Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Dự luật An ninh mạng: Hàng Việt Nam ‘Made in China’?


TRỊNH HỮU LONG 04/11/2017 

Vào đúng những ngày đầu tháng 11 này năm ngoái, Quốc hội Trung Quốc thông qua Luật An ninh mạng, ấn định ngày nó bắt đầu có hiệu lực là 1/6/2017. Năm ngày sau khi đạo luật trên có hiệu lực, Bộ Công an Việt Nam gửi tờ trình lên Chính phủ, chính thức đề xuất dự thảo Luật An ninh mạng của Việt Nam. Đây là kết quả của một quá trình lập pháp kéo dài từ tháng 7/2016, khi Quốc hội đưa luật này vào nghị trình của mình và Bộ Công an cũng thành lập Ban soạn thảo và Tổ Biên tập dự án Luật An ninh mạng cuối tháng 3 năm nay.

7 điểm giống nhau đáng kinh ngạc giữa dự luật An ninh mạng Việt Nam 
và Luật An ninh mạng năm 2016 của Trung Quốc.Ảnh: Asia Times.
Trải qua quá trình lấy ý kiến và bốn lần dự thảo, dự luật này đang nằm trên bàn Quốc hội. Nó sẽ được Quốc hội thảo luận trong kỳ họp cuối năm 2017 này và dự kiến sẽ thông qua trong kỳ họp tiếp theo vào giữa năm tới.

Dự luật An ninh mạng của Việt Nam, không biết do vô tình hay cố ý, giống Luật An ninh mạng của Trung Quốc một cách đáng kinh ngạc.

Trong tờ trình gửi Chính phủ, Bộ Công an cũng nói rõ họ có tham khảo các đạo luật an ninh mạng của Trung Quốc, Nhật, Cộng hoà Séc, Hàn Quốc, và Mỹ.

Cần phải làm rõ rằng tôi không có bằng chứng nào về việc chính phủ Việt Nam sao chép luật của Trung Quốc. Tuy nhiên, việc hai quốc gia có chế độ chính trị như nhau sử dụng những công cụ lập pháp giống nhau là điều dễ hiểu, nhất là khi Bộ Công an đã thừa nhận họ có tham khảo luật Trung Quốc như đã nói ở trên.

Bên cạnh đó, việc sao chép, học hỏi kinh nghiệm lập pháp của nước ngoài không phải khi nào cũng mang lại hệ quả xấu.

Ta hãy cùng so sánh dự thảo lần thứ 4 của Luật An ninh mạng đang được trình Quốc hội và bản dịch tiếng Anh của Luật An ninh mạng Trung Quốc để xem chúng giống nhau như thế nào và có thể mang lại hệ quả xấu hay không.

1. Hai văn bản, một thuật ngữ

Có một thuật ngữ mà chúng ta cần để ý trong dự luật của Việt Nam, đó là “hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia”, quy định tại Điều 9.

Trong Luật An ninh mạng của Trung Quốc cũng có một thuật ngữ tương tự: “cơ sở hạ tầng thông tin quan trọng” (critical information infastructure), quy định tại Điều 31.

Đây là một trong những thuật ngữ trung tâm của hai luật này, và định nghĩa của hai luật cũng rất giống nhau: chúng đều chỉ những thông tin mà nếu bị xâm hại thì sẽ làm nguy hại đến an ninh quốc gia, trật tự và an toàn xã hội.

Các thông tin đó trong cả hai luật đều bao gồm các lĩnh vực: năng lượng, tài chính, giao thông, báo chí – xuất bản, và chính phủ điện tử.

Dự luật của Việt Nam quy định thêm thông tin quốc phòng – an ninh, bí mật nhà nước, ngân hàng, tài nguyên môi trường, hoá chất, y tế, và các công trình an ninh quốc gia.

Dự luật không nói rõ phạm vi bao quát của khái niệm “hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia” có bao gồm các doanh nghiệp tư nhân và doanh nghiệp nước ngoài hay không. Xét về câu chữ, những đối tượng được nói đến ở đây hoàn toàn có thể bao gồm cả các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp. Chính phủ và những người thừa hành cũng hoàn toàn có thể giải thích theo hướng mở rộng khái niệm hết mức có thể.

Hãng luật Baker & McKenzie, khi phân tích Luật An ninh mạng của Trung Quốc, cảnh báo rằng bất kỳ công ty nào có quan hệ với các chủ thể nêu trên đều có thể nằm trong phạm vi điều chỉnh của luật.

Các cơ quan và doanh nghiệp nằm trong phạm vi điều chỉnh này sẽ phải tuân thủ các tiêu chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành, chịu kiểm tra và giám sát của Bộ Công an, phải xin các giấy phép triển khai và vận hành thiết bị, và phải hợp tác với chính quyền trong việc theo dõi thông tin người dùng.

Các quy định này giữa Việt Nam và Trung Quốc giống nhau như hai giọt nước.

2. Nhắm trực diện đến thông tin nguy hiểm cho chế độ

Không có gì đáng ngạc nhiên khi Việt Nam và Trung Quốc cùng rất quan tâm đến vấn đề này.

Dự luật An ninh mạng của Việt Nam tập trung nhấn mạnh việc “phòng ngừa, đấu tranh, làm thất bại hoạt động sử dụng không gian mạng xâm phạm an ninh quốc gia, chống nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tuyên truyền phá hoại tư tưởng, phá hoại nội bộ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kích động biểu tình, phá rối an ninh trên không gian mạng của các thế lực thù địch, phản động”, như tờ trình của Bộ Công an nêu rõ.

Điều 22 của dự luật nói rõ nhà nước sẽ áp dụng những biện pháp kỹ thuật cần thiết để xử lý các thông tin này.

Điều 12 của luật Trung Quốc có một điều khoản tương tự, khi cấm người dùng mạng “tham gia vào các hoạt động gây nguy hại đến an ninh quốc gia, danh dự và lợi ích quốc gia, kích động lật đổ chủ quyền quốc gia, lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa, kích động chủ nghĩa ly khai, phá hoại khối đoàn kết quốc gia, cổ xuý cho chủ nghĩa khủng bố hoặc chủ nghĩa cực đoan, kích động thù hằn sắc tộc và kỳ thị sắc tộc, lan truyền thông tin bạo lực, khiêu dâm hoặc kích dục, tạo ra và lan truyền thông tin sai sự thật để làm gián đoạn trật tự kinh tế hoặc xã hội, cũng như xâm phạm đến uy ín, quyền riêng tư, quyền sở hữu trí tuệ và những quyền và lợi ích hợp pháp khác của người khác”.

3. Ép người dùng Internet cung cấp thông tin cá nhân thực

Điều 47 của dự luật An ninh mạng của Việt Nam nói rõ các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet phải “yêu cầu chủ thể sử dụng cung cấp thông tin xác thực. Nếu chủ thể sử dụng không cung cấp thông tin xác thực, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ có trách nhiệm từ chối cung cấp các dịch vụ liên quan cho chủ thể sử dụng đó”.

