Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 14 tháng 11, 2017

Tin buồn:

ĐÌNH BẢN 2 BÁO ĐIỆN TỬ: NHÀ QUẢN LÝ VÀ PHỤ NỮ & ĐỜI SỐNG


Đình bản 3 tháng Tạp chí điện tử Nhà quản lý

VietNamNet
14/11/2017 13:45 GMT+7 

Bộ TT&TT vừa quyết định đình bản tạm thời hoạt động của Tạp chí điện tử Nhà quản lý 3 tháng vì đã đăng bài viết sai sự thật.

Quyết định nêu rõ: Tạp chí điện tử Nhà quản lý bị đình bản tạm thời hoạt động trong thời gian 3 tháng vì Tạp chí đã đăng bài viết "Bình Phước: Báo chí đứng bên lề công cuộc đấu tranh phòng chống tham nhũng?" ngày 21/8 có thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng, đã bị xử lý hành chính.

Lãnh đạo cơ quan chủ quản là Viện Nghiên cứu và Đào tạo về quản lý có trách nhiệm chỉ đạo việc thực hiện đình bản.

Sau thời gian tạm đình bản, Bộ TT&TT sẽ xem xét, quyết định việc tiếp tục hoạt động của Tạp chí điện tử Nhà quản lý trên cơ sở các quy định của pháp luật về báo chí.

Trước đó, ngày 10/11, Cục Báo chí đã quyết định xử phạt hành chính về thông tin sai sự thật bài viết trên Tạp chí này 40 triệu đồng.

Trần Thường

--------------------------

Đình bản 3 tháng chuyên trang Phụ nữ & Đời sống của báo Người đưa tin 

Infonet
10:44 - 14/11/2017 
Ngày 10/11/2017, Cục trưởng Cục Báo chí (Bộ TT&TT) đã ra Quyết định số 255/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối với Báo điện tử Người đưa tin. 
.

Giao diện của chuyên trang Phụ nữ News của báo điện tử Người đưa tin

Cụ thể, Báo điện tử Người đưa tin đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính: Trong bài viết đăng ngày 29/10/2017 trên chuyên trang Phụ nữ & Đời sống (tên miền phununews.vn) của Báo có thông tin vi phạm quy định tại điểm b, khoản 6, Điều 8 Nghị định số 159/NĐ-CP của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong hoạt động báo chí, xuất bản. 

Báo điện tử Người đưa tin bị xử phạt 140.000.000đ (Một trăm bốn mươi triệu đồng) đồng thời bị áp dụng hình phạt bổ sung: Đình bản tạm thời (tước quyền sử dụng giấy phép) của chuyên trang Phụ nữ và Đời sống (tên miền phununews.vn) của Báo điện tử Người đưa tin trong thời gian 3 tháng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cái chết của một tượng đá*

          
 Si Dieu existe, que souhaiteriez vous
qu’il vous dise après votre mort.
 KHOA HỮU

Tạc mãi đau thương người thành đá
ngồi canh đồng đội đã bao năm
cây súng gác ngang đời không ngủ
chiếc ba lô vai nặng vết hằn.

Người ngồi đó, mở trang bi sử
chiến bào như thấm máu chưa khô
ta ngồi đó xanh hàng bia mộ
áo nhung rêu cũng bạc dấu thù.

Ta muốn hỏi người từ đâu đến
bèo mây hạnh ngộ, có nhớ ta
ta về từ những vùng, khu chiến
bọc kinh hoàng xương mất, để da.

Ta muốn hỏi người, câu sinh tử
mắt trẻ thơ, môi cánh hoa đào
trán cô phụ băng lời tình sử
tóc mẹ già phủ mặt chiêm bao.

Cái chết – những con thiên nga trắng
ngàn năm tuyệt tích trời đông phương
anh hùng mạt lộ, chiến trường tận
đâu trái tim của một gã cuồng?

Ðêm thập tự hàng hàng, vấn tội
đồi bạch dương chụm những đầu ma
oán sâu sương khói cao mù núi
sát thời gian, người, đá hay ta.

Mười năm, lại mười năm sống sót
chuyện dữ tan tành, đồng đội đâu
đất nghĩa trang nhớ hoang dại mọc
quê nhà đây, cỏ mới, ngang đầu.

Saigon 1990.
*tượng Tiếc Thương của Nguyễn Thanh Thu

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Sự thật về “người trồng thông quái dị”


