văn minh. Có quá nhiều cái văn hoá không hay của chị Hoa mà em Nam cần phải từ bỏ.
Tony có anh bạn, tên X. Rất thân vì lúc cơ hàn, cần gì cũng giúp. Nhưng tính ganh đua cũng lớn. Không phủ nhận tính ganh đua cũng có mặt tích cực, đó là việc giúp mình có động lực để không thua kém bạn bè. Việc thấy Tony nói 2 ngoại ngữ lưu loát khiến anh lao vào học như điên, 5h sáng đã ngồi dậy học từ mới, tối nào cũng đến 2 trung tâm để luyện, thậm chí mời cả giáo viên tiếng Hoa tới nhà để dạy, nên anh cũng nói được ngoại ngữ khá tốt. Ganh đua, thi đua thì tốt vì nó còn là tích cực, tuy nhiên nhiều người không kiểm soát được và từ thi đua trở thành đố kỵ, ganh ghét.
Đó là lần cô giáo yêu cầu đọc cuốn “Tư Duy Lại Tương Lai” và nộp bài cảm nghĩ, Tony lùng nhà sách hẻm có, mới qua nhà anh mượn. Anh trả lời, gì chứ sách tuyệt đối không cho mượn, Tony nói vậy bạn đi chung với tôi, tôi ra tiệm photocopy sao chụp 1 bản chỉ mất 15 phút thôi, bạn nhé, giúp tôi đi. Nhưng X nói không là không, khiến Tony không nộp được bài, nhưng cũng tốt nghiệp được. Năm 2006, qua chơi thấy Tony mua ô tô đi lại, anh về nhà vô phòng, bật đèn, tóc xoã rũ rượi, không ăn không uống không nói không cười mấy hôm liền. Nếu không biết dừng lại, tính ganh đua sẽ trở thành tính đố kỵ, rất uổng phí một đời người vì không làm được nghiệp lớn.
Nên nếu có chơi với thể loại này, phải giấu mọi thứ mình có như mèo giấu “hàng hoá Tony đang kinh doanh”, vì nếu để họ thấy sẽ ảnh hưởng đến sức khoẻ, nặng thì hộc máu chết như Chu tiên sinh ấy chứ chẳng phải đùa. Bạn Nam nói, 2 vợ chồng nó nghe nói bạn X tới nhà là phát hoảng. Vì X tới, sẽ đảo mắt nhìn quanh, hỏi thăm, nếu thấy nhà Nam có mua sắm cái gì mới, X về giận, phát bệnh. Nên vợ chồng nó dọn dẹp bắt mệt. Phải gửi xe hơi đi chỗ khác, giấu cái tivi xịn vào phòng, quần áo pyjama bóng loáng phải cất, phải lập tức mặc áo cụt quần què vào, gia nhân giúp việc phải lập tức ra khỏi nhà, đi lánh mặt, núp ngoài bờ rào biệt thự. Thằng Nam phải lập tức nhảy xuống lau nhà, con vợ phải ngồi nhặt rau, vú móm lòng thòng, tóc rối bù, vợ chồng giả bộ chì chiết nhau chuyện tiền bạc, con cái nó phải vọc đất vọc cát, mũi miệng phải lem nhem. Đang ăn tôm cua thì phải cất ngay, lôi rau muống nước mắm ra. Gương mặt phải teo tóp hốc hác, không được phúng phính trắng hồng, X nó không thích, nó giận.
