Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

Quan hệ Việt - Trung qua hồi kí của cựu Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh

































1. 
Đầu năm 1974, thấy tôi xong nhiệm vụ ở Lào rồi mà chưa có việc gì khác, nhân đồng chí Ngô Thuyền đau ốm xin về, trên Trung ương Đảng mới quyết định cử tôi sang làm Đại sứ nước ta ở Trung Quốc. Lúc đó Việt Nam còn coi Liên Xô, Trung Quốc như anh cả anh hai cho nên để tỏ ý trọng thị, ta vẫn cử Ủy viên Trung ương Đảng làm Đại sứ hai nước đó. Trước khi lên đường đi sứ, nhân còn thời gian rỗi, tôi tranh thủ đi thăm một số tỉnh biên giới phía Bắc nước ta để nắm bắt một số tình hình cần thiết cho việc làm Đại sứ, hơn nữa tôi cũng muốn biết tình hình đất nước mình nói chung vì từ khi nhận nhiệm vụ giúp bạn Lào, tính ra đã mười năm xa rời thực tế của đất nước mình rồi. Lúc đó đất nước còn đang chiến tranh, đời sống nhân dân còn rất khó khăn, ở đâu quang cảnh cũng đìu hiu, trầm trầm không có gì là khởi sắc. Ngay cả những nơi bây giờ là khu du lịch nghỉ mát nổi tiếng như Tam Đảo, Sa Pa cũng thưa thớt bóng người, dân chỉ trông vào trồng lúa, nuôi lợn, nuôi gà đủ ăn và làm nghĩa vụ giao nộp sản phẩm cho thương nghiệp quốc doanh thôi. Nhà cửa lâu đài biệt thự ở Tam Đảo, Sa Pa bỏ hoang phế, đổ nát, mặc cho dơi bay cú rúc… Nhưng lúc đó cũng có cái hay là môi trường còn nguyên sơ trong lành lắm, động vật hoang dại còn chưa bị săn lùng ráo riết như bây giờ. Còn nhớ khi lên Tam Đảo, một bác nông dân đang chăm ruộng lúa, bắt được con rùa vàng, bác liền vui vẻ tặng ngay cho cu Dũng nhà tôi vì thấy nó có vẻ lạ lùng và thích thú lắm. Một tối chúng tôi và trú nhờ ở huyện lỵ Bảo Thắng (lúc đó thuộc tỉnh Hoàng Liên Sơn), ăn cơm với huyện ủy, đồng chí Bí thư huyện còn tỏ ý rất tự hào vì “cả huyện tôi không có một cái chợ nào”, cho rằng quản lý như vậy là chặt chẽ và giữ được địa bàn trong sạch, không để cho việc buôn bán làm vẩn đục môi trường xã hội, chỉ có sản xuất mới là việc làm đúng đắn cần thiết. Lúc đó cả tôi cũng chẳng lấy thế làm ngạc nhiên, mà cũng chưa biết rõ rằng không có chợ buôn bán thì chính sản xuất cũng không thể phát triển nổi, chỉ quẩn quanh trong vòng tự cấp tự túc mà thôi.

Khoảng giữa năm 1974, tôi lên đường sang Trung Quốc. Từ khi đó cho đến tháng tư năm 1975 thì quan hệ Việt - Trung vẫn còn bình thường. Sau ngày thắng lợi của ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, Trung Quốc có cử một đoàn đại biểu cao cấp do ông Đặng Tiểu bình dẫn đầu đến Sứ quán ta chúc mừng thắng lợi. Ngày hôm sau, Trung Quốc tổ chức một cuộc mít tinh lớn ở Quảng trường Thiên An Môn để chào mừng chiến thắng của Việt Nam. Trong cuộc mít tinh đó, Đặng Tiểu Bình đọc diễn văn, tôi đọc đáp từ. Trong đáp từ tôi cũng có nói “nhân dân Việt Nam rất biết ơn Đảng, Chính phủ và nhân dân Trung Quốc đã giúp đỡ to lớn cho nhân dân Việt Nam. Thắng lợi của Việt Nam không tách rời khỏi sự giúp đỡ của nhân dân Trung Quốc”. Trong thực tế, khách quan mà nói Trung Quốc giúp ta nhiều thật: vũ khí, lương thực, thực phẩm, quân trang quân dụng, nếu không có sự giúp đỡ to lớn của Liên Xô và Trung Quốc, ta cũng khó thắng Mỹ. Nhưng việc đánh ta, giết hại đồng bào ta, phá sạch nhà cửa của cải của ta năm 1979 đã xóa sạch ân nghĩa đó.

Cũng trong thời gian đó, ông Xi-ha-núc (Quốc vương Cam-pu-chia) và bà hoàng Mô-nic cùng sống ở Bắc Kinh, họ được Trung Quốc dành cho một biệt thư riêng. Họ quan hệ khá tốt với Đại sứ quán ta, với tôi. Có lúc ông Xi-ha-núc mời tôi và một số Đại sứ thân tình đến đánh cầu lông trong biệt thự riêng. Ngày Quốc khánh của Việt Nam, ông ta cũng đến chúc mừng. Cũng có lúc tôi viết thiếp mời hai ông bà sang Sứ quán ta ăn cơm. Trước đây đã có thời Xi-ha-núc ở Việt Nam khá lâu, cũng được dành một biệt thự ở phố Nguyễn Du Hà Nội, ăn Tết Nguyên đán ở Việt Nam do Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời, ông ta có vẻ thân và kính trọng Thủ tướng lắm. Có lần ở Bắc Kinh, ông ta còn ngỏ ý với tôi là muốn được sang Việt Nam ăn Tết. Tuy ăn ở tại Trung Quốc nhưng xem ra ông ta thích ở Việt Nam hơn Trung Quốc. Ngay cả bọn Pôn-pốt Yêng-sa-ri sau này phản bội đem quân đánh Việt Nam, thi hành tội ác diệt chủng ở Cam-pu-chia, nhưng trước đó cũng có quan hệ tốt với Việt Nam, vì cùng chung kẻ thù là bọn Mỹ xâm lược. Khi Mỹ dựng lên chính phủ Lon-non, lật đổ Xi-ha-núc thì Đảng của Pôn-pốt đứng ra đánh Lon-non. Đã có vài lần chính Yêng-sa-ri sang xin viện trợ của Trung Quốc đã phải đến Sứ quán ta nhờ tôi điện về xin Chính phủ ta chuyển giúp vũ khí của Trung Quốc vào Cam-pu-chia giúp họ; cũng có lúc tôi đã mời Yêng-sa-ri ăn cơm ở Sứ quán. Nhớ lại lúc tôi còn làm việc ở Lào, ba nước còn chiến đấu chống Mỹ và bọn tay sai của Mỹ, đồng chí Tổng bí thư Lê Duẩn cũng đã từng mời đồng chí Kay-xỏn Phôm-vi-hản và Pôn-pốt (lúc đó gọi là đồng chí Thanh) sang hội đàm giữa ba Tổng bí thư. Hôm chiêu đãi hai Tổng bí thư Đảng Lào và Cam-pu-chia, tôi cũng được mời đến dự.

Lại nói chuyện Trung Quốc đối với Việt Nam, năm 1976, không khí quan hệ đã bắt đầu đi xuống. Phía Việt Nam cử đoàn quân sự cao cấp do đồng chí Võ Nguyên Giáp đứng đầu mục đích chính là để cảm ơn Trung Quốc. Trước khi đi, đồng chí Giáp đã nghe Vụ Trung Quốc Bộ Ngoại giao ta báo cáo tình hình, nhưng có lẽ bản báo cáo của đồng chí Hoàng Bảo Sơn lúc đó còn quá lạc quan nên đồng chí Giáp chưa tin, khi sang đến Trung Quốc đồng chí gọi tôi đi dạo nói chuyện riêng. Tôi báo cáo là thấy tình hình xấu đi, đồng chí Giáp cũng đồng ý như vậy. Quả thật, chuyến đó Trung Quốc đối xử với đoàn rất kém trọng thị. Khi đến thăm Tỉnh Cương sơn (di tích cách mạng của Trung Quốc) cùng với đoàn Tổng tham mưu trưởng quân đội Triều Tiên. Người ta đã bố trí đoàn Triều Tiên (cấp thấp hơn đoàn ta) ăn ở phòng sang trọng hơn, bố trí đoàn ta ăn ở phòng thường, thậm chí cho ngồi những chiếc ghế không có lưng dựa. Vì vậy, khi về đến Vũ Hán họp đoàn, nhận xét chuyến thăm, thì cả đoàn đều bất bình, đồng chí Giáp cũng bực lắm. Mọi người đều muốn gặp Bộ Ngoại giao Trung Quốc để nói rõ những sự đối xử không tốt đó và biểu thị thái độ bất bình. Nhưng tôi góp ý: Ta nên biết vậy thôi, bây giờ làm thế chỉ thêm căng thẳng, không giải quyết được vấn đề gì. Đoàn đồng chí Giáp cuối cùng đã đồng ý với tôi và ra về. Trên xe lửa, phía Trung Quốc vẫn chưa thôi thái độ xấu, cố dọn cho đoàn có cả một chiếc bát mẻ miệng (thật chẳng xứng mặt nước lớn chút nào?).

Tiếp đó lại đến vụ “nạn kiều”, ban đầu phía Trung Quốc gây ra việc dụ dỗ ép buộc người Hoa ở Việt Nam về nước để tìm cớ xa lánh Việt Nam bắt tay với Mỹ để tìm kiếm nguồn vốn là kỹ thuật từ Mỹ và đồng minh, để họ thực hiện mục tiêu “Bốn hiện đại hóa” của họ. Nói cho khách quan, thì phía lãnh đạo của ta cũng thành kiến và nghi ngờ người Hoa sẽ là đội quân thứ 5 của Trung Quốc nên cũng muốn tống người Hoa đi cho rảnh. Không những gây ra vụ “nạn kiều”, lên án Việt Nam xua đuổi Hoa kiều, Trung Quốc còn ngầm xui Khơ-me đỏ (Pôn-pốt Yêng-sa-ri) quay giáo đánh vào biên giới Tây Nam của ta, khiến Việt Nam vừa kết thúc cuộc chiến tranh lâu dài gian khổ với đế quốc Mỹ, lại phải đương đầu với chiến tranh Tây Nam, đánh nhau với người “bạn cũ”, hòng làm cho Việt Nam không bao giờ đủ mạnh để thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc. Xét về nguyên nhân sâu xa, có thể nói: với tư tưởng bá quyền nước lớn vốn thâm căn cố đế, đã từ lâu, Trung Quốc muốn kéo ta vào tầm ảnh hưởng của họ, bắt ta phải thuần phục họ. Hơn nữa, những người cầm quyền Trung Quốc cũng thường có thói quen đối xử với các nước nhỏ theo phương châm “thuận ngã giả xương, nghịch ngã giả vong” (theo lời ta thì được tốt đẹp, chống lại ta thì ta cho chết). Tuy biết họ như vậy nhưng phía ta mà khôn khéo hơn thì khó để họ lấy cớ gây hấn với ta, bởi vì Trung Quốc lại còn cái bệnh giả nhân giả nghĩa, rất muốn và rất cần che đậy dã tâm của mình. Trong thời gian sau năm 1976, ở Việt Nam cũng có những cái đầu nóng, khi Trung Quốc cố ý gây hiềm khích qua vụ “nạn kiều” thì phía ta lại cũng có ý “tát nước theo mưa”, thành kiến với người Hoa, kỳ thị người Hoa ở Việt Nam, bất kể có người đã là Đảng viên là anh hùng đã đóng góp thực sự cho cách mạng Việt Nam. Tiếp đó ta lại vội vã ký hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô (vào tháng 11 năm 1978) nên cũng góp thêm phần làm cho Trung Quốc ra mặt thù địch với Liên Xô). Cho đến khi Việt Nam buộc phải đánh cho Pôn-pốt một đòn đau, tiến quân vào tận Nông-pênh thì Trung Quốc càng có cớ để động binh, thực sự gây chiến tranh với Việt Nam mà theo Trung Quốc nói công khai là “dạy cho Việt Nam một bài học” (về “tội” câu kết với Liên Xô và đánh Cam-pu-chia), Trung Quốc nói cần phải “chi viện” các đồng chí Khơ-me đỏ. Cuộc chiến tranh tháng 2/1979 tuy trên phương diện quân sự thì Trung Quốc thua, buộc phải rút quân về nước còn bị ta bắt sống nguyên một đại đội; nhưng Trung Quốc cũng đã đạt được nhiều mục đích riêng của họmà mục đích hàng đầu vẫn là để cầu thân với Mỹ (vốn là kẻ thù số một của ta vừa bị Việt Nam đánh cho thua đến “lấm lưng trắng bụng”) và phá hoại ba tỉnh của ta là Cao Bằng, Lạng Sơn, Lào Cai.

2.
...Lược lại một đoạn lịch sử quan hệ Trung Quốc - Việt Nam, thì thấy: ngay từ những năm 50 của thế kỷ 20, khi hai nước còn “hữu hảo” lắm, thì họ đã muốn chinh phục ta bằng lý luận tư tưởng Mao Trạch Đông qua nhiều con đường như sách báo, các đoàn cố vấn, các mối quan hệ qua lại… Ta cũng có thời kỳ bị ảnh hưởng về lý luận tư tưởng đó. Bằng chứng là lúc đó trong trường Đảng của ta còn có chương trình học tư tưởng Mao Trạch Đông và trong thực tiễn cũng làm nhiều việc theo cách của Trung Quốc như việc cải cách ruộng đất đấu tố địa chủ hoặc việc chỉnh đốn tổ chức cũng tổ chức đấu tố “phản tỉnh” trong nội bộ. Sau này, khi phát hiện cải cách ruộng đất là sai lầm, gây tổn thất nghiêm trọng, ta mới tỉnh ngộ, từ bỏ tư tưởng Mao Trạch Đông và không tổ chức thực tiễn theo phương pháp của Trung Quốc nữa. Thất bại trong việc chinh phục bằng lý luận tư tưởng, Trung Quốc chuyển sang chính sách chinh phục ta bằng kinh tế. Từ năm 1954 về sau. Trung Quốc đã giúp ta xây dựng hàng loạt nhà máy xí nghiệp (như Gang thép Thái Nguyên, Phân đạm Bắc Giang, Cao su - xà phòng - thuốc lá Thượng Đình Hà Nội, Bóng đèn phích nước Rạng Đông v.v….) nhưng chất lượng sản phẩm không cao bằng được Trung Quốc, một mặt vì họ cung cấp thiết bị và công nghệ cũ, mặt khác dù có công nghệ tốt họ cũng không chuyển giao cho ta.
Giúp nhiều như vậy, một mặt họ bắt ta phải hàm ơn, phải đi theo; mặt khác, buộc ta phải lệ thuộc họ về phụ tùng nguyên liệu. Vì vậy họ tiếp tục giúp ta về tiền và vật chất mãi đến khi chúng ta giải phóng hoàn toàn miền Nam. Cũng còn một mục tiêu là giúp Việt Nam là để giữ an toàn cho phía Nam Trung Quốc (nếu để Mỹ chiếm được cả Việt Nam thì sẽ diễn ra việc như vụ Mỹ ném bom sông Áp-lục sát biên giới và cả vào đất Trung Quốc hồi chiến tranh Triều Tiên). Sau khi ta ký hiệp định Giơ-ne-vơ, nước ta chia làm hai miền, Trung Quốc gợi ý ta xây dựng miền Bắc trước và thực hiện trường kỳ mai phục ở chiến trường miền Nam. Ý đồ là giữ chúng ta luôn ở thế yếu thì họ mới dễ khống chế (vì ta chỉ có một nửa nước). Họ không muốn ta hoàn toàn giải phóng miền Nam, thực hiện thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, trở thành một nước mạnh tuột khỏi tay Trung Quốc. Nhưng khi Mỹ đã gây hấn ném bom ra miền Bắc, đổ quân vào miền Nam thì Trung Quốc vẫn giúp ta về vũ khí trang bị, về quân nhu hậu cần để an toàn cho họ. Sau Tết Mậu Thân, khi Mỹ giao động quyết tâm, ta cũng thấy có thời cơ thương lượng, thì Trung Quốc không muốn ta đàm phán mà muốn ta “đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng” vừa để cho ta kiệt quệ vừa để Mỹ sa lầy phải tìm đến Trung Quốc.

