Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 12 tháng 11, 2017

Màu thời gian:



by anle20
Dưới khung cảnh cổ kính và lãng mạn của Hội An, những thiếu nữ với tà áo dài duyên dáng tạo nên một vẻ đẹp mơ màng của phố cổ. Ngày 11/11, khi phu nhân của lãnh đạo nhiều nền kinh tế APEC tới thăm Phố Hội, những bức ảnh với áo dài sẽ là một hoạt động thú vị có thể được lựa chọn.
Nếu một ngày thu đẹp trời bạn hỏi tôi, tôi sẽ làm gì khi trở lại Hội An? Khi ấy, chắc chắn tôi sẽ không ngần ngại mà trả lời rằng: Tôi nhất định sẽ may thêm một bộ áo dài và chụp một bộ ảnh với những góc phố rêu phong ấy. Những tà áo trắng tinh khôi, đơn giản không cầu kỳ những vừa đủ duyên, đủ đẹp để khiến những nếp nhà xưa cũ của phố Hội thêm hương sắc.
Cũng như Huế, áo dài có thể được xem là một đặc sản của Hội An mà bất kỳ người phụ nữ nào tới đây cũng muốn đem theo về.
Những bức ảnh về người thiếu nữ trong tà áo dài trinh nguyên thuộc bộ ảnh Mùa nắng phai của nhiếp ảnh gia Nguyễn Quốc Dũng. Cái khác lạ dễ nhận ra nhất ở bộ ảnh Mùa Nắng Phai đó là chất hội họa bảng lảng trong từng tác phẩm. Những cô gái thướt tha thả dáng trên những ngõ vắng của phố cổ Hội An, khua mái chèo trên sông Hoài… gợi cho người xem một cảm giác yên bình, muốn chìm đắm trong một vẻ đẹp cũ, không khí cũ yên bình, mùa nắng cũ, mùa của thời gian đã qua.
Với mái tóc thẳng mượt, khuôn mặt trái xoan và đôi mắt phượng biết cười, tà áo dài trắng tinh khôi làm nổi bật lên hình ảnh của những nàng thơ với vẻ đẹp đúng chuẩn Việt Nam.
Một nụ cười tỏa nắng, một tà áo dài thấp thoáng trên hè phố vắng, một mái tóc dài đen óng hay sự chăm chỉ, đảm đang... đều là nét đẹp quyến rũ của người phụ nữ Việt Nam.
Trong một bài viết tựa đề "Beautiful Vietnamese Women in ‘Ao dai’" trên website Citypassguide, tác giả bài viết cảm nhận rằng: Phụ nữ Việt Nam trong tà áo dài duyên dáng đủ sức khiến cho những người ngắm nhìn quên đi những bận rộn đời thường. Phụ nữ Việt trong tà áo dài không đơn thuần là mang đến vẻ đẹp gợi cảm, họ chứng minh một điều: Dù mặc áo dài truyền thống hay cách tân, vẻ đẹp ấy có thể bất chấp cả thời gian!.
Những bức ảnh về người thiếu nữ trong tà áo dài trinh nguyên thuộc bộ ảnh Mùa nắng phai của nhiếp ảnh gia Nguyễn Quốc Dũng. Cái khác lạ dễ nhận ra nhất ở bộ ảnh Mùa Nắng Phai đó là chất hội họa bảng lảng trong từng tác phẩm. Những cô gái thướt tha thả dáng trên những ngõ vắng của phố cổ Hội An, khua mái chèo trên sông Hoài… gợi cho người xem một cảm giác yên bình, muốn chìm đắm trong một vẻ đẹp cũ, không khí cũ yên bình, mùa nắng cũ, mùa của thời gian đã qua.
Vạt lưới buông lơi như màu nắng chiều phố cổ khiến hình ảnh thiếu nữ trong tà áo dài trắng thêm thướt tha.
Tà áo dài trắng tinh khôi là điểm nhấn cho những vẻ đẹp cũ trong không gian yên bình với sự chảy trôi chầm chậm của thời gian bên dòng sông Hoài thơ mộng. Nó cuốn hút mọi ánh nhìn bằng vẻ đẹp dịu dàng, e ấp nhưng cũng tràn căng sức sống.
Một vẻ đẹp cũ, không khí cũ rất Hội An, rất yên bình.
Góc phố rêu phong nhuốm màu thời gian.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thép Damascus – Bằng chứng cho thấy người cổ đại đã biết đến công nghệ nano

Thép Damascus là một loại thép rất nổi tiếng đối với người châu Âu. Tuy nhiên, vào khoảng thế kỷ XVIII, công thức tạo ra loại thép này đã bị thất lạc và thép Damascus trở thành một bí ẩn lớn của thế giới cổ đại.