Cũng mấy lần đi nhậu, bạn nhậu nói mày biết doanh nhân thành đạt ABC không, nó dở ẹt à, lúc học chung với tao, rớt lên trượt xuống, ngu lắm mày ạ. Chuyện quá khứ là quá khứ. Lúc nhỏ người ta có thể học kém, nhưng sau này, cả quá trình tự đào tạo của họ, mình đâu có biết. Để có được số tiền đó, người ta đã phải thức khuya dậy sớm thế nào, bạc tóc tính toán ra sao, chết bao nhiêu nơ ron thần kinh …và sẵn sàng chịu n cái rủi ro. Để có được giải thưởng nào đó, người ta đã phải hy sinh những thú vui cá nhân, đã phải dùi mài kinh sử tập luyện quần quật thế nào, mình đâu có biết. Chỉ thấy thành quả và thay vì mình cũng cố gắng đạt được, lại sinh ra lòng ghen ghét, một cách rất Chu Du.
Người mình cũng ít công nhận tài năng của nhau. Không chịu thừa nhận trên đời, có những con người, tạo hoá cho họ khả năng hơn, và dĩ nhiên họ sẽ thành công hơn. Nhà văn ít ai đọc tác phẩm của người khác, chỉ say sưa đọc đi đọc lại văn mình. Nhà báo hay vài người biết viết lách cũng vậy, không ai đọc ai, nên đề tài viết ngày càng teo tóp, bó hẹp, tư tưởng càng ngày càng bảo thủ, ráng moi móc chê bai nhau cho được, dù chỉ là một lỗi chính tả cũng làm ầm lên. Vì vậy, khi đồng nghiệp được quốc tế công nhận, họ gần như hoá điên. Phần lớn nhà văn Trung Quốc cho rằng Mạc Ngôn bỏ tiền ra mua giải Nobel, cô lập ông sau khi ông nhận giải. Mấy nhà văn lão thành Trung Quốc vội lên học viện ngôn ngữ Bắc Kinh nhờ dịch hết các tác phẩm của mình sang tiếng Anh, rùi đem qua nước ngoài chào hàng, nhưng tụi Tây vứt hết vào sọt rác vì đọc hẻm hiểu. Các nhà văn trẻ Trung Quốc còn thành lập hiệp hội anti- Mạc Ngôn, hoạt động ì xèo, gửi đơn thưa kiện, chưa có tiền lệ trong lịch sử Nobel văn học. May mà chưa có Nobel văn học cho tác giả Việt Nam, nếu có thì tác giả đó sẽ sống dở chết dở vì Chu Du từ dư luận. Có vài cuốn sách best seller và lập tức xuất hiện 1 nhóm người anti, kiện tụng khí thế. Trí tuệ thay vì đi làm cái gì đó hay ho cho đời, lại suốt ngày đả phá người khác, thiệt uổng. Ở Trung Quốc, ngày bạn đồng môn nhận giải quốc tế quốc gia, thì cũng là ngày bệnh viện tâm thần nhận cả chục bệnh nhân vào khám, cũng toàn các bạn cùng lớp chuyên lớp chọn, nhưng vì tức tối mà sinh ra tâm bệnh, ngồi bứt tóc móc mắt, xé quần xé áo trong thật thảm thương.
Hôm bữa họp lớp, có mặt anh bạn X. Anh lại xách mé, nghe nói Tony dạo này đi nước ngoài như đi chợ ấy nhỉ. Tony chỉnh ngay, cái này là không đúng. Anh vui mừng lắm, nói thế không có tiền đi đâu à, làm ăn không được à, sắp phá sản rồi à, nói thật đi để bạn bè lo cho. Mọi người há hốc mồm nhìn. Tony mới từ từ giải thích. Năm vừa rồi, Tony đi nước ngoài 20 lần, trong khi đi chợ có 1 lần, so sánh vậy là khập khiễng. Cái anh hỏi, ủa vậy giờ phải nói sao, Tony nói là lần sau phải nói ” dạo này Tony đi nước ngoài như đi siêu thị ấy nhỉ”.
Vì Tony, cũng hay đi siêu thuỵ.
Theo TONY BUỔI SÁNG FACEBOOK
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chợ đen Bắc Triều Tiên đang cứu nhiều người?