Qua nhiều sự việc Việt Nam chỉ làm theo ý mình mà không làm theo ý họ, rồi các nhà máy giúp Việt Nam cái thì kém hiệu quả, cái thì bị chiến tranh làm hư hại… Trung Quốc thấy việc lấy kinh tế để điều khiển Việt Nam có vẻ không thành công họ bèn chuyển sang thời kỳ ép ta về quân sự từ hai phía hòng khiến ta phải quy phục: phía Bắc nước ta thì họ làm nhiều con đường ra sát biên giới Việt Nam, phía Nam nước ta thì họ giúp tài chính và trang bị cho Pôn-pốt để nắm vững quân bài, hình thành hai gọng kìm kẹp hai đầu đất nước ta và đồng tình cho Pôn-pốt đánh ta làm cho ta tổn thất và không yên ổn để xây dựng lại đất nước.

Trong bối cảnh như vậy, quá trình tôi làm Đại sứ ở Trung Quốc đúng là một quá trình chủ yếu là tranh cãi và đối phó. Thường xảy ra việc như thế này: Mỗi khi có đoàn đại biểu nào của Việt Nam sang Trung Quốc thì tối hôm đó, trên đài truyền hình và phát thanh của Trung Quốc đều nói đến vấn đề “chủ quyền của Trung Quốc trên các đảo Đông Sa, Tây Sa, Nam Sa là không thể tranh cãi” (tức các quần đào Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam). (Đối với các đoàn từ cấp Phó thủ tướng là họ đều làm như thế). Từ khi xảy ra vụ “nạn kiều” và việc ta ký hiệp ước hợp tác hữu nghị với Liên Xô thì các phương tiện thông tin đại chúng của Trung Quốc lúc nào cũng ra rả lăng mạ “tập đoàn Lê Duẩn”. Khi tôi cho trưng bày hình ảnh Pôn-pốt đánh phá biên giới Tây Nam nước ta ở bảng thông tin của sứ quán (đặt ngoài hàng rào) từ phía Trung Quốc mời tôi lên Bộ Ngoại giao để gặp Thứ trưởng Hàn Niệm Long, ông ta lên tiếng phản đối, đòi ta phải dỡ bỏ những hình ảnh và lời tố cáo đó. Nhưng tôi lại nói: “Những việc mà tôi trưng bày ra, đó đều là sự thật, chẳng lẽ Trung Quốc lại sợ sự thật? Hơn nữa, cái bảng thông tin mà chúng tôi treo ảnh trên hàng rào Sứ quán đó là nằm trong phạm vi chủ quyền của nước tôi, tôi không dỡ bỏ”. Ông ta nói: “Trung Quốc không cho phép nước nào nói xấu nước thứ ba trong lãnh thổ nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa”. Tôi nói: “Đồng chí nói sai rồi, cách đây ba hôm, tôi thấy đồng chí còn giúp cho Đại sứ của Pôn-pốt họp báo nói xấu Việt Nam chúng tôi và cuộc họp báo đó có nhiều cán bộ Trung Quốc làm phiên dịch cho họ”. Nói xong tôi ra về.

Ngày đến ngày 19-5, Sứ quán ta dự định chiếu phim Hồ Chủ Tịch vào buổi tốm hôm 19-5, đúng ngày sinh nhật Người. Ta đã gửi giấy mời đến Sứ quán các nước (lúc đó ở Bắc Kinh có độ trăm Sứ quán nước ngoài) trước đó bảy ngày. Đúng buổi chiều hôm ta đã mời, Trung Quốc lại điện tất cả các Sứ quán, mời đích danh các vị Đại sứ đúng 17 giờ đến Đại lễ đường nhân dân ở Bắc Kinh để xem triển lãm về Thủ tướng Chu Ân Lai. Thong thông lệ quốc tế, bao giờ các Đại sứ cũng phải ưu tiên đối với nước chủ nhà. Thế nên cũng chiều hôm ấy, chúng tôi phải huy động toàn lực ra làm giấy mời, rời buổi chiếu phim của ta sang 18 giờ chiều tối hôm sau. Thật là vất vả với cái trò trẻ con của phía Trung Quốc! 

Rồi lại rất buồn cười là dạo đó Trung Quốc bố trí hai chiếc xe ô tô con luôn luôn “chầu chực” ở hai cửa của Sứ quán ta, cán bộ sứ quán mình đi đâu nó theo đấy, ngay Đại sứ đi nó cũng đi theo.

Một lần nữa Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại mời tôi lên, đưa công hàm phản đối Chính phủ Việt Nam xua đuổi và tước đoạt “nạn kiều” Trung Quốc. Tôi nói: “Chính phủ Trung Quốc kêu gọi người Việt gốc Hoa về nước đã làm lỡ cả một số công việc của chúng tôi tại nơi mà họ đang đảm nhiệm trong cơ sở sản xuất và công sở. Hơn nữa, vào năm 1953, Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thỏa thuận với nhau là người Hoa ở Việt Nam được coi như công dân Việt Nam, do Việt Nam quản lý. Do đó, ở miền Bắc nước tôi đã không có Hoa kiều nữa. Vậy lẽ nào chúng tôi lại xua đuổi công dân của chúng tôi, cho dù họ là gốc Trung Quốc. Còn ở miền Nam, trong thời kỳ Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền, người Hoa đều đã đăng ký quốc tịch Việt Nam. Vậy cho đến nay trên cả nước Việt Nam đều không có ai là Hoa kiều nữa”. Hàn (Niệm Long) nói: “Vậy các ngài cũng công nhận chính quyền Nguyễn Văn Thiệu à?” - Rồi cuộc đối thoại cũng kết thúc.

Trong năm 1977, lại một lần nữa Trung Quốc mời tôi, cũng lại tranh cãi vấn đề Hoa kiều và người Hoa, không bên nào chịu bên nào. Sau khi đấu khẩu như vậy, Trọng Hi Đông (Thứ trưởng Ngoại giao, nguyên là tướng trong quân đội) nói: “Sống hòa bình với nhau thì tốt hơn, chiến tranh thì phức tạp đấy”. Tôi nói: “Tôi cũng đã là tướng, tôi cũng biết thế nào là chiến tranh. Và chúng tôi đã thắng Pháp và thắng Mỹ”.

Một lần khác, Bộ Ngoại giao Trung Quốc lại mời tôi lên gặp một Thứ trưởng Ngoại giao. Ông ta nhờ tôi gửi công hàm về cho Chính phủ ta, đồng thời thông báo: “Do chính phủ Việt Nam bức hại Hoa kiều nên Chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định đưa hai tàu Trường Lực và Minh Hoa vào cảng Hải Phòng và cảng Sài Gòn để đón nạn kiều của chúng tôi”. Tôi nói: “Tôi sẽ chuyển công hàm về cho Chính phủ. Nhưng trước hết tôi nói ở Việt Nam không có nạn kiều. Và Chính phủ chúng tôi còn xem xét, tàu Trường Lực và Minh Hoa có được phép vào Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh hay không đã, vì hai cảng đó thuộc chủ quyền của Việt Nam, không ai được tự tiện vào”.

Khi tôi từ Bộ Ngoại giao Trung Quốc ra về, các phóng viên báo chí quốc tế xúm lại hỏi tôi, tôi nói lại sự việc vừa rồi và nói thêm: “Cảng thành phố Hồ Chí Minh và cảng Hải Phòng đâu phải là cái ao nhà của Trung Quốc mà họ tự ý quyết định đưa tàu vào được”. Sau đó các phóng viên đã đưa tin ra thế giới và tỏ ra thú vị với cách ông Đại sứ nói “cảng Việt Nam không phải là cái ao nhà của Trung Quốc”.

Ngoài những lần như vậy, còn có nhiều lần khác nữa, Bộ Ngoại giao Trung Quốc luôn mời tôi lên, ngoan cố vu cáo Việt Nam ta, lần nào tôi cũng phải đấu lý với họ. Về nguyên tắc, lập trường thì mình rất kiên quyết giữ vững, nhưng về thái độ mình phải đúng mực. Thường là họ phải chịu mình vì họ đuối lý.

3.
Một lần tôi về nước báo cáo (lúc đó muốn về Việt Nam, phải bay từ Bắc Kinh sang Mát-xcơ-va mới bay về được Hà Nội). Ra sân bay Bắc Kinh, nhân viên sân bay muốn bắt tôi đi vào cửa kiểm tra hành lý, tôi không chịu, tôi nói: “Tôi là Đại sứ, tôi được “miễn trừ ngoại giao” theo nguyên tắc quốc tế, nên không ai được kiểm tra khám xét. Nếu các ngài ngăn cản không cho tôi đi, tôi sẽ họp báo tố cáo các ngày vi phạm công ước quốc tế”. Nhân viên sân bay chạy đi đâu đó, ý chừng là đi báo cáo thỉnh thị cấp trên. Sau đó mở cho tôi đi theo đường cửa không soát hành lý.

Lần khác, tôi cũng ra sân bay về nước, họ lại định bắt tôi đưa hành lý vào cửa kiểm soát có chiếu tia X, tôi không chịu. Họ nói đây là kiểm tra an ninh thôi mà. Tôi nói: “Kiểm tra gì tôi cũng không đồng ý, các người nghĩ tôi là không tặc à? Từ trước tới nay tôi chưa hề được biết có nhà ngoại giao nào làm không tặc cả. Nếu nghĩ tôi là không tặc, tại sao lại chấp nhận tôi làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền bên cạnh Chủ tịch nước các người? Tôi nói cho các người biết, là phía Trung Quốc cũng có Sứ quán ở nước tôi, mà nguyên tắc ngoại giao là đối đẳng, nếu các người cố tình kiểm tra hành lý của tôi, tôi sẽ báo cáo về chính phủ, để bên Việt Nam cũng kiểm tra hành lý của Đại sứ các người khi xuất cảnh. Mà nước tôi thì chưa có phương tiện kiểm tra hiện đại, nhân viên Việt Nam sẽ phải mời Đại sứ các người đồng ý như vậy thì hãy làm bừa đi”. Nhân viên Trung Quốc lại phải chịu lý của tôi, lại phải mời tôi đi theo cửa tự do, không kiểm tra hành lý nữa. 

Có lần tôi ngồi xe có cắm cờ Việt Nam đi từ Sứ quán ta ra, đến một đoạn đường nọ, mặc dù đồng chí Quảng đang lái rất nghiêm chỉnh đúng luật, thế mà cảnh sát Trung Quốc lại thổi còi bắt dừng xe, nói rằng anh đã vi phạm luật giao thông, rồi bắt lái xe xuất trình giấy tờ. Giấy tờ đủ cả ! Đồng chí lái xe nói: “Tôi đi đúng luật, không vượt đèn đỏ, không lấn sang phần đường của xe khác?”. Rồi họ cũng phải cho đi tiếp vì không biết làm cách nào, không tìm ra cái gì để bắt bẻ nữa (chủ yếu là họ làm chậm hành trình để tôi sai hẹn với đối tác hoặc với Đại sứ nước nào đó).

Trong trường Đại học Bắc Kinh có nhiều sinh viên nước ngoài, có lần Trung Quốc đã xúi bẩy số sinh viên các nước thân Trung Quốc đến biểu tình trước Sứ quán ta. Ta đối phó việc đó bằng cách tuyên truyền vận động để họ hiểu biết sự thật, ai phải ai trái, phần lớn họ hiểu ra và thôi không tụ họp ở đó nữa. Nhưng cũng còn có 4,5 sinh viên cả trai lẫn gái còn ở lại chỗ gốc cây bên kia đường đối diện của Sứ quán ta. Tôi phải cho người đóng cửa Sứ quán vào và cử đồng chí Lê Công Phụng (lúc đó làm phiên dịch tiếng Anh) ra giải thích cho đám sinh viên đó. Vì cửa đóng sinh viên không vào được bên trong, họ ném trong bì thư (có lẽ bên trong viết nhưng nội dung phản đối Việt Nam) vào sân của Sứ quán. Đồng chí Phụng cầm phong bì ném ra, họ lại nhặt ném vào, đồng chí Phụng lại ném ra và nói: “Các bạn đã bị Trung Quốc lừa rồi, hãy về mà chăm chú học đi thôi”…

Cứ cái cách như vậy thật mệt. Sau này gặp đồng chí Ngô Thuyền, người tiền nhiệm của mình, tôi nói đùa: “Anh thì sang Trung Quốc uống rượu, tôi thì sang cãi nhau!”.

Trong thời gian quan hệ hai nước căng thẳng thì các đường đi lại giữa ta và Trung Quốc bị cắt hết: cả máy bay, tàu hỏa, điện thoại. Chúng tôi ở Sứ quán giữa Bắc Kinh mà cứ như ở đảo. Hàng ngày chỉ có hai ca liên lạc VAC, một ca buổi sáng, một ca buổi tối để liên hệ và nhận chỉ thị từ trong nước. Thành thử có nhiều việc xảy ra, chúng tôi phải tự động đối phó. Cũng vì vậy, nên mỗi lần tôi hết nhiệm kỳ Đại sứ, Bộ Ngoại giao báo cáo Thủ tướng Phạm Văn Đồng thì đồng chí lại bảo: “Cứ để đồng chí Vĩnh ở đấy”. (Hơn nữa, trong tình hình khó khăn như vậy, chẳng ai muốn sang thay. Lúc ấy lương tôi chỉ được có 90 đô la một tháng, trong khi lương Đại sứ Thái Lan cùng ở Bắc Kinh là 3.000 đô la. Đến năm 1990, đồng chí Đặng Nghiêm Hoành sang làm Đại sứ ở Bắc Kinh, lương được 600 đô la một tháng. Lái xe của sứ quán Lào cũng được 400 đô la một tháng).

Do đã ở liền vài nhiệm kỳ ở Bắc Kinh, nên theo thông lệ quốc tế, tôi trở thành Trưởng đoàn ngoại giao một thời gian khá dài. Ngoại giao đoàn rất coi trọng chức trưởng đoàn đó, các Đại sứ mới đến Trung Quốc, sau khi đi chào các vị lãnh đạo của nước chủ nhà thì đều phải đến chào trưởng đoàn ngoại giao; khi tổ chức ngày Quốc khánh nước mình thì cũng đến mời trưởng đoàn ngoại giao, mà lại bố trí ngồi chỗ trang trọng nhất trước mặt mình. Khi có Đại sứ nào rời nhiệm, nếu có tổ chức gặp gỡ để chào từ biệt ngoại giao đoàn, thì cũng mời trưởng đoàn ngoại giao và trưởng đoàn ngoại giao sẽ thay mặt các Đại sứ phát biểu ý kiến tiễn biệt. Trong suốt thời gian làm Trưởng đoàn ngoại giao, tôi đã phải làm đến 60 bài diễn văn ngắn để chào mừng hoặc tiễn biệt những người đồng nghiệp. Tuy ngắn vậy thôi, nhưng cũng không phải dễ làm, bởi vì mỗi vị Đại sứ đại diện cho mỗi nước khác nhau, quan hệ với ta cũng khác nhau, 60 bài đòi hỏi phải sát hợp với những hoàn cảnh khác nhau đó. Có lần ông Đại sứ Thụy Điển đã nói với tôi: “Tôi theo dõi thấy ngài phát biểu không lần nào giống lần nào”.

