Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 9 tháng 11, 2017

Người khổng lồ nhỏ bé màu trắng


Việc lập kế hoạch và tái thiết kế chiếc tàu du lịch thành tàu bệnh viện đã khiến cho tất cả những người tham gia rất đau đầu. Tàu bệnh viện, như tàu của Hải quân Mỹ, với chức năng của một bệnh viện có khả năng hoạt động đầy đủ, lớn hơn chiếc tàu bệnh viện của chúng tôi từ mười tới mười lăm lần. Làm cho một con tàu nhỏ trở thành một bệnh viện lớn, điều đó là không đơn giản. Nhưng cuối cùng thì cũng thành công, cho tới mức cả sau này, khi chúng tôi làm việc trên con tàu và thu thập kinh nghiệm, chúng tôi cũng hài lòng và không thể tìm thấy một giải pháp nào tốt hơn để phân chia và trang bị. Chỉ là thiếu chỗ ở khắp nơi.
Tàu Helgoland ở Việt Nam 1967
Tàu Helgoland ở Việt Nam 1967
Ít ra thì trên con tàu 3000 tấn này, bên cạnh chỗ ở và các phòng sinh hoạt cho thủy thủ đoàn và đội ngũ bệnh viện, bên cạnh phòng giặt riêng trên tàu và hai gian bếp – thức ăn Việt cho bệnh nhân được nấu trong một bếp đó – đã có thể bố trí được một trăm năm mươi giường bệnh trong ba khu với những phòng phụ thuộc của từng khu một, hai phòng phẫu thuật với phòng chuẩn bị gây mê, phòng rửa mặt, phòng khám tổng quát, góc bó bột và tiệt trùng, một phòng chụp X quang với phòng tối, một phòng thí nghiệm bệnh viện, một phòng thuốc, một trạm chữa răng, các gian phòng tắm và vệ sinh cho bệnh nhân, một lò đốt rác và một thiết bị khử trùng. Trang thiết bị, do được mua mới, rất hiện đại và có khả năng hoạt động cao, và khiến cho những người bác sĩ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm chúng tôi đã ganh tỵ với chúng tôi. Mặc dù sự chật chội trong các cabin và trong các phòng làm việc đã đặt ra nhiều yêu cầu cao cho tất cả những người sống và làm việc trên tàu, mỗi một nhân viên của con tàu bệnh viện trong hoàn cảnh khó khăn đó đều biểu lộ một kỷ luật tự giác rất tốt, và một tinh thần làm việc và sẵn sàng hoạt động xuất sắc. Trong khi đó thì những cabin mà các nam nữ y tá phải sống hai người trong một phòng không lớn hơi bốn mét vuông. Nếu một người sống trong cabin đi lại thì người kia phải ngồi trên giường và thu chân lên. Tất nhiên là khi ở Sài Gòn thì chúng tôi có thể xuống tàu và vào những cuối tuần không phải làm việc còn cố gắng đi xe ra bãi biển hay tổ chức một chuyến bay. Nhưng phần lớn thời gian thì chúng tôi ở trên tàu và phải đối phó với sự chật chội và va chạm với những người khác.
Sau khi công việc tái thiết kế hoàn thành và con tàu rời bến, tất cả chúng tôi đều thở phào và tin rằng đã vượt qua được những gì là khó khăn nhất. Nhưng chúng tôi đã lầm. Lúc rời bến, thuyền còn được nhét đầy hộp và thùng mà một phần lớn các trang thiết bị di động và tất cả dược phẩm vẫn còn ở trong đó. Chúng tôi đã cố gắng mang theo tất cả các loại thuốc cần thiết cho sáu tháng. Sau này mới biết, cũng như đã đoán trước đó, rằng thiếu một vài thứ mà chúng tôi rất cần ở Việt Nam.
Trong phần lớn của chuyến đi kéo dài ba mươi sáu ngày, chúng tôi làm việc từ sáng sớm cho tới tối với cây đục và kìm, mở tất cả ra và cố gắng tìm chỗ thích hợp cho mọi thứ. Ở Địa Trung Hải và sau đó trong Ấn Độ Dương, thùng các tông và thùng gỗ lắc lư trong luồng nước ở phía sau con tàu, cho tới tận chân trời. Các chi tiết cuối cùng của thiết bị được các nữ y tá hoàn thành, những người mãi ở Singapore mới lên tàu.
Trên boong tàu, chúng tôi đã cột chặt hai trạm khám đã được lắp đặt sẵn, những cái theo dự định sẽ được dựng lên trên đất liền ở Sài Gòn và chúng tôi sẽ bố trí phòng khám không nằm lại ở trong đó.
Khi tôi lần đầu tiên tiếp xúc với ý tưởng của chiếc tàu bệnh viện – lúc đó, nó còn là một ý tưởng – người ta dự định sẽ tiếp nhận bệnh nhân từ các bệnh viện trên đất liền. Nếu theo phương pháp này thì con số bệnh nhân trên tàu sẽ phụ thuộc vào tính hào hiệp của các bác sĩ làm việc ở trong các bệnh viện khác, và bác sĩ nào thì cũng có khuynh hướng nếu có thể sẽ giữ lại những bệnh nhân mà công việc chữa trị họ có nhiều thành công. Vì thế mà ngay từ đầu tôi đã ủng hộ việc xây một trạm đa khoa hay một phòng khám di động trên đất liền, cái có thể chuyển một phần lớn bệnh nhân phải nằm viện lên tàu.
Nhưng không ai có thể dự đoán trước được rằng việc xây dựng phòng khám này đã khiến cho chúng tôi phải cực nhọc cho tới đâu. Trong tháng 3, trong lúc chuẩn bị, chúng tôi đã chọn một nơi cho phòng khám đó trong số ba lựa chọn, trên khu đất của Hồng Thập Tự Việt Nam. Nó thỏa mãn hầu hết các yêu cầu – có điện và nước, khu đông dân cư, bệnh nhân từ Sài Gòn và Chợ Lớn có thể dễ dàng đi tới đó.
Trong tháng 3, mùa khô ở Sài Gòn gần chấm dứt và đất cứng như đá. Trong tháng 9, khi chiếc tàu đến, đất bùn đã mềm đi trong nửa sau của mùa mưa. Không thể tránh được nền bằng xi măng. Nhưng trong Sài Gòn của năm 1966, tạo ra hai nền nhà xi măng trong thời gian ngắn nhất là một công việc khó khăn. Đầu tiên là phải tìm được xi măng. Ngay cả trên chợ đen xi măng cũng hiếm. Cuối cùng, chúng tôi cũng ‘lo liệu’ được một số. Trong lúc đó, chỉ những cuộc thương lượng ở ‘cấp hạ sĩ quan’ là thành công, trên cấp đó không và dưới cấp đó cũng không. Con đường chính thức có thể sẽ giúp chúng tôi có được xi măng sau một vài tuần; nhưng như thế thì chúng tôi đã có nó chỉ sau hai ngày. Máy trộn xi măng còn khó kiếm hơn nữa. Cuối cùng, chúng tôi cũng có hai máy, nhưng cả hai đều không hoạt động; mãi cái thứ ba mới làm việc. Xe tải do Bộ Y tế Việt Nam hứa cung cấp để chuyên chở các trại đó từ trên tàu xuống nơi xây dựng đến thật đúng giờ. Nhưng mà rồi chúng tôi không có xi măng, rồi không có máy trộn, và tất cả lại bắt đầu lại từ đầu. Tôi đã ấn định rằng hai tuần sau khi chiếc tàu đến nơi, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị bệnh nhân. Hai tuần lễ đó đã trở thành hai tuần lễ mệt lử. Nhưng chúng tôi đã thành công và qua đó lần đầu tiên đã tạo được sự chú ý tại các nhà báo có mặt ở Sài Gòn trong lúc đó. Bên cạnh các nam y tá của bệnh viện, phần lớn thủy thủ đoàn cũng đã giúp đỡ chúng tôi với lòng nhiệt tình hết sức đặc biệt trong cuộc thử sức lớn đầu tiên này. Tất cả họ đã làm việc cho tới tận ranh giới của thể lực.
Tàu bệnh viện Helgoland ở Việt Nam, 1970
Tàu bệnh viện Helgoland ở Việt Nam, 1970
Bây giờ thì chúng tôi có thể bắt đầu với nhiệm vụ thật sự của chúng tôi: chữa trị miễn phí cho thường dân người Việt bị bệnh hay bị thương, những người không có tiền để chữa trị ở nơi khác và những người từ các lý do về kỹ thuật và nhân sự mà không thể được chữa trị ở nơi khác. Điều này được tiến hành dưới sự bảo vệ của Công ước Genève, cho nên chúng tôi hoàn toàn độc lập, trung lập và chỉ có trách nhiệm với người dân thường, không có trách nhiệm với thành viên quân đội.
Việc bây giờ là phải làm sao cho con tàu hoạt động theo một chức năng mà trước đây không có; với một đội ngũ thành hình một cách ngẫu nhiên, chữa trị cho bệnh nhân mà chúng tôi không biết nói ngôn ngữ của họ, không biết về tính tình, cung cách ứng xử và những điều không được nói ra của họ, trong một đất nước của vùng khí hậu bất lợi nhất – trong một đất nước đang có chiến tranh. Từ bây giờ trở đi, đối với phần lớn những người cộng tác của tôi và đối với tôi, hầu như ngày nào cũng là một ngày làm việc mười bốn tiếng. Thật ra thì chúng tôi muốn được khởi hành chậm hơn một chút và làm quen với công việc.
Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, với một lực mạnh không thể kiểm soát được, các bệnh nhân đã tràn ngập chúng tôi với số lượng nhiều cho tới mức mặc dù đã làm việc hết sức, chúng tôi cũng hầu như không thể giải quyết được toàn bộ. Thợ điện của trường kỹ thuật Đức trong Sài Gòn đã giúp đỡ trong lúc cấp bách và lắp đặt cho chúng tôi các thiết bị mà lẽ ra chính họ đã cần để xây lại ngôi trường của họ, đèn và quạt – sau này chúng tôi đã đền bù lại cho họ các vật liệu của họ. Cung cấp nước thì khó khăn hơn, nước chỉ nhỏ giọt ra từ hệ thống nước đô thị. Chỉ với nhiều mưu chước và mánh khóe mới có được nước máy. Mãi sau nhiều tuần, viên thuyền trưởng mới ‘mượn’ được một cái bồn nước, cái bảo đảm có được một dòng nước chảy liên tục.
Trước khi chúng tôi khai mạc phòng khám bệnh, chúng tôi đã ban hành một thông cáo qua Bộ Y tế Việt Nam mà trong đó chúng tôi loan báo bệnh nhân cần phải làm gì nếu muốn được chúng tôi điều trị và chúng tôi điều trị những bệnh nào. Vì chúng tôi không thể điều trị những bệnh kinh niên, bởi nếu thế thì chúng tôi sẽ hạn chế việc sử dụng con số ít các giường bệnh của chúng tôi, không điều trị bệnh lây nhiễm, vì chúng tôi chỉ có năm giường cách ly, và không điều trị bệnh tai mũi họng và mắt, vì không có các bác sĩ chuyên môn đó trong đội ngũ của chúng tôi.
Lúc ban đầu đã dự định có một chỗ cho bác sĩ nhãn khoa. Lúc đó chỉ có một người duy nhất sẵn sàng làm việc với chúng tôi ở Việt Nam. Người này là một người đàn ông chín mươi tuổi. Rất đáng tiếc là vì tuổi của ông mà tôi không thể nhận ông, vì chắc ông sẽ không chịu đựng được cuộc sống cực nhọc trên tàu, khí hậu và áp lực làm việc thật lớn này. Không một bác sĩ nhãn khoa trẻ hơn nào tình nguyện vào thời điểm đó. Sau này, khi công việc của chúng tôi đã tỏ rõ ra là thành công và dường như không phải là một nhiệm vụ tự sát, cũng có cả bác sĩ nhãn khoa tình nguyện làm việc ở Việt Nam. Lẽ ra thì họ đã có thừa công việc làm thú vị, vì chỉ có hai bác sĩ chữa mắt ở Nam Việt Nam. Nhưng lúc đó thì chính phủ liên bang [Đức] đã quyết định giới hạn hoạt động đã có của con tàu bệnh viện rồi và gạch bỏ các chỗ làm được dự định. Cả một bác sĩ tai mũi họng cũng đã được dự định, nhưng không có người xin việc thích hợp cho chỗ làm này. Lẽ ra là ông đã có thể làm việc rất có uy thế. Theo như tôi biết thì không có tới một bác sĩ tai mũi họng người Việt duy nhất.
Thật ra chúng tôi đã không cần đến cái thông cáo đó: chính các bệnh nhân đã bị các nơi khác từ chối vì không thể chữa khỏi được đã tràn ngập chúng tôi trong những tuần đầu tiên. Điều đó hết sức dễ hiểu, vì ai mà lại không với tay đến một cọng rơm khi mình bị bệnh không thể chữa lành được? Mãi sau ba tháng mới thành nề nếp, rằng chủ yếu chỉ có các bệnh nhân mà chúng tôi có thể điều trị tối ưu mới vào phòng khám của chúng tôi. Ở Việt Nam, ‘tuyên truyền miệng’ hữu hiệu nhiều hơn thông cáo báo chí, bài viết dài dòng, phỏng vấn và loan báo trên rađiô rất nhiều, không chỉ ở Sài Gòn, mà cả ở các tỉnh xa xôi hẻo lánh nữa.
Heimfried–Christoph Nonnemann
Phan Ba dịch