Richard Mason
Phạm Nguyên Trường dịch

Một phần năm dân số “phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào thị trường”.


Bắc Triều Tiên có thể được coi là đất nước bị đông cứng về mặt thời gian; một xã hội mắc kẹt vĩnh viễn trong thời kỳ chiến tranh lạnh. Trong những cuộc thảo luận về đất nước bị cách li này, người ta ít nói (nếu quả thật là có) về tiến bộ, tăng trưởng, hoặc bất kì hình thức thay đổi nào.

Càng đáng ngạc nhiên hơn khi có thể coi Bắc Triều Tiên là một trong những câu chuyện về phát triển kinh tế hấp dẫn nhất từ trước tới nay.

Từ ngày lập quốc, năm 1948, cho đến cuối thế kỷ XX, mọi thứ (tương đối) không thay đổi; tất cả các ngành công nghiệp đã bị chính phủ nắm giữ và bị quốc hữu hóa, tất các nhu yếu phẩm như thực phẩm, quần áo và nhiên liệu đều do nhà nước cung cấp. Tất cả những chuyện này đã thay đổi sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ và nạn đói hoành hành trong những năm 1990.

Khi nhà nước không còn có thể nuôi được người dân, hệ thống mới đã bước vào thay thế hệ thống cũ. Thị trường chợ đen bắt đầu xuất hiện trên khắp cả nước, nhất là ở những khu vực mà sự thất bại của hệ thống phân phối tác động đặc biệt nặng nề và đã nuôi sống hàng ngàn người Bắc Triều Tiên.

Thế hệ Jangmadang


Hoạt động của thị trường chợ đen ở Bắc Triều Tiên gia tăng, đã dẫn tới việc những người được sinh ra trong khoảng từ đầu thập niên 1980 đế năm 2000 được gọi là thế hệ “Jangmadang (장마당)” – theo tiếng Hàn nghĩa là “nền tảng của thị trường”. Ban đầu, những thị trường này là các thương nhân chưa có tổ chức, tụ họp trên những cánh đồng, lúc nào cũng có thể bị cảnh sát bắt, nếu không chịu hối lộ.

Ngày nay, hoạt động của jangmadang đã tạo ra các khu chợ thực sự, đầy đủ, với các quầy hàng bán thực phẩm đường phố, hàng điện tử do buôn lậu mà có, gia vị và quần áo; người ta cho rằng một số chợ lớn đến mức có hàng nghìn gian hàng.

Hiện nay, những khu chợ này đã trở thành thành phần quan trọng sống còn đối với nhiều người Bắc Triều Tiên, một số báo cáo nói rằng khoảng 5 triệu (hoặc khoảng một phần năm dân số cả nước “phụ thuộc trực tiếp hay gián tiếp vào những khu chợ này”

Đương nhiên là, quan hệ giữa thị trường và nhà nước đã trở thành phức tạp. Chế độ đã giao động giữa việc cho phép một số nhà cung cấp (miễn là họ trả tiền cho cho nhà nước để được hưởng đặc quyền này) và áp đặt những hạn chế nghiêm khắc.

Tuy nhiên, thị trường tiếp tục phát triển trên toàn quốc và tiếp tục nuôi sống hàng triệu người Bắc Triều Tiên.

Thị trường có thể cứu được Bắc Triều Tiên?

Các biện pháp trừng phạt kinh tế mà phần lớn các nước trên thế giới áp đặt, cùng với sự kiểm soát của nhà nước đối với hầu hết các hoạt động kinh tế, đã dẫn đến kết quả là kinh tế Bắc Triều Tiên phát triển rất chậm.

Mặc dù nhà nước theo đuổi tăng trưởng kinh tế cùng với phát triển vũ hạt nhân theo chính sách Byungjin (chính sách mới kêu gọi phát triển đồng thời kinh tế và vũ khí hạt nhân - ND), tiến bộ vẫn rất chậm.