Nguyễn Đức Sơn (còn gọi là Sao Trên Rừng-Sơn Núi) nổi tiếng về thơ và luôn cả sự quái dị. Người đời cảm phục thơ ông và cũng không thiếu người lên án thái độ sống cũng như cách hành xử của Nguyễn Đức Sơn. Chỉ có bạn bè thân tình là thông cảm. Nhà văn Nguyễn Đạt là một trong số đó và đã có một bài viết đầy chân tình. Mời các bạn theo dõi.
NGUYỄN & BẠN HỮU
Trước 30 tháng 4, 1975, và bây giờ hẳn cũng vậy, rất nhiều người đã xem Bùi Giáng – Phạm Công Thiện – Nguyễn Ðức Sơn là ba “kỳ nhân văn nghệ”; ba con người văn nghệ độc đáo, đặc dị, và lừng danh trong văn hóa – văn nghệ của Miền Nam tự do. Ở thị xã Bảo Lộc – tỉnh Lâm Ðồng, người ta gọi Nguyễn Ðức Sơn là “Người trồng thông quái dị”. Chúng tôi là bạn thân thiết với Nguyễn Ðức Sơn từ những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ trước. Cuối thập niên 70, rời chùa Tây Tạng ở thị xã Thủ Dầu Một – tỉnh Bình Dương, Nguyễn Ðức Sơn đưa gia đình lên cư ngụ trên trái đồi cỏ Phương Bối Am của Thượng toạ Nhất Hạnh, hoang phế từ nhiều năm. Là người cầm bút, lại chỉ để sáng tác thơ, từ lúc ở Thủ Dầu Một, Nguyễn Ðức Sơn chỉ biết mưu sinh bằng cách dạy kèm ngoại ngữ. Phượng, người bạn đời của nhà thơ, lúc đó sống nương nhờ dưới mái chùa Tây Tạng; Phượng là cháu vị sư trụ trì chùa này; ngôi chùa được xây dựng theo phong cách chùa chiền ở Tây Tạng.
Nguyễn Đức Sơn
Nguyễn Đức Sơn
Cuộc sống của Nguyễn Ðức Sơn trên trái đồi nằm cuối dãy núi Ðại Lào hẳn nhiên là cuộc sống của người làm rừng làm rẫy, bám vào cỏ cây nương rẫy mà sống. Chúng tôi từng chứng kiến, Nguyễn Ðức Sơn đẩy chiếc xe đạp cọc cạch, thồ đống củi cao hơn thân mình, từ đồi rừng ra chợ cách xa gần mười cây số để bán. Chỉ có cách kiếm sống như vậy, cho một gia đình đông con; làm sao Nguyễn Ðức Sơn, với vợ yếu và đàn con thơ dại, không nhếch nhác tơi tả? Nhà thơ Thái Ngọc San, đã mất, sau khi lên thăm Nguyễn Ðức Sơn ở đồi Phương Bối (tên do thầy Nhất Hạnh đặt), đã viết truyện ngắn “Bầy Thú Hoang Dã”, cho thấy cảnh sống của gia đình Nguyễn Ðức Sơn lúc ấy không khác biệt bao nhiêu với đời sống của loài thú rừng. Hiển nhiên, qua cách nhìn nhận như Thái Ngọc San ở truyện ngắn này, là chỉ ghi lại cái bề mặt của cuộc sống Nguyễn Ðức Sơn; và mặc nhiên với những trách cứ phê phán của người quan sát thiếu tâm tình.
Từng gần gũi Nguyễn Ðức Sơn nhiều ngày tháng, chúng tôi hiểu rõ nhà thơ Nguyễn Ðức Sơn không hề có dã tâm của loài thú, để tạo nên cuộc sống như Thái Ngọc San đã ghi nhận; đó chỉ là một cuộc sống cực-chẳng-đã phải như vậy mà thôi, muốn khác đi cũng không được. Nguyễn Ðức Sơn không biết làm gì khác để thay đổi cuộc sống như bầy-thú-hoang-dã; ông lại càng không thể tính toán, bon chen, giành giựt với nhân thế. Trên trái đồi rộng bốn – năm héc-ta, ông không biết và cũng không ưa trồng loại cây nào cho có lợi nhuận, ngoài cây thông mà ông yêu thích. Cũng vì Nguyễn Ðức Sơn chăm chút, nuôi trồng thông từ mấy chục năm nay, trái đồi mang tên Phương Bối ở thôn Ðại Lào – xã Lộc Châu, bây giờ gần như là nơi duy nhất để ngàn thông còn tồn tại trên cao nguyên hoang sơ Bảo Lộc.
Nguyễn Ðức Sơn đã bảo vệ tới cùng một tổ chim trên cây rừng Phương Bối bị đám người có hung khí tới phá phách. Lần đó Nguyễn Ðức Sơn bị đám người này dùng dao đâm ông, chỉ nửa phân nữa là trúng con mắt. Dân cư quanh vùng biết Nguyễn Ðức Sơn lúc nào cũng ưa đọc sách, nhưng thấy ông không cho các con ông đi học; biết ông, nửa đêm lạnh giá, xách đèn pin đi khắp đồi thông; nghe tiếng ông la hét cằn nhằn vợ con vang dội khắp bốn bề; nghe chính con ông kể chuyện những kiểu tra tấn đánh đập vợ con: treo con lên xà nhà; bắt lũ con nằm thành hàng để ông đi xe đạp cán qua; bóp cổ vợ; đập gậy sau lưng khi vợ đang vo gạo… Từ những chuyện như vậy, ông nổi tiếng là “Người trồng thông quái dị”; kinh khủng nhất, mọi người cho là ông vô tâm, tàn ác, không mảy may thương xót vợ con. Ðây là một ngộ nhận đáng sợ đối với bất cứ người nào; huống hồ người đó lại là một nhà thơ.
Không có chuyện tra tấn đánh đập vợ con như một hai người con của Nguyễn Ðức Sơn đã nói; đấy là câu chuyện hoang tưởng của con ông mà thôi; chính Phượng xác nhận với chúng tôi như vậy. Nhưng nếu ai hỏi Nguyễn Ðức Sơn chuyện này, thì ông lại xác nhận; không những như thế, ông còn tô vẽ thêm lên cho thật ghê rợn. Ðây chính là một trong nhiều tính chất đặc dị của nhà thơ “kỳ nhân” Nguyễn Ðức Sơn.
Sự thật mà chúng tôi biết, Nguyễn Ðức Sơn đầy tình cảm yêu thương con người, như mọi người thiện tâm khác. Lần Phượng bị bệnh thập tử nhất sinh, phải giải phẫu tại bệnh viện Chợ Rẫy, chúng tôi ngồi bên ông, ngoài hành lang trước phòng giải phẫu. Ông rất căng thẳng chờ đợi kết quả phẫu thuật. Chợt có tiếng cô y tá kêu lớn tên ông: nước mắt ông tuột ra, chảy dài trên khuôn mặt. Ông ngỡ cuộc phẫu thuật thất bại, Phượng đã chết! Hoá ra không phải, cô y tá gọi ông để báo tin lành. Và Nguyễn Ðức Sơn nhảy cẫng lên, như đứa trẻ vui mừng tột độ.
Tuệ Sỹ và Nguyễn Đức Sơn
Tuệ Sỹ và Nguyễn Đức Sơn
Lần một đứa con của Nguyễn Ðức Sơn bị bệnh nằm liệt giường, chúng tôi cũng có mặt trên đồi Phương Bối. Ông cuống cuồng, chạy xuống đồi, hỏi người này người kia để chữa chạy kịp thời cho con. Có người bày cách, cho người bệnh ăn thịt cóc sống. Ông hét vang như hoá điên, vì gặp ngay người bán thịt cóc đi ngang qua. Mang thịt cóc về, cho đứa con ăn ngay; chợt ông nhớ cả gia đình vốn ăn chay trường, ông vội vã thắp nén nhang niệm Phật, xin xá tội! Ðứa con vừa nuốt miếng thịt cóc, lập tức nôn mửa thốc tháo. Ông lại cuống cuồng, lại chạy xuống đồi, kêu “xe ôm”, ôm con ngồi lên xe đưa vào bệnh viện. Ở bệnh viện, lúc đứa con đã an toàn, đã đi đứng trở lại; bấy giờ mới để ý: ông chỉ mặc cái quần cụt mà lại thủng rách cả đũng! Nhưng Nguyễn Ðức Sơn lúc đó vui rộ lên, nói lắp bắp những câu hí lộng về cái quần thủng rách!
Chúng tôi biết cả ba người văn nghệ độc đáo nhất của Miền Nam tự do, ba “kỳ nhân văn nghệ” như nhiều người đã gọi: Bùi Giáng – Phạm Công Thiện – Nguyễn Ðức Sơn. Cả ba đều thương yêu hết mức con người. Bùi Giáng thì đã giã biệt cõi-hồng-trần từ lâu; Phạm Công Thiện mới qua kiếp nhân sinh, chắc hẳn lúc này hương hồn ông đã nhập vào con bướm trắng tung tăng trên cỏ.[*] Và Nguyễn Ðức Sơn, lúc nào chúng tôi cũng hình dung ông đang chống gậy, đi mải miết giữa những hàng thông trên đồi Phương Bối; hình dung ông Ngàn sau / Phơ phất gò bông lau. [**]
Nguyễn Đạt