Có chuyện ông Đại sứ Mỹ, khi đến nhận chức thì không đến chào tôi, nhưng khi rời chức, tổ chức gặp gỡ để từ biệt thì lại đến Sứ quán ta thông báo cho tôi là đã hết nhiệm kỳ và mời tôi đến dự. Tôi nói: “Khi ngài mới đến, hoặc là ngài còn hận Việt Nam, hoặc ngài sợ Trung Quốc nên đã không đến chào tôi. Nhưng hôm nay ngài đã đến và mời tôi tới dự buổi gặp mặt từ biệt, tôi nhận lời và sẽ phát biểu ý kiến tiễn chân ngài”. Cái khó là trong trường hợp này là, ca ngợi ông ta thì không được mà nói xấu ông ta cũng không xong. Tôi phải tìm những câu vô thưởng vô phạt để nói, cuối cùng thì cũng chức sức khỏe ông ta và gia đình, chúc ông ta lên đường gặp mọi sự may mắn. Các Đại sứ khác nghe vậy cũng thấy là được.

Mặc dù Trung Quốc lúc đó chẳng ưa gì Đại sứ Việt Nam, lại càng không ưa gì một người luôn đấu lý (và lại hay làm họ cứng họng) như tôi, nhưng cũng vì tôi làm Trưởng đoàn ngoại giao nên dịp mừng Quốc khánh của họ hay dịp các nguyên thủ các nước đến thăm mà Trung Quốc mở tiệc chiêu đãi trọng thể, bao giờ họ cũng phải mời tôi ngồi bàn danh dự.

Rõ ràng phía Trung Quốc không muốn tôi làm Trưởng đoàn ngoại giao nhưng không có cách gì truất chức đó của tôi, nên lắm khi họ bày ra những chuyện nực cười, rất trẻ con để chọc phá tôi.

Cái lần đoàn ngoại giao đi thăm tỉnh An Huy của Trung Quốc, khi kết thúc hành trình, lãnh đạo địa phương tổ chức tiệc chiêu đãi tại một công viên. Trước khi vào phòng tiệc, một cán bộ ngoại giao Trung Quốc đến nói với tôi: Những lần trước ngài đã phát biểu rồi, lần này nên làm khác đi, để ông Đại sứ Tan-za-nia (người thứ hai sau trưởng đoàn) phát biểu ý kiến. Tôi nói: “Nếu không cần phải phát biểu ý kiến gì thì thôi, còn nếu có, thì theo thông lệ quốc tế, tôi sẽ phát biểu chứ không phải người khác. Nếu các ngài cố ý làm trái, tôi sẽ không dự bữa tiệc này. Vả lại tôi cũng chẳng nói xấu gì về nước các ngài”. Cán bộ Trung Quốc nói: “Sẽ không có ai phát biểu cả”. Vậy mà ngay lúc đó, phía Trung Quốc lại đi vận động ông Đại sứ Tan-za-nia phát biểu trong bữa tiệc. Nhưng ông Đại sứ Tan-za-nia nói: “Không được! Phát biểu là quyền của ông Đại sứ Việt Nam. Chỉ khi nào ông ấy ủy quyền cho tôi thì tôi mới được nói”. Trong khi các Đại sứ khác đều đi vào phòng tiệc, tôi vẫn đi ở vườn hoa chưa vào. Lúc sau, cán bộ ngoại giao Trung Quốc ra mời tôi vào ngồi ở bàn số Một, đối diện với Tỉnh trưởng An Huy. Bên cạnh tôi vẫn còn chỗ trống, thì ra ông Đại sứ Tan-za-nia cũng ngại nên vẫn loanh quanh ngoài vườn hoa chưa vào. Họ lại phải đi tìm và mời vào chố trống đó. Lúc khai tiệc, chắc theo đạo diễn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Tỉnh trưởng không nói gì. Tôi vẫn chủ động đứng lên nâng cốc, cảm ơn về chuyến đi, chúc sức khỏe Tỉnh trưởng cùng Thứ trưởng ngoại giao Trung Quốc đi cùng và tôi quay lại chúc sức khỏe các bạn đồng nghiệp. Tôi chúc xong mọi người mới bắt đầu cầm đũa.

Trong thời kỳ làm Đại sứ, thỉnh thoảng tôi có tổ chức họp báo, lúc thì để giới thiệu tình hình nước ta, lúc thì để tố cáo bọn Pôn-pốt khiêu khích đánh phá biên giới Việt Nam. Khi Trung Quốc đánh ta, tôi cũng họp báo và tố cáo rằng: “Trung Quốc đang dùng 3 sư đoàn tiến đánh Việt Nam”. Một nhà báo Mỹ đứng lên nói: “Ngài Đại sứ nói quá lên thế chứ, còn theo tình báo của chúng tôi thì đâu có nhiều quân đến thế?”. Tôi nói: “Việc chúng tôi thì chúng tôi biết hơn ai hết. Còn tình báo của các ngài thì chúng tôi cũng đã biết. Tết Mậu Thân năm 1968, quân chúng tôi vào đánh khắp nơi, đánh cả vào Sứ quán Mỹ, mà trước đó tình báo Mỹ có biết gì đâu!”. Các nhà báo cười ồ cả lên. (Đến đây tôi chợt nhớ một chuyện về ngài Đại sứ, cũng là Mỹ ở Trung Quốc: Khi đến nhận chức ở Bắc Kinh, ông ta không đến chào tôi, vì vậy sau đó mỗi khi đứng cương vị Trưởng đoàn ngoại giao có việc gì cần gửi thông báo đến các Đại sứ, tôi không gửi cho Sứ quán Mỹ và cho ông ta. Một số Đại sứ khác ở Trung Quốc thấy tôi có thái độ “tẩy chay” Đại sứ Mỹ, đã đến vận động tôi đừng làm như vậy. Nhưng tôi nói, khi đến ông ta cậy thế nước lớn không đến chào tôi, vì vậy tôi cũng không việc gì phải giao thiệp với ông ta. Không biết có phải ông Đại sứ Mỹ đã được chuyển đến tai câu nói đó của tôi hay không, mà khi tổ chức chiêu đã rời nhiệm sở, ông ta lại phải đến tận nơi mời tôi?).

4.
Làm Đại sứ ở Trung Quốc trong những năm Trung Quốc cố tình khiêu khích và biến Việt Nam thành kẻ thù, đã đành là rất căng thẳng thần kinh và hao tổn thể chất; nhưng với tôi, cũng không phải là hoàn toàn chỉ có vất vả gian khổ. Cũng có những khi được “đắc ý” chứ. Ấy là niềm vui sau những cuộc đấu lý với Trung Quốc. Họ thì hùng hùng hổ hổ, đập bàn đập ghế, dùng những lời lẽ đao to búa lớn để vu cáo trắng trợn và đe dọa ta. Tôi thì vận hết “nội công” cố sức kiềm chế để không bị cuốn vào cái kiểu hùng hổ bất lịch sự, phi ngoại giao đó, để tìm những lý lẽ và ngôn từ đích đáng, đập lại họ, buộc họ phải rút dù. Sau mỗi cuộc như vậy, tôi thấy như người đánh cờ, thắng được một ván là có được một niềm vui.

Hơn nữa, cũng có những lúc mình được hưởng cái sung sướng thực sự, đó là vào những cuộc “lữ hành ngoại giao” mà phía Trung Quốc, với cương vị nước chủ nhà đã tổ chức cho đoàn ngoại giao đi chơi thăm thú các nơi phong cảnh đẹp hoặc lạ ở trên đất nước họ. Tôi nghĩ nếu không có dịp làm Đại sứ thì đã mấy khi mình được du lịch không mất tiền nhiều như vậy?

Năm 1974, khi mới sang Trung Quốc, tôi được đi chuyến “lữ hành ngoại giao” thăm Côn Minh, đó là một thành phố đẹp và loại nhất của Trung Quốc, thuộc tỉnh Vân Nam sát với Việt Nam ta. Côn Minh còn được người Trung Quốc gọi là “Xuân Thành” vì khí hậu rất tốt, quanh năm mát mẻ như mùa xuân. Ở Côn Minh có rất nhiều phong cảnh đẹp và kỳ lạ như Thạch Lâm, Hồ Điền Trì, Ôn Tuyền v.v… rất nhiều chùa chiền đẹp và khuôn viên rộng lớn, sạch sẽ. Vì Côn Minh ở độ cao trên 1.500m nên người dân lúc nào cũng mặc áo len, trông lại càng nhiều màu sắc bắt mắt, ở đây cũng lưu truyền câu nói “nhất vũ thành đông” (tức là hễ có một trận mưa là rét như mùa đông). Ở đây có hai vị thuốc quý là đông trùng hạ thảo và tam thất (ở Vân Nam trồng thì gọi là Điền thất, Điền thất là thứ tam thất hàng đầu của Trung Quốc). Ở Côn Minh, chúng tôi được thưởng món đặc sản “bún qua cầu” rất lạ. Một sợi bún dài như vô tận được cho đi qua một bát nước dùng mà trên mặt có váng mỡ để giữ cho được nóng lâu. Người ăn cứ việc hút sợi bún đó mà ăn đến no thì dừng lại. (Phải mở ngoặc là lúc đó Trung Quốc còn chưa trở mặt với ta, tôi còn được vợ đồng chí Lý Thế Thuần đưa đi và làm phiên dịch - Khi tôi đã nghỉ hưu, đồng chí Lý Thế Thuần làm Đại sứ Trung Quốc ở Hà Nội).

Năm 1975, tôi lại được cùng đoàn ngoại giao đi Tân Cương, đó là nơi biên giới xa xôi, giáp với Liên Xô. Ở đây cuộc sống và phong tục rất khác lạ. Họ cho ăn thịt cừu và uống sữa ngựa. Thứ sữa đó mùi vị như bia, uống vào thấy hơi say say, họ nói chỉ có khách quý mới được uống, còn thì chỉ dành cho bệnh viện, nhất là cho người bị bệnh lao. Ở Tân Cương có giống dưa lưới và đào bẹt (gọi biển đào), ăn cực ngon. Chúng tôi đến Tân Cương đúng vào mùa đào chín, họ cho vào vườn tha hồ hái, ăn chán thì thôi. Chúng tôi cũng gặp nhiều người dân địa phương ở đây, họ ăn mặc rất rực rỡ, đàn ông thì cao lớn, phụ nữ thì xinh đẹp như tiên, trông họ có vẻ như lai Á lai Âu, nét mặt thật sáng sủa.

Năm 1976, lại được đi chơi núi Thái Sơn (thuộc tỉnh Sơn Đông). Mặc dù không phải núi cao và lớn hàng đầu của Trung Quốc, nhưng Thái Sơn (cao 1.500m so với mặt nước biển) lại rất nổi tiếng, đã đi vào câu nói hàng ngày và văn thơ của Trung Quốc. Ở Trung Quốc người ta thường nói “có mắt mà không nhìn thấy Thái Sơn” hoặc “nặng như Thái Sơn”… Ngay cả trong thơ ca Việt Nam cũng có câu “Công cha như núi Thái Sơn - Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” v.v… Phong cảnh ở đây rất đẹp, y như trong tranh thủy mặc ở Trung Quốc vậy. Và rất tự hào là trong chuyến đi đó, cả đoàn ngoại giao, chỉ có tôi và hai vợ chồng ông Đại sứ Hung-ga-ri là trèo được mấy ngàn bậc đá lên tận đỉnh Thái Sơn, đứng đó để ngắm ra tận biển Đông của Trung Quốc được xem mặt trời mọc từ biển lên rất hay. Tận trên đỉnh cao như vậy mà người Trung Quốc từ xưa đã xây được lâu đài đình các nguy nga, kể cũng đáng nể.

Năm 1980, sau khi Trung Quốc đã gây hấn đánh Việt Nam rồi, nhưng vì vẫn có chuyến “lữ hành ngoại giao” và vì tôi là Trưởng đoàn nên họ phải mời tôi cùng đoàn đi chơi tỉnh An Huy, thăm thắng cảnh Hoàng Sơn, cũng là một trong những cảnh đẹp hàng đầu của Trung Quốc, có nhiều cây thông cổ thụ mọc trên vách đá cheo leo, đủ hình đủ thế, theo đường núi lên đến đỉnh thì thấy đền đài cổ kính, xây cất rất đẹp và công phu. Từ cổ xưa, các triều đại phong kiến Trung Quốc đã hay tìm những nơi có cảnh thiên nhiên đẹp, cho xây dựng lên những công trình tráng lệ và cũng may cho đất nước Trung Quốc là ít bị chiến tranh tàn phá nên bây giờ các công trình còn lại khá nhiều.

Thông thường đoàn ngoại giao đi đến tỉnh nào thì Tỉnh trưởng ở đó tiếp đón và khi kết thúc chuyến đi thì Tỉnh trưởng lại đãi tiệc. Trước bữa tiệc, sau khi Tỉnh trưởng phát biểu thì đến Trưởng đoàn ngoại giao thay mặt các Đại sứ đọc đáp từ. Thời kỳ quan hệ hai nước đang căng thẳng thì tôi làm Trưởng đoàn ngoại giao, khi nói đều phải tránh không ca ngợi lãnh đạo và thành tích của nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa, chỉ ca tụng cảnh đẹp của địa phương, sự đón tiếp của những nơi đoàn đến thăm, các sản vật quý của địa phương, chúc sức khỏe các vị lãnh đạo địa phương để lãnh đạo phát triển kinh tế, cải thiện đời sống nhân dân trong địa bàn… (Riêng lần đi An Huy này thì có chuyện buồn cười như đã thuật ở phần trên).

Thời gian ở Bắc Kinh, tôi cũng tạo được điều kiện cho vợ chồng Minh Hà (con gái thứ 3 lấy chồng người Đức là Verner) từ Đức sang thăm Trung Quốc. Và một lần từ Trung Quốc bay sang Mát-xcơ-va, tôi và bà xã cũng tranh thủ đi xe lửa sang chơi bên Đức, thăm nhà con gái.

Cũng nhờ việc làm Đại sứ ở Bắc Kinh nên tôi còn được biết cả thủ đô các nước Triều Tiên, Ap-ga-nit-xtan, Pa-kit-xtan nữa.

Vào mùa hè năm 1977, có Hội nghị quốc tế về nông nghiệp do Triều Tiên đăng cai. Bên nước điện sang cử tôi và anh phiên dịch tiếng Anh đi dự, vì vậy có dịp thăm quan thành phố Bình Nhưỡng thủ đô Triều Tiên. Thành phố đó không gọi là lớn nhưng rất đẹp, các công trình kiến trúc cũng đẹp, có vẻ phô trương, đồ sộ. Ví dụ có một nhà hát chỉ độ 500 chỗ nhưng khuôn viên khá lớn và trang trí rất lộng lẫy. Đường phố hai bên trồng toàn cây ngô đồng, đang mùa hè nên lá rất xanh tốt. Tôi được ăn một bữa tiệc ngồi cùng bàn với ông Kim Nhật Thành và lần đầu tiên được biết món “kim chi” nổi tiếng của Triều Tiên, rất ngon.

Một lần tôi đi tháp tùng đồng chí Nguyễn Duy Trinh (Bộ trưởng Bộ Ngoại giao) đi thăm Ap-ga-nit-xtan, đến thủ đô Ca-bun, thật tiếc là thủ đô đó chẳng gây cho mình ấn tượng và cảm xúc gì. Sau khi đi thăm Ap-ga-nit-xtan (lúc đó có chính quyền thân Liên Xô), đoàn sang thăm Pa-kit-xtan nhưng chẳng được việc gì, họ đối xử rất nhạt nhẽo vì họ đang theo Trung Quốc, mâu thuẫn với Ap-ga-nit-xtan. Ở Pa-kit-xtan không được uống bia rượu và ăn thịt lợn, vì nước đó theo đạo Hồi. Pa-kit-xtan lúc đó rất nghèo và phụ thuộc Trung Quốc. Có một con đường lớn nối từ thủ đô Is-la-ma-bat đến Trung Quốc men theo sườn dãy Hi-ma-lay-a, được biết là do Trung Quốc làm giúp. Thành phố Ca-ra-si, nơi có sân bay quốc tế, gọi là lớn nhưng lúc đó cũng rất lèo tèo.