Đồng thời, doanh nghiệp cũng phải có cơ chế xác thực các thông tin đăng ký của người dùng để đảm bảo tính trung thực của các thông tin này, theo quy định tại Điều 33.

Điều 24 của Luật An ninh mạng Trung Quốc có nội dung hoàn toàn trùng khớp với Điều 47 nêu trên.

Khi danh tính thực của người dùng lọt vào tay doanh nghiệp và nhà nước, không có gì đảm bảo họ không sử dụng những thông tin này vào những mục đích trái phép, thậm chí gây hại cho người dùng.

4. Đặt máy chủ trong nước và truyền dữ liệu ra nước ngoài

Đây là điều đã gây xôn xao dư luận mấy ngày qua, khi Điều 34 của dự luật Việt Nam yêu cầu “doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam phải (…) có giấy phép hoạt động, đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Điều 48 của dự luật cũng nói rõ các thông tin cá nhân và dữ liệu quan trọng về an ninh quốc gia phải được lưu trữ trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam, nếu muốn chuyển dữ liệu này ra nước ngoài thì phải đánh giá mức độ an ninh theo quy định của các cơ quan nhà nước có liên quan.

Đây là những quy định mà nhiều người lo ngại rằng sẽ khiến Google, Facebook và các dịch vụ thư điện tử, mạng xã hội, dịch vụ lưu trữ khác phải cuốn gói rời khỏi thị trường Việt Nam.

Thật đáng ngạc nhiên, Điều 37 của Luật An ninh mạng Trung Quốc có cả hai nội dung tương tự như vậy.

Mới đây nhất, vào tháng 6 vừa rồi, gã khổng lồ công nghệ Apple đã phải phối hợp với một công ty Trung Quốc để đầu tư mở một trung tâm dữ liệu theo quy định này. Microsoft, IBM và Amazon cũng đã phải làm điều tương tự.

5. Ép người dùng và doanh nghiệp thành chỉ điểm

Nếu bản dự luật An ninh mạng này được thông qua, người dùng Internet và các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet sẽ phải hợp tác với chính quyền một cách khá toàn diện.

Điều 45 bắt buộc người tham gia không gian mạng phải làm theo hướng dẫn về an ninh mạng của chính quyền, cũng như tạo điều kiện cho chính quyền tiến hành các biện pháp an ninh.

Không những thế, các nhà cung cấp dịch vụ mạng còn phải làm việc với chính quyền để xác định danh tính người sử dụng Internet; đồng thời tiến hành ngăn chặn các thông tin bất lợi cho chính quyền, theo Điều 46 và 47.

Ta có thể thấy những quy định tương tự tại Điều 28 của Luật An ninh mạng Trung Quốc, khi yêu cầu các nhà khai thác mạng phải hỗ trợ kỹ thuật và cung cấp thông tin cho các cơ quan an ninh trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và điều tra tội phạm.

6. Ép doanh nghiệp công nghệ tuân thủ các quy chuẩn kỹ thuật do nhà nước ban hành

Các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh thiết bị số và cung cấp dịch vụ mạng sẽ phải tuân thủ các “điều kiện đảm bảo chất lượng” trước khi tung sản phẩm ra thị trường “theo quy định của pháp luật”, theo Điều 46.

Nhà nước cũng sẽ ban hành các tiêu chuẩn đối với các thiết bị phần cứng và phần mềm này, buộc các chủ thể phải tuân theo.

Đây là cơ sở để chính phủ có thể ban hành các nghị định, thông tư quy định chi tiết các tiêu chuẩn kỹ thuật và áp các tiêu chuẩn này lên thị trường.

Kinh nghiệm ở Trung Quốc cho thấy, chính quyền đã yêu cầu cài phần mềm kiểm duyệt tự động Green Dam lên tất cả các máy tính mới và ép các doanh nghiệp, kể cả Google, phải cài phần mềm này trên các máy tính của họ.

Việc nhà nước can thiệp vào các tiêu chuẩn kỹ thuật trên thị trường công nghệ đương nhiên là mở toang một cánh cửa tham nhũng và lạm quyền cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Khoa học và Công nghệ, và các cơ quan nhà nước có liên quan.

7. Ép đơn vị liên quan đến “thông tin quan trọng” khi mua phần cứng và phần mềm phải qua thẩm định của chính quyền

Điều 11, Điều 16, Điều 48 của dự luật An ninh mạng trao quyền cho Bộ Công an, Bộ Quốc phòng và một số cơ quan nhà nước khác được kiểm tra các thiết bị, ứng dụng mạng liên quan đến hệ thống thông tin quan trọng quốc gia trước khi đưa vào vận hành hay nâng cấp.

Điều 35 của Luật An ninh mạng Trung Quốc cũng có quy định tương tự.

Quy định này có nghĩa là các cơ quan nhà nước, doanh nghiệp có hệ thống thông tin liên quan đến năng lượng, tài chính quốc gia, ngân hàng, giao thông vận tải, hóa chất, y tế, tài nguyên môi trường, phát thanh, truyền hình, báo chí và xuất bản sẽ phải qua cửa Bộ Công an và/hoặc Bộ Quốc phòng khi mua các phần cứng, phần mềm, dịch vụ mạng phục vụ công tác của mình.

Trong khi quy định này là dễ hiểu với các cơ quan nhà nước, việc nó “bao sân” sang các lĩnh vực như ngân hàng, y tế, báo chí, xuất bản lại đặt ra rất nhiều dấu hỏi về tham vọng kiểm soát thông tin của họ.

Các quy định này sẽ trao chìa khoá tiếp cận các hệ thống phần cứng và phần mềm cho công an và quân đội, là cơ hội để họ gây sức ép lên các cơ quan, doanh nghiệp, và cũng là nguy cơ dẫn đến tham nhũng và lạm quyền.


Trên đây chỉ là bảy điểm giống nhau nổi bật của hai văn bản về an ninh mạng của Việt Nam và Trung Quốc. Nếu mổ xẻ hai văn bản này, bạn đọc có thể tìm thấy nhiều quy định nhỏ hơn cũng rất giống nhau.

https://www.luatkhoa.org/2017/11/du-luat-ninh-mang-hang-viet-nam-made-china/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“ÔI, TÁC GIẢ LÀNG QUAN HỌ ĐẤY À?”