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

Hoàng Cầm – Một Đời “Nhớ Tiếc”, Một Đời “Níu Xuân Xanh”


Hoàng Hưng
Hoang Cam8

Là nhà thơ được yêu mến bậc nhất trong đời sống thơ đương đại, gần một năm sau khi lìa trần, Hoàng Cầm vẫn là một hồ sơ chưa được bạch hóa. Cả về đời lẫn về thơ.
Về đời, tuy ông đã kể khá nhiều với người hâm mộ, với giới truyền thông, nhưng tiếc thay phần lớn chỉ là những câu chuyện tình đã được thi vị hóa và huyền thọai hóa trước tiên bởi chính người kể và khuyếch đại sau đó bởi người nghe, trong khi phần quan trọng nhất trong văn nghiệp cùng những hệ lụy của nó lại chưa có cơ hội trình ra ánh sáng. Về thơ, có thể nói ngoài những tác phẩm tình ý rõ ràng như Đêm liên hoan, Bên kia sông Đuống…, thành tựu lớn nhất của ông là Về Kinh Bắc chưa được hiểu và phân tích đến nơi, một phần do tính chất mơ hồ, đa diện, đa nghĩa của một số bài quan trọng, mà chính tác giả cũng nói rằng mình không minh định được, ông còn sẵn sàng khoác thêm một màn sương khói hư hư thực thực bằng những câu chuyện kiểu như bài thơ ra đời từ tiếng ai văng vẳng trong đêm…
Lại nữa, truyền thông nước ta góp phần lớn vào việc làm cho công chúng cảm nhận Hoàng Cầm một cách phiến diện. Trong suốt hai thập niên trở thành gương mặt văn học “ăn khách” bậc nhất, ông luôn xuất hiện như một khách thơ tài hoa đa tình quanh quẩn với hai lọai tình: tình quê hương quan họ và tình “chị – em” độc đáo, ông như bị chế biến thành món giải trí dễ dãi cho một số đông tò mò hơn là thực sự thưởng thức văn chương.
Có lẽ đây là dịp để, sau những tràng vỗ tay ồn ào cũng như những vòng hoa thương tiếc, cả sau khi những ân oán thời cuộc thường chi phối sự nhìn nhận tác giả và tác phẩm đã lùi xa vừa đủ, ta có điều kiện lắng xuống, tịnh tâm để nhận diện con người và thơ Hòang Cầm một cách thuần túy hơn.
Hoang Cam8
Hoàng Cầm đa dạng hơn những gì công chúng quen nhìn thấy
Tôi chưa dám nói về kịch thơ, truyện thơ Hoàng Cầm, ở đó ngay từ Kiều Loan, và sau đến Người con gái nước Tần, Trương Chi, tài năng của một nhà soạn kịch sóng với tài năng của người nhuần nhụy ngôn ngữ thơ đảm bảo giá trị cho những tác phẩm thuộc một thể loại sân khấu tiếc rằng vì hoàn cảnh lịch sử đã không được nuôi dưỡng. Tôi tự hạn chế trong lĩnh vực THƠ viết hoa.
Điều đầu tiên tôi muốn nói, Hoàng Cầm đa dạng hơn những gì công chúng quen nhìn thấy.
Ở nửa cuối cuộc đời, người ta dễ thấy ông, mà ông cũng thường tự nhận, là con người dễ dãi, ủy mị, thậm chí nhu nhược, có gì đó nữ tính, “theo dòng mẫu hệ”. Có thể trong sâu xa con người ông phần “âm” có sẵn đã nổi lên do hoàn cảnh khốn cùng ông bị đẩy vào, trong hoàn cảnh ấy cái “âm”, cái “ẩn” có tác dụng bảo toàn, che chở. Cũng nên lưu ý đến tính nữ ở những vai nam trong quan họ hay chèo, một đặc trưng văn hóa dân gian đồng bằng Bắc Bộ mà Hoàng Cầm thấm đẫm. Vì thế người ta dễ quên đi gương mặt hùng của anh bộ đội Hoàng Cầm trong tấm ảnh mũ nan áo trấn thủ chụp ngày mới giải phóng thủ đô, quên đi giọng ngâm thơ sang sảng trên đài phát thanh của một Hoàng Cầm trong Đêm liên hoan “Đầu nhấp nhô như sóng bể ngang tàng/ Ta muốn hét cho vỡ toang lồng ngực/ Vì say sưa tình thân thiết vệ quốc đoàn”. Mê mải những “em mặc yếm thắm em thắt lụa hồng” bên kia sông Đuống, ta bỏ qua những anh “bộ đội bên sông đã trở về/ Con bắt đầu xuất kích/ Đồn giặc bắt đầu run trong sương/ Dao lóe giữa chợ/ Gậy lùa cuối thôn.” Cũng như khi cùng tác giả trở về Kinh Bắc, bị ám ảnh quá nhiều vì cái lá Diêu Bông, cỗ bài tam cúc chị chị-em em, người ta không mấy quan tâm đến tâm trạng bi phẫn Trăng lên chém đầu ngọn gió, Cành si bưng chậu máu chát chao… Người ta cũng tránh nhắc đến dũng khí của một nhân vật chủ chốt Nhân Văn – Giai Phẩm, người quyết định công bố Nhất định thắng và sau đó khẳng khái bênh vực tác giả của nó (Con người Trần Dần).
Tất nhiên thơ Hoàng Cầm cũng đa dạng như con người ông. Và thay đổi khá nhiều theo theo thời gian, hoàn cảnh. Không thể nhận ra tác giả những lời thơ lãng mạn tuổi 20 “Những khoảng chiều buồn phơ phất lại/ Anh đàn em hát níu xuân xanh” trong những giai đoạn kháng chiến, đầu hòa bình. Nhưng đến những năm tháng của tuổi 70, 80 thì ta nhiều lúc bắt gặp ông trở lại nhạc điệu, thi ảnh, và cả ngôn từ của thời “vớt mắt em về bến hoá sinh”. Vâng, ở cái tuổi xưa nay hiếm, Hoàng Cầm vẫn chạy theo những mối tình đơn phương, ảo vọng, vẫn “níu xuân xanh” với hết sinh lực (không còn bao nhiêu) và thi lực (vẫn tràn đầy).
Giữa hai đầu lãng mạn đầu đời và “níu lãng mạn” cuối đời, ta có Hoàng Cầm thơ kháng chiến lượng không nhiều mà nổi đình đám chỉ cần với một Bên kia sông Đuống. Một Hoàng Cầm thơ trữ tình phê phán sắc sảo và cay độc thói quan liêu đạo đức giả: “Rúc đầu vào nách vợ/ Hút hít như chó con… Mắt thầy nhắm nghiền lại/ Thầy đọc kinh giáo điều… Dao ngọc với gươm vàng/ Chém nát nhừ trận gió…”, “Diễn văn cót két chân giường mới/ Gặm hết tình yêu hết ước mơ". Ta có cả một Hoàng Cầm biết tụng ca anh hùng với những hình tượng sáng tạo “Anh đứng là lưỡi cày/ Anh nằm là dòng mương/ Anh ngồi là cót thóc/ Anh đi là con đường”. Rất ít người để ý đến một Hoàng Cầm mới lạ của tổ khúc thơ rock siêu thực-xuất biểu có một không hai trong thơ Việt Nam (U gì, tặng khối u của Đặng Đình Hưng) đầy bi phẫn kinh hoàng ác mộng: “Lỗ chỗ chín chậu nắng tóe mắt võng rách tụt cân đai yên ngựa què kéo đen ngòm cỗ xe bánh vuông (không thấy mui) sa lầy bãi sông thu bùn lũ ngược vẫy sen tàn (đi hoang ư) ngậm miệng nghỉm gió thốc lốc cung rê-ma-giơ quắt nhức ba cạnh nhung gai lì ái ân gì dài thon mười búp lóa kim cương trắng sữa đầu vú núi cao ngất lùm cỏ ngọt ước ao”… “lố nhố nhiều u gì sau xe hình mắt lé mã tấu trùng trùng răng chuột mặt nạ người đẹp ngọt xớt thanh xà nép lá bồ đề”.
Về KInh Bắc