Có một việc dường như cả những người thân cũng ít biết đến, đó là thời gian tôi được cử làm Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam tại Trung Quốc, thì cũng kiêm luôn cả chức Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Việt Nam ở Pa-kit-xtan. Khi bay từ Bắc Kinh sang Is-la-ma-bat, qua dãy Hi-ma-lay-a nóc nhà thế giới, nhìn thấy tuyết phủ dày trắng, mấy người cũng đã nói đùa với nhau: giá mà rơi xuống đây thì đố có ai tìm được! Đến thủ đô Pa-kit-xtan tôi phải đi trình quốc thư; rất ấn tượng với nghi lễ của nước này: họ cho xe song mã, có lính bồng súng rất trang trọng và rất oai đến đón. Đại sứ được ngồi xe song mã, đằng sau có 6 người lính cưỡi ngựa cầm giáo hộ tống vào phủ Tổng thống.

Lại nói chuyện về đi lại ở Trung Quốc, ngoài những chuyến đi với đoàn ngoại giao, còn có một chuyến đi đáng nhớ nữa. Đó là chuyến đi theo đường sắt Côn Minh - Thành Đô vào năm 1977. Dạo đó ở thành phố Côn Minh, ta có một cơ quan Tổng lãnh sự, lại có khá đông các gia đình Việt kiều. (Số bà con đó trước làm thợ hỏa xa phục vụ đường sắt Hải Phòng - Côn Minh từ thời Pháp, sau ở lại Côn Minh). Vì vậy tôi có xuống thăm cơ quan và bà con. Bình thường xuống Côn Minh, tôi vẫn đi theo đường xe lửa phía Đông, từ Bắc Kinh qua Trịnh Châu, Vũ Hán, Trường Sa, Quý Dương rồi đến Côn Minh và ngược lại. Đồng thời, theo quy định của Trung Quốc thì khách nước ngoài muốn mua vé xe lửa phải mua qua “lũ hành xã” (kiểu như du lịch quốc doanh bên ta) mới được. Những lần đó không hiểu sao anh em ở cơ quan Lãnh sự quán lại tự đi mua được vé, mà lại mua được vé theo con đường phía Tây. (Tức đường từ Côn Minh đến Thành Đô rồi qua Tây An, Thái Nguyên về Bắc Kinh). Tôi cũng thích đi theo con đường đó vì chưa đi lần nào, hơn nữa lại nghe nói rất nhiều về việc hoàn thành đoạn đường Thành Đô - Côn Minh mới làm, Trung Quốc coi là thắng lợi lớn vì đoạn đó rất khó thi công… Tôi đi cùng hai đồng chí Bí thư ở Sứ quán. Trên đường, qua quan sát thì thấy quả là “danh bất hư truyền”, không thể không ngạc nhiên thán phục công trình hoành tráng như thế. Xe lửa phải đi trên sườn núi đá dài rất hiểm trở, vì vậy có nhiều hầm tuy-nen chui qua núi, nhiều cầu cạn chênh vênh bắc giữa hai ngọn núi và nhiều đoạn leo đèo dốc quanh co. Có đoạn qua sông Kim Sa nổi tiếng hung dữ (đã được nhắc đến trong truyền thuyết thày trò Đường Tăng và Tôn Ngộ Không đi Tây Trúc lấy kinh). Trên tàu, chúng tôi vô tư dùng tiếng Việt nói chuyện với nhau nên đã gây chú ý cho nhân viên xe lửa Trung Quốc, có lẽ vậy họ mới đi gọi điện báo cho người ở đâu đó. Một lúc sau, thấy hai nhân viên ăn mặc sắc phục đường sắt đến ngồi bắt chuyện với chúng tôi. Khi đến Thành Đô, họ nói: “Xe lửa bị hỏng, đề nghị các vị xuống phòng đợi”, họ xách hộ hành lý cho chúng tôi. Sau đó họ nói tầu bị nghẽn còn lâu mới sửa xong. Họ đưa chúng tôi vào một khách sạn trong Thành Đô. Ngày hôm sau chúng tôi đường dẫn đi xem thành phố, được thăm nhà lưu niệm thi hào Đỗ Phủ. Tối về họ nói: “Thôi các vị phải đi máy bay về Bắc Kinh thôi”. Tôi nói: “Chính phủ chúng tôi cấp tiền có hạn, không đủ tiền mua máy bay”. Họ nói, sẽ giúp đòi lại tiền tàu của cơ quan đường sắt để các vị mua vé máy bay. Tôi nói, dù có lấy lại được thì số tiền đó cũng không đủ mua vé máy bay, chúng tôi còn nghèo, phải tiết kiệm. Chúng tôi sẽ đợi đến bao giờ xe lửa thông thì chúng tôi sẽ về Bắc Kinh. Không còn cách nào, cuối cùng họ phải nói thẳng: “Tuyến đường xe lửa này, Chính phủ nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa không cho phép người nước ngoài đi”. Lúc này chúng tôi mới biết họ là công an mật đã lên kèm chúng tôi từ giữa đường đến Thành Đô. Sau đó phía Trung Quốc phải bỏ tiền lấy vé máy bay cho đoàn chúng tôi về Bắc Kinh. Thì ra đường sắt Thành Đô - Côn Minh mà Trung Quốc cố làm cho bằng được đó là con đường chiến lược bí mật của họ. Năm 1979 khi Trung Quốc tấn công ta thì cũng có một cánh quân xuất phát từ Đại quân khu Thành Đô vào đánh ta ở hướng Lào Cai. Ta bắt sống được một Đại đội, họ khai rằng, họ là quân của sư đoàn 150, quân đoàn 50 thuộc Đại quân khu Thành Đô, được chở bằng xe lửa từ Thành Đô đến biên giới Việt Nam qua Côn Minh.

5.
Khoảng cuối năm 1985 (tức cuối kỳ làm Đại sứ), bỗng nhiên tôi bị những cơn tim đập nhanh (140 nhịp một phút), phải đến bệnh viện Trung Quốc để khám. Nhưng đi đến giữa đường thì cơn tim đó lại dừng nên đến bệnh viện khám không thấy gì. Lần thứ hai cũng vậy, lần thứ ba thì cùng với cơn tim đập nhanh lại kèm theo sốt nhẹ, tôi phải vào nằm viện để điều trị. Bệnh viện cũng làm đủ mọi động tác xét nghiệm cần thiết như: đo điện tim, siêu âm tin phổi thận, rửa ruột, xét nghiệm máu, soi dạ dày v.v… Sau một loạt khám nghiệm cẩn thận như thế mà họ cũng chỉ kết luận được là “tim đập nhanh đậu tính kèm theo sốt”. Tôi đề nghị điều trị theo cách Đông – Tây y kết hợp. Họ chấp nhận nên hàng ngày cho thuốc viên đồng thời sắc thuốc bắc cho tôi. Họ bố trí tôi nằm riêng một phòng có điều hòa nhiệt độ và mắc vào người tôi những dụng cụ để theo dõi nhịp tim thường xuyên, có màn hình hiện lên trước mặt, nằm ở giường cũng có thể trông thấy. Hễ hơi động cựa mình hoặc dãy chân một tý là màn hình hiện lên con số 150 nhịp/ phút ngay. Về ăn uống bệnh viện cũng lo rất khá, 5 bữa một ngày. Sáng sớm thì bánh bao hoặc sủi cảo, giữa buổi uống sữa, trưa ăn cơm, 2-3 giờ chiều ăn bánh ngọt hoặc hoa quả, tối ăn cơm. Điều trị được ba, bốn ngày, bệnh tim vẫn không chuyển biến. Thế là lại phải nhịn ăn, lấy máu xét nghiệm, lại rửa ruột… vẫn không tìm ra nguyên nhân gì. Rồi đến một lúc tôi không ăn được, không ngủ được, thỉnh thoảng lại còn bị cảm (sau mới biết là nằm trong phòng có điều hoà nhiệt độ thường xuyên, tôi không quen nên mới bị cảm lạnh). Tình hình cứ thế kéo dài, tôi ngày càng gầy sút, chân tay trở nên uể oải không có lực. Đến nỗi việc tắm rửa cũng không tự mình làm được, phải nhờ anh em trong Sứ quán mình vào tắm giúp. Rồi đến lúc giơ tay lên đánh răng rửa mặt cũng thấy mỏi rã ra. Sau một tháng tôi sút mất 10 cân, chân tay lẩy bẩy, đi lại phải vịn, phải lần. Tôi nghĩ nếu cứ nằm đây thì sẽ suy sụp đến chết mất. (Trong khi đó ở Sứ quán, anh em đã họp bàn với nhau, nói đến việc nếu Đại sứ chết thì chôn ở Bắc Kinh hay đưa thi hài về nước). Tôi nói với bệnh viện là mình đỡ rồi, xin về Sứ quán chữa ngoại trú, tôi không dùng máy điều hoà nhiệt độ, chỉ dùng quạt ở mức nhẹ nhất, cho quay đi quay lại phe phẩy thôi. (Ngoài trời lúc đó đang là nóng nhất trong năm). Về ăn uống thì chú Quế (nấu cơm cho tôi đã lâu năm rất tận tình) thường đi mua thịt bò về làm cho chín tái đi rồi ép lấy nước cho tôi, hoặc chú nấu cháo gà cho, nhưng tôi vẫn chỉ ăn được một chút. Tôi thấy ngủ được hơn trong bệnh viện và uống được chút nước thịt cũng hấp thu tốt hơn. Hàng ngày tôi vào bệnh viện cho họ bắt mạch và cắt thuốc bắc về uống, vì hàng ngày vẫn còn sốt âm ỷ. Tôi xem đơn thuốc họ kê cho thì thấy trong đó có nhiều vị tác dụng tư âm thanh nhiệt, lần nào cũng thế. Từ trước tôi đã có mua và đọc nhiều sách thuốc của Trung Quốc, đã có chút hiểu về Đông y; vì vậy khi đọc đơn thuốc đó, tôi suy nghĩ: đã tư âm thanh nhiệt mãi mà không khỏi sốt, ắt trong người phải có chỗ viêm nhiễm nào đấy (mà có thể nó chưa đủ lớn để thày thuốc phát hiện được). Tôi nhờ anh Bảng phiên dịch tiếng Trung Quốc ra hiệu thuốc mua cho vị kháng sinh thực vật là bồ công anh, kim ngân hoa vàliên kiều về bỏ vào thang thuốc của bệnh viện sắc uống trong ba ngày. Uống xong ba ngày thì hết sốt, sau đó tôi thấy trong người ngày càng khá hơn lên, dần dần ăn được ít cơm. Tuy vậy người vẫn còn yếu. Tôi định rủ bà xã về nước (tôi nghĩ nếu có chết thì chết trong nước cho khỏi phức tạp, phiền hà đến cơ quan, tổ chức). Vừa lúc đó, chị Lan bác sĩ của Sứ quán lại phát hiện bà xã tôi bị vàng da, vàng mắt; đưa đi bệnh viện khám thì ra viêm gan cấp tính, phải nằm viện chuyên khoa cách ly điều trị một tháng. Khi bà xã tôi khỏi bệnh ra viện, chúng tôi cùng rời Bắc Kinh về nước. Khi ra sân bay, bác sĩ của Sứ quán vẫn phải đưa tôi đến tận chân thang máy bay. Về đến Hà Nội, bác sĩ của Bộ Ngoại giao ta phải ra tận máy bay đón tôi. Khi tôi có việc lên Bộ Ngoại giao, chỉ có thể đứng dưới nhắn người của vụ Trung Quốc xuống mà gặp. Tôi không còn đủ sức trèo lên tầng ba để làm việc. May mắn là tôi có đem về được hai hộp bột tam thất Vân Nam (là thứ tốt nhất hồi đó, ở Việt Nam hầu như không thể kiếm được). Tôi uống bột tam thất, đồng thời động viên bà vợ cùng ăn gạo lứt để chữa bệnh. Kiên trì ngày một bữa gạo lứt trong hơn hai tháng thì sức khoẻ tôi đã hồi phục như bình thường.

Người ta nói “trong cái rủi có cái may”, bị một trận ốm thập tử nhất sinh ở Bắc Kinh như trên đã nói, rõ ràng là chẳng ai muốn, nhưng qua trận ốm đó tôi lại học được nhiều việc, tôi trở nên chú ý suy ngẫm, rút kinh nghiệm về bảo vệ sức khỏe và thêm hứng thú đi sâu nghiên cứu Đông y hơn. Sau này khi có điều kiện, tôi đã mầy mò nghiên cứu học hỏi cho có bài bản và trở thành thày lang của gia đình, chữa được nhiều bệnh cho vợ con, cháu chắt, bạn bè….

Cái thời những năm 80 thế kỷ trước, ở trong nước mọi thứ hàng hóa đều khan hiếm. Mỗi lần về nước là cán bộ nhân viên Sứ quán ta đều tranh thủ mua các thứ hàng tiêu dùng đem về, kỳ cho hết tiêu chuẩn trọng lượng hàng được phép theo quy định của hàng không mới thôi. Chú Quế đầu bếp của tôi cũng vậy, mua cả táo tàu (thứ táo nhỏ của Tàu sấy khô, quả nhăn nheo màu đỏ nâu hoặc đen) đem về ngâm vào phích nước nóng để uống. Một hôm chú khoe với tôi: “Cái ruột phích của em ngâm táo tự nhiên lại sáng choang như mới”. Nghe vậy, tôi bèn nghĩ: có lẽ trong táo tàu có chất a-xít gì đánh tan được cặn can-xi bám trong ruột phích nước. Rồi một lần về nước tôi cũng mua theo mấy cân táo tàu, về qua Thái Lan, ngủ ở nhà khách Sứ quán ta ở Băng-cốc cùng với một đồng chí cán bộ của ta cũng đi qua, tôi đem táo tàu mời đồng chí đó ăn. Đồng chí nói: “Trước đây tôi bị sỏi thận, có người bạn cũng cho tôi một cân táo tàu. Sau khi ăn ít hôm thì thấy đau bụng dưới nhiều, hai ba hôm mới khỏi”. Tôi hỏi: “Từ đó đến nay anh còn thấy đau nữa không?”. Đồng chí nói không. Thế là liên hệ việc này với việc cái ruột phích của chú Quế, tôi phát hiện ra rằng trong táo tàu có chất làm tan sỏi can-xi, khi ăn táo tàu nó bào mòn viên sỏi làm sỏi nhỏ đi đến mức có thể bài tiết ra ngoài qua đường niệu, trên đường đi ra, nó chà xát vào niệu quản làm đau. Đến lúc đồng chí Bảng được điều sang làm phiên dịch cho tôi thay một đồng chí khác đã hết nhiệm kỳ. Gặp tôi, Bảng nói: “Em bị sỏi thận đang điều trị thì Bộ bắt sang đây”. Tôi bảo Bảng ra ngoài hiệu thuốc mua lấy một cân rưỡi táo tàu, hai buổi, buổi sáng chiều trước bữa cơm đều ăn lấy một vốc. Mấy hôm sau Bảng nói với tôi: “Em có cảm tưởng sỏi nó đi đến gần xương cụt rồi”. Vài hôm sau nữa thì sỏi ra ngoài. Từ đó trở đi Bảng không bị đau thận nữa. Thế là chắc chắn “phát hiện” được thứ thuốc vừa ngon vừa lành là táo tàu nên dùng đủ liều lượng thì có thể làm tan sỏi can-xi trong thận!

