Việc lập kế hoạch và tái thiết kế chiếc tàu du lịch thành tàu bệnh viện đã khiến cho tất cả những người tham gia rất đau đầu. Tàu bệnh viện, như tàu của Hải quân Mỹ, với chức năng của một bệnh viện có khả năng hoạt động đầy đủ, lớn hơn chiếc tàu bệnh viện của chúng tôi từ mười tới mười lăm lần. Làm cho một con tàu nhỏ trở thành một bệnh viện lớn, điều đó là không đơn giản. Nhưng cuối cùng thì cũng thành công, cho tới mức cả sau này, khi chúng tôi làm việc trên con tàu và thu thập kinh nghiệm, chúng tôi cũng hài lòng và không thể tìm thấy một giải pháp nào tốt hơn để phân chia và trang bị. Chỉ là thiếu chỗ ở khắp nơi.

Ít ra thì trên con tàu 3000 tấn này, bên cạnh chỗ ở và các phòng sinh hoạt cho thủy thủ đoàn và đội ngũ bệnh viện, bên cạnh phòng giặt riêng trên tàu và hai gian bếp – thức ăn Việt cho bệnh nhân được nấu trong một bếp đó – đã có thể bố trí được một trăm năm mươi giường bệnh trong ba khu với những phòng phụ thuộc của từng khu một, hai phòng phẫu thuật với phòng chuẩn bị gây mê, phòng rửa mặt, phòng khám tổng quát, góc bó bột và tiệt trùng, một phòng chụp X quang với phòng tối, một phòng thí nghiệm bệnh viện, một phòng thuốc, một trạm chữa răng, các gian phòng tắm và vệ sinh cho bệnh nhân, một lò đốt rác và một thiết bị khử trùng. Trang thiết bị, do được mua mới, rất hiện đại và có khả năng hoạt động cao, và khiến cho những người bác sĩ từ khắp nơi trên thế giới đến thăm chúng tôi đã ganh tỵ với chúng tôi. Mặc dù sự chật chội trong các cabin và trong các phòng làm việc đã đặt ra nhiều yêu cầu cao cho tất cả những người sống và làm việc trên tàu, mỗi một nhân viên của con tàu bệnh viện trong hoàn cảnh khó khăn đó đều biểu lộ một kỷ luật tự giác rất tốt, và một tinh thần làm việc và sẵn sàng hoạt động xuất sắc. Trong khi đó thì những cabin mà các nam nữ y tá phải sống hai người trong một phòng không lớn hơi bốn mét vuông. Nếu một người sống trong cabin đi lại thì người kia phải ngồi trên giường và thu chân lên. Tất nhiên là khi ở Sài Gòn thì chúng tôi có thể xuống tàu và vào những cuối tuần không phải làm việc còn cố gắng đi xe ra bãi biển hay tổ chức một chuyến bay. Nhưng phần lớn thời gian thì chúng tôi ở trên tàu và phải đối phó với sự chật chội và va chạm với những người khác.
Sau khi công việc tái thiết kế hoàn thành và con tàu rời bến, tất cả chúng tôi đều thở phào và tin rằng đã vượt qua được những gì là khó khăn nhất. Nhưng chúng tôi đã lầm. Lúc rời bến, thuyền còn được nhét đầy hộp và thùng mà một phần lớn các trang thiết bị di động và tất cả dược phẩm vẫn còn ở trong đó. Chúng tôi đã cố gắng mang theo tất cả các loại thuốc cần thiết cho sáu tháng. Sau này mới biết, cũng như đã đoán trước đó, rằng thiếu một vài thứ mà chúng tôi rất cần ở Việt Nam.
Trong phần lớn của chuyến đi kéo dài ba mươi sáu ngày, chúng tôi làm việc từ sáng sớm cho tới tối với cây đục và kìm, mở tất cả ra và cố gắng tìm chỗ thích hợp cho mọi thứ. Ở Địa Trung Hải và sau đó trong Ấn Độ Dương, thùng các tông và thùng gỗ lắc lư trong luồng nước ở phía sau con tàu, cho tới tận chân trời. Các chi tiết cuối cùng của thiết bị được các nữ y tá hoàn thành, những người mãi ở Singapore mới lên tàu.
Trên boong tàu, chúng tôi đã cột chặt hai trạm khám đã được lắp đặt sẵn, những cái theo dự định sẽ được dựng lên trên đất liền ở Sài Gòn và chúng tôi sẽ bố trí phòng khám không nằm lại ở trong đó.