Nhưng có thể nói, tác phẩm gắn chặt nhất với tên Hoàng Cầm truyền lại cho hậu thế phải là Về Kinh Bắc. Hoàn cảnh ra đời tối ưu cho một kiệt tác: tác giả bị dồn đẩy vào tâm thế chìm đắm hoàn toàn trong thế giới hoài niệm với thơ là nơi bấu víu, là nguồn sống, là năng lượng giải thoát độc nhất (“cô đơn là cứ phải toàn phần mới sinh năng lượng” – Đặng Đình Hưng); tác giả đang ở độ chín tới của tuổi tác và tài năng.
Về Kinh Bắc là tổ khúc tám nhịp hồi quang một vùng văn hóa lịch sử, trên nền ấy nổi lên nhịp Năm gửi gắm tâm sự của một đứa “Em” (không) gửi tới “Chị”, người mà “Em” thầm yêu, cả tin, rồi vỡ mộng, nhưng chẳng dám thốt ra lời gì hơn là nỗi lòng bơ vơ, ngậm ngùi, có chút hờn trách.
Hồi quang Kinh Bắc đầy màu sắc. Với những chớp lóe ấn tượng thật gợi cảm trong nhịp Một, cũng là khúc dạo (prelude) của một đại tổ khúc, gồm năm đêm Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ – lướt nhanh một Kinh Bắc huyền tích (Nẻo Đông Triều khép mở gió kỳ lân/ Chớp rạch dáng tiên vén xiêm xõa ngủ…), Kinh Bắc huê tình non tơ (Chũm cau căng nứt mạch tằm/ Yếm may ba ngày mẹ vá lại… Gió ra hồng da trinh nữ… ong bay vai áo tiểu thon mình), Kinh Bắc bi tráng (Chợt mê thét giữa sân/ Nét mác chữ thiên toạc lưng trâu mộng), Kinh Bắc ma mị (Châu chấu ma vờn cổ yếm xây… Trò chuyện gì ai đâu/, mồ tháng giêng mưa ướt sũng…), Kinh Bắc của những sinh hoạt văn hóa dân gian giàu bản sắc (Hình nhân má điệp tóc mực tàu/ Mắt nghiêng dựa liếp/ Mai nhảy vào đám lửa giỗ đầu… Kèn già lam ai tập thổi/ Gió mất chồi xuân đay nghiến luỹ tre dầy… Đằm ca dao sáo diều chiều lịm tím lưng trâu…). Với lịch sử bi hùng được kể trong ba nhịp Hai, Ba, Bốn. Với chân dung những người con gái đa tình, đa truân trong nhịp Năm. Với phác họa những hội hè trong nhịp Sáu. Có thể nói Về Kinh Bắc cùng với truyện thơ Tiếng hát quan họ và nhiều bài thơ lẻ cuối đời cho thấy Hoàng Cầm là kết tinh vùng văn hóa nghìn năm Kinh Bắc, là thi sĩ của đất quan họ, chẳng khác thi sĩ Tây Ban Nha Federico Garcia Lorca với quê hương Andalusia qua những khúc cante hondo (trầm ca) và romance.
Nhưng cũng phải nhận rằng, Về Kinh Bắc in đậm vào dư luận và sống trong lòng công chúng phần nhiều ở chùm thơ đặc biệt trong nhịp Năm: bộ ba Cây, Lá, Quả (Cây Tam cúc, lá Diêu bông, Quả vườn ổi), mở rộng là bộ bốn (Cây, Lá, Quả, Cỏ – Cỏ Bồng thi). Không nói tới việc số phận đoạn trường của chùm thơ này kéo theo số phận đoạn trường của tác giả đã góp phần không nhỏ làm cho chúng nổi tiếng và được yêu mến, “đến hôm nay, thoát khỏi mọi vướng víu thời cuộc, bộ ba cây-lá-quả vẫn cứ ngây ngây men erotic của những ẩn ức ấu thơ sực mùi ổ rơm tóc ấm trộn với một liều lượng đắng cay của tuổi trẻ thất vọng đượm một nỗi u ẩn thế sự, vẫn nguyên sức cám dỗ của thứ rượu lâu năm nhấp môi thì ngọt, nuốt vào thì đắng, uống rồi thì chuếnh choáng ngậm ngùi". (HH- Bài giới thiệu tập thơ Mưa Thuận Thành, báo Lao Động 1991).
Ngoài chùm thơ trên, có Về với ta, một bài làm thành cả nhịp cuối, nhịp kết của tập thơ. Không nổi tiếng với công chúng rộng, nhưng bài thơ được đánh giá cao trong giới bạn thơ của tác giả và cũng là một trong những bài tâm đắc nhất của ông. Tôi nghĩ bài này chứa đựng những gì là Hoàng Cầm nhất.
Về mặt thi pháp, thực ra Về Kinh Bắc chưa tạo dựng một thi pháp nhất quán rõ rệt như ở Trần Dần, Lê Đạt, nhưng nó rất riêng một lối thơ Hoàng Cầm của thời kỳ này, cũng là lối thơ Hoàng Cầm nhất.
Trước tiên là một nhạc điệu Hoàng Cầm: dặt dìu, đón đưa, dan díu, buông bắt. Có thể nhận ra tất cả hồn quan họ ngân nga trong ấy. Thứ nhạc này khiến cho thơ tự do không vần của tác giả, trong khi theo sát diễn biến của từng tâm trạng cụ thể, thậm chí còn du dương hơn lối thơ vần điệu (cuối đời tác giả hay tự hát thơ của mình trong những cuộc gặp gỡ bỏ túi). Ta có thể gọi nó là “điệu tâm hồn Hoàng Cầm”.
Rất rõ một lối tạo hình Hoàng Cầm: xen tả với gợi, xen ấn tượng, biểu tượng với khắc hằn xuất biểu. Ở những bài thành công nhất, việc sử dụng biểu tượng gửi gắm những tâm ý không nói ra được (có thể là “tàn dư” của thủ pháp “biểu tượng hai mặt” thời Nhân Văn – Giai Phẩm nhưng đã từ tầng lý trí chìm xuống tầng sâu tiềm thức, bộc phát, nên sức ám ảnh rất cao), kết với sức gợi và ám của nhạc thơ, cho ta một Hoàng Cầm của thi pháp tượng trưng thời mới – tôi tạm gọi là “tân tượng trưng”.
Hoàng Cầm cũng có một kiểu dắt dẫn tuyến thơ: Một cách mở đầu hầu như bao giờ cũng tự phát từ sự mách bảo của tiềm thức, bản năng, không từ sự lập ý (cho nên ông hay nói về tiếng người trong đêm đọc câu thơ mở đầu cho bài thơ của mình), rồi phát triển bài thơ xen kể với tả, và cấu trúc bài thơ không bao giờ thiếu kịch tính.
Ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm tài hoa óng chuốt bay bướm nhưng vẫn tự nhiên, tuy cũngcó những lúc hơi lạm phát vàng son song ít khi rơi xuống sáo mòn.
Có một nét rất riêng Hoàng Cầm nữa: sự tạo dáng ký thác tâm trạng trong các bài thơ. Ngay từ Bên kia sông Đuống, cái dáng nghiêng nghiêng của con sông đã ám ảnh bao nhiêu người yêu thơ ông (có nhà nghiên cứu còn ngây thơ thử đi đo độ nghiêng của sông Đuống thực!). Trong một lần chở xe đạp nhà thơ trên phố dịp ông vào Sài Gòn lần đầu, tôi bỗng “phát hiện” cái thế nghiêng nghiêng của con sông có lẽ là từ cái dáng nằm nghiêng nghiêng của chính tác giả trong cái đêm trằn trọc nhớ về con sông quê sa vào tay giặc. Cái dáng này cũng như tiên cảm sự chông chênh của đời ông! (Đứng không yên ổn, ngồi không vững vàng – Kiều). Trong Về Kinh Bắc, ta gặp cái dáng bơ vơ "Em đứng nhìn theo em gọi đôi", lạc lõng "Từ đấy em đi khắp sông khắp núi/ Gió quê vi vút gọi/ Diêu bông hời… ới diêu bông", lủi thủi "Lẽo đẽo em đi vườn mai sau/ Cúi nhặt chiều mưa dăm quả rụng", bị du đưa như trong cơn mộng du "Chị đưa em đến chốn này/ Cheo leo mỏm đá, chết đứng không trói mà không đi… em vọng ai đâu mà hóa đá… kìa rau muống dại kín em rồi…"