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bà Năm đi Mỹ


Phan Đức Minh - Cuộc đời của Bà quả là sướng như tiên ở Sài Gòn rồi còn chi nữa. Bảo đứa con gái út viết thư cho chị nó, Bà cứ bảo nó viết cái tên Sài Gòn, vưà quen, vưà gọn, vưà dễ nghe, chớ đâu lại có cái tên dài lòng thòng…Thành Phố Hồ Chí Minh, nghe mệt thấy mồ. 
Kết quả hình ảnh cho Chợ Bà Chiểu ở Sài Gòn
- Chợ Bà Chiểu ở Sài Gòn -
Mấy hôm nay, Bà Năm mất cả ăn, cả ngủ vì chỉ còn 1 ngày nữa thôi, sáng mai là Bà lên máy bay sang Mỹ đoàn tụ gia đình, sống với đứa con gái lớn đã sang sinh sống ở Mỹ dễ chừng hơn 2 chục năm rồi. Lâu lâu nó vẫn gửi thư cho Bà và gửi tiền nữa. Với số tiền 5, 6 trăm đô la mỗi lần nó gửi về, đem đổi ra tiền Việt Nam hơn chục triệu lận. Bà ngồi mà ăn, cúng vô chỗ này, chỗ nọ để lo cho kẻ nghèo khổ, giúp đỡ bà con, chòm xóm, kẻ nhiều người ít, cũng không cách nào cho hết.