tiên tiến, thép Damascus, Công nghệ,
Những người lính thập tự chinh sử dụng binh khí rèn từ thép Damascus (Ảnh: Ancientpages)
Vào thế kỷ 11, khi lữ đoàn thập tự chinh tiến đến Trung Đông, họ đã phát hiện ra rằng những thanh kiếm của quân đội nơi đây vô cùng sắc bén, nó có thể cắt đôi một sợi tóc ngay giữa không trung, và đủ mạnh để hạ gục những chiến binh dũng cảm và kiên cường nhất.
Tin tức về loại kim khí huyền thoại này lan truyền đi khắp Châu Âu với tên gọi Damascus, đặt theo tên của thủ phủ Syria. Qua nhiều thế hệ, những người thợ chế tạo kiếm, khiên, giáp bảo vệ từ thép Damascus đã giữ kín bí mật công thức chế tạo và chỉ một vài người được truyền thụ bí quyết này.
Khoa học hiện đại đã có nhiều nỗ lực để mô phỏng loại thép này nhưng đều không hoàn toàn thành công do sự khác biệt trong nguyên liệu và kỹ thuật sản xuất.
Tính vượt trội của thép Damascus
Từ khoảng thế kỷ IV, thép Damascus đã được sản xuất tại nhiều khu vực. Điều tạo nên bất ngờ của các thanh gươm làm từ thép Damascus là chúng vẫn sắc bén và cứng cáp sau nhiều trận chiến.
Có nhiều huyền thoại về những thanh gươm này, chẳng hạn như chặt đứt một khẩu súng trường hay chẻ đôi sợi tóc trên không. Theo TS. Helmut Nickel, quản lý Phòng Vũ khí và Thiết giáp của Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan ở New York, có truyền thuyết kể rằng những thanh gươm tốt nhất sau khi đun nóng đã được làm nguội bằng “máu rồng”.
tiên tiến, thép Damascus, Công nghệ,
Thanh kiếm Persian Shamshir (Ảnh: Worldantiques Antiques)
Các thanh kiếm dễ dàng được phân biệt bằng những họa tiết như dòng nước chảy hoặc chữ “damask” được khắc trên lưỡi kiếm. Thép Damascus không chỉ là một thành tựu đáng chú ý về kỹ thuật mà nó còn là những tác phẩm nghệ thuật mang tính thẩm mỹ cao.
Nguyên liệu thô dùng làm thép Damascus có nguồn gốc từ wootz, một loại thép Ấn Độ đặc biệt giàu carbon.
Dựa trên các bằng chứng khảo cổ, người ta đã xác định rằng các sản phẩm ở Damascus phù hợp với tính chất của thép ở Tamil Nadu ngày nay.
Người Ả Rập đã mang thép wootz của Ấn Độ tới Damascus, và nhờ vậy mà ngành công nghiệp vũ khí tại đây phát triển. Từ thế kỷ thứ 3 đến thế kỷ 17, Ấn Độ đã liên tục xuất khẩu những thỏi thép wootz sang Trung Đông.
Bí quyết bị thất truyền
Đến năm 1750, việc sản xuất kiếm Damascus dần suy giảm. Lý do ngừng sản xuất kiếm Damascus vẫn còn là một bí ẩn. Có người cho rằng vì sau đó súng bắt đầu dần thay thế kiếm trên chiến trường nên nhu cầu kiếm này đã giảm nhiều. Một ý kiến khác đó là công thức luyện kim của Damascus chỉ được truyền cho một vài người. Và có lẽ những nhà luyện kim này đã thành công trong việc giữ gìn bí quyết trước những đối thủ cạnh tranh và cả con người ngày nay.
Hoặc cũng có thể tuyến đường thương mại cung cấp thép Wootz từ Ấn Độ đã bị gián đoạn, hay chất lượng của nguyên liệu thô không còn đáp ứng được các đặc điểm cần thiết nữa.
tiên tiến, thép Damascus, Công nghệ,
Công thức chế luyện kiếm Damascus mãi mãi là một bí ẩn (Ảnh: Ancientpages)
Những nỗ lực của khoa học hiện đại để tái tạo Thép Damascus
Một vấn đề quan trọng khi thực hiện các thí nghiệm khoa học trên thép wootz Damascus là người ta không thể lấy mẫu để nghiên cứu. Để làm được, đòi hỏi phải cắt một lượng thép nhỏ rồi kiểm tra bằng kính hiển vi và mang đi phân tích hóa học.
Khi các nhà nghiên cứu tại Đại học Kỹ thuật Dresden sử dụng tia X và kính hiển vi điện tử để kiểm tra thép Damascus, họ đã phát hiện sự có mặt của các dây nano cementit và ống nano cacbon. Các cấu trúc nano này là kết quả của quá trình luyện thép.
Jeffrey Wadsworth và Oleg D. Sherby, hai chuyên gia luyện kim tại Đại học Stanford cho rằng bí ẩn của thép Damascus đã được họ làm sáng tỏ. Theo TiS. Wadsworth, yêu cầu cơ bản của các nhà luyện kim này là hàm lượng carbon trong thép cao.
TS. Wadsworth và TS. Sherby tin rằng thép Damascus chứa từ 1-2% carbon so với 1% của thép thông thường. Một yếu tố quan trong khác đó là quá trình sản xuất, thép Damascus được rèn ở nhiệt độ khá thấp, khoảng 1.700oF (khoảng 927oC). Sau đó được làm nguội bằng một loại chất lỏng được gọi là “máu rồng”.
tiên tiến, thép Damascus, Công nghệ,
Cận cảnh một thanh kiếm Damacus ở Ba Tư được chế tạo vào thế kỷ 18 (Ảnh: Wikipedia)
“Damascus hiện đại” được tổng hợp từ một số loại sắt thép ép vào nhau để tạo thành một phôi kim loại, và hiện nay thuật ngữ “Damascus” dù không chính xác về mặt kỹ thuật, nhưng vẫn được chấp nhận rộng rãi để mô tả những tấm thép hàn hiện đại trong thương mại.
Các mẫu khác nhau phụ thuộc vào cách người thợ xử lý phôi. Phôi được rút ra và xếp lớp lại cho đến khi đạt được số lớp cần thiết. Để đạt được tiêu chuẩn “bậc thầy rèn thép” của Hiệp hội Thợ rèn Mỹ, người thợ phải làm được tấm thép Damascus tối thiểu 300 lớp.
Việc chế tạo lại thép Damascus là một lĩnh vực thuộc về ngành khảo cổ học thực nghiệm. Nhiều người đã cố gắng khám phá, phân tích và thử chế tạo, một số nhà nghiên cứu đã đi được chặng đường dài, nhưng để hoàn toàn tái sản xuất loại thép này thì cho đến nay vẫn là điều không thể.
Không nghi ngờ gì nữa, thép Damascus chính là một công nghệ tiên tiến, một nghệ thuật kim khí tuyệt vời của người cổ đại, nhưng có thể sẽ mãi mãi là bí ẩn với con người hiện đại chúng ta.
Hoàng An

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bí ẩn văn hóa thần truyền: Sự giống nhau kỳ lạ của 2 ngôi đền cách xa nửa vòng Trái đất