Tôi nghĩ, 13 năm ở Bắc Kinh, vừa phải đấu tranh căng thẳng với Bộ Ngoại giao Trung quốc, vừa phải chống đỡ bệnh tật, nếu mình không đọc sách và biết về thuốc, cứ phó thác thân mình cho các giáo sư bác sĩ ở bệnh viện Bắc kinh thì có lẽ đã chết từ lâu rồi. Tự mình cứu mình nên đã sống thêm được vài chục năm nữa. Vào năm 1985, sau khi quan hệ Trung Quốc – Việt Nam đã bình thường hoá trở lại, Hiệp hội Ngoại giao Trung Quốc đã mời tôi với đồng chí Ngô Minh Loan, đồng chí Nguyễn Minh Phương là ba Đại sứ cũ ở Trung Quốc sang thăm nước họ. Tôi lại làm Trưởng đoàn, Đại sứ Lý Thế Thuần lại hỏi tôi muốn đi thăm nơi nào? Tôi nói tôi đi thăm đã gần hết các tỉnh của Trung Quốc, chỉ còn Hàng Châu và Thâm Quyến là chưa được đi. Hiệp hội Ngoại giao đã đáp ứng một cách nhiệt tình mấy nguyện vọng của tôi, mời cả đồng chí Hứa Pháp Thiện (tên Việt Nam là Thanh) vốn là cố vấn của Cục Tổ chức chúng tôi trong kháng chiến chống Pháp đến dự buổi chiêu đãi của họ (trong bữa tiệc có cả Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc đến dự). Cuộc gặp rất vui vẻ. Phó Thủ tướng Trung Quốc cũng có buổi tiếp chúng tôi. Sau đó Hiệp hội cử một nữ Trưởng phòng là Trịnh Nại Linh tháp tùng chúng tôi đi thăm quan các nơi như Hàng Châu, Thâm Quyến. Đi đến đâu họ cũng bố trí cho chúng tôi ở khách sạn 5 sao, riêng tôi được bố trí ở phòng VIP bằng tiêu chuẩn Phó thủ tướng có phòng ngủ, phòng khách riêng. Ở địa phương nào cũng có Phó tỉnh trưởng đến tiếp đón. Tôi thấy chỉ mới cách 8 năm thôi mà Trung Quốc thay đổi ghê gớm. Thâm Quyến xưa chỉ là bãi đất hoang mà nay trở thành một thành phố hiện đại hoàn chỉnh. Trong thành phố có một công viên rất rộng lớn gọi là tiểu Trung Hoa, họ xây dựng tất cả các danh lam thắng cảnh (thu nhỏ) tiêu biểu của các tỉnh Trung Quốc (ví dụ trong đó có Cố Cung, Trường Thành, Tây Hồ, Thái Hồ…). Còn Quảng Châu, Bắc Kinh tựa hồ như đã lột xác, trở thành những thành phố tráng lệ sầm uất gấp hàng chục lần so với lúc tôi làm Đại sứ.

Khi tôi đã thôi nhiệm vụ Đại sứ về nước, thì ở Việt Nam, Trung Quốc đã lần lượt thay mấy đời Đại sứ: Lý Thế Thuần, Trương Đức Duy, Lý Gia Trung, Tề Kiến Quốc đến Hồ Càn Văn. Họ đều biết tôi từ khi họ còn là các cán bộ phiên dịch của Bộ Ngoại giao Trung Quốc, đã dịch cho quan chức ngoại giao Trung Quốc “đấu đá” với tôi. Vì biết tôi là Đại sứ kỳ cựu nên mỗi khi có dịp chiêu đãi nhân Quốc khánh Trung Quốc hay nhân dịp kỷ niệm thành lập quan hệ ngoại giao hai nước, họ đều nhớ mời tôi.

Năm 1987, tôi được chính thức cho phép rời Sứ quán ở Bắc kinh sau khi đã hoàn thành tốt nhiệm kỳ Đại sứ dài dặc nhất trong lịch sử các Đại sứ Việt Nam ở nước ngoài: mười ba năm. Nghỉ ngơi trong một thời gian thì Bộ Ngoại giao yêu cầu tôi viết Hồi ký 13 năm làm Đại sứ ở Trung Quốc. Tôi đã viết xong và nộp cho Bộ Ngoại giao. Đến năm 1990 thì thực sự nghỉ hưu.

Khi về nước được hai năm, tôi gặp một đồng chí quan lúc đó là cán bộ của Ban Tổ chức Trung ương. Đồng chí hỏi: “Anh được tặng Huân chương Hồ Chí Minh năm 1987, anh đã nhận được chưa?”. Tôi bảo tôi không biết gì! Ban Tổ chức Trung ương bèn hỏi bên Bộ Ngoại giao. Thì ra Vụ Tổ chức Bộ Ngoại giao đã nhận, đem cất đi rồi quên mất (!) Vì vậy cho nên mãi đến năm 1990 trước khi tôi nghỉ hưu, Bộ Ngoại giao mới mời tôi lên. Đồng chí Bộ trưởng trao huân chương cho tôi và tặng một số tiền kèm theo là 100.000 đồng trong cuộc họp mặt có đông đủ cán bộ từ Vụ trưởng, Vụ phó trong Bộ. Lúc đó tôi mới tức cảnh làm bốn câu thơ:

“Vừa rồi được tấm Huân chương
Xa xôi nó phải đi đường hai năm
Bộ Ngoại giao tặng thêm một trăm
Đủ tiền làm một bữa nem ăn mừng!”.

Như vậy, năm 1990 đã kết thúc một quãng đời quan trọng của tôi mà tôi gọi là “thanh niên ba sẵn sàng”. Tôi luôn sẵn sàng chấp hành mọi sự điều động của Đảng, Nhà nước, không tính toán thiệt hơn, không hề có đề nghị, yêu cầu gì, nhận được mệnh lệnh là lên đường đi làm nhiệm vụ thậm chí không đợi cả làm đủ giấy tờ thủ tục, chẳng ngại sự thiệt thòi về lương bổng, về chế độ đãi ngộ, về nhà cửa. Với việc nào, tôi cũng chỉ đinh ninh một điều là làm sao cho tốt nhất so với năng lực của mình. Trong thời gian từ khi kết thúc kháng chiến chống Pháp đến năm 1990, tôi được phân công làm nhiều công tác như đã thuật ở trên, nhưng có thể nói có hai việc lớn và làm thời gian dài nhất là làm Cố vấn cho Bạn Lào và làm Đại sứ ở Trung Quốc (tổng cộng hơn 20 năm) và cũng là hai việc tôi có nhiều kỷ niệm đáng nhớ hơn cả và về cơ bản có thể nói là “đã đạt yêu cầu”. Vì vậy, tôi có thể mượn lời của con gái Nguyên Bình trong câu đối nôm na nó viết tặng tôi nhân buổi mừng sinh nhật 80 tuổi để làm câu kết cho câu chuyện đi sứ nước người của tôi:

Làm Cố vấn miền Tây, ghi lời Bác, không làm “lão Toàn quyền”*, luôn nhớ chữ “chủ quyền của bạn”.
Đi Đại sứ nước Tàu, theo ý Đảng, chẳng ngại “người Đại quốc”, giữ trọn điều “Quốc thể về ta”.

*Trước khi đi Lào nhận nhiệm vụ mới (làm Trưởng đoàn cố vấn giúp Lào – cuối 1964), Hồ Chủ tịch cho gọi ông Nguyễn Trọng Vĩnh tới ăn cơm và dặn dò một số điều. Người nói vui với Nguyễn Trọng Vĩnh: “Chú sang bên ấy, chú có ý kiến gì thì chú góp với Bạn để Bạn làm, chú không được làm thay và chú không được làm “Lão toàn quyền” đấy nhé!” – Chú thích của Bà Nguyễn Nguyên Bình, con gái Đại sứ Nguyễn Trọng Vĩnh.

Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên là Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Trung Quốc từ năm 1974 đến năm 1987. Dưới đây là câu chuyện của ông về thời gian ông làm Đại sứ tại Bắc Kinh.
 
Bách Việt

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cội nguồn dân tộc Việt Nam chuyển dần xuống phía Nam?


Bản đồ mô phỏng cội nguồn  Bách Việt  (lấy từ internet)
Những năm gần đây xuất hiện xu hướng bác bỏ truyền thuyết Hùng Vương, trong đó có cách lập luận cho rằng bộ tộc Việt Thường thị (thuộc vùng Nghệ An-Hà Tĩnh ngày nay) là trung tâm nguồn cội của người Việt. Cơ sở của lập luận này dựa vào chứng cứ ngôn ngữ và chữ viết của Việt thường thị đã được ghi trong sử sách Trung Hoa (!?). Trong số những tác phẩm nghiên cứu loại này có bài  "Đâu là quốc đô đầu tiên của người Việt" của tác giả   Phan Duy Kha với lời kết luận rất đáng tranh luận như sau:  

"Trước thời đại Hùng Vương hàng ngàn năm, ở vùng Khu IV cũ (bao gồm Thanh – Nghệ – Tĩnh – Bình – Trị - Thiên ngày nay) mà trung tâm là vùng núi Hồng sông Lam, đã từng tồn tại một bộ tộc Việt Thường của người Việt cổ, có trình độ văn minh cao, đã có chữ viết và làm được “quy lịch”. Trên cơ sở của nền văn minh đó, về sau này trên đất nước ta dần dần xuất hiện ba quốc gia: đó là quốc gia Văn Lang của các vua Hùng ở phía Bắc, quốc gia Lâm ấp (Chăm-pa) ở miền Trung và quốc gia Phù Nam ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Từ trước đến nay, nhắc đến nền văn minh Việt cổ, chúng ta chỉ chú trọng đến thời kỳ Hùng Vương mà bỏ quên nền văn minh Chăm pa, nền văn minh Phù Nam và trước đó hàng ngàn năm là nền văn minh Việt Thường thị. Phải chăng, chúng ta đã thiên lệch và phiến diện lắm sao?"

Phan Duy Kha cũng là tác giả của bài viết "Giấc mơ của Vua Lê Thánh Tông" (Có thể tham khảo bài viết tại đây  nhin-lai-lich-su-thu-ly-giai-giac-mo-cua-vua-le-thanh-tong ). Trong bài này tác giả có nhắc lại một câu hỏi mà người Việt luôn trăn trở: Tại sao các đời vua Hùng dài thế mà không có chữ viết?. Nhưng tác giả lại không tìm hiểu nguyên nhân tại sao, mà chỉ căn cứ vào lý do nó không được ghi chép trong sách sử của Trung Quốc, đồng thời đề cao chữ viết của bộ tộc Việt Thường thị (chỉ vì nó được nhắc đến trong sách sử của Trung Quốc!).  Từ đó tác giả suy ra Việt Thường thị đã có chữ viết sớm hơn nhiều so với sự ra đời các Vua Hùng... và đi tới kết luận: Chữ Khoa đẩu là của Việt Thường thị và là chữ viết của người Việt cổ; và do đó Việt Thường thị là trung tâm nguồn cội, chứ không phải nước Văn Lang của các vua Hùng (!?)

Triệu Đà Vua Nam Việt (207-111 TCN)
Được biết, từ sau cách mạng tháng Tám năm1945 đã hình thành và phát triển trường phái quan niệm rằng nước Văn Lang của các Vua Hùng chỉ nằm gọn trong vùng châu Thổ Sông Hồng. Trường phái này phớt lờ các địa danh như Hồ Động Đình, núi Thái Sơn, Sông Tương, cánh Đồng Tương v.v... trong truyền thuyết Âu Cơ -Lạc Long Quân, không chịu đào sâu nghiên cứu xem tại sao  Âu Việt, Lạc Việt cấu thành nước Văn Lang và Nam Việt của Triệu Đà (sau An Dương Vương) nằm bên trong lãnh thổ Trung Quốc ngày nay? (Tham khảo trieu-la-vua-viet-nam.html.) Và giờ đây các nhà nghiên cứu Việt Thường thị đang tiến thêm một bước nữa với lập luận rằng nguồn cội người Việt là từ Nghệ An xuống miền Trung Việt Nam đến tận vương quốc Phù Nam xưa!. Phải chăng họ đang lẫn lộn giữa nguồn cội với nhưng gì mà ông cha ta đã mở mang bờ cõi sau này?  Nếu cách lập luận này tiếp tục, chẳng mấy chốc người Việt sẽ "mất hút" dấu tích nguồn cội đích thực của mình từ  phương Bắc.
 
Đành rằng  nghiên cứu lịch sử nguồn cội Việt Nam là vô cùng khó, vì Việt Nam là một trong số ít quốc gia dân tộc đã có thể hồi sinh  sau 1000 năm bị độ hộ bởi một cường quốc láng giềng với nhiều thủ đoạn đồng hóa thâm độc khiến cho khái niệm biên giới vô cùng nhập nhằng. Nên nhớ rằng với nhiều dân tộc khác chỉ cần 1/2 thời gian đó có thể "biến mất" trong danh sách các quốc gia dân tộc. Hàng trăm bộ tộc hoặc vương quốc Bách Việt khác đã không còn dấu tích  trong bản đồ nước Trung Hoa vĩ đại ngày nay.  Do đó, sẽ là một sai lầm không thể cứu vãn nếu chỉ nghiên cứu nguồn cội của dân tộc Việt Nam từ nơi nó đang tồn tại và với hình dạng đất nước ngày nay. Nói cách khác, nếu chỉ căn cứ từ những gì được ghi chép trong sử sách Trung Quốc  hoặc những di chỉ khảo cổ tìm thấy bên trong lãnh thổ hiện tại của Việt Nam thì không đủ để tìm ra sự thật về nguồn cội dân tộc Việt Nam của thời tiền sử. Riêng về phương diện chữ viết, đáng lẽ câu hỏi nên đặt ra với các nhà sử học là: Tại sao một bộ tộc nhỏ như Việt Thường thị có chữ viết trong khi Lạc Việt và Âu Việt lại không có chữ viết? Phải chăng do Việt Thường thị bị Bắc thuộc muộn hơn và chưa kịp để bị xóa dấu tích ngôn ngữ (?)  Cả một vùng rộng lớn mà sách  sử TQ gọi là "Giao Chỉ" xưa kia chẳng  lẽ không có chữ viết của họ? Sự thật của quá trình áp đặt chữ Hán lên Giao Chỉ đã diễn ra như thế nào?  Phải chăng để nghiên cứu nguồn cội dân tộc nói chung và chữ viết của dân tộc Việt Nam nói riêng, ta không thể không lội ngược giòng về những vùng đất của Lạc Việt và Âu Việt bên Trung Quốc ngày nay? http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/Tim-lai-nguon-goc-vung-dat-Bach-Viet/201210/236530.datviet. Nên nhớ rằng trước khi có quyển sử ký Tư Mã Thiên (quảng  năm 95 TCN) người Hán đã thôn tính  phần lớn lãnh thổ của người Bách Việt trong đó có Âu Việt và Lạc Việt. Truyền thuyết Hùng Vương của người Việt nói về thời kỳ tiền sử đó bắt đầu từ năm 2879 TCN. Đó là một thời kỳ quá dài để đòi hỏi sự chính xác, nhất là khi kẻ thống trị cố tình xóa đi mọi dấu vết!  Trên thế giới dân tộc nào cũng có truyền thuyết, càng lâu đời truyền thuyết càng trở nên mơ hồ và có vẽ vô lý. Nhưng trong bóng đêm đô hộ của ngoại bang thì truyền thuyết là thứ sử thi duy nhất mà kẻ bị trị có thể lưu truyền cho đời sau.  Do đó hãy đừng vội bác bỏ truyền thuyết trước khi tìm đủ mọi cách để giải mã nó.
 
Tóm lại, cội nguồn dân tộc Việt Nam là một  chủ đề vô cùng phức tạp bởi chính bề dầy thời gian và vị trí địa lý đặc biệt của dân tộc này. Nó phức tạp đến nỗi trong khi có người định chứng minh "người Việt đẻ ra người Hán" thì một số người khác lại cho rằng "Việt Nam từ Trung Quốc mà ra". Việc ngày càng có nhiều người nghi ngờ truyền thuyết Hùng Vương là điều dẽ hiểu khi mà công tác nghiên cứu lịch sử chưa được "cởi trói" khỏi những nếp tư duy lệch lạc, với tâm thế vừa căm thù pha lẫn sự nể sợ đối với kẻ thù truyền kiếp, lại  không muốn thừa nhận thực tế bờ cõi nước ta đã từng bị Phương Bắc xâm lấn (như mất vùng Lưỡng Quảng, mất Nam Việt sau thời Triệu Đà v.v...) . Dĩ nhiên trong khi chưa tìm ra sự thật thì việc đặt lại vấn đề ngược, xuôi, nghi vấn về truyền thuyết Hùng Vương là cần thiết và cũng dẽ hiểu. Nhưng để bác bỏ truyền thuyết của bao đời ông cha để lại là một chuyện hoàn toàn khác, nếu không nói là một điều  đố kị./.