Trong khi đó, thế thượng phong ngày càng gia tăng của jangmadangs trên khắp cả nước đã không chỉ trở thành sự thay thế đầy hiệu quả cho hệ thống phân phối của nhà nước đã thất bại mà còn đang làm thay đổi thái độ của người Bắc Triều Tiên. Vì nhiều người dựa vào thị trường để kiếm ăn, chứ không dựa vào nhà nước, lòng trung thành xưa cũ với chế độ đang biến mất dần.

Hơn nữa, việc buôn lậu từ Trung Quốc gia tăng đã đưa về nước nhiều phương tiện truyền thông, ví dụ, phim ảnh và âm nhạc của Mỹ và Hàn Quốc. Điều này có nghĩa là ngày càng có nhiều người Bắc Triều Tiên có thể tiếp cận với những thông tin không phải của chế độ, tạo điều kiện cho họ có nhận thức phần nào về thế giới bên ngoài

Từng chút một, thế hệ jangmadang đang dần dần tách khỏi bong bóng tuyên truyền tinh vi được xây dựng trong giai đoạn lịch sử ngắn ngủi của đất nước này.

Tuy nhiên, ở cái đất nước bế quan tỏa cảng này, thị trường chỉ có thể làm được đến thế mà thôi. Mặc dù mức độ khoan dung tương đối của chế độ hiện nay cho thấy Bắc Triều Tiên đang đi đúng hướng, nhưng còn lâu mới có thị trường tự do thực sự. Sự can thiệp của chính phủ vào jangmadangs, ví dụ, bằng cách tham nhũng, hối lộ, và những quy định không cần thiết đã ngăn chặn, không để cho các lực lượng thị trường đưa đất nước tiến lên.

Hơn nữa, những biện pháp trừng phạt chống lại Bắc Triều Tiên, cũng như những căng thẳng quốc tế do chính sách phổ biến vũ khí hạt nhân của đất nước này, đã gây ra những khó khăn đặc biệt đối với các nhà đầu tư nước ngoài, làm cho họ khó thúc đẩy nền kinh tế Bắc Triều Tiên.

Bên cạnh một vài dự án nước ngoài – ví dụ quán cà phê Vienna ở quảng trường Kim Nhật Thành ở Bình Nhưỡng, dường như, trong thời gian trước mắt, Bắc Triều Tiên sẽ không hạ thấp rào cản đối với thị trường.

Tuy nhiên, chúng ta vẫn nên lạc quan. Tiến trình có thể chậm, nhưng vẫn đang tiến về phía trước. Thị trường đang làm thay đổi thái độ của giới trẻ Bắc Triều Tiên. Sau một thời gian dài nữa, thế hệ tiếp theo có thể thúc đẩy một Bắc Triều Tiên hoàn toàn mới.

Ít nhất, sự kiện là những các thanh niên thế hệ jangmadangs đã và đang tạo được ảnh hưởng tích cực trong cái đất nước toàn trị như Bắc Triều Tiên cung cấp cho chúng ta lý do để hi vọng; không thể bóp nghẹt được thị trường, thương mại và hợp tác - dù nhà nước có to lớn đến mức nào.

Richard Mason là blogger tự do và trợ lý biên tập tại SpeakFreely.today.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi về nghỉ hưu ở Việt Nam


Tác giả Charles Trần, Tạp Chí Hoa Kỳ 12 Tháng Mười Một, 2017 
Đã bàn nhiều về cách làm giàu ở Mỹ, nay tôi xin kể về chuyện trở về quê hương, “nghỉ hưu” sau nhiều năm bôn ba trên đất khách của tôi. Ở VN, Những ông lớn không làm những việc bé, nhưng rất nhiều người “bé” lại có quan hệ với nhiều ông lớn, và cuối cùng thì các ông lớn sẽ giải quyết những việc của người bé”, một người bạn của tôi đúc kết như vậy.

Sinh ra ở Việt Nam, lớn lên bằng gạo lúa quê mình vì nhiều lý do khác nhau, nhiều người phải mưu sinh ở nước khác. Sau những năm tháng bôn ba trên quê hương thứ hai, thành công về vật chất đã có rất nhiều người đạt được, nhưng về tinh thần cũng còn rất có rất nhiều người luôn nặng tình với quê hương.