Nguyễn Phan Hách và Nguyễn Trọng Tao, 1994
VŨ TỪ TRANG
Trong đời sống mỗi con người, ít nhiều, ai cũng gặp những điều may mắn. Với nhà văn Nguyễn Phan Hách, thì việc bài thơ “Làng quan họ” của anh được nhà thơ-nhạc sỹ Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc, là sự may mắn quá lớn, đã nâng sự nổi tiếng của anh lên gấp bội lần.
Sự ra đời về ca khúc này, cũng hết sức tình cờ. Ấy là một bữa, Nguyễn Trọng Tạo ghé qua Nhà xuất bản Hội nhà văn, Nguyễn Phan Hách đưa bài thơ “Làng quan họ” của mình nhờ phổ nhạc giúp. 
Bài thơ được chép trên tờ giấy học sinh, Nguyễn Trọng Tạo liền gập đút túi quần, rồi quên béng luôn. Cho tới lúc đem quần áo đi giặt, vô tình nhặt tờ giấy có bài thơ ra đọc, thì đúng lúc ấy, loa đài công cộng phát lên mấy làn quan họ, Nguyễn Trọng Tạo như nhập đồng, lấy bút kẻ soàn soạt những khuông nhạc ra mặt sau tờ giấy, rồi những nốt nhạc dồn dập nhảy múa trên các khuông nhạc đó.
Sự thăng hoa, khiến Nguyễn Trọng Tạo viết một mạch xong ca khúc, quên cả bữa cơm chiều. Chả bao lâu, ca khúc này được phát trên sóng Đài tiếng nói Việt Nam. Rồi như sự cộng hưởng dồn dập, ca khúc “Làng quan họ” sớm trở thành bài hát phổ cập trong công chúng. Khi Đài phát thanh truyền hình tỉnh Bắc Ninh lấy ca khúc này làm nhạc hiệu đầu ngày của chương trình phát sóng, thì Nguyễn Phan Hách càng trở nên nổi tiếng.
Sự nổi tiếng ghê gớm nhờ ca khúc này, làm nhiều người và cả bản thân tôi có lúc phát ghen với anh. Đời thưở nào, mỗi dịp cùng anh về quê Bắc Ninh, đến bất kể trường học hay cơ quan nào, giới thiệu đây là nhà thơ Nguyễn Phan Hách, ấy là bao cô gái xinh đẹp phải thốt lên “Ôi tác giả Làng quan họ đấy à?”.
Không chỉ nam thanh nữ tú, mà tôi thấy mấy ông lãnh đạo ngôi bậc trong tỉnh, cũng phải xuýt xoa, vồn vã thán phục. Có ông từng giữ vị trí lãnh đạo cao nhất tỉnh Hà Bắc (thời sát nhập hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang) vốn có con mắt coi thường mấy anh cán bộ quèn ở Ty văn hóa, nhưng khi nghe ca khúc “Làng quan họ” này, mê quá, phục quá, đã phải mời Nguyễn Phan Hách về công đường tỉnh, tiếp xúc một buổi riêng, long trọng như tiếp một ông cấp cao trung ương về chỉ đạo tỉnh.
Thì ra, ở đời, sự nổi tiếng cũng là cái số. Chứ như riêng bài thơ này, chưa phải đã ghê gớm gì. Nó được viết ra như những bài thơ khác của anh, rồi đem in trên tờ tạp chí tỉnh. Rồi gửi về báo Văn Nghệ, hồi hộp chờ đợi có được in hay không. Rồi tháng 5 năm 1981, chọn in trong tập thơ “Người quen của em” do Hội văn học nghệ thuật Hà Bắc xuất bản. Dạo ấy, in được tập thơ như thế, đã là sung sướng và oách lắm rồi.
Bài thơ “Làng quan họ” cũng có nguy cơ nhòe trong mấy chục bài thơ in ở tập thơ giấy thô đen nhẻm thời bao cấp. Sự lãng quên, vô tăm tích là tất yếu của nghiệp sáng tạo. Tác phẩm nghệ thuật, nó như con người, có số phận riêng của nó. Tôi hình dung, nếu bữa giặt quần áo ấy, Nguyễn Trọng Tạo vô tình vứt đi bài thơ chép trên giấy đã nát nhàu ở túi quần, thì ca khúc “Làng quan họ” có duyên ra đời không? Phải thừa nhận, bài thơ “Làng quan họ” được Nguyễn Trọng Tạo phổ nhạc, đã là sự đổi đời trong nghiệp chữ nghĩa của Nguyễn Phan Hách. Rất nhiều người chưa đọc hàng trăm bài thơ, hàng chục cuốn truyện anh viết ra, nhưng chỉ với ca khúc này, anh đã thực sự được họ tin yêu và mến mộ.
Tác giả bài viết (Vũ Từ Trang) và đồng tác giả Làng quan họ quê tôi.
Trước bài thơ “Làng quan họ”, Nguyễn Phan Hách có cuộc sống cũng chẳng được suôn sẻ gì. Từ một cậu trai làng bên kia sông Đuống, học hành trường làng dở dang, rồi theo học Trường trung cấp sư phạm tỉnh, rồi được phân bổ lên một huyện miền núi dạy học. Cái xã Phương Sơn, Mai Siu huyện Lục Nam ngày ấy như quanh năm ngủ trong khói bếp và mây mù. Đời sống anh giáo miền núi ngày ấy có đẹp và thơ thới đấy, nhưng nghèo và buồn tẻ. Nghèo khổ về vật chất thì còn chịu được, chứ nghèo khổ về tinh thần thì thật ghê gớm.
Cái làng quê nhỏ bé gần núi Thiên Thai của anh thì xa quá. Chả nhẽ bỏ nghề, về làng, theo mọi người gánh quang thúng đi buôn cá con? Mão Điền quê anh, vốn là làng hiếu học, người dân đa phần cắm mặt với đồng lúa năm đôi vụ và lấy nghề buôn cá con làm kế mưu sinh. Tuổi thơ của anh đã khốn khó vì gia đình bị quy kết thành phần địa chủ. (Khi sửa sai, gia đình anh được xuống thành phần. Người bố của anh, con nhà địa chủ, lại được bà con làng xóm tín nhiệm bầu làm phó chủ nhiệm hợp tác xã gần hai mươi năm liền). Lòng hiếu học sớm nảy nở trong anh.
Cái cảnh tượng cậu bé con cùng gia đình bị xua đuổi khỏi ngôi nhà ngói năm gian và mấy ao chuôm nuôi cá con, có cái bút máy do người bố mua cho, cũng không dám đem theo, vì sợ liên lụy. Cái bút máy A-lơ-vơ bơm mực được cho vào gióng tre, cài vào khe gạch cổng nhà, luôn ám ảnh cu cậu. Rồi một buổi trưa vắng người, cậu đánh liều lẻn về bới khe gạch cổng nhà, lấy cái bút giấu trong gióng tre, quyết không cho người khác tịch thu của mình. Cây bút máy và niềm ham viết từ đó. Những bài thơ đầu tiên, vụng dại cùng nét chữ run rảy trên quyển vở học trò, là được viết ra từ cây bút đó.
Nguyễn Phan Hách kể rằng, năm mười ba tuổi, anh đã có đoản văn in trên báo Văn Học (tiền thân của báo Văn Nghệ). Tôi chả hỏi anh ngày ấy viết gì, vì thừa biết đó là những câu chữ còn ngây ngô của cậu học trò tập viết như thưở ban đầu của lũ chúng tôi mà thôi. Nhưng tôi tin niềm đam mê chữ nghĩa đã thôi thúc, đã cho anh niềm tin yêu tươi đẹp đi trên con đường viết lách vốn cay nghiệt và trập trùng gian khó này.
Việc được điều động từ một anh giáo trường miền núi về Ty văn hóa, đã tạo sự hưng phấn và cho anh những chuyến đi thực tế. Được đi qua nhiều mảnh đất, được gặp gỡ nhiều con người với nhiều số phận trớ trêu ở nhiều môi trường phong phú. Vốn thực tế ngày thêm ngồn ngộn. Những trang viết đã tung hoành và sâu lắng hơn. Sau kỳ về Hà Nội học khóa ba (1966), Trường bồi dưỡng những người viết văn trẻ của Hội nhà văn tổ chức, Nguyễn Phan Hách càng xác định rõ hướng đi của mình.
Mảng nông thôn, bao số phận con người sống vật vã sau lũy tre làng, bao phong trào sản xuất nông nghiệp thay đổi qua mỗi thời kỳ, có giải phóng và cải thiện được đời sống người nông dân? Bao lề lối ma chay cưới xin, bao hương ước, tập tục cổ hủ đã kìm hãm, đày dọa người nông dân ra sao? Cái làng quê bên bờ sông Đuống của anh, bao năm xa, khi trở về, chả thấy thay đổi là bao. Vẫn cảnh lao động vất vả ngoài đồng, vẫn những dáng người liêu xiêu trên chặng đường gánh gồng quang thúng đi tứ xứ buôn bán cá con. Con người vẫn bần cùng và nhem nhuốc. Bao bi kịch cho con người bị tù túng sau lũy tre làng. Bao khát vọng của lớp trẻ quê, muốn thoát khỏi sự giam cầm cổ hủ của làng quê, mà chưa thoát được.