Trần Kinh Nghị

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Căn Tính Dân Tộc” và sự “Ăn Mày Dĩ Vãng”


Nguyễn Trọng Bình
 
1. Trông người mà ngẫm đến ta
Những ngày này, tràn ngập trên các phương tiện truyền thông là những thông tin và hình ảnh về Đại hội lần thứ 19 của ĐCS Trung Quốc. Tâm điểm của sự kiện này chủ yếu tập trung vào một nhân vật duy nhất là Tập Cận Bình với “giấc mộng Trung Hoa” mà ông ta đã công khai với thần dân mình cũng như toàn thế giới.
Báo Tuổi trẻ - tờ báo hàng đầu của nước Việt hiện nay - số ra ngày 19/10 đã kịp thời chuyển tải đến người dân cả nước sự kiện trên bằng một bài viết rất kỳ công và trang trọng: “Khoảnh khắc ấn tượng trong đại hội Đảng lần thứ 19 của Trung Quốc”.
Một tờ báo lớn khác là Thanh niên cũng chạy tít: “Trung Quốc xác lập tư tưởng Tập Cận Bình”.
Nhưng có lẽ nhanh nhảu và dày đặt nhất là báo điện tử Vnexpress với hàng loạt bài tường thuật và bình luận như: “5 thế hệ lãnh đạo của Đảng cộng sản Trung quốc”;”5 điểm nhấn trong bài phát biểu mở ra kỷ nguyên mới của ông Tập”, “Trung Quốc với tham vọng trở thành cường quốc hàng đầu năm 2050”; “Trung Quốc sẵn sàng chia sẻ mô hình thành công với các nước”…
Trông người mà ngẫm đến ta. Nếu lấy thời điểm bình thường hóa quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Trung Quốc vào năm 1991 với phương châm “16 chữ vàng” ("Sơn thủy tương liên, Lý tưởng tương thông, Văn hóa tương đồng, Vận mệnh tương quan" ) có thể khẳng định, cho đến hôm nay, 4 chữ “vận mệnh tương quan” là hoàn toàn phi thực tế đối với Việt Nam. Vì lẽ, trong khi Trung Quốc của họ Tập đang trên đường trở thành bá chủ toàn cầu và cao giọng hứa hẹn “chia sẻ mô hình phát triển” của mình thì Việt Nam của “ông lão” Nguyễn Phú Trọng vẫn là một quốc gia “không chịu phát triển”. Và hiện tại, tuy vẫn đang quay cuồng với chuyện “đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục” nhưng miệng vẫn không thôi chém gió và hoang tưởng: hết “quốc gia khởi nghiệp” lại đến “cách mạng công nghiệp 4.0”…?
 
2. Hãy tự thức tỉnh
Có lẽ, có không ít người Việt đang cảm thấy rất “dị ứng” và khó chịu trước sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc trong thời điểm hiện tại. Tuy vậy, nếu chúng ta dũng cảm gạt bỏ cái tâm lý tự hào, tự tôn dân tộc quá đà; bình tâm suy ngẫm lại mọi thứ trên tinh thần “biết người biết ta”, tôi nghĩ dù muốn dù không cũng phải thừa nhận họ - dân tộc Trung Hoa đã và đang hơn chúng ta – dân tộc Việt Nam hôm nay một “cái đầu”. Sự thành công của họ hôm nay âu cũng là điều tất yếu, không quá khó để lý giải.
Nói cách khác, chúng ta có thể không ưa Tập Cận Bình vì “tư tưởng” cùng “giấc mộng Trung Hoa” mà ông ta đang thiết kế và theo đuổi. Nhưng trước khi tỏ thái độ ấy, có lẽ mỗi người Việt (nhất là các vị lãnh đạo trong hàng ngũ cấp cao của ĐCS VN hiện nay) hãy tự nhìn lại tầm vóc và tư duy của dân tộc mình; hãy biết xấu hổ về những hạn chế và yếu kém của dân tộc mình thay vì cứ suốt ngày véo von, réo rắt tự hào về vô số những truyền thống “tốt đẹp”, “hào hùng” gì đó trong quá khứ (nhất là cái truyền thống “đánh Pháp, đuổi Mỹ”).
Dù sao thì dân tộc họ cũng có “tư tưởng” và “giấc mơ” (ít ra là theo quan điểm và tinh thần của các lãnh đạo ĐCS và truyền thống của dân tộc họ) để nuôi dưỡng và đeo đuổi. Các lãnh đạo của họ, trong từng giai đoạn và bối cảnh cụ thể đều có sách lược, chiến lược phù hợp nhằm từng bước hiện thực hóa “giấc mơ” ấy.
Còn dân tộc chúng ta, tôi tự hỏi: lâu nay người Việt có “tư tưởng” gì không? Và hiện nay, chúng ta đang “ước mơ” gì?
Xin mạo muội và bạo gan trả lời luôn vậy. Nói cho cùng, dân tộc chúng ta cho đến hôm nay chẳng có một “tư tưởng” gì cả (hay nói chính xác hơn là cũng có nhưng là mớ lý thuyết pha trộn Ta - Tàu - Tây rất tù mù và rối rắm). Cũng như cả dân tộc hiện nay chẳng có một “giấc mơ” to tát nào; và dĩ nhiên các lãnh đạo cấp cao của ĐCS VN trong từng giai đoạn cũng chẳng có một sách lược, chiến lược gì hay ho để xây dựng và phát triển đất nước.
Nếu như thời cổ đại, người Trung Quốc có các “ông Tử”; sau đó cũng giống như ta, họ cũng “cung thỉnh” hai vị Mác-Lê về kết hợp với “tư tưởng” của Mao Trạch Đông. Nhưng tiếp theo Mao là Đặng Tiểu Bình, sau Đặng là Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và bây giờ là “tư tưởng” của Tập Cận Bình.
Trong khi đó, dân tộc chúng ta, trước đây thì “xài ké” các “ông Tử” của họ; sau đó và cho đến nay thì chỉ có mỗi “giấc mơ” (giải phóng dân tộc thống nhất đất nước để “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”) và “tư tưởng” của Hồ Chí Minh trên nền tảng học thuyết của một ông ở Tây Âu (C. Mác) và một ông ở Đông Âu (Lênin). (Và nói cho đúng thì phải chăng chỉ có học thuyết triết học của Mác-Ănghen thôi chứ làm gì có “triết học” hay “Chủ nghĩa Mác-Lênin” như nhận thức của ĐCS VN hiện nay?)
Nói khác đi, nhìn lại vai trò dẫn dắt dân tộc và đất nước của các lãnh đạo ĐCS VN trong quá khứ lẫn hiện tại, kể từ sau Hồ Chí Minh, chúng ta chưa từng nghe nói đến “tư tưởng” hay “ước mơ” của bất kỳ một lãnh đạo ĐCS nào khác.
Con hơn cha là là có phúc. Trò hơn thầy là đại phước của quốc gia. Sau đại hội lần này, “tư tưởng và tầm nhìn mới” của Tập Cận Bình chắc chắn sẽ được đưa vào điều lệ của Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Nghĩa là sẽ được “đặt” ngang hàng với “tư tưởng” của Mao Trạch Đông hay Đặng Tiểu Bình – những vị tiền bối của Tập trước đó.
Chúng ta – những người Việt hôm nay có thể đang coi thường, dè bĩu khinh khi sự độc tài của họ Tập. Thế nhưng, nhìn một cách tổng thể, ở giác độ văn hóa, dù sao dân tộc họ vẫn có bề dày và “kinh nghiệm” hơn dân tộc chúng ta. Và điều quan trọng hơn, một khi xác lập “tư tưởng Tập Cận Bình” ít nhiều đã cho thấy, tuy giống nhau về thể chế và ý thức hệ, nhưng về nhận thức có thể khẳng định các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc “cởi mở”, “linh hoạt”, “uyển chuyển” và “đa nguyên” chứ không bảo thủ, giáo điều và nhất là chỉ biết “ăn mày quá khứ” các lãnh đạo của ĐCS Việt Nam.
Tương lai của một dân tộc, một quốc gia đúng ra phải được nhìn nhận và thiết kế từ tất cả những phương diện, những vấn đề nẩy sinh trong đời sống ở thời điểm hiện tại (cho dù hiện tại là một đống hoang tàn, đổ nát đi nữa nhưng nếu nhận thức đúng đắn về nó thì vẫn quan trọng và có ích hơn là tránh né hoặc tô hồng) chứ không phải từ ánh hào quang của thời quá khứ xa xôi, không bao giờ tìm lại được.
Ấy vậy mà, kể từ sau ngày 02/09/1969 đến nay,  nhìn vào “tầm vóc” lẫn thần thái của các lãnh đạo nước nhà thấy chẳng có gương mặt nào để cho dân chúng có thể hãnh diện trên trường quốc tế. Xã hội và thế giới vốn luôn vận động và biến đổi không ngừng, vậy mà các thế hệ cháu con chỉ dám rụt rè (hay giả vờ khiêm tốn) an phận “học trò xuất sắc” của Chủ tịch Hồ Chí Minh” thì hỏi sao đất nước này muôn đời không bao giờ “sánh vai được với các cường quốc năm châu”?
         
4. Người tài giữ Đảng và xây dựng đất nước – thêm một điểm khác biệt
Một quốc gia, một dân tộc có phát triển và hưng thịnh hay không, điều quan trọng và trước hết phụ thuộc vào tầng lớp lãnh đạo chóp bu (là người như thế nào; có tài thao lược gì để dẫn dắt dân tộc?). Nói “hiền tài là nguyên khí của quốc gia” cũng là vì thế.
Có không ít ý kiến cho rằng “trong lòng” Trung Quốc hiện nay cũng đang đầy dẫy những bất ổn. Điều này là không sai nhưng suy cho cùng quốc gia nào mà không vướng phải những vấn đề nọ kia. Và có lẽ, không đợi tới người ngoài nói, Tập Cận Bình hẳn nhiên thừa biết trong lòng Trung Quốc cũng có những người chống ông và chống ĐCS Trung Quốc. Nhưng có hề gì, với đảng của mình đương nhiên ông ta phải củng cố và bảo vệ nhưng điều quan trọng hơn là việc Trung Quốc phát triển và trở thành bá chủ thế giới chính là câu trả lời quan trọng nhất của ông dành cho những người không ủng hộ mình.
Và thực tế đã cho thấy điều đó. Vị thế và tầm ảnh hưởng sâu rộng của Trung Quốc hiện nay trên trường quốc tế ở cả hai phương diện: “quyền lực cứng” (kinh tế, quân sự…) lẫn “quyền lực mềm” (chính trị, văn hóa,…) là không còn bàn cãi.  
Đây chính là cơ sở  quan trọng để họ Tập mạnh miệng tuyên bố trở thành“siêu cường quốc” vào năm 2050. Không những vậy, đó còn là một mô hình “chủ nghĩa xã hội đặc sắc” kiểu Trung Quốc!? Riêng về phương diện  chủ quyền quốc gia, ông Tập không ngần ngại gửi thông điệp ngầm đến tất cả các bên liên quan (đương nhiên là có Việt Nam chúng ta) theo luận điệu bá quyền thường thấy là: " sẽ không dung thứ cho bất cứ ai, bằng cách nào, vào thời điểm nào, muốn tách một tấc đất ra khỏi Trung Quốc".
Nói điều này để thấy rằng, hơn ai hết họ Tập cùng tập đoàn chính trị của ông ta, hiểu rất rõ những vấn đề thuộc về nội tình Trung Quốc trong bối cảnh chung của thế giới khi xây dựng “giấc mơ” của dân tộc mình trong tương lai.
Qua đây có thể thấy, các lãnh đạo ĐCS Trung Quốc ngoài việc lo giữ Đảng của mình thì vấn đề xây dựng và phát triển nhằm đưa đất nước Trung Quốc trở thành siêu cường thế giới là mục tiêu lớn nhất của họ. Vậy nên, việc chọn “người tài” để kế vị của họ bao giờ cũng chú trọng cùng lúc hai mục tiêu này. Phải chăng đây cũng chính là ưu điểm và là sự khác biệt lớn nhất so với các lãnh đạo ở Việt Nam (kể từ sau khi nước nhà thống nhất cho đến nay).
Hay nói khác đi, lâu nay, ĐCS VN chỉ lo tìm “người tài” để giữ Đảng thôi chứ người tài để xây dựng và phát triển đất nước thì chẳng màng quan tâm.
Bằng chứng là hiện tại, dẫn dắt đất nước, dẫn dắt dân tộc với bề dày mấy nghìn năm văn hiến là một ông lão già nua, tóc tai bạc trắng. Hơn hai nhiệm kỳ rồi nhưng quanh đi, quẩn lại cũng chỉ mấy câu nói cũ rích như: “đẩy mạnh học tập và làm theo tấm gương đạo đức…”, “chống suy thoái”, “chống diễn biến”, “đánh chuột, vỡ bình”,“nhóm lò, đốt củi” gì gì đó nhưng chẳng đâu vào đâu! Đến nỗi dân chúng khắp nơi trong cả nước đã không ngần ngại đặt cho cái “biệt danh” không thể nào chua chát và xót xa (nếu nhìn sang người đồng cấp Tập Cận Bình) hơn: “Trọng lú”!
Và điều đáng nói là, cho đến giờ bản thân ông ta vẫn đang loay hoay tìm người kế vị nhưng mãi vẫn chưa ưng ý. Vì sao như vậy? Có lẽ trong hoàn cảnh hiện nay, nếu chỉ tìm người tài để xây dựng và phát triển đất nước thì chắc chắn sẽ không thiếu nhưng để tìm người có cái “lý lịch ba đời trong sáng như gương” để chủ yếu lo giữ Đảng, giữ chế độ thì chuyện phải cân nhắc, nâng lên hạ xuống âu cũng là lẽ thường tình. Nhưng điều này lại chính là bi kịch của dân tộc nếu nhìn về tương lai. Nói như lời của cố Tiến Sĩ Alan Phan năm nào là: “đã ngu, đã nghèo mà còn “kiên định lập trường” ấy nữa thì vô phương cứu chữa.
 
3. Thay lời kết
Tóm lại, chúng ta có thể không ưa một Trung Quốc bá quyền, không ưa một  Tập Cận Bình vì cái luận điệu và tâm lý nước lớn của ông ta hôm nay nhưng nếu chỉ có thế và nhất là không tự nhìn lại những yếu kém của dân tộc mình để mà phấn đấu và từng bước thay đổi hiện trạng thì chỉ càng cho thấy rõ cái tâm lý ghen ghét, đố kỵ của chúng ta trước sự thành công của người khác mà thôi.
Một dân tộc sống không “tư tưởng” và ước mơ nhưng lúc nào cũng dè bĩu, coi thường tư tưởng và ước mơ của dân tộc khác chắc chắn không phải là một dân tộc lớn (trưởng thành) và đáng để người khác nể trọng.