Đền Baksei Chamkrong (Campuchia) và đền Grand Jaguar (Guatemala – Trung Mỹ) là hai ngôi đền cổ được xây dựng bởi hai nền văn minh khác nhau và cách xa hơn 14.000 km, nhưng lại mang nhiều đặc điểm tương đồng khiến các nhà khoa học vô cùng bối rối…

ngôi đền cổ, giong nhau,
Sự tương đồng kỳ lạ giữa đền Baksei Chamkrong, Campuchia (phải) và đền Grand Jaguar tại Guatemala – Trung Mỹ (Trái). (Ảnh: ancient-code.com)
Có bao giờ bạn tự hỏi, tại sao rất nhiều công trình cổ đại khắp thế giới lại trông khá giống nhau về kết cấu, hình dáng và thiết kế?
Hàng trăm kim tự tháp và đền thờ trên toàn thế giới có sự tương đồng đến lạ lùng dù nằm cách nhau hàng nghìn cây số. Đây phải chăng chỉ đơn giản là sự trùng hợp ngẫu nhiên? Hay là kết quả của một sự kết nối bí ẩn giữa các nền văn minh trong thế giới cổ đại?
Một trong những sự trùng hợp kỳ lạ nhất là ngôi đền nằm ở tỉnh Siem Reap phía Tây Bắc Campuchia với phiên bản lớn hơn nằm cách đó 14.000 km tại Guatemala, một quốc gia Trung Mỹ.
Ngôi đền Baksei Chamkrong (Campuchia)
ngôi đền cổ, giong nhau,
Đền Baksei Chamkrong. (Ảnh: voyagevirtuel.net)
Ngay bên ngoài những tàn tích của khu đền Angkor Wat tráng lệ là một ngôi đền kim tự tháp cổ có tên Baksei Chamkrong. Vì nó được xây bằng những khối đá vững chắc nên người ta không thể ước tính được niên đại bằng phương pháp đo đồng vị phóng xạ carbon. Tuy nhiên các nhà khảo cổ cho rằng nó được xây vào khoảng thế kỷ 16 SCN.
Cái tên Baksei Chamkrong có nghĩa là “Người ẩn nấp dưới cánh chim”. Tên gọi này bắt nguồn từ một câu chuyện cổ kể về một nhà vua trong khi cố gắng thoát khỏi cuộc vây hãm Angkor, đã có một con chim khổng lồ bay đến che chở cho ông bằng đôi cánh của nó.
Đền thờ Grand Jaguar (Guatemala)
Nằm trong khu vực Petén Basin của Guatemala, nơi đây là di tích của thành phố cổ Tikal, một trong những thành phố quan trọng nhất của người Maya. Tikal từng là thủ đô của quốc gia Maya hùng mạnh.
Mặc dù ngôi đền ở Campucha nhỏ hơn nhiều so với đền Grand Jaguar, nhưng đặc điểm thiết kế của hai ngôi đền này lại tương đồng đến kỳ lạ. Cả hai cấu trúc cổ xưa này đều có lối đi bậc thang ở giữa. Tuy nhiên, điều đặc biết nhất là các mặt xung quanh ngôi đền cũng được làm theo dạng bậc thang.
Trên đỉnh ngôi đền là một khu vực có cấu trúc mái vòm, ở đó có một cánh cửa nhỏ dẫn vào bên trong đền và bố trí bên trong là giống nhau. Đây là hai nền văn minh cổ đại nằm cách nhau 14.000 km, một ở Campuchia và một ở Trung Mỹ, nhưng chúng lại giống nhau đến kinh ngạc.
ngôi đền cổ, giong nhau,
Đền Grand Jaguar. (Ảnh: commons.wikimedia.org)
Bất ngờ hơn là mãi cho đến thời gian gần đây các học giả mới nhận ra sự tương đồng của hai cấu trúc này, và họ cũng phát hiện nhiều cấu trúc khác trên toàn thế giới có những điểm giống nhau nhất định.
Vậy lời giải thích cho sự giống nhau này là gì? Phải chăng cả hai nền văn minh cổ đại này đều xây dựng đền thờ trên cùng một bản thiết kế? Nhưng ai là tác giả của bản thiết kế đó?
Thần đã giúp đỡ con người?
Theo truyền thuyết của Campuchia thì khu đền thờ Angkor do Preah Pisnokar, một nhân vật nửa thần nửa người thiết kế. Ông được biết đến là con của nữ thần Mặt trăng. Một ngày nọ, nữ thần đã quyết định đưa Pisnokar lên thiên thượng để được thần Indra truyền dạy toán học, kỹ thuật, kiến trúc và nhiều ngành khoa học khác.
Các bản thảo của Maya cũng viết rằng, thần Kukulkan chịu trách nhiệm thiết kế các công trình kim tự tháp và đền thờ. Ông cũng là vị thần đã dạy cho con người những kiến thức về toán học, kỹ thuật và các ngành khoa học khác, về cơ bản là gần giống với câu chuyện của Pisnokar.
Kukulkan được cho là đến từ một ngôi sao khác. Trong thần thoại Maya cổ, Kukulkan được miêu tả là một con rắn có lông vũ, nhưng hình ảnh khác của ông là một người cao lớn đội mũ giống phi hành gia và ngồi trong quả trứng trông như một chiếc tàu bay.
Theo thần thoại Trung Mỹ, ông là người thầy mang lại kiến thức cho người Maya. Nói cách khác, nếu lý giải theo thuyết phi hành gia cổ đại, thì Kukulkan là một người ngoài Trái đất.
Qua hai câu chuyện này, chúng ta có thể thấy sự tương đồng thú vị giữa nền văn minh Maya và Campuchia cổ. Phải chăng hai “kiến trúc sư” kỳ lạ này thực sự có mối liên hệ nào đó với nhau? Và phải chăng đây chính là minh chứng cho một thế lực siêu nhiên đứng sau tất cả các công trình khổng lồ trong thế giới cổ đại?
Hoàng An


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giả ngu:

Vì sao cử tri Đà Nẵng lại gọi Vũ “nhôm” là “Mafia”?