Rất hiếm hoi để được nghe người ta nói về tình yêu quê hương, nhưng khi nhắc về những kỷ niệm, về gia đình, về tuổi thơ hay những câu chuyện tình yêu một thời, hai chữ quê hương lúc ẩn lúc hiện và bây giờ họ đã trở thành tầng lớp hưu trí. Và hình như đã đến lúc mọi người cùng ghé tai nhau nói nhỏ “ta về ta tắm ao ta” rồi thì phải.



Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nhìn từ trên cao. Ảnh: Tapetco

Tôi còn nhớ cái cảm giác lâng lâng và đầy hụt hẫng khi trở lại quê hương, lần đầu trở lại thăm gia đình ở Việt Nam vào năm 1990. Nước mắt đã không ngăn được khi phi cơ vào không phận Việt Nam.

Nhưng năm 1990, tôi chưa có cảm giác có thể quên đi công ăn việc làm ở Mỹ để trở về Việt Nam, gần gũi gia đình. Đến năm 1993 tôi lại về Việt Nam, bức tranh quê hương có thay đổi thêm vào những nét chấm phá của văn hóa rất Việt Nam, những tình cảm ngộ nghĩnh và rất con người đột nhiên tự có.

Tôi làm quen với nhiều người, từ bà cụ bán vịt lộn, anh lái xe ôm, trí thức. Chúng tôi nói nhiều chuyện, trong đó có chuyện làm sao để có đời sống kinh tế khá hơn. Và mỗi người, mỗi câu chuyện lại là một kinh nghiệm đầy phấn đấu cho tôi.

Có những mẩu chuyện mà khó ai tin, một bà cụ vốn liếng chỉ có 30 trái vịt lộn thế nhưng bà cụ nuôi được thân mình và đứa cháu tật nguyền mất cả cha lẫn mẹ. Những mảnh đời thiếu may mắn tôi gặp ở khắp mọi nơi, họ chỉ mong có số vốn nhỏ để bắt đầu. Khi biết được cái mong ước của họ chỉ là số tiền nhỏ có khi chỉ 50 USD, đủ để họ khởi đầu cho một gánh hàng rong, hay có tiền vốn bán vé số, và thực tế hơn chính gia đình người anh ruột của tôi cũng mong được tôi cho 500 USD và hứa sẽ “không bao giờ làm phiền chú nữa”.

Tôi trở lại Mỹ và mau chóng quên những người bạn này vì quá bận rộn, rồi tình cờ tôi gặp lại một vài người đã đến Mỹ theo diện HO. Họ kể cho tôi nghe về những người quen khác ngày một khá hơn, đời sống thay đổi nhiều, và còn nhiều cái vui khác. Tôi lại quyết định về Việt Nam thăm nhà vào đầu những năm 2000.

Và ngày trở lại có nhiều người đón tôi ở phi trường với những trách móc: “Sao tôi viết thư mà ông không trả lời?” Thật là ngỡ ngàng nhưng tôi cười trừ chống chế. Tôi mà nhận được thư ông viết “tôi chết liền”. Tôi không hiểu cái cách nói này tôi học được ở đâu (!) nhưng đó là lần đầu tiên tôi nói.

Một tháng ở Việt Nam trôi qua mau chóng, tôi ngày nào cũng đi hết nhà người này đến nhà người khác, mà ngày nào cũng giống nhau ở đâu thì cũng rượu thuốc (phần lớn là rượu chuối hột). Còn đồ ăn thì được chế biến từ tất cả những thứ mà họ tìm được.

Tôi có cái may mắn là ăn cái gì cũng được, thế mà lần đầu tiên được mời uống tiết rắn. Mặc dù rất sợ nhưng vẫn can đảm, “ai tới đâu thì tôi theo tới đó” có lẽ vì vậy mà tôi dễ thân thiết với mọi người. Bài học đầu tiên mà tôi học được trong cái văn hóa phức tạp của ngày trở về này.