Ngược lại, một dân tộc nếu chỉ biết ngồi nhìn và thán phục; chỉ biết tung hô và xem người khác như một “hình mẫu” hay “thần tượng” rồi rập khuôn, bắt chước và theo đuôi thì càng tệ hại hơn nữa. Đó không chỉ là đang tự thừa nhận sự yếu kém của bản thân mà trên hết là thái độ nhu nhược, hèn kém và vong bản.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoàng đế trầm lặng và Frankenstein khổng lồ


Nguyễn Quang Dy

“Trung Quốc là một người khổng lồ đang ngủ. Hãy để cho nó ngủ yên, vì khi thức dậy nó sẽ làm đảo lộn thế giới”. (Napoleon Bonaparte)
Đại hội 19 của Đảng Cộng sản Trung Quốc (CCP) đã kết thúc (18-24/10/2017) nhưng dư âm của nó chưa hết. Sự kiên này như một đám mây lớn đang phủ bóng đen ám ảnh người Việt Nam cũng như nhiều quốc gia khác trong khu vực, nhất là trong bối cảnh Donald Trump bắt đầu chuyến đi Châu Á (3/11), sẽ đến Đà Nẵng họp APEC (10/11) và đến Hà Nội thăm “chính thức” (11/11/2017). Chúng ta nên hiểu sự kiện quan trọng này thế nào?
Sự tích Frankenstein
Image result for frankenstein cartoon images
Lời cảnh báo của Napoleon nay đã trở thành sự thật. Trung Quốc đã trỗi dậy và đang làm đảo lộn thế giới. Người Trung Quốc có lý do để trỗi dậy vì lợi ích quốc gia của mình, nhưng đáng tiếc là họ không trỗi dậy “một cách hòa bình” như người Mỹ đã ảo tưởng. Trung Quốc đã trở thành đầu gấu trong khu vực, bắt nạt các nước láng giềng và thách thức vai trò đứng đầu của Mỹ, nhằm biến Biển Đông thành cái ao riêng của họ. (Trung quốc trỗi dậy và suy tàn: Giới hạn của quyền lực, Nguyễn Quang Dy, Viet-studies, 13/4/2016).
Người ta nói rằng khi sắp chết con người thường nói thật. Trước khi qua đời, cố tổng thống Nixon đã thừa nhận với nhà báo William Safire (New York Times) trong lần phỏng vấn (năm 1994) rằng trong “tuần lễ làm thay đổi thế giới” khi Nixon và Kissinger đến Bắc Kinh (năm 1972) để chơi “lá bài Trung Quốc”, Mỹ đã làm thế giới “thay đổi tồi tệ nhất” (changed for the worst). Safire kể lại rằng lúc đó bằng một giọng buồn rầu, Nixon đã nói rằng, “chúng ta có thể đã tạo ra một con một quái vật Frankenstein” (we may have created a Frankenstein). (The Biggest Vote, William Safire, New York Times, May 18, 2000).
Không phải chỉ có Nixon và Kissinger mà các đời tổng thống Mỹ sau đó cũng góp phần giúp Trung Quốc trỗi dậy thành Freankenstein, bằng chính sách “tham dự một cách xây dựng” (constructive engagement), tức là “phù Trung”. Không phải chỉ có Mỹ mà các đồng minh (như Nhật và Tây Âu) cũng theo chính sách đó. Bây giờ người Mỹ mới nhận ra là Trung Quốc còn nguy hiểm hơn cả Nga, thì đã quá muộn. Cuối đời, Nixon đã thừa nhận sai lầm về Trung Quốc, nhưng Kissinger thì chưa bao giờ tỏ ra ân hận vì đã thỏa thuận với Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai để bỏ rơi Đài Loan. Theo Safire, Kissinger còn “bảo hoàng hơn cả vua”. Khi Mao nói với Nixon và Kissinger là Trung Quốc sẽ dùng vũ lực đối với Đài Loan bất cứ lúc nào trong 100 năm tới, thì Kissinger còn tỏ ra ngạc nhiên “sao phải chờ lâu thế?”.
Hoàng đế trầm lặng
Related image
Người ta nói rằng Tập Cận Bình là một người trầm lặng và bí hiểm, đã loại trừ được các thế lực chống đối, để thiết lập quyền lực độc tôn, trở thành “Chủ tịch của mọi thứ” (Chairman of everything). Không chỉ con người Tập trầm lặng mà tính độc tài của ông ta cũng trầm lặng, và uy quyền của Tập cũng trầm lặng một cách bí hiểm. Tập Cận Bình có ba mục tiêu lớn. Thứ nhất là biến Trung Quốc thành cường quốc bá chủ thế giới. Thứ hai là củng cố quyền lực cá nhân và tự thần thánh hóa. Thứ ba là kéo dài sự lãnh đạo độc tôn của Đảng.
Sau “Tư tưởng Mao Trạch Đông”, đến “Lý thuyết Đặng Tiểu Bình”, rồi “Ba đại diện của Giang Trạch Dân” và “Phát triển khoa học của Hồ Cẩm Đào”, nay “Tư tưởng Tập Cận Bình về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc trong thời đại mới” đang đưa Trung Quốc đến với mô hình phong kiến tập quyền. Tập đã xếp mình ngang với Mao Trạch Đông như hoàng đế Trung Hoa, cao hơn cả Đặng Tiểu Bình, Giang Trạch Dân và Hồ Cẩm Đào. Ngày 24/10/2017, “Tư Tưởng Tập Cận Bình” đã được Đại hội 19 ghi vào điều lệ Đảng. Diễn văn dài ba tiếng rưỡi (30.000 từ) của Tập là một bài luận văn đầy tham vọng, do các trợ lý chủ chốt như Vương Hỗ Ninh (Wang Huning) và Đinh Tiết Tường (Ding Xuexiang) dày công soạn thảo. Trong khi Tập Cận Bình đọc bài diễn văn ba tiếng rưỡi thì Donald Trump chỉ cần tweet vài dòng. Đó là sự khác biệt về văn hóa chính trị và hệ điều hành (operating systems).
Thắng lợi thứ nhất là Tập khẳng định tầm nhìn của “Tư tưởng Tập Cận Bình” từ chủ nghĩa “tân chuyên chế” (neo-authoritarianism) đến “tân toàn trị” (neo-totalitarianism) và “tân bảo thủ” (neo-conservatism) trong “thời đại mới” khi Mỹ và phương Tây đang khủng hoảng, là cơ hội tốt để Tập áp đặt tư tưởng của mình. Tập không chỉ định người kế thừa (theo tiền lệ), mà để ngỏ khả năng kéo dài thêm một nhiệm kỳ nữa (sau 2022). Thắng lợi thứ hai là Tập đưa hai nhân vật trung thành nhất vào thường vụ Bộ Chinh Trị, giữ hai vị trí then chốt. Một là Lật Chiến Thư (Li Zhanshu) làm chủ tịch quốc hội, Hai là Triệu Lạc Tế (Zhao Leji) làm bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật TƯ (CCDI) thay Vương Kỳ Sơn, phụ trách chống tham nhũng.
Tuy Tập Cận Bình trở thành lãnh đạo có quyền lực lớn nhất Trung Quốc, nhưng có một “nghịch lý về quyền lực” (paradox of power) là khả năng thao túng xã hội Trung Quốc của Đảng Cộng sản đã bị hạn chế rất nhiều so với những ngộ nhận của Tập và những người ủng hộ (cũng như nhiều học giả nước ngoài). Theo Minxin Pei, có hai lý do chính. Thứ nhất là xã hội Trung Quốc đã thay đổi quá nhiều so với thời Mao và Đặng, nên hầu như chẳng còn ai (kể cả đảng viên) thực sự tin vào một học thuyết chính thống. Thứ hai, bản chất kinh tế Trung Quốc đã thay đổi quá nhiều (hơn 60% là tư nhân) nên Đảng không còn ảnh hưởng nhiều đến đời sống của người dân. (The Paradox of Xi’s Power, Minxin Pei, Project Syndicate, Oct 27, 2017).   
Thu phục Trung nguyên
Vương Kỳ Sơn là cánh tay phải của Tập Cận Bình, phụ trách chống tham nhũng, có quyền lực xếp thứ hai (sau Tập). Mô hình CCDI (Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật TƯ) giống mô hình “Đông Xưởng” của hoàng đế Chu Lệ (Yongle) thời nhà Minh, với quyền lực đáng sợ. Nhưng trái với đồn đoán, Vương Kỳ Sơn đã nghỉ (vì quá tuổi và nguyện vọng cá nhân). Tập phải chấp nhận thực tế đó, tuy ảnh hưởng của Vương còn lớn. Tập có thể cử Vương phụ trách Hội đồng An ninh Quốc gia (NSC), nhưng khả năng đó thấp vì Vương đã rút khỏi Trung Ương. Hiện nay, người thân cận nhất với Tập là Lật Chiến Thư. Trong Thường vụ Bộ Chính Trị, Lật xếp thứ ba, nhưng thực chất là người thứ hai (chứ không phải thủ tướng Lý Khắc Cường).
Bốn người còn lại trong Thường vụ Bộ Chính Trị đều tuyên bố trung thành với Tập. Đó là Uông Dương (phó thủ tướng), Hàn Chính (cựu Bí thư Thượng Hải), Vương Hỗ Ninh (nguyên trưởng ban nghiên cứu TƯ, thay Lưu Vân Sơn phụ trách tuyên truyền), Triệu Lạc Tế (nguyên trưởng ban tổ chức TƯ, thay Vương Kỳ Sơn phụ trách chống tham nhũng). Việc Giang Trạch Dân vẫn ngồi ghế Chủ tịch đoàn không phải vì phái Giang còn mạnh (như Đại hội 18) mà đã suy yếu. Tuy Tập vẫn phải thỏa hiệp về cơ cấu Thường vụ Bộ Chính Trị, nhưng trong Bộ Chính trị (25 người) đã có 15 người trung thành với Tập (60%). Với Trần Mẫn Nhĩ (bí thư Trùng Khánh), Thái Kỳ (bí thư Bắc Kinh), Lý Cường (bí thư Thượng Hải), Lý Hy (bí thư Quảng Đông), Đinh Tiết Tường (chánh Văn phòng TƯ), Trần Hy (trưởng ban Tổ Chức TƯ), tướng Trương Hữu Hiệp (phó chủ tịch Quân ủy TƯ), Tập đã chiếm thế thượng phong.
Tuy dư luận lo ngại Tập Cận Bình sẽ ở thêm khóa nữa (sau năm 2022), nhưng một số chuyên gia cho rằng Tập đã lặng lẽ chọn người kế vị là Trần Mẫn Nhĩ (Chen Miner), tuy Trần Mẫn Nhĩ và Hồ Xuân Hoa không lọt vào Thường vụ BCT (như đồn đoán). Liệu Lật Chiến Thư có thể giúp Tập thay đổi hiến pháp để ông ta ở lại thêm một khóa nữa, hay Tập sẽ chọn người kế vị trung thành để tiếp tục kiểm soát quyền lực sau khi từ chức? Chưa biết Tập sẽ chọn Trần Mẫn Nhĩ hay Hồ Xuân Hoa, nhưng ông ta đã có trong tay các lá bài. Việc cử Trần Mẫn Nhĩ làm bí thư Trùng Khánh (thay Tôn Chính Tài) là một tín hiệu. (Xi Jinping Has Quietly Chosen His Own Successor, Andrei Lungu, Foreign Policy, October 20, 2017).
Ngày 15/7/2017, Ủy viên Bộ Chính trị Tôn Chính Tài đã bất ngờ mất chức Bí thư Trùng Khánh, và được thay thế ngay bằng một người trung thành với Tập là Trần Mẫn Nhĩ (nguyên bí thư Quý Châu). Người ta nói Tôn Chính Tài bị ngã ngựa vì là người của phái Giang, đã xung đột với Tập trong một hội nghị ở Bắc Kinh. Sau đó, bí thư Bắc Kinh là Thái Kỳ và Bí thư Quảng Đông là Hồ Xuân Hoa đã lần lượt tuyên bố ủng hộ Tập. 10 ngày sau, Tập Cận Bình tuyên bố điều tra Tôn Chính Tài, và tiến hành họp kín để truyền đạt ý chỉ “4 cái bằng mọi giá”: (1) bằng mọi giá bảo vệ lãnh đạo cấp cao đang ở đầu sóng ngọn gió; (2) bằng mọi giá thanh trừng thế lực phản đối Đảng; (3) bằng mọi giá đối phó với áp lực bên ngoài trước và sau Đại hội 19; (4) bằng mọi giá trấn áp những nhân tố bất ổn định trong nội bộ Đảng. Rõ ràng qua “4 cái bằng mọi giá” Tập muốn phòng ngừa nguy cơ chính biến và giữ ổn định cho Đại hội 19.
Mâu thuẫn và nghịch lý
Vào tháng 3/2017, lần đầu tiên Uông Ngọc Khải (giáo sư Học viện Hành chính Quốc gia) đã lên tiếng bàn về việc Trung Quốc nên thay đổi từ “chế độ chủ tịch quốc gia” sang “chế độ tổng thống”, và cần thiết phải thay đổi toàn diện chế độ chính trị. Tháng 7/2017, Uông Ngọc Khải lại một lần nữa bàn về chế độ tổng thống. Lần này, Uông Ngọc Khải thậm chí còn nói rằng: “Trước khi chuyển sang chế độ tổng thống, cần thiết phải kết thúc chế độ Ủy ban Thường vụ”. Tại sao Tập Cận Bình lại cho phép Uông Ngọc Khải nói về “chế độ tổng thống”?  Không biết đó có phải là ý đồ thực sự của Tập hay chỉ là kế nghi binh, nhưng động thái này hơi giống lời khuyên của La Vũ (con của nguyên soái La Thụy Khanh và bạn thân của Tập).
Trong bài diễn văn dài ba tiếng rưỡi của Tập Cận Bình, có ba điểm quan trọng. Thứ nhất, “Tư tưởng Tập Cận Bình” được nâng lên ngang tầm “Tư tưởng Mao Trạch Đông”. Thứ hai, Tập Cận Bình tự tin khẳng định Trung Quốc đã bước vào “thời đại mới”. Thứ ba, “những mâu thuẫn chính” của Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình được điều chỉnh là mâu thuẫn giữa “đòi hỏi cuộc sống ngày càng cao của nhân dân” với “phát triển chưa hài hòa và mất cân đối”. (China’s Contradictions, Stephen Roach, Project Syndicate, October 23, 2017).
Về kinh tế, có ba mâu thuẫn cơ bản. Thứ nhất là mâu thuẫn giữa vai trò nhà nước và thị trường về phân bổ nguồn lực. Thứ hai là mâu thuẫn giữa cung và cầu. Thứ ba là mâu thuẫn giữa con đường đi (the path) và đích đến (destination). Trung Quốc có thể đang trên con đường tiến đến “thời đại mới” (hay “New Normal”). Nhưng đích đến cuối cùng vẫn còn xa, với nhiều mâu thuẫn cần phải được giải quyết trong quá trình tiến đến cái đích đó.
Trong khi Đặng Tiểu Bình cầm quyền bằng ủy nhiệm, không trực tiếp điều hành nhưng vẫn kiểm soát được quyền lực, thì Tập Cận Bình trực tiếp nắm mọi thứ (chairman of everything). Lúc không có chuyện gì thì không sao, nhưng nếu có chuyện xảy ra là thảm họa. Trong những năm tới là thời kỳ chuyển đổi phức tạp, dễ có nhiều biến động lớn, nên đội ngũ cầm quyền của Tập tuy hùng hậu nhưng chưa sẵn sàng đối phó. (Why Chinas Xi might come to regret all that power,  Kerry Brown, South China Morning Post, October 29, 2017).
Chọn kịch bản nào
Tuy quyền lực của Tập Cận Bình lúc này gần như tuyệt đối, nhưng đó là gánh nặng quá lớn cho một lãnh đạo quốc gia. Tập có thể thông minh hơn Trump, nhưng điều đó không đảm bảo một tương lai ổn định cho Trung Quốc. Nếu có chuyện không may xảy ra, thì cả hệ thống quyền lực sẽ như rắn mất đầu, trong khi mọi người đều biết lỗi hệ thống này là do Tập muốn làm “chủ tịch mọi thứ”. Đó là lý do tại sao các triều đại độc tài thường có kết cục gần giống nhau. (Chinas New EmperorChris Patten, Project Syndicate, Oct 25, 2017).
Theo Fareed Zakaria (CNN) Tập cho rằng Trung Quốc là một siêu cường trong “thời đại mới”, có thể thay thế Mỹ như một sự lựa chọn (alternative) nếu không phải là đối chọi (rival). Trump có ảo tưởng (fantasy) “làm Mỹ vĩ đại trở lại” (make America great again) thì Tập cũng muốn “làm Trung Quốc vĩ đại trở lại” (make China great again). Đó là “Giấc mộng Trung Hoa” (China Dream) của Tập. Nhưng nếu Tập lấy Mao làm hình mẫu (model) thì Trung Quốc có thể trở thành một Bắc Triều Tiên khổng lồ, chứ không giống Mỹ.
Tập Cận Bình kêu gọi Trung Quốc “quán triệt tinh thần Mao Trạch Đông” (embrace the spirit of Mao Zedong) và dành ưu tiên cao nhất cho ý thức hệ. Trung Quốc đứng trước 4 lựa chọn: (1) “Hard Totalitarianism (Toàn trị Cứng) như hiện nay, (2) “Soft Totalitarianism (Toàn trị Mềm) như thời Hồ Cẩm Đào, (3) “Neo-Totalitarianism (Tân Toàn trị) như thời Mao, (4) “Semi-Democratic (Dân chủ Nửa vời) như Singapore. Tập có thể chuyển từ “Hard Totalitarianism” sang “Neo-Totalitarianism”. Nếu Tập định “quay về tương lai” (back to the future) thì đó sẽ là một sai lầm lớn. Vì vậy, David Shambaugh tin rằng “Màn chót” (Endgame) của chế độ Trung Cộng đang đến, và sự sụp đổ có thể xảy ra trong một hai thập kỷ tới. (The Paradox of Xi Jinping: Dr Jerkyll & Mr Hide? Nguyễn Quang Dy, May 17, 2017).
Nhưng Zakaria cho rằng cần làm rõ ba điểm. Thứ nhất về Mao, hiện nay chủ nghĩa Mao chẳng còn nhiều ảnh hưởng. Thứ hai về chính trị, quyền lực của Tập chưa hẳn “độc tôn” vì cơ cấu nhân sự mới không hẳn như vậy. Trong thường vụ BCT, Lý Khắc Cường vẫn là thủ tướng, Uông Dương và Hàn Chính vẫn là người của phái Hồ Cẩm Đào và phái Giang Trạch Dân. Trong khi đó Trần Mẫn Nhĩ là một đồng minh thân cận của Tập (mà một số chuyên gia cho rằng có thể kế thừa Tập) vẫn chưa lọt được vào Thường vụ Bộ Chính Trị (như đồn đoán). Vương Kỳ Sơn là cánh tay phải của Tập, nhưng không còn trong Bộ Chính Trị (như đồn đoán) và ra khỏi cả danh sách Trung Ương. Phải chăng đây là dấu hiệu Tập đang dọn đường để ở lại thêm một khóa nữa, hay là Tập vẫn chưa hẳn độc tôn? Thứ ba là về triển vọng, vẫn chưa rõ Tập sẽ làm gì với quyền lực mới lớn hơn (tuy chưa hẳn tuyệt đối). Nếu Trung Quốc gặp may, Tập Cận Bình sẽ trở thành một nhà “độc tài được khai sáng” (enlightened absolutist) như Lý Quang Diệu. Nếu không may, Tập sẽ trở thành một hoàng đế chuyên quyền (như Mao 2.0). (Xi whizz: look at the emperor’s new clothes, Niall Ferguson, Sunday Times, October 29, 2017).
Thay lời kết
Tuy “chủ nghĩa tân chuyên chế” (neo-authoritarianism) là chủ thuyết được vận dụng thành công từ thập niên 1990 (sau Thiên An Môn), đã được các học giả Mỹ (như Andrew Nathan và David Shambaugh) đánh giá cao là mô hình “chuyên chế có sức sống” (authoritarian resilience), nhưng nay đã hết màu nhiệm, đang biến thể thành “chủ nghĩa tân toàn trị” (neo-totalitarianism) và “chủ nghĩa tân bảo thủ” (neo-conservatism). Vương Hộ Ninh có quyền tự hào về học thuyết mà mình đã từng đề xướng, cũng như vai trò mới trong Thường vụ Bộ Chính Trị dưới triều đại mới của Tập Cận Bình (2.0). Nhưng Vương có thể chứng kiến biến thể của học thuyết đó đang xô đẩy Trung Quốc đến “Màn chót” (Endgame) của trò chơi quyền lực, như David Shambaugh dự báo hay “Hoàng hôn” (Twilight) của chế độ, như Mixin Pei mô tả.
Trong giai đoạn cải cách lần đầu (1.0) Trung Quốc có thể vận dụng kinh nghiệm phát triển theo mô hình thành công của Đài Loan, Singapore, Hong Kong, Hàn Quốc… Nhưng trong giai đoan cải cách lần hai (2.0) thì phép mầu đó không còn hiệu nghiệm. Bài diễn văn dài ba tiếng rưỡi của Tập Cận Bình (như một luận văn tiến sỹ) ẩn chứa nhiều mâu thuẫn và nghịch lý cơ bản. Trung Quốc không thể trở thành siêu cường nếu không chịu cải tổ hệ thống chính trị. Nhưng nếu Tập cải tổ toàn diện chế độ như quy luật phát triển đòi hỏi, thì bóng ma Thiên An Môn và Pháp Luân Công có thể xô đẩy Đảng và chế độ cùng sụp đổ. Tập Cận Bình và Trung Quốc đang mạnh lên, muốn ganh đua với Mỹ, không phải vì bản thân Trung Quốc do cải tổ mạnh lên, mà vì bản thân Mỹ và phương Tây do khủng hoảng thể chế nên yếu đi.
Tập Cận Bình muốn tập trung quyền lực tuyệt đối bằng mọi giá để giữ nguyên trạng (trong nước), trong khi bành trướng tại khu vực và thách thức vai trò của Mỹ để thay đổi nguyên trạng (tại Biển Đông). Sau Đại hội 19, tham vọng bá quyền của Trung Quốc ngày càng lớn và càng rõ, như một nỗi ám ảnh (hay ác mộng) đối với Việt Nam và ASEAN, làm thế giới đau đầu. Trong khi đó, giai thoại về “Xi Dada” đang biến thể thành “Xi Whizz”, làm người ta nhớ đến tác phẩm kinh điển về đa nhân cách là “Dr Jekyll and Mr Hide” (Robert Louis Stevenson, 1886). Trong khi hoàng đế trầm lặng Tập Cận Bình đang vươn lên ngang tầm với bạo chúa Mao Trạch Đông thì Trung Quốc ngày càng bá đạo và càng giống Frankenstein.
Tham khảo
  1. The Biggest Vote, William Safire, New York Times, May 18, 2000.
  2. Wang Huning’s Neo-Authoritarian Dream,Jude Blanchette, October 20, 2017)
  3. Xi Jinping Has Quietly Chosen His Own Successor,Andrei Lungu, Foreign Policy, October 20, 2017.
  4. China’s Contradictions,Stephen Roach, Project Syndicate, October 23, 2017
  5. 5.China’sNew Emperor, Chris Patten, Project Syndicate, October 25, 2017
  6. The Paradox of Xi’s Power,Minxin Pei, Project Syndicate, October 27, 2017   