Bao trùm tất cả, Về Kinh Bắc dựng lên một không khí, một thế giới Hoàng Cầm. “Thế giới thơ Hoàng Cầm như một cõi mơ giữ nguyên những cái không hề có thật, cái “lá diêu bông” là cái lá gì, “cầu bà Sấm bến cô Mưa” là ở đâu, nhưng cứ ngỡ như là thật; có những chất liệu bình dị của vùng quê Kinh Bắc một thời vừa đủ xa để nhớ tiếc, cỗ bài tam cúc đôi cá đòng đong… nhưng lại kết thành hư ảo hàm chứa một cái gì bí ẩn. Hoàng Cầm thuộc nòi thi sĩ giao tiếp được với người âm, biết cách gọi về những gì đã mất, đẩy cái trước mắt ra xa vời, nên thơ anh ám ảnh như mộng triệu đòi được giải mã.” (HH- Bài giới thiệu tập thơ Mưa Thuận Thành, báo Lao Động 1991). (Tác giả rất tâm đắc ý cuối này, ông lấy nó khi viết Chân dung tự thú năm 1994: “Gọi chiều xưa trở lại/ Đẩy chiều nay về xa/ Thường trò chuyện với ma/ Như với người đang sống”).
Về Kinh Bắc là tập thơ được Hoàng Cầm sáng tác trong mùa Đông-Xuân 1959-1960 tại nhà riêng (43 Lý Quốc Sư Hà Nội), sau khi ông bị kỷ luật vì vụ Nhân Văn – Giai Phẩm. Bản thảo sau đó được ông chép tặng một số rất ít người quý mến mà số lượng ngày càng tăng dần, nhất là sau khi đất nước thống nhất năm 1975. Tuy có tiếng xì xầm về những “ẩn ý” oán trách xã hội của một số bài trong đó, nhất là bài Lá Diêu bông, nhưng chưa hề có nhận định hay kết luận chính thức nào của các cơ quan hữu trách về tập thơ, cũng chưa hề có một quyết định nào không cho phép lưu truyền nó. Nhưng đến khoảng cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, khi một số bài thơ do Hoàng Cầm chép tặng được truyền ra hải ngoại, thì Về Kinh Bắc đã “thành vấn đề” đối với “các cơ quan chức năng”.
Năm 1982, một nhà văn người Việt từ Canada về xin nhà thơ chép tặng toàn bộ tập thơ để mang đi. Cùng lúc đó, tình cờ tôi từ Sài Gòn ra, cũng xin ông chép tặng để mang vào. Trong bối cảnh ấy vụ án Về Kinh Bắc ra đời với mục tiêu phá vỡ từ trong trứng một âm mưu “lưu truyền văn hóa phẩm phản động”.
Tháng 8 năm 1982, tôi – người mang tập bản thảo do Hoàng Cầm chép tặng với phụ bản tranh của họa sĩ Bùi Xuân Phái và bìa của nhạc sĩ Văn Cao – bị bắt, ngay sau đó là tác giả của nó.
Trong quá trình điều tra, vì quá yếu mệt, để mong sớm được ra, nhà thơ đã nhanh chóng nhận tội nói xấu chế độ qua một số bài thơ trong tập và ông tỏ lòng ăn năn hối lỗi. Điều trớ trêu là, sau khi có lá thư thỉnh nguyện của một số trí thức Pháp gửi về xin trả tự do cho nhà thơ, ông lại bị kéo dài thời gian giam giữ. Ông được “tạm tha” sau 16 tháng “giam cứu” (giam giữ để điểu tra) tại Hỏa Lò (nhà tạm giam Hà Nội) và Trại tạm giam của Bộ Nội vụ – từ cuối tháng 8 năm 1982 đến cuối tháng 12 năm 1983.
Thời gian bị giam giữ đã ảnh hưởng nặng nề đến sức khỏe tinh thần của Hoàng Cầm. Phải đến hàng năm sau, nhờ sự động viên của bạn bè, ông mới dần hồi phục.
Sau Đổi Mới, một số bài trong Về Kinh Bắc được công bố trong vài tập thơ của Hoàng Cầm (Mưa Thuận Thành, Lá Diêu bông, Bên kia sông Đuống), trong đó có những bài quan trọng nhất mà dăm năm trước đây còn bị coi là “phản động”. Đến năm 1994 thì Về Kinh Bắc được xuất bản. Trong giải thưởng Nhà nước về VHNT trao cho Hoàng Cầm năm 2007, tuy Về Kinh Bắc không được nêu danh, nhưng có những tập thơ kể trên.
Hoàng Cầm hậu-Về Kinh Bắc
Sau Về Kinh Bắc, thơ Hoàng Cầm không còn tập trung được sức mạnh vào một tác phẩm lớn, không còn giữ được nhạc điệu rất riêng, nhưng thế giới thơ Hoàng Cầm vẫn hiện diện một phần ở tâm trạng tải trên hàng trăm bài thơ lẻ. Một tâm trạng tha thiết đòi yêu, níu yêu, không cam chịu, nhưng không giấu được tiếng thở hắt phẫn chí, ngậm đắng, nuốt cay: Gió cấp ba thổi méo thân hình… Vào tim dao khía bịa ra cười… Thứ thuốc mà ông mang tên càng già càng đắng.
Cuộc đời và thi nghiệp của Hoàng Cầm là một trường hợp điển hình cho điều mà tôi coi là một trong những “bí quyết” thành công trong văn giới Việt Nam đương đại. Đó là sự “nằm giữa”. Nằm giữa con người thi nhân và con người chiến sĩ (dân tộc và dân chủ), con người Hoàng Cầm là một mẫu lý tưởng ngấm ngầm cho một bộ phận trí thức văn nghệ sĩ; thất bại trong cuộc đời tranh đấu phủ thêm hào quang cho thi nghiệp của ông. Nằm giữa lối sáng tác truyền thống coi cảm hứng từ chính cuộc đời mình là động lực tự nhiên với ý thức về sự làm mới bút pháp do ảnh hưởng của những người bạn mang tinh thần cách tân quyết liệt. Nằm giữa một cái nôi văn hóa dân gian đậm đà tâm thức tập thể và một chân trời tự do cá nhân hấp thụ từ văn minh phương Tây. Nằm giữa kể chuyện và giãi lòng. Nằm giữa thực và mộng, lộ và ẩn, hình ảnh và biểu tượng, huyền thoại và chuyện thật, văn chương và thế sự. Thơ Hoàng Cầm dễ lan truyền mà không bình dân, đáp ứng tâm lý thưởng thức của công chúng trung lưu Việt Nam trong một hoàn cảnh xã hội khá đặc biệt, khi văn nghệ đang chuyển mình từ công cụ chính trị trở lại là chính nó; trong cảnh tranh tối tranh sáng, tiếng xì xào lắm khi còn mạnh hơn lời bình chính thức.
Ngẫm lại một đời thơ ông, tôi thấy ngay từ thưở 20 đến khi về cõi, ông như không thôi bị ám ảnh bởi cái nhu cầu nội tâm sâu xa đọng trong một chữ NÍU.
Những khoảng chiều buồn phơ phất lại
Anh đàn em hát níu xuân xanh
Bao nhiêu tha thiết hàm chứa cái gì bất lực, tội nghiệp trong câu thơ từ 70 năm cũ dự cảm một điều quý báu nhất sắp vuột khỏi tay.
Đời ông là cả một đời nhớ tiếc những cái đã mất ấy (“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc/ sao xót xa như rụng bàn tay”), mà ông chỉ hòng mong níu lại bằng thơ. Níu xuân xanh. Níu một mối tình ảo,níu một thời trầu cay mà đỏ, níu màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp… Và có lẽ, thơ Hoàng Cầm níu lòng ta cũng vì thế./.
Bán đảo Tân Phong mùa trăng tháng 3/2011
(Sách Hoàng Cầm, NXB Hội Nhà văn, 2011 đã in nhưng cắt bỏ đoạn nói về vụ án “Về Kinh Bắc”)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phần mềm chống virus... phát tán mã độc