Bà già rồi, sống với đứa con gái út, hàng ngày chỉ có việc ăn 2,3 bửa rồi đi đây, đi đó, thăm bà con, bè bạn. Về nhà thì mở Ti Vi , coi băng video cải lương , phim hài, phim chưởng… đủ thứ trên đời. Cuộc sống của Bà nghĩ thật sung sướng. Bao nhiêu người già cả ở quanh cái chợ Bà Chiểu, Quận Bình Thạnh nơi đất Sài Gòn này, ước mơ có được một phần cuộc sống của Bà mà đâu có được. Họ phải đầu tắt, mặt tối, chạy xuôi chạy ngược, buôn bán tảo tần nơi lề đường, hè phố, bị công an rượt đuổi chạy có cờ… để kiếm miếng ăn cho no cái bụng thôi mà cũng không nổi.

Bà Năm có đứa con gái vượt biển rồi đi Mỹ mà cuộc đời sướng như thế đó. Người ta bảo “Bà Năm ăn ở phúc đức lắm mới được đứa con gái như thế. Chớ biết bao nhiêu người, sinh con đẻ cái, gái trai cả bầy mà có làm nên cơm cháo gì đâu ? “.

Cuộc đời của Bà quả là sướng như tiên ở Sài Gòn rồi còn chi nữa. Bảo đứa con gái út viết thư cho chị nó, Bà cứ bảo nó viết cái tên Sài Gòn, vưà quen, vưà gọn, vưà dễ nghe, chớ đâu lại có cái tên dài lòng thòng…Thành Phố Hồ Chí Minh, nghe mệt thấy mồ.

Mỗi khi nhận được thư của đứa con gái từ Mỹ gửi về Sài Gòn cho Bà, có lúc kèm theo vài tấm ảnh… theo thói quen từ hồi có… “ loại thư Việt Kiều gửi về quê “, Bà lại dúi vào tay người đưa thư mấy ngàn bạc cho người ta vui vẻ, lương tiền nhà nước làm chi đủ sống . Chu cha ! Đất Mỹ đẹp quá trời ! Con Nguyệt, con gái Bà, nói nó ở thành phố San Diego, tiểu bang Ca-li, một thành phố đẹp lắm. Coi những tấm ảnh, Bà thấy thành phố San Diego quả là đẹp thật. Nhà cửa, đồ đạc, xe cộ của con gái Bà sao mà đẹp chi lạ! Hai đứa con trai của nó trong ảnh còn đẹp hơn cả mấy đứa trẻ trong những bức tranh Tầu ôm quả đào tiên nữa lận. Con Nguyệt nó bảo làm thủ tục bảo lãnh cho Bà sang Mỹ ở với nó. Nó bảo Bà già rồi, sang Mỹ khỏi có phải làm ăn chi hết, rồi ít lâu sau thành dân Mỹ, lại có tiền chính phủ nuôi, chỉ ở nhà chơi với cháu thôi. Bà muốn coi cải lương hả ? – Băng Video phim Việt Nam, phim Tầu, phim chưởng Hồng Kông nhiều vô số kể. Chẳng thiếu thứ gì. Nó mua, nó thuê về nhà cả thùng lận. Bà tha hồ mà coi. Bà muốn đi Chùa hả ? – Nó lái xe Mỹ, xe Nhật êm ru bà rù, chở Bà đi đây, đi đó, chỉ nháy mắt là tới nơi, chớ đâu có phải đi bộ mỏi cả giò, đổ mồ hôi hột hay đi xích lô chạy loạng quà loạng quạng, cứ như muốn ủi vào xe lam, xe đạp, xe Honda, ô tô con, ô tô mẹ , chạy tưới hạt sen, lộn xộn xà ngầu… kinh khủng, muốn chết quá!

Mấy năm trước, khi Ông Cụ còn sống mà ai nói tới chuyện kéo Ông đi Mỹ sống với con gái là Ông chửi toáng cả lên: ” Không có đi đâu cả ! Ở quê nhà với bà con, chòm xóm bạn bè, mồ mả Tổ Tiên không sướng hơn hay sao ? Tiền bạc nó gửi về, ngồi mà ăn đến chết cũng không hết. Già cả rồi, sang đó làm nên cái giống chi mà làm ? ”

Thế nhưng từ ngày Ông Cụ mất đi, Bà Cụ thấy buồn buồn làm sao ấy. Thiếu người bầu bạn. Đôi khi có cằn nhằn gấu ó với nhau về cái chuyện ” Đi hay ở ” thật đấy, nhưng lúc này Bà Năm mới cảm thấy cô đơn, cô đơn thưc sự. Người già có cái tình yêu thương cũng như nỗi cô đơn của người gia. Thế là càng ngày Bà càng cảm thấy cần phải đi Mỹ để sống với đứa con gái mà Bà từng mang nặng, đẻ đau, rồi còn gian nan về những phen chạy giặc, chiến tranh nữa chớ. Bà phải đi Mỹ để sống với hai đứa cháu ngoại trong ảnh thật dễ thương. Lắm lúc Bà ngồi một mình mà nước mắt rưng rưng, Bà thương đứa con gái hiếu thảo và hai đứa cháu ngoại quá chừng chừng…

Sáng nay, Bà gọi con Lan, đứa con gái út, dậy thật sớm để kịp ra phi trường Tân Sơn Nhất. Máy bay cất cánh lúc 7 giờø sáng nhưng xe đón từ lúc 5 giờ.ø Bà Năm có 2 đứa con gái, con Nguyệt là lớn, vượt biển đi Mỹ đã hơn 2 chục năm. Con Lan là thứ nhì mà cũng là út, lúc ấy còn bé tí ti. Bây giờ con Lan đã lớn tướng rồi, đã vào Đại Học và theo mấy khoá Tiếng Anh.Chị nó bảo ” Sang Mỹ, con Lan sẽ vào Đại Học, tha hồ mà học.” Con Lan đang ở cái tuổi mới lớn, nó còn thích đi Mỹ hơn cả bà Năm nữa, tuy rằng đi Mỹ thì nó phải xa vô số bạn bè, thân thiết, đã từng gắn bó với nhau trong những tháng ngày khốn khổ, gian nan, kinh hoàng nữa chớ. Nó nghĩ lại mới ngày nào đó, vậy mà Chị nó đi Mỹ cũng đã hơn 2 chục năm, mau dễ sợ ! Nó tính trong đầu : sang Mỹ chịu khó mất vài 4 năm thì cũng lấy xong cái B.S. hay B.A. chi đó như Chị nó nói. Học thêm vài năm cũng lấy được cái bằng Master cho nó hách, rồi đi làm. Thế là sẽ có vô số tiền. Nó sẽ đáp máy bay từ Mỹ về Sài Gòn. Lúc đó là đi thẳng cái một, khỏi có… quá cảnh xứ này, nước nọ lôi thôi. Bạn bè của nó kéo cả băng, cả đoàn đi đón. Vui ơi là vui ! Nó sẽ cho tiền những đứa bạn nào nghèo khó, chồng con vất vả đầu hôm sớm mai. Nó sẽ lôi hết bạn bè cũ cùng học lớp 12 với nó ở Sài Gòn, thuê vài cái xe đi chơi khắp mọi chỗ kêu bằng… danh lam, thắng cảnh, quay video, chụp ảnh, đi ăn nhà hàng chết bỏ… cho bõ ghét những ngày… con nít chẳng dám đi đâu hay làm cái gì…