“Bữa nhậu là đầu câu chuyện, từ kinh doanh buôn bán, đến việc giải quyết xung khắc trong nhiều lĩnh vực. Những ông lớn không làm những việc bé, nhưng rất nhiều người “bé” lại có quan hệ với nhiều ông lớn, và cuối cùng thì các ông lớn sẽ giải quyết những việc của người bé”, một người bạn của tôi đúc kết như vậy.

Tôi trở lại Mỹ, để rồi hai tháng sau tôi quyết định nghỉ việc và về Việt Nam hưu trí. Bây giờ đã 10 năm, khi viết bài này, tôi đang ở Việt Nam và được gọi là Việt kiều. Tôi là một người “Việt kiều hưu trí” 10 năm, một khoảng thời gian “được cái này mất cái kia” và rất nhiều điều tôi đã trải qua vừa vui và vừa buồn cười. Những trải nghiệm của tôi đôi lúc trở thành câu chuyện dí dỏm, và tôi sẽ tuần tự trình bày dưới khía cạnh của kinh nghiệm thực tế, để các bạn “Người Việt hải ngoại” đừng vấp phải những khó khăn mà tôi đã trải qua khi các bạn quyết định về Việt Nam hưu trí.

Tôi mua nhà

Về Việt Nam, tôi không có ý định ở khách sạn, nên quyết định mua một căn nhà nhỏ chỉ bằng diện tích của một studio ở Mỹ làm nơi tạm trú với dự định là số khi nào không cần nữa thì cho ai đó là xong.

Căn nhà đầu tiên tôi mua có diện tích 5×9 = 45m2, giá mua là 45 cây vàng 9999. (một lượng vàng 9999 quy thành tiền Việt = 4,7 triệu/cây vàng và bằng 22.000 USD). Đây là số tiền không lớn, làm tôi không phải băn khoăn, và để căn nhà này cho một người thân đứng tên.


Nhiều Việt kiều đã không còn muốn mua nhà tại Việt Nam như trước đây. Ảnh: Hoàng Hà

Căn nhà được tôi tu bổ và trở nên rất ấm cúng với những hệ thống nội thất trang trí vừa phải đã cho tôi một tổ ấm đúng nghĩa 50%, còn 50% còn lại là do tôi không được đứng tên nhà. Chỉ có điều tôi không bao giờ ngờ rằng, người thân mà tôi nhờ đứng tên lại có ý “chỉ coi tôi như một người ở nhờ”. Cái đắng cay là mất tình nghĩa chứ không phải là do số tiền mua nhà.

Trong khi để cảm ơn họ đã giúp tôi, tôi cũng đã mua lại một khu nuôi gia súc cách thành phố 40 km thuộc vùng Tân Uyên Biên Hòa với ý định biếu họ. Tôi may mắn lấy lại được nhà chỉ vì họ phạm phải lỗi lầm to lớn đó là khi tôi đi chơi xa, họ mang người đến đục két sắt và lấy của tôi một số tiền, nhờ vậy để tránh bị tù tội họ phải chuyển chủ quyền cho một người khác mà tôi chỉ định, và dĩ nhiên không bao giờ họ nhận được cái trang trại mà tôi có ý cho họ.

Về Việt Nam, mang danh nghĩa Việt kiều, thời năm 2000 đi tàu giá vé gấp đôi, vào nhà hàng thì luôn có con dao thật bén để họ chém đẹp, dù không bao giờ tự nhận mình là Việt kiều, nhưng họ tinh lắm chỉ cần nhìn cách đi đứng ăn nói của mình là họ biết ngay. Chẳng vậy mà trên tuyến đường đi từ Đà Lạt xuống Phan rang, khi xe ngừng lại một quán nước bên đường đã có người bán hàng rong đưa tay bóp bắp tay tôi rồi nói: “Chu ơi, Việt kiều mập quá!”