Mỗi bận về quê, đươc nghe, được chứng kiến bao cảnh ngộ, bao bi kịch của người nông dân, khi trở về công sở, đêm đêm, Nguyễn Phan Hách lại chong đèn ngồi viết. Cây bút viết như chạy theo cảm xúc rối bời, như bị dày vò, xô đẩy, hối thúc của bao số phận trói buộc trong làng quê nhỏ bé. Một loạt truyện ngắn phản ánh về nông thôn của anh ra đời từ đó. Anh thành một hiện tượng của các cây bút viết về nông thôn một thời. Rồi hàng loạt bài báo ca ngợi những trang viết về nông thôn của anh, tạo thuận tiện cho việc giữa năm 1973, anh được chuyển từ Hà Bắc, về làm việc tại báo Văn Nghệ.
Đến 1978, anh lại được chuyển sang Nhà xuất bản Tác phẩm mới (tiền thân của Nhà xuất bản Hội nhà văn bây giờ). Đấy là thời nhà xuất bản rất danh giá, chuyên in những tác phẩm văn học tiêu biểu trong nước và nước ngoài. Nhiều nhà văn cự phách mà anh kính nể in sách ở đấy, như Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu…Rồi anh được Ban giám đốc cử làm thường trực tổ sáng tác văn xuôi. Thấy con đường tiến thân của anh thuận tiện, suôn sẻ, mấy anh em viết lách quê Kinh Bắc thường gặp nhau, chúc mừng anh.
Nguyễn Phan Hách lại cười khì. Suôn sẻ gì đâu, ở nhà xuất bản toàn những tay đình đám, như Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Lê Minh Khuê, Ý Nhi, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân… ngoài giờ biên tập, họ còn mải viết lách cho riêng họ, chứ phải nợ gánh cái chức tổ trưởng như mình à! Cứ cười khì vậy thôi, chứ việc quản lý, anh là người quyết đáp. Đã mấy lần cùng anh dong duổi xa Hà Nội, trên xe, qua điện thoại, thấy anh điều khiển công việc ở nhà rất nguyên tắc, rành mạch.
Việc làm xuất bản thời cơ chế thị trường vô cùng phức tạp. Nên in cuốn nào, số lượng in bao nhiêu, in thời điểm nào? Anh luôn đưa ra ý kiến tiên quyết. Nói theo ngôn ngữ cánh xuất bản, phải biết “ngửi” thấy cuốn nào hay, cuốn nào có lãi. Nhất là, phải biết “ngửi” tinh, để loại ra những cuốn có vấn đề nhạy cảm, kẻo nhà xuất bản bị đóng cửa tức thì. Nhờ có con mắt tinh tường này, chả thế khi về hưu, lại có một nhà xuất bản uy tín mời đón anh về làm tổng biên tập.
Trong quá trình thường trực tổ sáng tác văn xuôi ở nhà xuất bản Hội nhà văn, Nguyễn Phan Hách đã góp công để ba cuốn tiểu thuyết “Nỗi buồn chiến tranh”, “Mảnh đất lắm người nhiều ma”, “Bến không chồng” ra đời. Ba cuốn tiểu thuyết này (trước nữa là cuốn “Thời xa vắng” của Lê Lựu), đến nay, vẫn được đánh giá là những cuốn sách tiêu biểu của văn học thời kỳ đổi mới, góp phần tôn vinh thương hiệu của nhà xuất bản. Năm 1996, Nguyễn Phan Hách được bầu làm phó giám đốc, năm 2000, làm giám đốc nhà xuất bản Hội nhà văn…
Nhìn lại số đầu sách trên hai chục cuốn đã xuất bản, có lúc anh không ngờ mình đã làm được nhiều việc đến thế. Ngày đầu bước vào nghiệp văn chương, thơ là nỗi đam mê, ám ảnh anh. Nhưng rồi càng viết, anh càng thấy thơ không tải hết nỗi niềm day dứt của mình trước cuộc sống. Anh quay sang viết văn. Ngoài các tập thơ (Người quen của em,Vô tình, Những ngôi sao tuổi thơ, Hạt bụi), anh còn có bài thơ “Hoa sữa” in trên tờ thiếp, mà lớp trẻ, nhất là lứa học sinh, sinh viên thường chuyền tay nhau đọc.
Ngoài chuc tập truyện ngắn, truyện vừa, Nguyễn Phan Hách đã xuất bản bốn tiểu thuyết (Tan mây, Mê cung, Người đàn bà buồn, Cuồng phong). Anh khao khát viết những cuốn tiểu thuyết đồ sộ có sức ôm chứa chuỗi dài thời cuộc tao loạn đầy thăng trầm của dân tộc. Anh là người có vốn sống phong phú và đa dạng về những con người sống ở làng quê. Anh rất hiểu cái vật lộn, giằng xé, cái kìm hãm, tù túng của những con người sống trong lũy tre làng.
Nhưng lạ thay, văn anh viết về họ, lại thường thấy vẻ đẹp bình lặng, ít thấy sự dữ dằn, khốc liệt. Có người nói, cuộc sống vốn khốn khổ rồi, biết nhìn ra cái đẹp mới khó, chứ viết thêm về cái khốn khó thì ích gì? Phải chăng quan niệm sáng tạo của anh là vậy? Hay anh né tránh thực tế tàn bạo, phũ phàng? Tiểu thuyết “Cuồng phong” của anh, như đã bù lại những thiếu hụt này ở những tập sách trước.
Vì cùng cảnh ngộ bỏ quê Kinh Bắc ra Hà Nội làm ăn sinh sống, Nguyễn Phan Hách và tôi cùng phải đối mặt với một số việc đời thường, nên chúng tôi hay có dịp gặp gỡ. Bây giờ, con cái anh đã phng trưởng và thành đạt, chứ ngày đầu gồng gánh vợ con ở quê ra, đến là liêu xiêu. May mà ngày ấy, niềm đam mê văn chương quá lớn, nên chả ai quan tâm đến cái khổ của đời thường. Những vẻ đẹp, sự sang trọng, cao cả của văn chương, đã kéo chúng tôi vượt qua bao vất vả và thiếu thốn. Quên sao được những năm tháng ấy. Có những buổi chiều, không thể đọc và viết được, anh và tôi không biết làm gì ngoài việc đi lang thang phố xá.
Nom mọi gia đình sum họp đầm ấm cuối ngày, chúng tôi chạnh lòng với cảnh sống không nhà cửa, đêm đêm ngủ vạ vật trên bàn làm việc của mình. Rồi Nguyễn Phan Hách quyết đi tìm mua một căn nhà nho nhỏ. Việc tôi mua được căn buồng chưa đầy sáu mét vuông tầng hai của ngôi nhà số 6 phố Nguyễn Cao, cũng là nhờ Nguyễn Phan Hách. Chả là khi ấy, anh đã đặt tiền mua căn buồng này, nhưng chê chật, nên nhường tôi.Với tôi khi ấy, đó là niềm vui quá lớn, vì kết thúc cảnh ngủ bàn cơ quan.
Điều sung sướng hơn, tiền mua căn buồng ấy, là nhờ nhuận bút cuốn truyện dài đầu tay “Miền đất đợi chờ” của tôi, do Nhà xuất bản Thanh Niên xuất bản, người biên tập là nhà thơ Võ Văn Trực. Cũng muốn nói thêm, cuốn sách nộp lưu chiểu tháng 6 năm 1978, in số lượng 15.850 cuốn, được hưởng nhuận bút thừa tiền mua căn buồng đó, ngoài ra còn đủ tiền ăn thịt chó nhòe đãi bè bạn. Căn buồng chưa đầy sáu mét vuông, không đồ đạc, quanh tường là những giá sách chất đầy, tuy chật hẹp, nhưng luôn đông bạn văn chương ghé chơi. Cũng bao bản thảo của tôi ra đời từ căn buồng ấy. Nhớ căn buồng ấy, tôi lại nhớ không khí văn chương ngày ấy rất đẹp. Nguyễn Phan Hách chép miệng, bảo rằng, đấy là thời người viết rất được coi trọng. Nhuận bút cuốn sách nào bây giờ mua nổi căn buồng sáu mét vuông ở phố chính như vậy?
Một ngày nhớ quê, Nguyễn Phan Hách rủ mấy anh em chúng tôi về chơi. Tôi nhớ hôm ấy có nhà văn Nguyễn Xuân Khánh đi cùng. Tháng giêng mùa hát hội/Áo nâu ướp hương trầm/Nón thúng quai thao rủ/Buông dài nếp sống thâm. Đấy là làng xóm trong thơ anh thôi, chứ thực tế tôi thấy thôn xóm như đang bươn bả với cuộc mưu sinh. Mấy anh em ngồi ngay bên gốc nhãn góc vườn, ngắm những vạt nắng trên vòm cây lao xao, cùng chiêm nghiệm sức sống của làng quê đang thời chuyển hóa. Nếp nhà ngói của cha ông mà anh được thừa tự, tuy là nhà năm gian, nhưng cột kèo nhỏ bé, mốc thếch. Vạt ngói mái sau đã xô dạt. Cái ngôi nhà mà một thời bị trưng thu, vì thành phần địa chủ, nay bỏ trống. Mảnh ao góc vườn quanh bờ cỏ dại, một thưở gột cá con, nay sen súng mọc tơi bời.
Tôi chợt nhận ra sự hoang vắng, cô liêu thoáng hiện trên khuôn mặt Nguyễn Phan Hách. Biết làm sao được, ngôi nhà cũ càng, mảnh ao bé nhỏ, cái ngõ quanh quanh chỉ còn là kỷ niệm, không thể níu kéo anh ở lại. Nghiệp chữ nghĩa, chí tang bồng, chả biết công danh thành bại đến đâu, nhưng khát vọng mộng mơ đã mở ra bao chân trời mới, đã đẩy anh đi khỏi chốn cố hương. Nhưng tôi tin, trong những câu chữ Nguyễn Phan Hách viết ra, thấp thoáng có hồn cốt từ ngôi nhà nhỏ bé cũ càng, cái bờ ao cỏ mọc hoang vắng và con ngõ nhỏ quanh quanh…