Tại thời gian Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng đã có buổi tiếp xúc với cử tri quận Cẩm Lệ chuẩn bị cho Kỳ họp thứ tư, Quốc hội khóa XIV. Một cử tri đã đặt ra câu hỏi: ““Vũ “Nhôm” là ai mà người ta đặt ra biệt danh mafia của Đà Nẵng? Tại sao để Vũ “Nhôm” tác động nhiều đến Đà Nẵng như thế? Vũ “Nhôm” không chỉ thao túng kinh tế mà còn thao túng cả chính quyền Đà Nẵng? Nếu đúng như vậy thì xử lý như thế nào?”.
Phan Văn Anh Vũ, thường được gọi với cái tên Vũ Nhôm
Vũ “nhôm” và những điều khuất tất ở Đà Nẵng
Có lẽ câu hỏi “Vũ Nhôm là ai?”, mà cử tri Đà Nẵng đặt ra trong buổi tiếp xúc cử tri của Đoàn đại biểu Quốc hội TP Đà Nẵng vẫn còn bị bỏ ngỏ. Có lẽ người dân Đà Nẵng thừa hiểu Vũ “nhôm” là ai, là người như thế nào, thâu tóm một phần quyền lực chính trị ra làm sao… Nhưng để làm rõ hơn vấn đề này, hãy cùng làm rõ vì sao nhân vật này có tầm ảnh hưởng lớn đến như vậy.
Phan Văn Anh Vũ, thường được gọi với cái tên Vũ Nhôm, là một người rất kín tiếng trước truyền thông nên gần như mọi thông tin về Vũ đều ít người biết, thậm chí người dân Đà Nẵng cũng chỉ biết cái tên Vũ “nhôm” chứ không hề biết tên khai sinh của con người này.
Vũ là chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Nova Bắc Nam 79, có trụ sở tại TP HCM và là người đại diện pháp luật của Công ty Cổ phần xây dựng Bắc Nam có trụ sở tại Đà Nẵng. Mọi người chỉ biết đến Vũ “nhôm” trong khoảng thời gian từ đầu năm 2017 trở lại đây. Có thể sự việc này bắt nguồn từ việc doanh nghiệp tặng xe “bất thường” cho TP Đà Nẵng, khiến Thủ tướng phải vào cuộc và có văn bản giao Bộ Tài chính, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp kiểm tra làm rõ.
Rồi cho đến hàng loạt sự việc “rùm beng” xảy ra tại Đà Nẵng như Biệt thự ở bán đảo Sơn Trà, ai tiếp tay cho doanh nghiệp xé rừng?, sai phạm của chủ tịch UBND Đà Nẵng – Huỳnh Đức Thơ và Bí thư thành ủy Đà Nẵng – Nguyễn Xuân Anh… thì cái tên Vũ “nhôm” mới dần được hé lộ phía sau bộ máy quản lý nhà nước Đà Nẵng.
Cái tên Vũ “nhôm” có tầm ảnh hưởng như thế nào vào hệ thống quyền lực nhà nước, quyền lực chính trị của TP Đà Nẵng như thế nào, thì hãy cùng xem những dự án đất “vàng” của thành phố mà Vũ nắm giữ. Bộ Công an đã đề nghị chủ tịch UBND TP Đà Nẵng hợp tác cung cấp tài liệu để điều tra 9 dự án và 31 nhà, đất công ở Đà Nẵng.
Vũ cùng một số người thân trong gia đình mình nắm giữ gần rất nhiều vị trí bất động sản mà “nhiều doanh nghiệp mơ ước”. Từ công viên Vân Đồn; trường mầm non ABC; một phần khu đô thị quốc tế Đa Phước; một số biệt thự, nhà cao tầng tại khu du lịch ven biển đường Trường Sa;… đến 31 nhà, đất công của thành phố, mà trong số đó có căn nhà số 45, 47 đường Nguyễn Thái Học của Bí thư thành ủy Đà Nẵng.
Điểm chung ở hầu hết các dự án, khu đất, nhà công mà cơ quan điều tra đều có tên của các doanh nghiệp Công ty cổ phần Bắc Nam 79, Công ty cổ phần 79, Công ty I.V.C, Công ty Minh Hưng Phát… Mà các công ty này lại phần lớn liên quan đến cái tên Phan Văn Anh Vũ – tức Vũ “nhôm”.
Câu hỏi đặt ra ở đây là tại sao Vũ lại có thể thao túng được các dự án đất và nhà đó mà không phải là doanh nghiệp khác? Một điểm chung nữa là tại sao các dự án này đa phần không thông qua hình thức đấu giá, mà lại được chuyển sang doanh nghiệp một cách rất đơn giản khiến có thể dẫn đến tình trạng thất thoát tài sản như vậy?
Việc thất thoát đó diễn ra như thế nào hãy thử kiểm chứng ở việc công ty TNHH Daewon Cantavil ký thỏa thuận đầu tư, giao quyền sử dụng cho Công ty Cổ phần 79 khu đất 29ha thuộc dự án Sân golf Đa Phước nằm trong Khu đô thị Vầng Trăng Khuyết Đà Nẵng với giá thấp hơn giá thành phố quy định. Từ đó đã gây ra việc làm lợi cho Công ty Cổ phần 79 hơn 579 tỷ đồng.
Vũ “nhôm” có phải là Mafia thật sự?
Đà Nẵng từ khi nào chuyển thời từ thành phố đáng sống lại bị chuyển thành “thành phố đáng điều tra” đến như vậy? Từ khi nào mà Vũ lại có thể “một tay che cả bầu trời”, ngang nhiên làm mọi việc mà không cần lo sợ các sai phạm? Nếu Vũ là một Mafia thật sự thì phía sau Vũ ít nhất phải còn một thế lực nào khác lớn hơn, cứng rắn hơn mới có thể “chống lưng” và “tạo dây an toàn” cho Vũ “làm mưa làm gió” hiên ngang cả một vùng đến như vậy.
Đà Nẵng là một thành phố trung ương, đầu tàu kinh tế của khu vực miền Trung và cả nước. Từ lâu, Đà Nẵng đã được coi là mảnh đất “thiên thời – địa lợi – nhân hòa”, nên thành phố này rất phát triển và được coi là “một trong những thành phố đáng sống trên thế giới”.
Nhiều năm liền, Đà Nẵng đã được vinh danh ở vị trí cao nhất trong Bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI). Các chỉ số này được dựa trên các tiêu chí: “Gia nhập thị trường; Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong sử dụng đất; Tính minh bạch; Chi phí thời gian; Chi phí không chính thức;Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh; Cạnh tranh bình đẳng; Dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp; Đào tạo lao động; Thiết chế pháp lý”. Nhưng thực sự, nếu xét dựa trên một số yếu tố trên thì gần như chúng ta đã biết cách Vũ thâu tóm thị trường “ngầm” như thế nào.
Hoạt động thâu tóm thị trường đất và nhà của Vũ “nhôm” cũng giống như hoạt động của thế lực Mafia, các “bố già” của Nga những năm của thập niên 1990. Những kẻ lũng đoạn kinh tế quốc gia, nắm khả năng thọc sâu vào hệ thống tài chính – kinh tế đất nước với sự giúp đỡ của các nhóm lợi ích.
Bài học của nước Nga ngày hôm qua, khi hôm nay chúng ta soi rọi vào Đà Nẵng lại chẳng thấy phần nào cũ, càng không cũ với một đất nước đang phát triển như Việt Nam, nơi bắt đầu đã lộ diện một số các nhóm lợi ích, thế lực ngầm như hiện nay.
Những thế lực Mafia đứng sau hệ thống chính trị của Liên Xô khi đó là một phần của nguyên nhân dẫn đến sự tan ra của Liên Xô và các nước Đông Âu. Tổng thống Mikhail Gorbachev, lần đầu tiên nói đến chính sách perestroika (tái cấu trúc) và glasnost (công khai) vào năm 1985, đây là cơ hội mần nảy của một nhóm tài phiệt, mà phương Tây vẫn gọi là “Mafia đỏ”. Ý chỉ nói sự lũng đoạn của nhóm lợi ích Oligarch – ý chỉ một nhóm “đầu sỏ” đứng sau điều hành chính trị.
Sáu cái tên Mikhail Khodorkovsky, Berezovsky, Vladimir Gusinsky, Smolensky, Luzhkov và Chubais đã trở thành trùm tài phiệt – Mafia của Liên Xô, nhờ vào việc làm giàu trong bóng tối đầy mờ ám và gian trá phía sau hệ thống chính trị nước này.
Sự xuất hiện của các Mafia này dẫn đến bối cảnh giá trị hàng hóa được bán với giá vô cùng rẻ mạt, đặc biệt là các công ty nhà nước. Chẳng hạn như, hãng xe Zil nổi tiếng của nước này có 100.000 công nhân – mà được chuyển nhượng với giá vỏn vẹn 16 triệu USD. Thị trường chuyển nhượng của Mỹ khi đó có giá 100.000 USD/công nhân, trong khi lúc đó các trùm Mafia nước này tác động vào làm giá hạ thấp tới 100-500 USD/đầu người.
Bằng những minh chứng ở trên, thì việc cử tri Đà Nẵng ví Vũ “nhôm” như một ông trùm Mafia của thành phố cũng không có gì là sai. Bởi tính đến số dự án đất và nhà mà Vũ nắm giữ và có liên quan thì gần như đều chiếm các vị trí đất vàng, đất công của thành phố. Vũ “nhôm” cùng gia đình mình nắm quyền ở gần như hầu hết các lĩnh vực trường học, quán Bar, nhà ở, biệt thự, công viên, nhà công…
Một ví dụ điển hình đó là việc ông Nguyễn Xuân Anh – nguyên Bí thư Đảng ủy Đà Nẵng với những sai phạm vừa qua. Các sai phạm của ông Xuân Anh gần như đều liên quan một phần của “thế lực ngầm” đứng sau đã tiêu khiển.
Từ một người đã khẳng định câu chắc nịch: “ngoài căn nhà số 43 đường Nguyễn Thái Học, tôi không có một m2 đất nào khác. Nếu ai phát hiện tôi có lô đất nào tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm, thậm chí từ bỏ chức vụ hiện tại”. Nhưng thực tế thì ngoài căn nhà số 43, ông Xuân Anh còn được “hưởng thụ” 2 căn nhà “tuy 2 là 1”.
Bên cạnh đó, điểm nổi bật trong sai phạm của ông Nguyễn Xuân Anh nữa đó là 1 chiếc Toyota Avalon, đời 2016 trị giá hơn 1 tỷ đồng để chuyên đưa đón ông Nguyễn Xuân Anh đi làm và cho rằng chiếc xe này chở người Bí thư của một thành phố trực thuộc Trung ương lại gắn biển số giả.
Nguyễn Xuân Anh – một cái tên từ Bí thư trẻ nhất đến kỷ luật thôi chức ủy viên Trung ương Đảng. Tất nhiên, Nguyễn Xuân Anh không thể một tay lũng đoạn cả thành phố được. Nếu có thì đó là ai?
Ai đưa Vũ “nhôm” trở thành cái tên đáng sợ ở thành phố đáng sống? Từ thành phố đáng sống mà Đà Nẵng đã trở thành tâm điểm “tối tăm” của dư luận là từ đâu? Có hay không những Mafia và có hay không mối liên kết của những tên tài phiệt với chính quyền các cấp và chính trị của thành phố?
Có lẽ câu trả lời chính xác nhất, thuyết phục nhất dư luận cần đợi kết luận của cơ quan điều tra trong thời gian tới.
nguồn : Quochoi.org

