Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Bài viết đã bị gỡ: Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam


LTS: Bài viết “Thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” của PGS TS Nguyễn Linh Khiếu, đăng trên Tạp chí Cộng sản lúc 11h2′, ngày 28/10/2017, nhưng hiện đã không còn trên mạng. Bài này BBC cũng đã có bài tóm lược tựa đề: Chủ nghĩa tư bản ‘khuyết tật nhưng phát triển’. Có lẽ do phát hiện PGS TS Nguyễn Linh Khiếu đã tiết lộ quá nhiều “bí mật quốc gia” trong bài viết, về Chủ nghĩa Xã hội và Chủ nghĩa Cộng sản, nên Tạp chí Cộng sản gỡ bài? Chúng tôi xin được đăng lại bài viết này để phục vụ quý độc giả chưa kịp đọc.
Chủ nghĩa xã hội dù đang khủng hoảng cả về lý luận và thực tiễn, nhưng với cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, nhân loại đã bước vào một thời kỳ phát triển mới – thời kỳ tiến lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Với Đổi mới, Việt Nam đã vượt qua khủng hoảng, nắm bắt thời cơ, phát huy lợi thế, khai thác động lực mạnh mẽ bước vào thời kỳ phát triển mới nhằm sớm thực hiện mục tiêu dân giầu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa xã (XHCN) không qua thời kỳ tư bản chủ nghĩa (TBCN) là một vấn đề lý luận cốt yếu trong lý luận cách mạng XHCN không chỉ đối với Việt Nam, mà cả với sự phát triển lý luận cách mạng XHCN ở các Đảng Cộng sản và phong trào công nhân quốc tế.

Mấy chục năm qua, các học giả đã có hàng chục nghìn công trình, bài viết nghiên cứu xoay quanh chủ đề con đường phát triển chủ nghĩa xã hội (CNXH). Các thành tựu nghiên cứu đạt được rất đa dạng, phong phú, tuy nhiên, những kết quả ấy lại rất khác nhau, và thường không đạt được sự đồng thuận giữa các nhà nghiên cứu, kể cả những nhà nghiên cứu theo lập trường mác-xít. Đó là do mục đích nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cách tiếp cận, lập trường tư tưởng… khác nhau.

Hơn thế, phong trào XHCN vừa trải qua khủng hoảng toàn diện, nghiêm trọng cả về thực tiễn và lý luận. Đó là hệ thống lý luận xây dựng CNXH theo mô hình Xôviết trước đây là giáo điều, xơ cứng, chủ quan, duy ý chí, bất chấp quy luật khách quan… đã thực sự lỗi thời, không phù hợp với những thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Đó là hệ thống CNXH hiện thực rơi vào khủng hoảng toàn diện, tan rã ở châu Âu. Những nước XHCN còn lại đã mở cửa, đổi mới toàn diện và đã bước vào một giai đoạn phát triển mới không còn theo mô hình cũ.

Về mặt lý luận và thực tiễn cần phải nhìn nhận một cách khách quan, khoa học rằng sau hơn 30 năm cải cách ở Trung Quốc và 30 đổi mới ở Việt Nam, mô hình lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH mới mà hai quốc gia này chủ trương và tiến hành hiện thực hóa đã khác rất xa mô hình CNXH Xôviết trước đây. Tuy nhiên, cả lý luận và thực tiễn xây dựng CNXH ở Việt Nam và Trung Quốc cơ bản là khác nhau, mặc dù về nguyên tắc và mục tiêu XHCN là tương đồng.

Dù có nhiều điểm khác nhau nhưng, sau cải cách, đổi mới các nước phát triển theo con đường XHCN mới đã tạo ra sự phát triển kinh tế – xã hội được đánh giá là thần kỳ. Trong khi, các nước Đông Âu và Liên Xô sau khi hệ thống XHCN ở châu Âu tan rã và không ít nước rơi vào khủng hoảng toàn diện cả kinh tế, chính trị và xã hội. Cho đến nay, mặc dù đã qua 30 năm, nhiều nước vẫn chưa thực sự thoát ra khỏi khủng hoảng. Mặc dù vậy, vào thời điểm hiện nay, dù nhiều quốc gia còn bất ổn, đời sống của người dân còn rất khó khăn nhưng hầu như đa số người dân ở các quốc gia này, không muốn quay trở lại xây dựng CNXH theo mô hình như trước đây.