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi…”


Khu chung cư cao cấp Royal City ở Hà Nội những ngày cuối tháng 10/2017 có tới hai chuyện buồn liên quan đến sinh mạng con người. Trong đó, mới nhất là vụ một phụ nữ đơn thân được cho là đã mời một thanh niên đến nhà chơi và bị y sát hại để cướp của. Một số tờ báo lập tức giật tít “đùng đùng”: “Phi công trẻ giết người tình tại chung cư cao cấp”, “Vụ án mạng ở Royal City: kết cục đau lòng khi người phụ nữ khát tình”, “Án mạng ở chung cư: rủi ro của các quý bà tìm giai trẻ”, v.v.

Tôi không muốn nói thêm về vấn đề đạo đức báo chí trong trường hợp này, vì nhiều facebooker đã nói rồi.

Tôi chỉ chạnh lòng nhớ đến hình ảnh ba đứa chúng tôi – Trịnh Hữu Long, Nguyễn Anh Tuấn, và tôi – lần đầu tiên đi nước ngoài cùng nhau vào đầu năm 2013. Chúng tôi hoa mắt giữa siêu thị choáng lộn, nườm nượp người qua lại. Chúng tôi lạc chí chết trong ga tàu điện ngầm. Chúng tôi loay hoay toát mồ hôi mới tìm được lối qua đường trên đại lộ 8 làn xe. Tuy nhiên, có lần tự hỏi xem thực sự thì mình muốn đấu tranh để đạt được cái gì nhất ở Việt Nam, ba đứa đều thống nhất: Chỉ cần người Việt yêu thương nhau, tin tưởng nhau, đối xử với nhau thân ái ở mức như dân Philippines hay Thái Lan thôi, là mừng lắm rồi, hạnh phúc lắm rồi. (Mà muốn đạt điều đó, thì chúng ta đều hiểu là phải xử lý được vấn đề thể chế chính trị, “giải quyết” được cái thứ văn hóa chính trị coi dân hoặc là địch để tiêu diệt hoặc là cừu để vặt lông – vì thế cho nên ta mới phải đấu tranh).