Có tiếng xe pin ! pin ! ở ngoài cổng. Người ta tới đón mẹ con Bà Năm ra phi trường. Bà con, bạn bè lối xóm bu lại, nước mắt ngắn dài, kẻ ở người đi… Ôí! Cảnh biệt ly sao mà buồn thế ! Mẹ con Bà Năm với mấy cái va-li bự chảng, hai cái xách tay nho nhỏ đã lên xe. Một số bà con thân thiết cũng leo lên xe để tiễn mẹ con bà Năm tới tận phi trường. Một số bà con ở lại, vẫy tay từ biệt khi cái xe 12 chỗ ngồi đã từ từ lăn bánh.

Bà Năm cố nhìn lại cái xóm cũ đã gắn bó, sống chết với Bà từ bao nhiêu năm nay. Những dẫy nhà hai bên đường phố chạy thụt lui lại phiá sau cùng những bóng cây, cột đèn, thân thương quá đỗi. Vài chiếc xích-lô đưa khách sớm, dăm cái xe đạp, vài chiếc Honda rồ máy chạy ào ào… Tự nhiên Bà Năm thấy nhớ, thấy thương Sài Gòn quá đi mất thôi. Vậy mà Bà nỡ bỏ nó để đi xa, chẳng biết bao giờ mới trở lại nơi này.

Bác tài xế bấm còi pim ! pim! khi tới chỗ ngã tư đông người lộn xộn làm con Lan giật mình khi còn đang ngủ gà, ngủ gật vì sáng nay nó phải dậy sớm. Xe qua cổng phi trường, vòng qua vòng lại rồi đậu phiá trước một ngôi nhà đông nghẹt những người.

Hai mẹ con Bà Năm đã lọt vào trong căn phòng ” cách ly ” để lạï bên ngoài số bà con, bạn bè thân thiết với bao nhiêu nỗi niềm thương nhớ đến độ sót sa. Thoát được cái cảnh lo sợ bị rạch túi, mất giấy tờ, tiền bạc như thiên hạ vẫn đồn đại, Bà Năm thấy an tâm đỡ khổ. Bà Năm đã già, lẩm cẩm, may mà có con Lan đi theo chớ không dám chết quá. Bà có biết trời trăng, mây nước gì đâu. Hết nạp giấy tờ, kêu tên, rồi nạp tiền đủ thứ linh tinh. Đến chỗ mấy ông, mấy bà công an áo vàng, cầu vai đỏ choé, bà hơi run khi thấy họ lục xét, bới tung đồ đạc của mấy người đi trước. Con Lan hích hích cùi chỏ rồi 
thò tay bấm Bà ” Má để con ! ”

Phi trường Tân Sơn Nhất – Sài Gòn

Con nhỏ này nó học ở đâu mà bữa nay nó lanh … như quạ.dấm dúi tiền bạc cho đám công an bằng những cái phong bì ” có nhân ” ở bên trong. Kẹt quá, nó dúi đại cả mớ tiền Hồ vào tay bọn công an tỉnh bơ, chẳng còn coi ai ra gì cả . Công việc đi qua nhanh như gió. Cuối cùng một lão công an, mặt lạnh như tiền, hất hàm hỏi ” Bà và Cô có đem theo đô la không ? ” – Thưa không ! – Thế còn giữ tiền Việt Nam không ? Con Lan lại hích hích cái cùi chỏ vào ba sườn Mẹ nó. Bà Năm lôi trong người ra cái phong bì to bự đựng mớ tiền Hồ còn lại, đưa cho lão công an, miệng líu ríu ” Còn lại mấy trăm ngàn, xin biếu… đồng chí uống cà phê .” Lão công an phì cười khi nhét cái phong bì vào ngăn kéo bàn gần đó nhanh như người ta làm xiệc . Lão ta cười chắc là vì lão ta có đồng chí đồng choé gì với Bà Năm bao giờ đâu…

Hành khách lên xe, ra chỗ máy bay đậu. Ngồi trong máy bay rồi, con Lan buộc dây lưng an toàn cho Mẹ. Sau một hồi gầm gừ, lắc lư, chiếc máy bay Hàng Không Việt Nam từ từ cất cánh. Bà Năm nhăn mặt vì khó chịu, nôn nao trong người. Ngồi cạnh cửa kính máy bay, Bà Năm thấy phố xá, đồng ruộng quanh vùng Sài Gòn lu mơ,ø xa dần rồi mất hẳn. Chung quanh chỉ còn là mây trắng xoá, mịt mờ…

Nỗi buồn xa xứ ở đâu tự nhiên kéo đến. Hai hàng nước mắt chạy quanh. Con Lan giương tròn đôi mắt nhìn Mẹ nhưng chắc là nó không làm sao hiểu nổi. Máy bay dừng lại ở Thái Lan để chuyển sang máy bay quốc tế, nghe nói bự lắm. Con Lan lúc này lanh lẹ, dễ thương vô cùng. Nó thương Mẹ nó. Nó lo cho Bà đủ chuyện trong chuyến đi nưả vòng trái đất đầu tiên và chắc cũng là cuối cùng của đời Bà. Mới ăn có một bữa trên máy bay với một bữa ở khách sạn để chờ chuyển máy bay mà Bà Năm đã thấy nhớ món cá lóc nấu canh chua, cá nục kho khô, nhất là điã giá sống… Con Lan cứ ăn tỉnh bơ, ào ào hết sạch. Con gái 17 bẻ gẫy sừng bò còn được, huống hồ năm nay nó đã lớn tướng, dư sức lấy chồng được rồi. Bà lẩm cẩm lo nghĩ vẩn vơ ” Nếu cứ ăn uống hoài kiểu này chắc chết quá ! ” Mà không, con gái Bà nó bảo ở bên Mỹ đồ ăn không thiếu cái chi cả. Chợ Mỹ, Chợ Tầu, chợ Việt Nam có đủ hết. Tha hồ mà làm… bún bò giò heo, bún cá, phở, mì, bánh canh, bánh xèo, chả giò, bánh cuốn… Tự nhiên Bà Năm lại thấy … lên tinh thần.