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuốn tiểu thuyết vĩ đại về Chiến tranh Việt Nam không được viết bởi người Mỹ




Biên dịch: Phan Thiên Lý | Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng

Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi đó mang tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Là một cô gái nông thôn đã sống sót qua chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở làng quê của mình, bà chuyển tới Đà Nẵng để trốn chạy sự áp bức của cả phía Cộng sản lẫn phía người Việt chống Cộng. Năm 1972, bà kết hôn với một người Mỹ và chuyển tới Hoa Kỳ, và năm 1989 bà xuất bản cuốn tự truyện chấn động về tình trạng bị mắc kẹt giữa hai phía, When Heaven and Earth Changed Places (“Khi đất trời đảo lộn”). Tới năm 2017, đây có lẽ vẫn là cuốn tự sự ngôi thứ nhất duy nhất bằng tiếng Anh về trải nghiệm của những người dân quê Việt Nam mắc kẹt giữa hai chiến tuyến trong Chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, bà Hayslip là hiện thân cho định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt Nam, một bản sắc bao trùm cả những người Việt ở Việt Nam lẫn ở hải ngoại, cũng như cả những người viết bằng tiếng Việt hay các ngôn ngữ khác, mà trong trường hợp này là tiếng Anh.

Tôi tình cờ đọc cuốn sách của bà hồi còn là sinh viên trường Berkeley đầu những năm 1990. Cuốn sách khiến tôi vô cùng xúc động, không chỉ bởi đây là một cuốn hồi ký đầy lôi cuốn, mà còn bởi nó là một trong số ít sách của tác giả người Việt viết bằng tiếng Anh. (Bà viết cuốn sách cùng với Jay Wurts.) Khi tìm kiếm lịch sử của chính mình, một người Việt tị nạn được đưa tới Mỹ bởi một cuộc chiến của Mỹ ngay tại quê hương mình, tôi không tìm thấy nhiều thông tin bằng tiếng Anh, dù là bản gốc hay bản dịch. Số lượng tràn ngập các tác phẩm ở Mỹ về cuộc chiến ấy đều là do người Mỹ viết, và không ngạc nhiên khi chúng đều viết về người Mỹ.