Khi tôi lần đầu tiên tiếp xúc với ý tưởng của chiếc tàu bệnh viện – lúc đó, nó còn là một ý tưởng – người ta dự định sẽ tiếp nhận bệnh nhân từ các bệnh viện trên đất liền. Nếu theo phương pháp này thì con số bệnh nhân trên tàu sẽ phụ thuộc vào tính hào hiệp của các bác sĩ làm việc ở trong các bệnh viện khác, và bác sĩ nào thì cũng có khuynh hướng nếu có thể sẽ giữ lại những bệnh nhân mà công việc chữa trị họ có nhiều thành công. Vì thế mà ngay từ đầu tôi đã ủng hộ việc xây một trạm đa khoa hay một phòng khám di động trên đất liền, cái có thể chuyển một phần lớn bệnh nhân phải nằm viện lên tàu.
Nhưng không ai có thể dự đoán trước được rằng việc xây dựng phòng khám này đã khiến cho chúng tôi phải cực nhọc cho tới đâu. Trong tháng 3, trong lúc chuẩn bị, chúng tôi đã chọn một nơi cho phòng khám đó trong số ba lựa chọn, trên khu đất của Hồng Thập Tự Việt Nam. Nó thỏa mãn hầu hết các yêu cầu – có điện và nước, khu đông dân cư, bệnh nhân từ Sài Gòn và Chợ Lớn có thể dễ dàng đi tới đó.
Trong tháng 3, mùa khô ở Sài Gòn gần chấm dứt và đất cứng như đá. Trong tháng 9, khi chiếc tàu đến, đất bùn đã mềm đi trong nửa sau của mùa mưa. Không thể tránh được nền bằng xi măng. Nhưng trong Sài Gòn của năm 1966, tạo ra hai nền nhà xi măng trong thời gian ngắn nhất là một công việc khó khăn. Đầu tiên là phải tìm được xi măng. Ngay cả trên chợ đen xi măng cũng hiếm. Cuối cùng, chúng tôi cũng ‘lo liệu’ được một số. Trong lúc đó, chỉ những cuộc thương lượng ở ‘cấp hạ sĩ quan’ là thành công, trên cấp đó không và dưới cấp đó cũng không. Con đường chính thức có thể sẽ giúp chúng tôi có được xi măng sau một vài tuần; nhưng như thế thì chúng tôi đã có nó chỉ sau hai ngày. Máy trộn xi măng còn khó kiếm hơn nữa. Cuối cùng, chúng tôi cũng có hai máy, nhưng cả hai đều không hoạt động; mãi cái thứ ba mới làm việc. Xe tải do Bộ Y tế Việt Nam hứa cung cấp để chuyên chở các trại đó từ trên tàu xuống nơi xây dựng đến thật đúng giờ. Nhưng mà rồi chúng tôi không có xi măng, rồi không có máy trộn, và tất cả lại bắt đầu lại từ đầu. Tôi đã ấn định rằng hai tuần sau khi chiếc tàu đến nơi, chúng tôi sẽ bắt đầu điều trị bệnh nhân. Hai tuần lễ đó đã trở thành hai tuần lễ mệt lử. Nhưng chúng tôi đã thành công và qua đó lần đầu tiên đã tạo được sự chú ý tại các nhà báo có mặt ở Sài Gòn trong lúc đó. Bên cạnh các nam y tá của bệnh viện, phần lớn thủy thủ đoàn cũng đã giúp đỡ chúng tôi với lòng nhiệt tình hết sức đặc biệt trong cuộc thử sức lớn đầu tiên này. Tất cả họ đã làm việc cho tới tận ranh giới của thể lực.

Bây giờ thì chúng tôi có thể bắt đầu với nhiệm vụ thật sự của chúng tôi: chữa trị miễn phí cho thường dân người Việt bị bệnh hay bị thương, những người không có tiền để chữa trị ở nơi khác và những người từ các lý do về kỹ thuật và nhân sự mà không thể được chữa trị ở nơi khác. Điều này được tiến hành dưới sự bảo vệ của Công ước Genève, cho nên chúng tôi hoàn toàn độc lập, trung lập và chỉ có trách nhiệm với người dân thường, không có trách nhiệm với thành viên quân đội.
Việc bây giờ là phải làm sao cho con tàu hoạt động theo một chức năng mà trước đây không có; với một đội ngũ thành hình một cách ngẫu nhiên, chữa trị cho bệnh nhân mà chúng tôi không biết nói ngôn ngữ của họ, không biết về tính tình, cung cách ứng xử và những điều không được nói ra của họ, trong một đất nước của vùng khí hậu bất lợi nhất – trong một đất nước đang có chiến tranh. Từ bây giờ trở đi, đối với phần lớn những người cộng tác của tôi và đối với tôi, hầu như ngày nào cũng là một ngày làm việc mười bốn tiếng. Thật ra thì chúng tôi muốn được khởi hành chậm hơn một chút và làm quen với công việc.