Người ta hướng dẫn Mẹ con Bà Năm lên cái máy bay to chi lạ. Nghe nói nó chở cả mấy trăm con người và vô số đồ đạc, va-li, thùng, xách, linh tinh. Dễ sợ thật ! Bà thấy hành khách đông vô số kể, ngồi trông tưà tưạ như cái rạp cải lương ở gần Chợ Bà Chiểu thân quen của Bà. Mấy cái màn ảnh chiếu phim cả ngày cả đêm, hoạ hoằn mới cho chúng nó… giải lao nghỉ xả hơi một lúc. Cứ độ 2 tiếng đồng hồ, mấy cô tiếp viên lại đẩy cái xe đi quanh, dọn ăn, dọn uống cho khách. Bà nghe nói ở Mỹ cả chục triệu người béo phị, đi không nổi. Chắc tại họ ăn uống lu bù tối ngày sáng đêm như thế này chăng. Bà ăn đâu có nổi, Chỉ có con Lan là cứ tỉnh bơ như sáo sậu, hết coi phim lại ăn, lại uống. Bà bảo con Lan ” Con ăn nhiều thế, mai mốt béo phị ra thì ai nó thèm lấy ! ” Con Lan phì cười ” Má đừng có lo ! Con biết hết trơn rồi .”

Máy bay hạ cánh xuống phi trường Mỹ. Con Lan bảo là Phi Trường quốc tế Los Angeles. Bà Năm mệt mỏi nhừ tử cả người, đứng lên muốn hết nổi.Máy bay bay miết, bay hoài, dễ chứng cả ngày lẫn đêm chi đó. Bà Năm thấy cái lối sống ở trên máy bay và chắc cả ở Mỹ nữa nó không đơn giản như ở quê nhà, nơi gần chợ Bà Chiểu. Cái chi cũng máy với móc, lộn xà lộn xộn, không biết đâu mà rờ cả.
Thành phố San Diego
Máy bay hạ cánh xuống phi trường Mỹ. Con Lan bảo là phi trường quốc tế Los Angeles. Bà Năm mệt mỏi nhừ tử cả người, đứng lên muốn hết nổi. Con gái Bà, con Nguyệt sẽ lái xe từ San Diego lên đón Mẹ con Bà ngay tại nơi này. Người đâu mà đông thế ? Người ta ăn mặc thật là kỳ cục. Cả đời, bây giờ Bà mới thấy người ta ăn mặc chẳng giống dân Sài Gòn của bà tí nào. Đàn ông, con trai thì lắm người mặc áo để phanh cả bộ ngực lông lá tùm lum. Có người ăn mặc đồ lớn như dân Sài Gòn đi ăn cưới.có người chỉ mặc có mỗi chiếc áo ” may-ô ba lỗ ” , có người cởi trần trùng trục đi lại tự nhiên, thoải mái. Đàn bà con gái cũng mặc quần, mặc váy như mấy cô, mấy bà hạng sang ở sài Gòn, nhưng có nhiều người lại mặc váy , quần cụt, ngắn cũn cỡn trông chẳng giống ai. Ở chỗ đông người thế này mà đàn bà con gái chi lạ, cứ như ở trần, ở trên thì vú vê to nung núc, rùng rà rùng rình, để ra cả đống cho người ta coi, ở dưới cứ như là … để ra ngoài hết trơn, cái quần, cái váy ngắn tí teo, lại còn xẻ rạch lên một khúc nữa… Trông dễ sợ quá ! Bà Năm không biết con gái mình, con Nguyệt nó có ăn mặc như thế này không ? Nếu nó lại bắt Bà phải ăn mặc như thế nữa thì không biết rồi ra làm sao ? Liệu Bà sống nổi hay không Tự nhiên Bà chặc lưỡi … kệ nó tới đâu thì tới, đã đến đất Mỹ thì cũng như… đã leo lên lưng cọp rồi, tụt xuống đâu còn được nữa. Thôi thì …cũng liều nhắm mắt đưa chân, thử xem …đất Mỹ xoay vần tới đâu .

Sau khi làm thủ tục giấy tờ này nọ, Mẹ con Bà đẩy xe hành lý ra phiá ngoài . Còn đang ngơ ngác thì con gái Bà, con Nguyệt, đã la lên ” Má ! Má Con đây nè !” Con gái Bà lúc này nó cao, nó to con, nó đẹp như ” đầm ” ấy, Bà nhận ra không nổi. Nó chỉ người đàn ông đứng bên cạnh ” Đây là chồng con . Đây là hai đứa cháu ngoại của Má ! Và đây là bạn bè của con…” Con Lan đứng sau lưng Bà, bây giờ mới đến phiên người ta ôm lấy nó cứng ngắc, hỏi thăm rối rít tít mù, làm cho nó đỏ bừng cả mặt, cả tai …

Mấy cái xe Mỹ, xe Nhật bóng láng đưa Mẹ con Bà Năm về nhà con gái. Bà thấy cái chi cũng lạ. Nhà to và đẹp quá, nhưng không bầy đồ đạc tùm lum tà la như nhà của Bà ở gần Chợ Bà Chiểu. Con rể và con gái Bà chắc hẳn giầu lắm. Hai đứa cháu ngoại thì cứ nhìn Bà mà nói với nhau bằng thứ tiếng gì Bà không hiểu. Chắc là tiếng Mỹ ! Vợ chồng con Nguyệt nói với Bà thì bằng tiếng Việt, còn khi chúng nó nói chuyện với nhau lại bằng tiếng Mỹ chi đó, làm Bà chẳng hiểu chi hết trơn.

Gặp mấy ngày nghỉ cuối tuần, bà con bạn bè người Việt ở gần, nghe tin Bà Năm sang Mỹ, cũng kéo tới thăm. Bà cũng thấy vui vui một chút. Cơm nước bầy ra đầy cả bàn, nhưng Bà ăn sao nó dở ẹt, không bằng món cá bống kho tiêu, cá lóc nấu canh chua của Bà ở Sài Gòn. Chúng nó lấy xe chở Mẹ con Bà đi chơi tùm lum đủ chỗ, đẹp mắt và to lớn, vĩ đại vô cùng. Sạch sẽ nữa chớ, không có tạp nhạp, lộn xộn, dơ dáy như cái xóm cũ của Bà.