Có một vài ngoại lệ. Trần Văn Dĩnh là một cựu viên chức ngoại giao của miền Nam, Việt Nam Cộng hòa, người ở lại Mỹ và viết hai cuốn tiểu thuyết về Chiến tranh Việt Nam, No Passenger on the River (“Sông không lữ khách,” 1965) và Blue Dragon, White Tiger (“Lam long, bạch hổ,” 1983). Là một đứa trẻ biết nhận thức sớm và đọc mọi thứ có thể về cuộc chiến, tôi gặp cuốn thứ hai trong thư viện cộng đồng ở quê nhà San Jose, California, và cảm thấy bối rối trước sự dị thường của cuốn sách. Từ khi đó tôi đã biết thật hiếm mà tìm thấy được các cây bút Việt Nam ở Hoa Kỳ nói về cuộc chiến này, hay nghe thấy tiếng nói của người Việt trong dòng chính ở Mỹ.

Đắm chìm trong các câu chuyện, cảm xúc, và ký ức của cộng đồng tị nạn người Việt nơi tôi lớn lên, tôi đã quyết tâm kể lại một vài câu chuyện, bởi tôi biết người Mỹ nhìn chung biết rất ít về những câu chuyện này. Chỉ có một nhóm nhỏ người Mỹ tin rằng việc hiểu thêm về tiếng nói và trải nghiệm của người Việt là cần thiết và cấp bách, mà nếu không có chúng thì người Mỹ sẽ không bao giờ có hiểu biết trọn vẹn về Chiến tranh Việt Nam. Sự thiếu hiểu biết của người Mỹ về lịch sử, văn hóa, và chính trị Việt Nam đã góp phần kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến và một đất nước mà họ không hiểu. Sự thiếu hiểu biết này có lẽ còn tiếp diễn đến ngày hôm nay, xét cả về những điều người Mỹ tiếp tục thờ ơ về Việt Nam và những điều người Mỹ từ chối tìm hiểu về Trung Đông. Văn chương đóng vai trò quan trọng như một cách sửa chữa sự thiếu hiểu biết này.

Nghĩ lại về Trần Văn Dĩnh, tôi tự hỏi ông có cô đơn không khi là tiểu thuyết gia người Việt duy nhất ở Mỹ vào thời của ông. Ngày nay chúng ta không thiếu người Mỹ gốc Việt viết bằng tiếng Anh, cũng như các bản dịch tiếng Anh của văn chương tiếng Việt. Nhưng nhận thức về sự tồn tại của nền văn chương này vẫn còn hạn chế. Đối với phần lớn người Mỹ và thế giới, “Việt Nam” có nghĩa là “Chiến tranh Việt Nam,” và Chiến tranh Việt Nam có nghĩa là chiến tranh của Mỹ, với những cuốn tiểu thuyết của đàn ông Mỹ viết về lính Mỹ. Mặc dù trải nghiệm của họ cũng quan trọng, họ khó mà đại diện được cho Chiến tranh Việt Nam, chứ chưa nói đến Việt Nam.

Như nhà văn Lê Thị Diễm Thúy và nhiều người khác đã nhắc đi nhắc lại, Việt Nam là một đất nước, chứ không phải là một cuộc chiến. Chỉ cần đọc tập truyện ngắn Tướng về hưu của nhà văn bậc thầy Nguyễn Huy Thiệp là hiểu được điều này. Các truyện ngắn của ông đã hé lộ những điều phức tạp trong cuộc sống thời hậu chiến ở một đất nước Việt Nam vỡ mộng, vốn đang đấu tranh để tái thiết chính mình và điều hòa giữa một bên là những thói đạo đức giả và thất bại của người Việt Nam cũng như nhà nước Việt Nam, với một bên là những lời ca ngợi thời chiến hào hùng của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chiến tranh cũng định hình nên một thế hệ, và những hệ quả của nó lại định hình thế hệ tiếp theo, như bà Thúy đã thể hiện trong cuốn The Gangster We are All Looking For (“Gã du đãng mà chúng ta đều đang tìm kiếm”).

Cuốn tiểu thuyết trữ tình này kể về câu chuyện của một cô gái trẻ tị nạn ở San Diego, người có gia đình phải chịu nỗi ám ảnh bởi chấn thương tâm lý của người cha từng đi lính và cái chết của người anh trai, vốn bị lạc trong chuyến đi tị nạn. Giống như đa số tác phẩm văn chương của người Việt và người Mỹ gốc Việt viết về cuộc chiến, tiểu thuyết của bà cho thấy chiến tranh tác động đến nhiều người hơn chứ không chỉ những người lính hay những người đàn ông. Chiến tranh Việt Nam đã không được chú ý nhiều ở khía cạnh số lượng dân thường bị sát hại nhiều hơn binh lính, và ở khía cạnh hàng triệu người dân bị biến thành người tị nạn mà trải nghiệm của họ còn đau thương hơn nhiều so với trải nghiệm của nhiều lính Mỹ chưa bao giờ thực sự thấy cảnh chiến trường. Văn chương của người Mỹ gốc Việt buộc độc giả phải thừa nhận rằng định nghĩa hẹp về chiến tranh chỉ phác họa người lính là thiếu chính xác.