Một phương thức tấn công mới tận dụng chính các tính năng của ứng dụng chống virus để truyền phần mềm độc hại đến các hệ thống tưởng chừng đã được bảo vệ vừa được ghi nhận.
Kiến Văn


Hình minh họaHình minh họa
Theo Neowin, chuyên gia bảo mật của Áo - Florian Bogner đặt tên cho lỗ hổng bảo mật là AVGater, nói rằng nó đã tận dụng chức năng của các phần mềm chống virus hiện đại, di chuyển phần mềm độc hại từ khu vực cách ly sang nơi khác trên máy tính nạn nhân trước khi tiếp tục mở rộng cuộc tấn công.
Bogner giải thích rằng, thông thường người dùng không được cấp quyền quản trị viên (administrator) sẽ không được phép ghi một tập tin vào thư mục hệ thống như Program Files hay Windows, nhưng bằng cách lợi dụng chức năng NTFS của Windows, việc truy cập thư mục này sẽ được cấp.
Nhưng để có thể làm tất cả điều này, kẻ tấn công phải có quyền truy cập vào máy tính mà họ muốn lây nhiễm. Chính vì vậy, các khách hàng doanh nghiệp có thể là một trong những mục tiêu bởi nhân viên tại các doanh nghiệp này có thể vô tình hoặc thậm chí cố tình giải phóng tập tin khỏi khu cách ly, sau đó phần mềm độc hại sẽ lây nhiễm vào mạng doanh nghiệp.
Một số sản phẩm giấu tên đã được thử nghiệm trước khi lỗ hổng AVGater được công bố. Các hãng bảo mật có tiếng như Kaspersky, Malwarebytes, ZoneAlarm, Trend Micro, Emsisoft và Ikarus đã phát hành bản vá lỗi sau khi thông tin AVGater được xuất bản.
Theo Thanh niên
https://thanhnien.vn/cong-nghe/phan-mem-chong-virus-phat-tan-ma-doc-899759.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUÀ TẶNG NGOẠI GIAO..., KHÔNG PHẢI CHUYỆN ĐÙA !