Mấy ngày đầu đoàn tụ qua đi. Vợ chồng con Nguyệt đi làm, hai đứa cháu ngoại được đưa đến trường học con nít. Chỉ còn Bà với con Lan ở nhà, cái nhà rộng thinh rộng thang, phòng dưới nhà, phòng trên lầu, đủ kiểu . Chẳng bù với cái nhà của Bà gần Chợ Bà Chiểu, chỉ có một cái phòng để ngủ, một phòng cho khách ngồi chơi, còn lại là nhà bếp với bộ bàn ghế ăn cơm và linh tinh đủ thứ. Ấy vậy mà mới ở Mỹ chưa được một tháng, Bà Năm đã lại thấy nhớ nhung luyến tiếc nếp sống của Bà, một bà già hiền lành, chất phác, ở gần chợ Bà Chiểu. Đến cái ngày con Lan được Chị nó dẫn đi học ở cái trường nào đó xa lắm, phải đi bằng xe hơi, chớ không có đi bộ hay đi xe đạp được đâu. Thế là chỉ còn có một mình Bà ở lại với ngôi nhà to lớn rộng thênh thang mà thôi. Lúc này, Bà thấy quả thiệt là buồn, cái buồn miên man khó tả. Con Lan đã chỉ cho bà cách bật Ti Vi bằng cái… bấm cầm tay. Bật máy lên thì Bà chỉ thấy toàn là đánh lộn, la hét um xùm. Bật sang kênh khác thì lại bắn súng đùng đùng, máu me tùm lum. Bà ráng thử bật sang kênh khác nữa. Trời đất quỷ thần ! Một lão đàn ông, một mụ đàn bà ôm nhau cứng ngắc, hôn hít cứ y như là cắn nhau vậy thôi. Rồi cả hai … nhào lên giường vật lộn.. hung hãn, trông mà phát khiếp, chi mà kỳ lạ ! Chán quá, Bà tắt máy chẳng buồn lắp phim, coi cải lương với lại chưởng Tầu.... Hết đi ra lại đi vô, Bà đâm ra cứ muốn ngủ gà, ngủ vịt. Mà nằm xuống thì đâu có ngủ được…

Bà từng nghe nói thành phố San Diego là nơi ấm áp mà sao muà lạnh mới sang Bà đã thấy lạnh chi mà lạnh dữ. Ở Sài Gòn, Bà có thấy lạnh bao giờ đâu. Buổi sáng sớm và ban đêm, ở Mỹ, Bà cứ phải mặc cả mớ quần áo, trông to bự trác như hình vẽ Ông già Nô-en vậy. Có bữa con Lan mở Ti Vi, Bà thấy cảnh động đất, mưa lụt, bão bùng, xe cộ tông nhau, người chết, nhà cửa tan tành…Ở Mỹ cái gì đối với Bà cũng vĩ đại, to lớn, dễ sợ, kinh hoàng, dựng tóc gáy, nổi da gà. Nó không yên tĩnh, hiền lành như cái vùng đất chợ Bà Chiểu của Bà.

Tối đến vợ chồng con Nguyệt mới đi làm về. Cả nhà chỉ gặp nhau vào lúc ăn cơm. Ăn xong, ai về phòng người nấy, hay vợ chồng con Nguyệt lại lấy xe đi đâu đến khuya. Bà Năm muốn chơi với hai đứa cháu ngoại. Khốn nỗi hai đứa nhỏ lại chỉ biết nói tiếng Mỹ mà thôi, Bà đâu có hiểu. Còn có con Lan thì nó lo học và làm bài túi bụi. Rảnh một tí, nó mở cái Ti Vi để coi ca nhạc mà kẻ đàn, người hát cứ như đánh vật với nhau, la hét um xùm. Hình như nó bảo nhạc Rốc, nhạc riếc chi đó, nghe đến chóng cả mặt, đau cả đầu. Không thế thì nó lại ôm cái điện thoại nói chuyện với bạn với bè. Nói liên hồi, không biết mệt. Chuyện chi mà nhiều thế ? 

Bà Năm đau nặng phải vô nằm bệnh viện, lắm lúc mê man rồi lại tỉnh. Vợ chồng con Nguyệt chỉ biết thương Bà, nhưng vẫn không hiểu được Bà Chỉ có con Lan về sau nó hiểu, nó hỏi ” Có phải ở đây Má buồn, Má không chuyện trò được với ai, nhất là với hai đứa cháu ngoại, Má nhớ Quê Hương, bạn bè của Má, Má nhớ mồ mả Tổ Tiên, Ông Bà, Cha Mẹ, Má nhớ Chợ Bà Chiểu… nên má đau, má bịnh phải không ?” Bà Năm nắm lấy tay nó rồi gật đầu. Con Lan bỗng nhiên mím môi lại, nước mắt chẩy hai hàng ” Sao Má không ở lại Việt Nam với chòm xóm, bạn bè, với Chợ Bà Chiểu của Má ? Má không chịu đi Mỹ thì đâu con có đi ! Con nhất định ở với Má cho đến khi nào Má… không còn nữa, Má đi với Ba cơ mà ! ” Rồi nó ôm mặt khóc rưng rức sót thương cho Mẹ, người đã suốt đời khổ cực vì chồng vì con, hình như chẳng có lúc nào để nghĩ đến chính mình… Bỗng bà Năm tỉnh táo, vẫy tay cho vợ chồng con Nguyệt cùng tới gần. Bà nắm lấy tay 2 đứa con gái, nói trong hơi thở nghẹn ngào ” Má chấp nhận rời bỏ tất cả để ra đi vì Má thấy thương con Nguyệt, nó muốn Má được an nhàn, sung sướng lúc tuổi già, nhất là Má thương con Lan, Má hy sinh vì mong cho nó được ăn học nên người và có một cuộc sống tốt đẹp như Chị nó ở đất nước văn minh, giầu có, vĩ đại như thế này. Má già rồi nên không quen, nhưng Má chấp nhận… Má chỉ tiếc một điều là không được chết và nghỉ yên bên cạnh Ba con…”

Nguyệt lúc này mới cảm thấy một nỗi xót xa thật to lớn . Nguyệt đã chịu một phần trách nhiệm trong cái chết của Bà Năm. Vợ chồng Nguyệt đã không làm được một việc mà nhiều gia đình Việt Nam khác đã làm được. Đó là vợ chồng Nguyệt không để ý hay không làm được cái việc : dậy cho 2 đứa con những khi ở nhà với Cha Mẹ, tập nói tiếng Việt. Nếu hai đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt như nhiều đứa trẻ gốc Việt khác thì Bà Năm đã có nhiều giờ phút khuây khỏa, vui chơi, chuyện trò với hai đứa cháu ngoại mà Bà thương hết mình. Đằng này, Bà không làm sao gần gũi được với chúng nó. Khi Bà và hai đứa cháu ngoại gần nhau, thay vì chuyện trò như nhiều gia đình gốc Việt Nam khác, thì lại chỉ biết nhìn nhau như những người xa lạ ở đâu đâu ấy. Nguyệt cũng úp mặt vào hai bàn tay để dấu đi những giọt nước mắt xót thương người Mẹ già đã từ giã tất cả để đến nơi đây sống với mình. Nguyệt thương Mẹ nhưng đã không hiểu được Mẹ. Bây giờ thì mọi sự đã trễ mất rồi, không cách nào làm lại được nữa dù chỉ một lần… Nếu 2 đứa con của Nguyệt nói được tiếng Việt để Bà cháu hủ hỉ với nhau thì… Bà Năm không nói được nữa, Bà đã vĩnh viễn ra đi để được sống với chồng Bà bên kia thế giới, có lẽ gần gũi hơn với Quê Hương Đất Tổ, ở đó có nhiều bạn bè thân thiết và có cái chợ Bà Chiểu thân thương gắn bó với Bà từ những ngày khốn khổ xa xưa… 

 Phan Đức Minh

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Tư, 8 tháng 11, 2017

APEC 2017 THẾ GIỚI CHOÁNG cận cảnh ĐÓN TIẾP Tổng Thống DONALD TRUMP Của ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

[Live] Thật Không Thể Tin Nổi! Đây Là Cách Mà Trung Quốc Đón Chào Tổng T...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chính biến tháng Tám (1991) tại Liên Xô như đùa