Hết lần này đến lần khác, văn chương của người Mỹ gốc Việt cho thấy tác động tổn thương tâm lý của chiến tranh lên dân thường và người tị nạn (như cuốn tiểu thuyết thể loại noir về băng đảng của Vu Tran, Dragonfish (“Cá rồng”); hay tập truyện We Should Never Meet (“Chúng ta không nên gặp nhau”) của Aimee Phan, viết về những đứa trẻ mồ côi người Việt và con lai Mỹ Á; hay cuốn The Lotus and the Storm (“Hoa sen và bão tố”) của Lan Cao, kết nối giữa Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Iraq; hay cuốn Where the Ashes Are (“Ở nơi tro tàn”) của Nguyen Qui Duc, viết về việc người cha của chính tác giả, một quan chức của chính quyền Nam Việt Nam, bị bỏ tù); sự tái định hình đầy tàn khốc của chiến tranh lên cuộc sống người Việt thời hậu chiến (như hồi ký của Andrew X. Pham về chuyến đạp xe xuyên Việt, Catfish and Mandala(“Cá da trơn và Mạn đà la”); hay tác phẩm châm biếm thô ráp về nạn tham nhũng kinh tế ở Sài Gòn của Linh Dinh, Love Like Hate (“Yêu như ghét”); hay cuốn She Weeps Each Time You’re Born (“Bà khóc mỗi lần bạn sinh ra”) của Quan Barry, viết về tài năng đáng chú ý của một nhà ngoại cảm cảm nhận được nỗi đau của những người sống sót); sự hiện diện ám ảnh của cuộc chiến trong thế hệ thứ hai của những người tha hương (như cuốn hồi ký bằng tranh đầy mạnh mẽ của Thi BuI, The Best We Could Do (“Điều tốt nhất chúng ta làm được”); hay cuốn tiểu thuyết Grass Roof, Tin Roof (“Mái cỏ, mái tôn”) của Dao Strom, viết về một người phụ nữ Việt Nam kết hôn với một người Mỹ và ảnh hưởng của cuộc hôn nhân lên những đứa con của họ; hay cuốn hồi ký của Bich Minh Nguyen về việc lớn lên ở vùng Midwest, Stealing Buddha’s Dinner(“Trộm đồ cúng Phật”); hay cuốn Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora (“Những giấc mơ hương: Chiêm niệm về người Việt tha hương”) của Andrew Lam); hay dấu hiệu của cuộc chiến trong quá khứ người Việt (như cuốn The Book of Salt (“Sách muối”) của Monique Truong, viết về đầu bếp người Việt của Gertrude Stein và cuộc gặp của anh ta với Hồ Chí Minh; hay cuốn The Sacred Willow: Four Generations in the Life of a Vietnamese Family(“Cây liễu thiêng: Bốn thế hệ trong cuộc sống của một gia đình Việt”) của Duong Van Mai Elliott).

Danh sách vẫn còn dài. Văn chương của người Việt và người Mỹ gốc Việt đang ở ngoài kia chờ đón bất cứ ai biết sử dụng Google. Thế nhưng rất nhiều người ở Mỹ và các nước khác thà không muốn biết đến, hay khi một tác giả người Việt mới được xuất bản, họ sẽ nói “Cuối cùng cũng có một tiếng nói cho người Việt Nam!” Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói, vì người Việt thì rất ồn ào. Chỉ là tiếng nói của họ thường không được lắng nghe bởi những người không hiểu người Việt, hay những người chỉ muốn nghĩ đến người Mỹ khi nghe thấy từ “Việt Nam,” hay những người chỉ dành chỗ cho một cuốn sách duy nhất của người Việt trong đề cương khóa học mà họ dạy, như một thực tế trong vô cùng nhiều lớp đại học về Chiến tranh Việt Nam, cho dù cuốn sách đó có đáng đọc như cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm kinh điển về chiến tranh của Bắc Việt – nó còn là cuốn tiểu thuyết kinh điển về chiến tranh của bất cứ thời đại nào và ở bất cứ đâu.

Về phần Đảng Cộng sản Việt Nam, họ cũng thà không nghe thấy những tiếng nói nhất định. Ngay cả Bảo Ninh giờ cũng bị bắt im lặng, cũng giống như người đồng hương của ông, Dương Thu Hương, một cựu thanh niên xung phong miền Bắc vỡ mộng bị lưu đày vì những tiểu thuyết chống Cộng gây lo ngại thời hậu chiến, những cuốn như Tiểu thuyết vô đề và Những thiên đường mù. Về phần những tiếng nói người Mỹ gốc Việt, dù đôi khi chúng tôi vẫn được lắng nghe ở đây – và rồi thường bị quên lãng – chúng tôi hiếm khi được lắng nghe ở Việt Nam. Chúng tôi là những kẻ thua cuộc, những kẻ phản bội, những kẻ bất đồng chính kiến, hay chỉ đơn giản là những kẻ ngoài cuộc thấy được cái hư không đằng sau một đảng ca ngợi chủ nghĩa cộng sản trong khi đang điều hành đất nước như một chế độ độc tài tư bản chủ nghĩa.

Giống như Le Ly Hayslip, chúng tôi bị mắc kẹt giữa hai bên, Việt Nam và Mỹ, tiếng Việt và tiếng Anh, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Một tình cảnh khó khăn như vậy lại có ích cho các nhà văn. Sự bất an khiến chúng tôi viết ra những câu chuyện của mình, lặp đi lặp lại, với hy vọng có thể thay đổi những điều mà người ta vẫn nghĩ đến khi nghe thấy hai chữ “Việt Nam.”

Viet Thanh Nguyen  ( là tác giả của cuốn Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War và gần đây nhất là tập truyện ngắn mang tên The Refugees).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

MAO TRẠCH ĐÔNG.



Thơ Trần Mạnh Hảo.

Đề từ : " Bác Mao không ở đâu xa
Bác Hồ ta đó chính là Bác Mao" ( Thơ Chế Lan Viên -1956)

Trán Người cao hơn nghìn núi sọ 
Mặt Người mênh mông hơn niềm hư vô thần linh 
Tháng chạp Hồ Nam tuyết rắc đầy lông cáo 
Sông Dương Tử ám như ma dìm chết đuối Động Đình

Người pha tư tưởng thành máu mực 
Loãng tâm hồn cháo huyết Trung Hoa 
Xã tắc đựng vừa tay nải 
Hành khất máu xương hề 
Người cái bang hề vĩ đại 
Cân hàng triệu sinh linh trên một chiếc cân ruồi

Vĩ nhân Diên An 
Đâu những đám mây ròng ròng phép lạ 
Có lời Người bàn 
Cá cũng hoá thành chim

Giang Thanh – Em – Nền Văn Nghệ mới 
Duy vật đôi mông nàng là biện chứng mù sương 
Lịch sử – con chiến mã Người phi nước đại 
Quất ngọn roi giai cấp hoá thiên đường

Cách Mạng là công cuộc bắt bướm 
Bắt sạch bướm trong giấc mơ thiên hạ 
Khinh bọn mây trắng phi lập trường, phi hiệu quả 
Con trâu điếc Lão Đam mê đàn Đông Phương Hồng 
Người xin thề với mênh mông: 
– Không đi chung đường cùng chim sẻ!