Chúng tôi nghĩ thế, bởi chúng tôi thấy… thèm muốn sự thân thiện trong cách đối xử với nhau, của người dân ở những nước chúng tôi đã đi qua. Ở những nơi đó, họ luôn tận tình chỉ đường cho chúng tôi, với một thái độ tận tình nhất, mỗi khi chúng tôi bị lạc. Họ sẵn sàng nhường chỗ cho chúng tôi, thậm chí ngay cả khi đang cùng xếp hàng, vì “không sao, tôi không vội, tôi chờ được, bạn cứ làm trước đi”.

Ở đó, chúng tôi không phải lo giữ chặt túi xách, mắt lừ lừ cảnh giác khi có ai bất thình lình lại gần. Chúng tôi cũng không lo vào bệnh viện thì bị chỉ sang một khu riêng làm thủ tục thật đủng đỉnh, bởi vì không có tiền trong túi. Chết mặc kệ.

Điều đáng nói là những người Việt ở nước ngoài cũng tốt bụng và đầy sự nhiệt tình giúp đỡ như vậy, nhất là ở xứ Âu-Mỹ. Chúng tôi không lo sưng phổi, chết rét, khi phải đi bộ dưới trời mưa tuyết ở New York hay Toronto, bởi vì kiểu gì cũng có bà con cô bác mang quần áo ấm đến chất đầy vali chúng tôi. Và đặc biệt, chúng tôi có thể đến nhà bất kỳ người nào để tá túc trong nhiều ngày, ăn uống no đủ, khỏi phải thuê khách sạn.

Tôi đã ở nhà rất nhiều người Việt bên Mỹ, Canada, châu Âu. Có lần, tôi còn nghỉ ở nhà một người Mỹ da trắng, nghĩa là hoàn toàn không có gì chung với tôi, kể cả gốc gác. Buổi sáng sớm ngủ dậy, trong lúc cô lúi húi pha cà phê và chuẩn bị đồ ăn, tôi tựa cửa sổ, nhìn xuống con phố với những mái nhà đầy tuyết ở phía dưới, và bần thần nghĩ: “Cách đây mới có nửa năm, bạn mình ở Hà Nội đã bị giết sau khi cho người lạ đến nhà ngủ đêm…”.

Bạn tôi bị kẻ lạ đập chết, cướp của. Sau cái chết của anh, bạn bè ai cũng thương xót và trách anh: “Không hiểu nó nghĩ thế nào lại tha người lạ về nhà cho ngủ”. Câu chuyện cũng gần giống như vụ án mạng vừa rồi ở Royal City, nhưng bạn tôi may mắn hơn chút xíu, không bị báo chí bêu lên tít là “khát tình” này nọ.

Trong khi đó, lẽ ra, nếu ở một xã hội… bình thường, thì việc phụ nữ đơn thân mời đàn ông đến tư gia là bình thường, còn việc giúp đỡ người khác bằng cách cho họ đến nhà ở nhờ là điều tốt, điều thiện nên làm, nhất là khi người ta gặp khó khăn, lỡ độ đường, v.v. Không có bất kỳ cái gì là đáng trách ở đây cả.

Vấn đề cốt lõi, căn bản, là sống ở Việt Nam, người ta không thể tin tưởng vào tính thiện của con người, không thể tin nhau, không thể lường trước rủi ro của việc đặt niềm tin sai chỗ được. Cái lẽ ra là đáng tin nhất, công bằng nhất trong xã hội – pháp luật – còn chẳng tin nổi, chẳng dự đoán nổi, nói gì tới đạo đức.


* * *


Nhưng chính vì thế nên chúng ta, chúng tôi mới phải đấu tranh.

Cá nhân tôi luôn tin rằng, văn hóa, tâm lý dân tộc là cái có thể thay đổi. Nó sẽ thay đổi khi văn hóa chính trị thay đổi. Và văn hóa chính trị thay đổi khi thể chế chính trị thay đổi.

Năm 1967, nhà thơ Trần Vàng Sao viết “Bài thơ của một người yêu nước mình”, trong đó đoạn kết vang lên đầy nhức nhối:

“… Đất nước này còn chua xót 
Nên trông ngày thống nhất 
Cho bên kia không gọi bên này là người miền Nam 
Cho bên này không gọi bên kia là người miền Bắc 
Lòng vui hôm nay không thấy chật 
Tôi yêu đất nước này chân thật 
Như yêu căn nhà nhỏ có mẹ của tôi…”.

50 năm đã qua. Bây giờ, bên này vẫn có những người gọi bên kia là “Bắc Kỳ”, và nói rộng ra trên toàn xã hội, người ta vẫn phải cảnh giác với nhau. Không thể tin nhau. Không thể ra đường mà không bảo quản chặt túi xách. Không thể đi bệnh viện mà không có tiền. Không thể cho người ngoài đến nhà ngủ, “gớm, họ hàng ruột thịt còn chả tin được nhau nữa là”.

Nhưng tôi vẫn tin tất cả những điều đó sẽ thay đổi.

Và, bạn có tin không, từ ngày trở về Việt Nam (đầu năm 2015), tôi đã ở một số lượng nhà nhiều hơn tổng số tất cả các nhà tôi từng trú ngụ từ khi sinh ra, và đều là ở nhờ. 

ĐT

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TRÍ THỨC NGU – DẤU HIỆU



[TRÍ THỨC NGU – DẤU HIỆU] Tham gia vào các cuộc tranh luận, tôi nhận ra rằng có một loại người rất nguy hiểm. Đó là “trí thức ngu.” Người ngu thì ai cũng biết họ ngu. Người khôn thì từ từ mình nhận ra. Nhưng nguy hiểm nhất là Trí Thức Ngu vì nó ngu mà nghĩ nó khôn, hoặc nó khôn để làm người khác ngu.
Sau đây là các dấu hiệu của Trí Thức Ngu:
1. Nó nguỵ biện và nói vòng vo. Lấy cái B để biện hộ cho cái A.
2. Nó tái xét lịch sử để đổ lỗi, thay vì chỉ kể lại sự kiện. Ví dụ: Lê Duẩn là Nam Kỳ, vì thế CS và chiến tranh là do Nam Kỳ gây ra chứ không phải Bắc Kỳ.
3. Khi bạn chỉ ra cái ngu của nó, nó phán một câu không liên quan như: “Bạn không hiểu lịch sử bằng tôi đâu.” Mặc dù chủ đề chẳng liên quan gì.
4. Nó thường đưa ra quan điểm cá nhân chứ ít khi nào đưa chứng cứ.
5. Và cuối cùng, nó được bảo kê bởi những đứa ngu mà tưởng mình khôn. Nó tự nhốt bản thân trong lâu đài Thượng Đẳng cùng đồng bọn.
Đó là dấu hiệu cái một thằng Trí Thức Ngu. Bạn biết nhiều người như vậy không?
Ku Búa @ Cafe Ku Búa
Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỘ KHẨU – MẸ MÀY, VĨNH BIỆT