Nhưng ngay từ ngày đầu tiên, với một lực mạnh không thể kiểm soát được, các bệnh nhân đã tràn ngập chúng tôi với số lượng nhiều cho tới mức mặc dù đã làm việc hết sức, chúng tôi cũng hầu như không thể giải quyết được toàn bộ. Thợ điện của trường kỹ thuật Đức trong Sài Gòn đã giúp đỡ trong lúc cấp bách và lắp đặt cho chúng tôi các thiết bị mà lẽ ra chính họ đã cần để xây lại ngôi trường của họ, đèn và quạt – sau này chúng tôi đã đền bù lại cho họ các vật liệu của họ. Cung cấp nước thì khó khăn hơn, nước chỉ nhỏ giọt ra từ hệ thống nước đô thị. Chỉ với nhiều mưu chước và mánh khóe mới có được nước máy. Mãi sau nhiều tuần, viên thuyền trưởng mới ‘mượn’ được một cái bồn nước, cái bảo đảm có được một dòng nước chảy liên tục.
Trước khi chúng tôi khai mạc phòng khám bệnh, chúng tôi đã ban hành một thông cáo qua Bộ Y tế Việt Nam mà trong đó chúng tôi loan báo bệnh nhân cần phải làm gì nếu muốn được chúng tôi điều trị và chúng tôi điều trị những bệnh nào. Vì chúng tôi không thể điều trị những bệnh kinh niên, bởi nếu thế thì chúng tôi sẽ hạn chế việc sử dụng con số ít các giường bệnh của chúng tôi, không điều trị bệnh lây nhiễm, vì chúng tôi chỉ có năm giường cách ly, và không điều trị bệnh tai mũi họng và mắt, vì không có các bác sĩ chuyên môn đó trong đội ngũ của chúng tôi.
Lúc ban đầu đã dự định có một chỗ cho bác sĩ nhãn khoa. Lúc đó chỉ có một người duy nhất sẵn sàng làm việc với chúng tôi ở Việt Nam. Người này là một người đàn ông chín mươi tuổi. Rất đáng tiếc là vì tuổi của ông mà tôi không thể nhận ông, vì chắc ông sẽ không chịu đựng được cuộc sống cực nhọc trên tàu, khí hậu và áp lực làm việc thật lớn này. Không một bác sĩ nhãn khoa trẻ hơn nào tình nguyện vào thời điểm đó. Sau này, khi công việc của chúng tôi đã tỏ rõ ra là thành công và dường như không phải là một nhiệm vụ tự sát, cũng có cả bác sĩ nhãn khoa tình nguyện làm việc ở Việt Nam. Lẽ ra thì họ đã có thừa công việc làm thú vị, vì chỉ có hai bác sĩ chữa mắt ở Nam Việt Nam. Nhưng lúc đó thì chính phủ liên bang [Đức] đã quyết định giới hạn hoạt động đã có của con tàu bệnh viện rồi và gạch bỏ các chỗ làm được dự định. Cả một bác sĩ tai mũi họng cũng đã được dự định, nhưng không có người xin việc thích hợp cho chỗ làm này. Lẽ ra là ông đã có thể làm việc rất có uy thế. Theo như tôi biết thì không có tới một bác sĩ tai mũi họng người Việt duy nhất.
Thật ra chúng tôi đã không cần đến cái thông cáo đó: chính các bệnh nhân đã bị các nơi khác từ chối vì không thể chữa khỏi được đã tràn ngập chúng tôi trong những tuần đầu tiên. Điều đó hết sức dễ hiểu, vì ai mà lại không với tay đến một cọng rơm khi mình bị bệnh không thể chữa lành được? Mãi sau ba tháng mới thành nề nếp, rằng chủ yếu chỉ có các bệnh nhân mà chúng tôi có thể điều trị tối ưu mới vào phòng khám của chúng tôi. Ở Việt Nam, ‘tuyên truyền miệng’ hữu hiệu nhiều hơn thông cáo báo chí, bài viết dài dòng, phỏng vấn và loan báo trên rađiô rất nhiều, không chỉ ở Sài Gòn, mà cả ở các tỉnh xa xôi hẻo lánh nữa.
Heimfried–Christoph Nonnemann
Phan Ba dịch
Phần nhận xét hiển thị trên trang