Vầng trăng Hạ Cơ điên đầu trời bể 
Thích thằng Cuội thủ dâm tư tưởng chị Hằng 
Người – bông lau đen đêm quạ trắng 
Người đếm cát Gô-Bi trong bão thốc trường thành 
Bão tuyết nuôi bạc đầu Bột Hải 
Thèm đập vỡ sọ người tìm mâu thuẫn trời xanh!

Máu Trung Hoa trắng rợn da ngựa 
Cho thuỳ dương xoã hết tóc Đường Thi 
Người mắc bệnh nghi mình là tượng 
Cả Trung Hoa lên cơn nghiền lý tưởng 
Người cầm cơn hồng vệ binh như cầm một tách trà 
Hoàng Hà đỏ đổ từ trời như bị cắt tiết

Tư duy là trò chơi chán chết 
Làm mặt trời hay hơn làm thơ 
Thử lấy máu tạo phản trò nước mắt 
Tiếc không Tần Thuỷ Hoàng toạ một ván cờ 
Buồn trời đất chỉ sinh mình Gia Cát 
Cười mẩu đại bàng cao hơn Thái Sơn

Đêm hồn Người chớp liên hồi như đạn hoả mai Thái Bình Thiên Quốc 
Đêm Hồ Nam khét lẹt tiếng mèo gào 
Phải ăn sạch giấc hoè thiên hạ 
Tuyết trái mùa làm đất mọc lông mao...

Sài Gòn 27-2-1994

T.M.H.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thiện, Ác và Smartphone


Bình An

(TBKTSG) - Mới đây, Tiến sĩ Đặng Hoàng Giang, tác giả của cuốn sách rất nổi tiếng trước đây là Bức xúc không làm ta vô can đã cho ra đời cuốn sách thứ hai với tựa đề Thiện, Ác và Smartphone cũng với nội dung phân tích các vấn đề xã hội nóng bỏng. Cuốn sách này như một tấm gương mà mỗi người dùng Internet trong thế giới hiện đại có thể soi vào, đôi khi bất giác nhận ra mình, hoặc chủ tâm hoặc vô thức cũng đã từng có những hành động “xấu xí” trên mạng, để từ đó tự nhắc nhở và điều chỉnh mình.

Điểm nổi bật nhất trong cuốn sách là dù bàn đến các sự việc cũng như các khái niệm tương đối trừu tượng nhưng lại tràn ngập các ví dụ và dẫn chứng cụ thể. Nội dung cuốn sách chỉ có tổng cộng 272 trang nhưng có tới 197 chú thích, đồng nghĩa với việc cứ hai trang sách lại có trung bình hơn một ví dụ từ sự việc thực tế hoặc các trích dẫn từ các bài báo trong nước, các công trình nghiên cứu nước ngoài. Điều này khiến cho những kiến giải và lập luận của tác giả trở nên vô cùng sống động và thuyết phục.

Tác giả đã đề cập đến khái niệm “căm ghét” qua trải nghiệm không thể nào chân thực hơn của chính ông khi ở trong tâm của một cơn bão căm ghét trên mạng. Tác giả đã ghi lại một cách rõ ràng những cung bậc cảm xúc mà chính ông đã trải qua trong “bảy bước đi của căm ghét”, từ “mặt nóng bừng, khó khăn để tập trung, choáng váng, hoa mắt, không biết phải ứng xử thế nào trước mỗi like, comment động viên hoặc chỉ trích”, rồi đến “không ngủ được, hình dung ra đám đông đang đắc thắng vui cười”... Với tất cả những cảm xúc đó, người đọc như được chứng kiến từng phút sống động của người trong cuộc, từ đó thấu hiểu, thông cảm được nỗi đau của những nạn nhân từ cơn bão căm ghét trên mạng.

Nhưng có lẽ, điểm giá trị nhất của Thiện, Ác và Smartphone lại nằm ở những chương cuối. Sau khi đã đưa người đọc đi qua hết những cảm xúc buồn bã, bức xúc, phẫn nộ, xấu hổ khi chứng kiến những cuộc làm nhục tập thể trên mạng, tác giả đã đưa ra những giải pháp giúp chúng ta “giã từ văn hóa làm nhục”. Đó trước hết phải là một thái độ điềm tĩnh, khoan dung trước các chỉ trích, phê bình. Kế đến là bốn bước của nghệ thuật phê bình người khác - thứ vô cùng thiếu trong văn hóa tranh luận hiện nay, đặc biệt là tranh luận trên mạng khi các bên thường “bỏ bóng đá người”, quên chủ đề chính mà quay sang tấn công nhân cách của người có quan điểm khác biệt. Và cao hơn một bước nữa, tác giả đưa ra những kiến giải về sự tha thứ, nhân phẩm và lòng trắc ẩn. Đây đều là những khái niệm vô cùng nhân văn, đòi hỏi người thực hành không những có trái tim rộng lớn để “đổi kính nhìn”, đặt mình vào hoàn cảnh người khác để thấu cảm mà còn cần có lý trí đủ mạnh, nỗ lực đủ lớn để chống lại bản năng tự vệ khi bị chỉ trích, thay đổi con tim, thay thế giận dữ và căm ghét bởi thiện chí và sự thanh thản. Cụ thể hơn nữa, tác giả khuyến khích mọi người tham gia vào “dự án trắc ẩn” với việc “cố gắng tích điểm ba lần mỗi ngày: làm một cử chỉ tử tế, dừng lại một lời nói có thể gây tổn thương và hóa giải một cơn cáu giận”. Nếu làm được như vậy, mỗi người sẽ là một cái cây khỏe mạnh và xanh mát.

Tổng kết lại, Thiện, Ác và Smartphone là một cuốn sách rất đáng đọc. Xã hội đang rất cần những “con dao mổ lạnh nằm trong những bàn tay ấm” như Đặng Hoàng Giang (lời của một nhà báo đã từng nhận xét về ông). 

Phần nhận xét hiển thị trên trang