[HỘ KHẨU – ĐỊT MẸ MÀY, VĨNH BIỆT] Thủ tướng chính phủ mới ký nghị quyết 112, xoá bỏ hộ khẩu và các thủ tục liên quan, và có hiệu lực ngay lập tức. Cái này là Trung Ương nói, còn cấp dưới thực hiện sao thì chưa biết. Nhưng coi bộ là xảy ra thật.
Cuối cùng sau 42 năm giải phóng, chính phủ đã làm một điều vĩ đại khi bỏ hộ khẩu. Nếu là sự thật, thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ đi vào lịch sử là người xoá bỏ một thứ mà dân ghét nhất – Sổ Hộ Khẩu. Vì không có thủ tục nào mà khó hiểu, rườm rà và ngu dốt bằng hộ khẩu.
Hộ Khẩu vô lý ở chỗ:
1. Muốn có hộ khẩu phải có nhà, muốn có nhà phải có hộ khẩu. Vậy cái nhà với hộ khẩu, cái nào đi trước.
2. Làm thủ tục nhập và tách hộ khẩu rất rườm rà và tốn kém thời gian lẫn tiền bạc. Chủ yếu làm giàu cho bọn công an.
3. Hộ Khẩu phân biệt và phân chia dân tộc thành nhiều vùng miền. Cho nên mới có tình trạng phân biệt dựa trên hộ khẩu.
Tôi là một người chửi chính phủ mạnh, nhưng cái này phải khen. Nhưng đừng quá mừng, vì nói phải đi đôi với làm. Chừng nào làm và mọi người xác nhận thì tôi mới tin. Chúc mừng người dân Việt Nam đã quay trở về trước 1975 khi không có hộ khẩu và mọi người tự do đi lại.
Vậy chuyện gì sẽ xảy ra khi không còn hộ khẩu? Để suy đoán coi.
1. Công an và dân phòng hết cớ để tới nhà dân kiểm tra hộ khẩu và tạm trú tạm vắng.
2. Các khách sạn, nhà nghỉ và nhà trọ không còn phải tốn tiền cho công an để đăng ký tạm trú.
3. Chuyển nơi ở không còn phải báo công an.
4. Đi đăng ký xe hay mua nhà không cần hộ khẩu. Chỉ cần thẻ căn cước hay hộ chiếu.
5. Dân Hà Nội 1 không còn cớ để lên mặt với dân Hà Nội 2 hay 3.
6. Học Viện Cảnh Sát Nhân Dân không còn xét tuyển học viên từ vĩ tuyến 17 trở lên.
7. Người dân tiết kiệm 50% công sức và thời gian khi đi đăng ký bảo hiểm hay giấy tờ.
8. Bệnh nhân được khám bệnh ở bất cứ bệnh viện công nào, chứ không phải cùng tuyến.
9. Không còn cách để phân biệt Bắc Kỳ Nam Kỳ vì hết hộ khẩu. Giờ chỉ còn thằng mất dạy hoặc không mất dạy.
10. Và Ku Búa sẽ đi vào lịch sử khi đã viết bài “Hộ Khẩu – Một thứ khôi hài, vô lý và ngu ngốc.” Không lẽ thủ tướng cũng đọc Cafe Ku Búa? Ảo tưởng chút thôi.
Vậy đó. Sau 42 năm dân Việt Nam đã quay về năm 1975. Giải phóng 42 năm để rồi quay về thời điểm ban đầu.. mẹ một thủ tục hành chính quái gở và ngu dốt. Tao sẽ cất lại để làm kỷ niệm, sau này để con cháu nghe về cái ngu của mày. .. mẹ mày Hộ Khẩu, vĩnh biệt.
Ku Búa @ Cafe Ku Búa
23131640_148866625860196_7532331254783819808_n

Phần nhận xét hiển thị trên trang

34 loại tội phạm mới sẽ bị trừng phạt từ ngày 1/1/2018


>> Thân phận thường dân và hành xử công quyền
>> Luật rừng ở đâu? Hay là chuyện... thiệt tình
>> Hé lộ loạt sếp lớn nhà nước làm ăn thua lỗ sắp "bay chức"


Bảo Hà

VNExp - Nếu bạn sử dụng teen vào mục đích khiêu dâm, gây rối phiên họp, cản trở biểu tình, lãng phí tài sản nhà nước... sẽ phạm tội hình sự.

Bộ luật Hình sự 2015 áp dụng từ ngày 1/1/2018 có 426 điều, nhiều hơn Bộ luật Hình sự 1999 tới 82 điều. Trong số này có 34 tội danh mới.

Điều 415: Chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sĩ

Người nào chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của tử sĩ, bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Người phạm tội là chỉ huy hoặc sĩ quan, chiếm đoạt hoặc hủy hoại di vật của hai tử sĩ trở lên bị phạt tù từ hai đến bảy năm.

Điều 391: Gây rối trật tự phiên tòa, phiên họp

Người nào tại phiên tòa, phiên họp mà thóa mạ, xúc phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của thẩm phán, hội thẩm, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác hoặc người tham gia phiên tòa, phiên họp hoặc có hành vi đập phá tài sản, bị phạt tiền 10-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến hai năm.

Nếu hành vi phạm dẫn đến phải dừng phiên tòa, họp hoặc hành hung thẩm phán, hội thẩm, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khác bị phạt tù từ một đến ba năm.

Điều 147: Sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm

Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. 

Trường hợp phạm tội có tổ chức, đối với hai người trở lên, gây rối loạn thâm thần và hành vi của nạn nhân, làm nạn nhân tự sát…, mức phạt có thể lên tới 7-12 năm.

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

Điều 167: Xâm phạm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân

Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác cản trở công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, quyền biểu tình của công dân, đã bị xử lý kỷ luật hoặc xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Mức phạt cao nhất năm năm tù áp dụng cho tội phạm có tổ chức, lợi dụng chức vụ, quyền hạn, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội…

Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ 1-5 năm.

Điều 219: Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát, lãng phí

Người nào được giao quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước mà vi phạm chế độ quản lý, sử dụng tài sản, gây thất thoát, lãng phí từ 100 triệu đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một đến năm năm.

Nếu gây thiệt hại về tài sản một tỷ đồng trở lên, người vi phạm bị phạt tù từ 10 đến 20 năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 223: Thông đồng, bao che cho người nộp thuế gây hậu quả nghiêm trọng

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn miễn, giảm, xóa nợ tiền thuế, tiền phạt, hoàn thuế không đúng quy định, xác nhận việc thực hiện nghĩa vụ thuế của người nộp thuế không đúng quy định làm thất thoát tiền thuế phải nộp từ 100 triệu đến dưới 300 triệu đồng hoặc dưới 100 triệu đồng nhưng đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ một đến năm năm.