Bây giờ, những chuyện thế này thì không còn nữa và luật pháp Việt Nam khá thông thoáng. Theo thông tin đại chúng, Việt kiều được đứng tên mua nhà và làm chủ tài sản của mình, nhưng đến thời điểm này liệu không còn có nhiều người thật sự muốn mua nhà. Vì các nguyên nhân sau đây:

– Những người cần mua thì họ đã mua rồi, họ không đứng tên thì người nhà của họ đứng tên. Khi đó giá nhà đất còn rẻ, nhiều người có thể đủ khả năng để mua một biệt thự hay một căn nhà phố, giá chỉ vài ba tỷ đồng Việt Nam.

– Ngày nay muốn mua được một biệt thự họ phải trả từ 6 đến 10 tỷ hay từ 300.000 đến 500.000 USD (10 tỷ VND), cho một biệt thự, trong khi giá cho thuê một biệt thự cao cấp cũng chỉ khoảng 1.000 USD. Hãy làm một so sánh: nếu phải bỏ ra 10 tỷ đồng, số tiền này có thể cho lợi nhuận 50 triệu VND/tháng. Như vậy, dù có thuê nhà với giá 1.000 USD họ vẫn còn lợi đươc 1.500 USD.

– Hiện tại giá nhà đất tăng vọt, giá trị thật sự của nhu cầu không tương ứng với số tiền người ta phải bỏ ra để mua.

– Tâm lý Việt kiều không bao nhiêu người muốn ở Việt Nam toàn thời gian mà chỉ có ý định sống hai nơi tùy theo lúc và nhu cầu.

– Việc khó khăn để có được giấy xác nhận có quốc tịch Việt Nam là một hành trình dài, trong khi hộ chiếu của Mỹ thì có ghi rõ “Xuất xứ: Việt Nam” mặc dù vậy họ vẫn không được công nhận là còn quốc tịch Việt Nam.

– Thủ tục hành chính rườm rà, dể làm nản lòng rất nhiều người.

– Hệ thống pháp lý của Việt Nam cũng vô cùng phức tạp, nhất là khi người Việt hải ngoại có vướng mắc với luật pháp, thông thường là các án dân sự, rất và rất nhiều do tranh chấp tài sản khi nhờ người khác đứng tên.

Trên mục “Người Việt Năm châu” tôi đọc được một số bài viết của các bạn đọc ở hải ngoại có những ưu tư như những bài “Có nên về Việt Nam hưu trí”, “Về Việt Nam làm việc” hay “Mua nhà ở Việt Nam để hưu trí” và còn nhiều nữa. Với kinh nghiệm mà tôi có được trong nhiều năm sống tại Việt Nam, tôi mong được chia sẻ với bạn đọc, hy vọng những kinh nghiệm nhỏ bé này sẽ giúp các bạn hiểu rõ hơn khi chọn lựa cho mình một quyết định.

Xin chào tất cả bạn đọc và hẹn gặp lại.

Charles Trần
http://tapchihoaky.info/toi-ve-nghi-huu-o-viet-nam-tac-gia-charles-tran-5455.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHI CÀN KHÔN ĐƯỢC TRUNG CỘNG TRÙNG TU


(Tiếu lâm dân gian Hoa lục)
Vinhhuy Le - Nam Thiên môn mấy lần bị Tề Thiên đánh phá hư hao, Ngọc hoàng Thượng đế phải cho mở đấu thầu đặng trùng tu.
Người Ấn báo giá: “3.000 là xong. Trong đó 1.000 là tiền vật tư, 1.000 tiền nhân công, còn lại 1.000 là phần con”.

Người Đức đòi 6.000. Với 2.000 tiền vật tư, 2.000 phí nhân công, phần mình kiếm lời 2.000.
Người Trung quốc điềm nhiên nói: “Vụ này phải tốn 9.000. Phần Ngọc hoàng được 3.000, con cũng 
3.000, còn lại 3.000 thì ta giao cho người Ấn thi công”.
Ngọc hoàng gõ búa kết thúc: “Trung quốc trúng thầu!”