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tự làm, tự sướng!


Chàng trai Việt làm giàu bên nước bạn Lào
Đi lên từ nghiệp võ nhưng không hiểu niềm yêu thích nông nghiệp ngấm vào con người Ngô Sĩ Đạt từ lúc nào, rồi trở thành một niềm đam mê thôi thúc không ngừng đưa anh đến những bến bờ hoàn toàn mới. Hiện với hơn 10ha đất đai “đẹp như mơ” tại tỉnh Xieng Khoảng (Cộng hòa DCND Lào), Đạt đang có những trải nghiệm thú vị ở đây...
Súng gươm vứt bỏ lại hiền...
Gặp Ngô Sĩ Đạt, tôi cứ có một liên tưởng đến một chiến binh của nghĩa quân Đề Thám xưa. Cái chất nắng gió, phong trần, cách nói chuyện khảng khái nhưng rất hấp dẫn và sự quyết tâm luôn nhìn thấy trong từng ánh mắt, cử chỉ. Với con người ấy, không có gì là lạ khi tuổi thơ đã gắn bó với thể thao. Ngày đi học cấp 2, Đạt đặc biệt say mê học bắn súng, học võ thuật. 15 tuổi, thấy trên tivi có chương trình tuyển sinh tập võ thuật (tán thủ) không mất tiền của một đơn vị bộ đội, Đạt đến xin vào học. Thể hình tốt, khả năng xử lý tình huống thông minh và cần mẫn luyện tập, Đạt nhanh chóng trở thành một vận động viên của CLB quyền anh Hà Nội.
Hơn một năm sau, Đạt giành huy chương Đồng tại một giải thể thao cấp quốc gia tổ chức tại Hải Phòng và trở thành vận động viên quốc gia, được triệu tập để huấn luyện đi thi đấu trong một số giải cấp quốc gia và khu vực tổ chức tại Việt Nam nhưng không đạt nhiều thành tích cao nữa. Anh bất ngờ xin rút hoàn toàn khỏi thể thao, một quyết định khiến cho không ít huấn luyện viên gạo cội tỏ ra tiếc nuối.
Bỏ võ, Đạt đi bán quần áo giúp một người chị ở Hà Nội. Nhưng nghề mới này không giữ được chân Đạt quá hai tháng. Tình cờ xem trên tivi, thấy người dân trồng gấc mang lại hiệu quả cao. Ngẫm nghĩ tới việc nhà mình còn vài hecta đất nông nghiệp của bố mẹ ở Vĩnh Phúc chưa sử dụng vào việc gì lớn, Đạt xin nghỉ việc và về quê xin bố cho làm... nông dân. Ban đầu, chẳng có ai đồng ý với quyết định này của Đạt nhưng rồi thuyết phục mãi mọi người cũng đành gật đầu. Đạt bắt đầu với nghề nông như thế...
Tìm hướng đi trong “thế giới phẳng”
9 năm làm bạn với cây gấc đã cho Đạt khá nhiều kinh nghiệm, tiền bạc và cả những đắng cay do thất bại. Bây giờ ngoài trang trại ở Vĩnh Phúc, Đạt còn đầu tư về trang trại của gia đình ở xã Đông Sơn (Yên Thế). Về nhà Đạt có thể thấy đủ các loại cây quả với nhiều cách thức trồng độc đáo. Nhưng Đạt chưa muốn dừng lại ở đó. Anh dành dụm tiền đi một số nơi trên thế giới để xem cách các nước làm nông nghiệp.
Dù mới 30 tuổi nhưng dấu chân Đạt đã đặt lên các nước Thái Lan, Campuchia, Lào, Indonesia... facebook của anh có nhiều bạn mới qua những cuộc đi như thế. Đạt tự học thêm tiếng Anh để giao lưu với các bạn, tìm hiểu thêm thông tin về những sản vật nông nghiệp ở nhiều nước và cơ hội nhân rộng ở ngay trên trang trại nhà mình. Đã có lúc, trang trại nhà Đạt có đến hàng trăm cá thể gà quý được nhập từ Nhật Bản, Châu Âu, Thái Lan... Rồi Đạt lại mê trồng gừng trên giá thể bởi đây là hướng đi nhiều nước đang áp dụng bởi tiết kiệm được phân bón, tập trung được hữu cơ nuôi cây, dễ kiểm soát dịch bệnh...
Thời gian gần đây, lại nghe nói Đạt bỏ trang trại ở nhà sang tận Lào làm ăn khiến tôi không khỏi háo hức. Gọi điện, Đạt nói đầy hào hứng về những dự định nơi miền đất mới và mời chúng tôi qua thăm. Đạt chia sẻ: “Em thấy Việt Nam là nước có ngành nông nghiệp phát triển lâu đời nên đất đai, không khí, nước... có thể không còn giữ được những bản chất tốt đẹp nhất. Trong khi đó, nông nghiệp Lào mới phát triển trong những năm gần đây, môi trường sạch không có nhiều khu công nghiệp, không có nhiều khí thải, chất thải nguy hại... cho cây trồng nên có thể là một nơi lý tưởng cho việc sản xuất những sản phẩm có giá trị kinh tế cao nên đã quyết định chọn nơi đây để thực hiện những ý tưởng của mình”.
Người bạn mới trên đất Lào
Có dịp đi công tác đến cửa khẩu Nậm Cắn, tôi được nhìn tận mắt nông trại trong mơ của Đạt, cách trung tâm tỉnh Xiêng Khoảng chừng 20km. Đó là một vùng đất tương đối bằng phẳng, dân cư thưa thớt và còn khá nguyên sơ, có độ cao hơn 1.200 mét so với mực nước biển. Khí hậu trong lành và được ví như Đà Lạt của Việt Nam. Theo đánh giá của Đạt, chất đất ở đây khá tốt và phù hợp với nhiều loại rau, củ, quả. Tuy nhiên, khó khăn ban đầu là trên mảnh đất màu mỡ ấy luôn ẩn chứa những hiểm nguy chết người. Đó là hàng tấn bom mìn vẫn còn rải rác đâu đó. Đạt phải thuê lực lượng công binh đến rà phá hết bom mìn rồi mới bắt đầu yên tâm làm ăn. Đạt trồng nhiều giống rau, củ quả mới lạ sưu tầm được qua những chuyến đi trước đây và mải mê ngắm nhìn chúng lớn lên hàng ngày.
Bên cạnh đó, Đạt nhờ nhiều bạn bè ở các vùng khác nhau để thử nghiệm những giống cây mới để có thêm nhiều kết quả đối chứng ở nhiều địa bàn khác nhau. Đạt tâm sự: Điều quan trọng nhất trước khi quyết định đầu tư ở đây là sự nhiệt tình của người dân và chính quyền địa phương bản địa. Mỗi khi có công việc gì, lãnh đạo xã, thôn đều đến tận nơi, thăm hỏi tận tình và cùng hỗ trợ giải quyết các khó khăn của Đạt. Đặc biệt, huyện còn cử hẳn một cán bộ chuyên ngành nông nghiệp giúp đỡ về kỹ thuật cho Đạt. “Chính quyền và người dân ở đây cũng mong muốn mình sẽ thành công để làm giàu cho vùng đất này và quan trọng hơn là qua đó thay đổi nhận thức của người dân về cách làm nông nghiệp”, Đạt nói. Chính vì vậy, Đạt có thêm niềm tin và sự quyết tâm vào công việc mình đang làm. Anh mua thêm máy móc, trang bị hệ thống tưới tự động, tưới phun sương cho toàn nông trại.
Đạt không giấu giếm về tham vọng của anh trên vùng đất này đó là sẽ triển khai những giống cây mới, lạ, những sản phẩm trái mùa tiêu thụ ở Lào và xuất khẩu về Việt Nam. Với sự giúp đỡ của các chuyên gia từ Nga, năm nay Đạt bắt đầu trồng thử nghiệm củ cải đỏ khổng lồ. Đây được coi là loại thực phẩm mang lại hiệu quả cao với trọng lượng đạt khoảng 2kg/củ. “Thời tiết ở đây cũng giống như ở Đà Lạt của Việt Nam, rất thuận lợi cho việc trồng rau, củ quả. Hơn nữa, người dân ở đây rất tốt bụng, việc thuê nhân công cũng rẻ hơn ở Việt Nam rất nhiều là những lợi thế để em triển khai chương trình này. Dự kiến, trong tết nguyên đán này em sẽ có khoảng 200 tấn củ cải đỏ. Hiện em đã liên hệ với nhiều đơn vị thu mua để bao tiêu toàn bộ số sản phẩm này”, Đạt chia sẻ.
Chia tay người đồng hương trẻ trên đất Triệu Voi trong bữa ăn ấm cúng giữa trang trại của anh với nhiều quan chức địa phương cùng dự, chúng tôi cảm nhận được sâu sắc mối quan hệ cởi mở, thân thiện của người dân nơi đây với Đạt. Cùng ngồi trên những chiếc chiếu cói, với những món ăn được làm từ chính những sản phẩm trên cánh đồng trước đây còn đầy bom đạn với men rượu cay nồng, chúng tôi thầm mong cho chàng trai trẻ ấy thành công để khí chất Đề Thám tiếp tục lan tỏa, trường tồn và phát triển trên một không gian mới với những giá trị mới.


Phần nhận xét hiển thị trên trang