Mức án cao nhất của tội này là 20 năm tù khi người phạm tội gây thất thoát tiền thuế từ một tỷ đồng trở lên. Hình phạt bổ sung là cấm đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 291: Thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng

Người nào thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng từ 20 tài khoản đến dưới 50 tài khoản hoặc thu lợi bất chính từ 20 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng, bị phạt tiền từ 20 triệu đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm.

Khung hình phạt cao nhất dành cho người phạm tội là 2-7 năm tù, phạt tiền 200-500 triệu đồng.

Tình tiết tăng nặng với khung hình phạt này là: thu thập, tàng trữ, trao đổi, mua bán, công khai hóa trái phép thông tin về tài khoản ngân hàng của người khác với số lượng 200 tài khoản trở lên; thu lợi bất chính 200 triệu đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 đến 50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Điều 336: Đăng ký hộ tịch trái pháp luật

Người nào có nhiệm vụ, quyền hạn mà thực hiện việc đăng ký, cấp giấy tờ về hộ tịch trái pháp luật đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp: đăng ký, cấp giấy tờ về hộ tịch trái pháp luật cho hai người trở lên, giấy tờ về hộ tịch đã được cấp, đăng ký trái luật được sử dụng để thực hiện hành vi trái luật... thì bị phạt tù tới hai năm. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một đến năm năm.

Điều 393: Ra mệnh lệnh trái pháp luật

Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra mệnh lệnh trái pháp luật gây hậu quả nghiêm trọng, bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, có thể bị phạt tù 7-15 năm.

Điều 294: Cố ý gây nhiễu có hại

Người nào cố ý gây nhiễu có hại, cản trở hoạt động bình thường của hệ thống thông tin vô tuyến điện gây thiệt hại từ 200 triệu đến dưới 500 triệu đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, bị phạt tiền từ 50 triệu đến 100 triệu đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm.

Nếu phạm tội thuộc một trong các trường hợp: có tổ chức, gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên, tái phạm nguy hiểm bị phạt tù đến năm năm.

Mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người

Điều 154 Bộ luật Hình sự 2015 quy định người nào mua bán, chiếm đoạt mô hoặc bộ phận cơ thể người khác, bị phạt tù từ ba đến bẩy năm. Tội cũng được chia ra nhiều khung hình phạt nhưng mức cao nhất là án tù chung thân với các tình tiết tăng nặng như: có tổ chức, vì mục đích thương mại, phạm tội hai lần trở lên, có tính chất chuyên nghiệp, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể trên 61%, gây chết người…

Hình phạt bổ sung cho người phạm tội này là mức phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

Tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại

Theo điều 187, người nào tổ chức mang thai hộ vì mục đích thương mại, bị phạt tiền 50-200 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm. Khung hình phạt sẽ tăng lên một đến năm năm tù nếu người phạm tội thực hiện hành vi với hai người trở lên, phạm tội trên hai lần, lợi dụng danh nghĩa của cơ quan, tổ chức, tái phạm nguy hiểm…

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10-50 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

Cưỡng bức lao động

Điều 297 quy định: Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc thủ đoạn khác ép buộc người khác phải lao động trong khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án tội này, chưa được xóa án tích… thì bị phạt tiền từ 50 đến 200 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Người phạm tội có thể bị phạt tới 12 năm nếu làm chết hai người trở lên, gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể hơn 122%. 

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 30-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

Bắt cóc con tin

Tội phạm được quy định tại điều 301, theo đó người nào bắt, giữ hoặc giam người khác làm con tin nhằm cưỡng ép một quốc gia, vùng lãnh thổ, tổ chức quốc tế hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân làm hoặc không làm một việc như một điều kiện để thả con tin bị phạt tù từ một đến bốn năm.

Nếu phạm tội trong các trường hợp: làm chết hai người trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên với tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của ba người trở lên mà tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể của những người này 122% trở lên; gây thiệt hại về tài sản 500.000.000 đồng trở lên… có thể bị phạt tù tới 15 năm.

Người chuẩn bị phạm tội này sẽ bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

Gian lận bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp

Điều 214 quy định: Người nào thực hiện một trong các hành vi (lập hồ sơ giả, làm sai lệch hồ sơ, dùng hồ sơ giả, sai lệch lừa dối cơ quan bảo hiểm để chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp từ 10 triệu đồng đến dưới 100 triệu đồng hoặc gây thiệt hại từ 20 triệu đến dưới 200 triệu đồng) sẽ bị phạt tiền 20-100 triệu đồng; phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Mức phạt với người phạm tội này có thể lên tới 10 năm tù nếu thỏa mãn các tình tiết tăng nặng là: chiếm đoạt tiền bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp 500 triệu đồng trở lên; gây thiệt hại 500 triệu đồng trở lên.

Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền 10-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

Gian lận bảo hiểm y tế

Theo điều 215, người nào thực hiện một trong các hành vi: lập hồ sơ bệnh án, kê đơn thuốc khống hoặc kê tăng số lượng, thêm loại thuốc, vật tư y tế, chi phí giường bệnh… mà người bệnh không sử dụng; giả mạo hồ sơ, thẻ bảo hiểm y tế… nhằm chiếm đoạt tiền bảo hiểm sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm.

Nếu chiếm đoạt tiền bảo hiểm y tế 500 triệu đồng trở lên, người vi phạm có thể phải đối mặt án phạt tù 10 năm. Hình phạt bổ sung là phạt tiền 10-100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một đến năm năm.

18 tội còn lại gồm: Trốn đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp cho người lao động (điều 216), Vi phạm quy định về cạnh tranh (điều 217), Vi phạm quy định về kinh doanh theo phương thức đa cấp (điều 217a), Vi phạm quy định về hoạt động bán đấu giá tài sản (điều 218), Vi phạm quy định về quản lý và sử dụng vốn đầu tư công gây hậu quả nghiêm trọng (điều 220), Vi phạm quy định về kế toán gây hậu quả nghiêm trọng (điều 221), Vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả nghiêm trọng (điều 222), Vi phạm quy định về đầu tư công trình xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (điều 224), Vi phạm quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất (điều 230), Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã (điều 234), Vi phạm quy định về bảo vệ an toàn công trình thủy lợi, đê điều và phòng, chống thiên tai; vi phạm quy định về bảo vệ bờ, bãi sông (điều 238), Sản xuất, mua bán, trao đổi hoặc tặng cho công cụ, thiết bị, phần mềm để sử dụng vào mục đích trái pháp luật (điều 285), Sử dụng trái phép tần số vô tuyến điện dành riêng cho mục đích cấp cứu, an toàn, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn, quốc phòng, an ninh (điều 293), Cướp biển (điều 302), Tổ chức, môi giới cho người khác xuất cảnh, nhập cảnh hoặc ở lại Việt Nam trái phép (điều 348), Vi phạm quy định về giam giữ (điều 388), Làm giả tài liệu trong hồ sơ chào bán, niêm yết chứng khoán (điều 212), Gian lận trong kinh doanh bảo hiểm (điều 213).


Phần nhận xét hiển thị trên trang