Ảnh: Tác phẩm rồng thời Lý, chế tác thủ công, chất liệu đồng dát vàng - tặng phẩm được duyệt cho khách quý của nhà nước.
Vinh Nguyen Van

QUÀ TẶNG NGOẠI GIAO..., KHÔNG PHẢI CHUYỆN ĐÙA !

Cú "sẩy chân" trong vụ ông bộ trưởng bộ 4 T tặng quà là 1 quyển sách cho ông Putin vừa rồi rầm rĩ trên khắp các diễn đàn mạng. Họ rất chê lời đề tặng bằng tiếng Nga với chữ ký của chính ông bộ trưởng vào sách tặng đã viết sai ngôn ngữ của bạn một cách quá ấu trĩ.

Cộng đồng mạng, nhất là những người biết tiếng Nga đã được một phen cười chảy nước mắt nước mũi vì cái thứ tiếng Nga giả cầy ông Tuấn "liều mạng" tương vào rồi tự mình trao tặng Ngài Tổng thống Nga.

Kể ra nếu như có thứ giải Ai là người liều mạng nhất trong hoạt động đối ngoại, bang giao quốc tế thì chắc chắn phải trao giải đó cho ông Tuấn 4 T này (đùa chút cho bớt căng thẳng, chứ làm gì có thứ giải này).

Nhưng nói liều mạng là không phải là cường điệu đâu. Tôi nhớ lại hồi chúng tôi chuẩn bị rồi làm Hội nghị thượng đỉnh Pháp ngữ đúng 20 năm trước (1997), tặng phẩm cho các nguyên thủ và cấp tương đương (hơn 50 món quà) là một chủ đề được bàn đi bàn lại, cân nhắc lên xuống cả tháng trời trong BNG, rồi sau đó đưa lên UBQG phê duyệt (12 bộ, ngành và địa phương hợp sức lại do 1 vị phó thủ tướng chủ trì). Kế đó mới đi đặt hàng làm tặng phẩm. Và khi trao tặng quà nhất thiết phải nhân danh là lãnh đạo cấp cao trao, hoặc được ủy nhiệm chính thức.

Tôi tin các Hội nghị cấp cao Asean, Asem, Apec về sau này nước ta tổ chức, các khâu quà tặng cho nguyên thủ - trưởng đoàn cũng đều có ban bệ chuẩn bị, rồi tiến hành rất nghiêm túc và cẩn trọng như thế.

Cho nên chuyện vừa rồi, rõ là ông tư lệnh 4 T nhà ta gan cỡ cóc tía kiện trời mất rồi! Mà ngay cả cuốn sách mà ông tặng ông Putin đâu có phải sách của ông!? Ông chỉ có bài giới thiệu tập sách đó, chứ dịch giả Nga sang Việt là 2 người khác. Thế thì ngay chữ ký đề tặng của ông cho cuốn sách kia cũng đã không đúng form mà tối thiểu nó cần phải có thì mới tự viết, ký và tặng được.

Tóm lại, về món quà ông Tuấn là không đủ tư cách trao (trừ trường hợp ông được sự ủy quyền - ủy nhiệm của Chủ tịch nước). Rồi quà trao lại "không đủ chất lượng", lại lòi ra cái đuôi "dốt lại hay nói chữ" trước thiên hạ. Rõ ràng ông tư lệnh bộ 4 T đã tự phơi bày năng lực thấp kém cũng như sự huyếnh hoáng không phải lối ở một người có vai vế không thể có ứng xử xoàng xĩnh.

Đúng là một bài học đắt giá. Quà tặng ngoại giao (cho cấp cao) xin nhớ cho là chuyện quốc gia đại sự. Có những nơi những chỗ người ta lo liệu, phân công công việc nghiêm túc và phải được cấp cao duyệt y. Không phải ta mà nước nào họ cũng làm như vậy. Đây không bao giờ là việc cá nhân ai muốn là quyết, là làm được.

Trường hợp ông bộ 4 T nếu đúng tự ý làm tự ý đem tặng cho nguyên thủ nước bạn thì quả là một việc quá liều lĩnh, ví như điếc không sợ súng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tân Hịch chí sĩ


(Chưa rõ tác giả)

Ta cùng các ngươi:
Sinh ra phải thời bao cấp,
Lớn lên gặp buổi thị trường.

Trông thấy:

Mỹ phóng Con thoi lên vũ trụ chín tầng,
Nga lặn tàu ngầm xuống đại dương nghìn thước,
Nhật đưa rô bốt na nô vào thám hiểm lòng người,
Pháp dùng công nghệ gen chế ra cừu nhân tạo…

Thật khác nào:

Đem cổ tích biến thành hiện thực,
Dùng đầu óc con người mà thay đổi thiên nhiên!

Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa,
Chỉ giận chưa thể đuổi kịp nước Nga, vượt qua nước Mỹ, mà vẫn chỉ hơn Lào, hao hao Băng la đét.
Dẫu cho trăm thân này phơi trên sao Hỏa, nghìn xác này bọc trong tàu ngầm nguyên tử, ta cũng cam lòng.

Các ngươi ở cùng ta:

Học vị đã cao, học hàm không thấp,
Ăn thì chọn cá nước, chim trời,
Mặc thì lựa May Mười, Việt Tiến.
Chức nhỏ thì ta… quy hoạch,
Lương ít thì có lộc nhiều.
Đi bộ A tít, Cam ry,
Hàng không Elai, Xi pic.
Vào hội thảo thì cùng nhau tranh luận,
Lúc tiệc tùng thì cùng nhau “dô dô”.
Lại còn đãi sỹ chiêu hiền.
Giáo sư, tiến sỹ, thạc sỹ, cử nhân, ai cũng có phần, không nhiều thì ít.
Lại còn chính sách khuyến khoa Doanh nghiệp, giáo viên, trí thức, nông dân nhận cúp, nhận bằng còn thêm tiền thưởng.