Rất nhanh rõ ra là ở cơ chế Xô viết, người ta không biết làm đảo chính. Nói đúng hơn, các cuộc "đảo chính" trước đó diễn ra trong phòng họp, với các nghị quyết. Còn đảo chính thực sự thì không biết làm. Họ tuyên bố thiết quân luật, kéo xe tăng vào Maxcova, rồi chẳng biết làm gì nữa. Elsin về hình thức thì bị vây hãm trong trụ sở. Nhưng trong trụ sở đó, Elsin có cả đài phát hình lên vệ tinh, và kênh vệ tinh ấy truyền đi cả thế giới từng phút diễn biến. Đội đặc nhiệm Alpha sau này cho biết họ có thể sau 10-15 phút là quét sạch lực lượng của Elsin. Nhưng không ai ra cái lệnh đó cả. Elsin có thể tự do ra ngoài sân, trèo lên xe tăng, dùng loa pin để kêu gọi bất tuân lệnh của Uỷ ban khẩn cấp.
Yeltsin trên chiếc xe tăng bên ngoài toà nhà Quốc hội Nga tháng 8-1991.
Vũ Thư Hiên (Fb) : Tôi có mặt tại Moskva trong những ngày chính biến dẫn tới sự sụp đổ của đế chế cộng sản Liên Xô (tháng 8.1991). Câu hỏi bạn đặt ra cho tác giả bài viết không nên có. Tôi giới thiệu bài viết của bạn Trần Đăng Tuấn như một bài tóm tắt khá đầy đủ các sự kiện trong mấy ngày đó.


Trong bài tường thuật này tác giả không hề xưng TÔI trong dòng nào chứng tỏ sự có mặt của mình. Tất nhiên, chẳng cứ tác giả, ngay những nhà báo của các hãng truyền thông lớn cũng không thể theo kịp để có mặt trong mọi diễn biến được miêu tả. Chúng xảy ra rất đột ngột, người ta chỉ có thể theo dõi chúng qua màn ảnh.

Đêm 18.8 tôi ở trong khách sạn MIR cách Nhà Trắng của Eltsin khoảng trăm mét, có thể nghe rõ những lời hô hào phản đảo chính qua loa cầm tay. Trước đó tôi nghe thấy một tràng tiểu liên nổ cô độc ở đâu đó, điện tắt, ở tầng trệt có rất nhiều người mặc áo da đi lại trong ánh nến, người hầu bàn thì thào với tôi: “KGB”. Điện thoại còn hoạt động. Tôi gọi cho Glazunov trong Vụ đối ngoại Đảng cộng sản Liên Xô hỏi chuyện gì đang xảy ra. Glazunov cũng mù tịt, không biết gì hết.

Sáng ngày ra, tôi ra ngoài khách sạn thì thấy cả Moskva xuống đường. Ở Mozhaiskoe Shosse một hàng dài xe tăng đứng yên. Lính tăng leo ra ngoài uống vodka với thức nhắm truyền thống – cá vobla, nhảy với các thiếu nữ. Không có súng nổ. Lính và CA không bắn vào dân. Trên các bức tường, thay vì chữ hàng chữ Đảng cộng sản Liên Xô viết tiếng Nga tận cùng bằng hai chữ CC bị thay bằng hai chữ SS (với nghĩa phát-xít). Chân dung Stalin bị xéo nát trên các hè phố.;;;
---------------

Trần Đăng Tuấn: Cuộc chính biến tháng Tám (1991) tại Liên Xô cũ diễn ra khi vợ chồng Gorbachev đi nghỉ. Đội bảo vệ trở thành đội lính canh giữ ông Tổng bí thư. Nhưng vẫn có tivi để xem. Khi TV truyền trực tiếp cuộc họp báo của Uỷ ban khẩn cấp (tức nhóm đảo chính), phó tổng thống Ianaiep nói rằng "Gorbachev bị ốm và không có khả năng làm việc", Gorbachev cho rằng đó là tín hiệu người ta sẽ huỷ diệt ông về thể xác. Ông dùng một máy quay phim du lịch ghi hình ông phát biểu, để tìm cách chuyển băng ghi hình ra ngoài. Vợ ông hoảng loạn, và ông nghẹn ngào kể về điều này nhiều lần sau khi được giải thoát.

Rất nhanh rõ ra là ở cơ chế Xô viết, người ta không biết làm đảo chính. Nói đúng hơn, các cuộc "đảo chính" trước đó diễn ra trong phòng họp, với các nghị quyết. Còn đảo chính thực sự thì không biết làm. Họ tuyên bố thiết quân luật, kéo xe tăng vào Maxcova, rồi chẳng biết làm gì nữa. Ngay tại cuộc họp báo, Ianaiep tay run bắn như thể bị parkingson, do hồi hộp. Elsin về hình thức thì bị vây hãm trong trụ sở. Nhưng trong trụ sở đó (Toà nhà chính phủ Nga, có màu trắng, nên gọi là"Nhà trắng") Elsin có cả đài phát hình lên vệ tinh, và kênh vệ tinh ấy truyền đi cả thế giới từng phút diễn biến. Vài phát thanh viên danh tiếng của Truyền hình Liên Xô vào đó, nhờ vậy kênh truyền hình này hoạt động liên tục và chuyên nghiệp.

Đội đặc nhiệm Alpha sau này cho biết họ có thể sau 10-15 phút là quét sạch lực lượng của Elsin. Nhưng không ai ra cái lệnh đó cả. Elsin có thể tự do ra ngoài sân, trèo lên xe tăng, dùng loa pin để kêu gọi bất tuân lệnh của Uỷ ban khẩn cấp.

Khi các đơn vị quân đội chẳng làm gì, Phe Elsin nhận ra rằng sẽ không có một hành động quyết liệt nào của "Uỷ ban khẩn cấp", vì cái Uỷ ban này chẳng biết nên làm gì. Thủ tướng - thành viên Uỷ ban khẩn cấp - chỉ uống rượu cho say khướt. Vì sau khi tuyên bố đảo chính xong, họ chẳng biết cần làm gì nữa.

Elsin lật ngược thế cờ không mấy khó khăn. Nắm lại quyền, ông ta cử người đi đón Gorbachev về.

Bước xuống sân bay, được hộ tống (mà như dẫn giải) bởi những người mặc dân sự cầm tiểu liên, Tổng thống Gorbachev trong chiếc áo gió nhìn không còn chút đường bệ nào. Ông tuyên bố ngay chân cầu thang máy bay rằng sẽ triệu tập Đại hội đại biểu nhân dân (Quốc hội) để vạch mặt nhóm đảo chính. Gorbachev không biết rằng những giờ ê chề nhất còn đợi ông phía trước.

Elsin tổ chức một hội nghị lớn như vậy. Trên đoàn chủ tịch, Elsin trịnh trọng giới thiệu Tổng thống Gorbachev lên phát biểu. Theo quán tính, người ta vẫn vỗ tay.

Gorbachev lại một lần nữa, gần như sụt sùi, kể về vợ ông lo sợ ra sao khi bị giam lỏng. Bất ngờ, một đại biểu dự họp ngắt ngang lời ông: "Thôi, chúng tôi biết rồi, lại chuyện bà Raixa hoảng sợ khóc lóc chứ gì!" Người ta cười.