* * *

Sau đó, cửa âm phủ cũng bị Tề Thiên phá hư. Diêm vương rút được kinh nghiệm từ Ngọc hoàng bị lỗ nên đưa ra mức giá cố định 3.000.

Người Đức tới, sau khi xem qua một lượt liền lặng lẽ chuồn.

Người Ấn đồng ý mức giá 3.000.

Người Trung quốc nhận giá 3.000, lại đút lót cho Phán quan 500 nên được thầu.

Người Đức và người Ấn không phục, bèn theo dõi xem người Trung quốc làm ăn ra sao. Chỉ thấy họ thi công nửa chừng thì ngưng, đấm đách mần tiếp. Đôi co kiện tụng suốt 6 tháng, Diêm vương chịu hết xiết, cuối cùng buộc phải lòi ra thêm 3.000 cho 
người Trung quốc, công trình mới hoàn thành.

* * *

Đến lượt thang máy kết nối Thiên đình với Âm phủ bị hư. Đã có bài học hai lần trước nên giá đấu thầu lần này là 3.000, kèm theo điều kiện bắt buộc phải thi công một lần cho xong, không được bỏ dở.

Người Đức đến xem rồi lại bỏ đi.

Người Ấn nhận thi công với giá 3.000.

Trung quốc chẳng những chịu giá 3.000 mà còn khuyến mãi cho âm binh thiên tướng uống rượu Mao Đài miễn phí một năm, nên lại trúng thầu.

Nhận được tiền rồi, Trung quốc bèn bắt tay vào việc. Chỉ tốn 500 tiền vật tư cộng thêm 500 phí nhân công. Sau đó nhét phong bì 500 cho Nhị Lang thần Dương Tiễn, công trình vậy là được nghiệm thu đạt tiêu chuẩn.

Chẳng bao lâu sau thì thang máy gặp sự cố xảy ra tai nạn. Đoàn kiểm tra liên ngành đã nhận được 1.500 tiền trà nước, kết luận sự cố xảy ra là bởi khách quan, do thường xuyên sử dụng quá tải. Ngọc hoàng Thượng đế phải bấm bụng chi thêm 9.000 cho người Trung quốc làm lại toàn bộ công trình.

* * *

Tới phiên lối thông ba cõi thiên đình, dương gian và âm phủ bị hư hại nghiêm trọng, hồn người chết không thể xuống địa ngục, mà kẻ được đầu thai cũng không thể lên nhân gian, càn khôn bị đình trệ, tình thế hỗn loạn như nước sôi đổ háng.
Ngọc đế đã khôn ra nên lần này ấn định mức giá 3.000, điều kiện là phải thi công một lần cho trót, dưới sự giám sát của Phật tổ Như Lai, và phải bảo hành miễn phí công trình trong vòng 100 triệu năm.

Người Đức nghe qua liền dông tuốt.

Người Ấn nhận thầu với giá 3.000.

Người Trung quốc lại đến, lần này nhận thi công miễn phí để bù công quả những lần trước, đồng thời còn bảo hành 200 triệu năm, chỉ xin được thu phí 100 triệu năm. Ngọc hoàng và Diêm vương liền đồng ý.

Con đường thông tam giới làm xong, Trung quốc bắt đầu lập trạm thu phí BOT. Người chết muốn lên thiên đường phải nộp 3.000, ai muốn đầu thai qua châu Âu nộp 1.000, còn làm công dân Mỹ thì giá 2.000, đứa nào trốn trạm thì cho đầu thai vô Trung quốc ráo.

Quỷ thần thiên địa từ đó tách biệt, trời và người đành mất tương thông, Trung Nam hải đàng hoàng làm trùm xóm đĩ, he he xui!


Phần nhận xét hiển thị trên trang