Thật là so với:

Thời Tam quốc bên Tàu,
Lưu Bị đãi Khổng Minh.
Buổi hiện đại bên Nga,
Pu tin dùng Mét vê đép.
Ta nào có kém gì?

Thế mà, nay các ngươi:

Nhìn khoa học chậm tiến mà không biết lo,
Thấy công nghệ thụt lùi mà không biết thẹn.
Giáo sư ư?
Biết “Thần đèn” chuyển nhà mà chẳng chạnh lòng Tiến sỹ a?
Nghe “Hai lúa” chế tạo máy bay sao không tự ái?
Có người lấy nhậu nhẹt làm vui,
Có kẻ lấy bạc cờ làm thích.
Ham mát xa giống nghiện “u ét đê”,
Ghét ngoại ngữ như chán phòng thí nghiệm.
Chỉ lo kiếm dự án để mánh mánh mung mung,
Không thích chọn đề tài mà nghiên nghiên cứu cứu.
Ra nước ngoài toàn muốn đi chơi,
Vào hội thảo chỉ lo ngủ gật.
Bệnh háo danh lây tựa vi rút com pu tơ,
Dịch thành tích nhiễm như cúm gà H5N1.
Mua bằng giả để tiến sỹ, tiến sy,
Đạo văn người mà giáo sư, giáo sãi.
Thử hỏi học hành như rứa, bằng cấp như rứa, thì mần răng hiểu được chuyện na niếc na nô?
Lại còn nhân cách đến vậy, đạo đức đến vậy, thì có ham gì bút bút nghiên nghiên.

Cho nên:

“Tạp chí hay” mà bán chẳng ai mua,
“Công nghệ tốt” mà không người áp dụng.
Đề tài đóng gáy cứng, chữ vàng, mọt kêu trong tủ sắt,
Mô hình xây tường gạch, biển xanh, chó ị giữa đồng hoang.
Hội nhập chi, mà ngoại ngữ khi điếc, khi câm?
Toàn cầu chi, mà kiến thức khi mờ, khi tỏ?
Hiện đại hóa ư? vẫn bám đít con trâu!
Công nghiệp hóa ư? toàn bán thô khoáng sản!
Biển bạc ở đâu, để Vi na shin nổi nổi chìm chìm, lưởi bò liếm liếm,
Rừng vàng ở đâu, khi bô xít đen đen đỏ đỏ.

Thật là:

“Dân gần trăm triệu ai người lớn,
Nước bốn nghìn năm vẫn trẻ con”!

Nay nước ta:

Đổi mới đã lâu, hội nhập đã sâu,
Nội lực cũng nhiều, đầu tư cũng mạnh.
Khu vực có hòa bình, nước ta càng ổn định,
Nhân tâm giàu nhiệt huyết, pháp luật rộng hành lang,
Thách thức không ít, nhưng cơ hội là vàng!

Chỉ e:

Bệnh háo danh không mua nổi trí khôn,
Dịch thành tích chẳng làm nên thương hiệu.
Giỏi mánh mung không lừa nổi đối tác nước ngoài,
Tài cờ bạc không địch nổi hắc cơ quốc tế.
Cặp chân dài mà nghiêng ngả giáo sư,
Phong bì mỏng cũng đảo điên tiến sỹ.

Hỡi ôi,

Biển bạc rừng vàng, mà nghìn năm vẫn mang ách đói nghèo,
Tài giỏi thông minh, mà vạn kiếp chưa thoát vòng lạc hậu.

Nay ta bảo thật các ngươi:

Nên lấy việc đặt mồi lửa dưới ngòi pháo làm nguy;
Nên lấy điều để nghìn cân treo sợi tóc làm sợ.
Phải xem đói nghèo là nỗi nhục quốc gia;
Phải lấy lạc hậu là nỗi đau thời đại.
Mà lo học tập chuyên môn;
Mà lo luyện rèn nhân cách.

Xê mi na khách đến như mưa,
Vào thư viện người đông như hội.
Già mẫu mực phanh thây gan ruột,
Tôn Thất Tùng chẳng phải là to.
Trẻ xông pha mổ thịt Bổ đề,
Ngô Bảo Châu chỉ là chuyện nhỏ.

Được thế thì:

Kiếm giải thưởng “Phiu” cũng chẳng khó gì,
Đoạt Nô ben không là chuyện lạ.
Không chỉ các ngươi mở mặt mở mày, lên Lơ xút, xuống Rôn roi,
Mà dân ta cũng hưng sản, hưng tâm, vào Vi la, ra Rì sọt.
Chẳng những tông miếu ta được hương khói nghìn thu,
Mà tổ tiên các ngươi cũng được bốn mùa thờ cúng.
Chẳng những thân ta kiếp này thỏa chí,
Mà đến các ngươi, trăm đời sau còn để tiếng thơm.
Chẳng những tên tuổi ta không hề mai một,
Mà thương hiệu các ngươi cũng sử sách lưu truyền.
Trí tuệ Việt Nam thành danh, thành tiếng,
Đất nước Việt Nam hóa hổ, hóa rồng.
Lúc bấy giờ các ngươi không muốn nhận huân chương, phỏng có được không?
Nay ta chọn lọc tinh hoa bốn biển năm châu hợp thành một tuyển, gọi là Chiến lược.

Nếu các ngươi biết chuyên tập sách này theo lời ta dạy bảo thì suốt đời là nhà khoa học chính danh. Nhược bằng không tu thân tích trí, trái lời ta khuyên răn thì muôn kiếp là phường phàm phu tục tử. 

Vì:

Lạc hậu, đói nghèo với ta là kẻ thù không đội trời chung,
Mà các ngươi cứ điềm nhiên không muốn trừ hung, không lo rửa nhục.
Giữ một ngọn cỏ, cành cây, giọt nước trong giang sơn ta cũng làm ta quên ăn mất ngủ,
Mà các ngươi cứ điềm nhiên lo tranh quyền đoạt lợi,
Chẳng khác nào quay mũi giáo mà đầu hàng, giơ tay không mà thua giặc.
Nếu vậy rồi đây không biết dân Việt ta đi về đâu nữa, ta cùng các ngươi há còn mặt mũi nào đứng trong trời đất này nữa?

Trí thức là nguyên khí quốc gia,
Cho nên ta mới thảo Hịch này.
Xa gần nghiên cứu,
Trên dưới đều theo!


Phần nhận xét hiển thị trên trang