Gorbachev vẫn đang nói, Elsin tuyên bố: "Để thư giãn, tôi ký sắc lệnh ngưng hoạt động của Đảng Cộng sản Nga để điều tra về âm mưu đảo chính".

Gorbachev hoảng hốt: "Ông Elsin, ông Elsin, khoan đã, phải hành xử theo pháp luật". Elsin dằn giọng: " Sắc lệnh này đúng pháp luật", rồi ngay trên bàn chủ tịch vung bút ký ngay lệnh cấm đó.

Ngay lúc đó, người ta vẫn để Gorbachev nói tiếp. Ông yếu ớt kêu gọi "Hãy là những người dân chủ nhất quán đến tận cùng". Nhưng ngay hôm sau, Gorbachev tuyên bố giải tán Ban chấp hành TƯ ĐCSLX, và "các tổ chức Đảng cơ sở tự quyết định lấy số phận của mình".

Một cơ chế đồ sộ là Đảng Cộng Sản Liên Xô từ có thành không một cách đơn giản như vậy, chỉ bằng một chữ ký và một lời tuyên bố của cá nhân. Mà trước đó, đã là một cơ cấu siêu quyền lực.

Bây giờ có người vẫn nói, sự tan vỡ này không là tất yếu. Ý nói rằng nó xảy ra do những yếu tố ngoại lai. Nhưng sự sụp đổ này chẳng thể tình cờ. Chẳng thể có chuyện một hệ thống như thế lại tình cờ sụp đổ. Nó đã mọt ruỗng lâu rồi. Xơ cứng, hành chính hoá, đặc quyền, đặc lợi, tham nhũng quyền lực, bất lực trong việc đưa xã hội vào con đường phát triển phù hợp với xu thế khoa học công nghệ mới. Những cái đó đã diễn ra từ lâu.

Trần Đăng Tuấn
(FB Trần Đăng Tuấn)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

QUỐC YẾN thành QUỐC YẾM



Nguyễn Phan Khiêm



Nhân chuyện các cô gái mặc yếm hầu quốc khách dùng quốc yến.


Chị Thu Nhân viết: "Bên nhà em Kim Thanh lại có một cậu học trường Đại học Văn Hoá bảo yếm không phải là nội y và hoàn toàn có thể mặc tiếp khách! Thiệt là không hiểu cậu ấy học hành nghiên cứu cái kiểu gì!”.

Xem ra đành phải giảng lại cho những cậu sinh viên Đại học Văn hóa tý vậy.

Yếm, theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ, có uy tín nhất hiện nay giải thích: “Đồ mặc lót che ngực của phụ nữ thời trước”. Không chịu đọc sách thì học văn hóa cũng nên có cuốn từ điển.

Yếm là một mảnh vải, có thể là chồi, là lụa hay vải thô rẻ tiền, đa phần màu nâu, màu trắng, số ít màu đào (đỏ) dành cho bé gái và các cô đào hát. Mảnh vải hình thoi, một góc khoét tròn vừa ôm lấy cổ, hai bên có hai cái dây, để buộc vào sau cổ. Hai góc ngang có hai dây để buộc ra sau lưng.

Gái Việt hầu dạ yến APEC. 
Xem ra, yếm của các bà ngày xưa chỉ có nhiệm vụ che phần phía trước, nếu buộc chặt phía sau thì trấn áp những cặp vú quá bành trướng, để nó không nhảy tưng tưng khi làm việc hay đi lại. Yếm xưa không có tác dụng nâng đỡ những kẻ sa sút, che chở những kẻ nhỏ nhoi như xu chiêng hiện đại.

Trong chữ Nôm, các cụ dùng chữ Yêm có nghĩa là Che phủ, Bao trùm bên cạnh chữ Y là quần áo. Chữ Yêm có chữ khác nghĩa là Trấn áp mà các cụ không dùng.

Ngày nay chúng ta thấy một số hình ảnh do Pháp chụp có phụ nữ mặc yếm, đấy là cách khai thác của thực dân, ghi lại những hình ảnh có tính sinh hoạt, không vì thế mà lầm tưởng đó là trang phục có thể mặc tiếp khách như cậu sv văn hóa nào đó được dạy. Yếm tương tự áo may ô, áo ba lỗ ngày nay, nói thế cho dễ hình dung.

Ngày xưa phụ nữ ra đường, đi chợ thôi cũng mặc áo dài nhé. Trừ những người quá nghèo khổ, lam lũ.

Xem Quốc Yến – tiệc của quốc gia, dẫn ta đến Quốc yếm/ Yếm có hai nghĩa, trước hết là Chán, chán quá và thứ hai là cái Yếm ( đồng âm mà viết hai chữ khác nhau).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ném đá tâm lý nô tài được chuẩn bị quá lộ liễu:


CHUYỆN HẠ TIỆN
Thằng liếm giày jăc ma là đứa dẫn chương trình ti vi mất hoàn toàn nhân cách, mặc yêm là lối mặc trong nhà của đàn bà ngày nóng nực, nay đem ra tiếp khách quốc tế là việc khiếm nhã. Nhìn chung cũng do lũ ngu dốt về văn hóa tư vấn mà ra cả! Cái ngu và khiếm nhã có ngay trong chính thể thì còn biết trách ai. Sao lại dùng bọn người hạ tiện ấy vào công việc có tính đối ngoại. Xấu hổ và nhục quốc thế.9/11/2017
( Phải chỉnh đốn nhiều, việc chọn thằng dẫn chương trình quá phấn khích liếm giày thì người chọn nó phải bị cánh cáo đuổi ra khỏi ngành. Bọn tư vẫn áo yếm thì đuổi hẳn vì nó chẳng hiểu gì về văn hóa, và kir luật luôn người chọn nó)
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Bình luận
Bình luận
Hương Lê Nhất trí cao với bác Dongngan! Quá chối tỷ! 😂😂😂😂😂
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời
2
3 giờ
Quản lý
Dongngan Doduc đó là chưa kể cái vành khăn giống như quả mìn mà Nam Cao thấy bên lò gạch. Không phải khúc dồi tròn vo chụp lên cái đầu tóc đủ kiều , mà các cụ vấn khăn mỏ quạ, vành khăn đẹp như mơ chứ không thô thiển như cục cứt bên bờ ruộngj đâu. Nói thế để bọn người hóa trang biểu hiễn hiện nay thường làm, là chụp cục cứt lến đầu chứ không phải khăn vấn.
Văn hóa ấy, các cụ bảo" kính chả bõ phiền", phiền lắm đấy, người hiểu biết cười cho thối mũi
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời
8
3 giờĐã chỉnh sửa
Quản lý
Dang Hung Từ trên xuống dưới đều thế .
Haizz...
ThíchHiển thị thêm cảm xúc
Trả lời
2
3 giờ
Quản lý
Cuong Nguyen Mấy hôm nay thấy nhiều anh em phát điên phát cuồng với vị này riêng em thấy hâm mộ cô hàng xóm hơn vì chỉ cần một nhúm lông nhỏ mà nuôi đủ cả nhà.

Phần nhận xét hiển thị trên trang