Rõ ràng, niềm tin của người dân về CNXH theo mô hình trước đây ở những quốc gia châu Âu đã từng xây dựng CNXH hiện thực ở thế kỷ XX đã bị tổn thương nặng nề. Chủ nghĩa xã hội như đã tồn tại trở thành nỗi ám ảnh trong đời sống nhân loại. Chính điều này đặt ra cho những nhà nghiên cứu cần phải có cách tiếp cận mới với lý luận về CNXH của nghĩa Mác – Lênnin. Cần phải vận dụng sáng tạo lý luận ấy không chỉ bởi những điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia, mà phải đặt nó trong bối cảnh mới của tiến trình lịch sử thế giới. Trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển nếu không nằm trong chỉnh thể vận động và phát triển chung của toàn nhân loại.

Qua nghiên cứu, phân tích, tìm hiểu các quan điểm của các nhà kinh điển, của các học giả mác-xít và ngoài mác-xít xung quanh vấn đề CNXH và con đường XHCN ở các quốc gia theo mô hình Xôviết trước đây; tìm hiểu những nhân tố tác động đến quá trình phát triển định hướng XHCN không trải qua giai đoạn TBCN; các nhân tố thời đại và nhân tố đặc thù của mỗi nước; thực trạng công cuộc đổi mới theo định hướng XHCN ở nước ta 30 năm qua, bước đầu chúng tôi xin trao đổi một số vấn đề lý luận căn bản về thời kỳ phát triển định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

Thứ nhất, vấn đề bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa
Nêu vấn đề thời kỳ phát triển định hướng XHCN về mặt lý luận sẽ liên quan tới quan điểm “quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa”. Đây là một vấn đề lý luận hiện nay đã được khẳng định. Tìm hiểu quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn đề này từ khi thành lập đến nay ta thấy đây là một vấn đề lý luận cốt yếu nhưng cũng đã có nhiều sự điều chỉnh trong các thời kỳ cách mạng khác nhau.

Thật vậy, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam từ 1930 đến nay để tiến lên CNXH, đã có sự thay đổi căn bản: Từ “tiến thẳng lên CNXH”, đến “bỏ qua giai đoạn phát triển TBCN”, và hiện nay là “bỏ qua chế độ TBCN”. Cần làm rõ: có thể bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa (TBCN) với tư cách là một chế độ xã hội được không ? Bỏ qua chế độ TBCN nhưng có sử dụng và phát huy những nhân tố nào của giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa?.

Đặt vấn đề về mặt tư duy: bỏ qua chế độ TBCN có phải là sự khẳng định chế độ TBCN là chế độ xã hội xấu xa đã lỗi thời, không còn phù hợp với sự phát triển của nhân loại, do đó cần phải “bỏ qua”, loại bỏ chế độ đó trong quá trình phát triển của lịch sử loài người hay không. Như vậy, có nhận thức đúng sự tồn tại khách quan, tất yếu hiện nay của CNTB không? có phù hợp với sự phát triển tự nhiên của lịch sử không? và có tiếp tục gây ra sự kỳ thị, đối kháng, đối đấu giữa sự phát triển của Việt Nam hiện nay với phần còn lại của thế giới là TBCN hay không? Có tách biệt sự vận động và phát triển của Việt Nam hiện nay ra khỏi quỹ đạo phát triển chung của thế giới ngày nay hay không? Đây là một vấn đề lý luận rất cốt yếu.

Với sự nhận thức phát triển của Việt Nam hiện nay là “thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa” nghĩa là chúng ta chỉ xác định con đường và đích đến của riêng Việt Nam, không đề cập, không làm tổn thương đến sự phát triển và mô hình phát triển của các quốc gia khác, các chế độ chính trị khác. Thực tế là với toàn cầu hóa, cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và hội nhập quốc tế, Việt Nam ngày càng tham gia một cách toàn diện vào đời sống chung của toàn cầu và đã trở thành một thực thể tích cực có nhiều đóng góp cho phát triển chung của khu vực và thế giới.

Thứ hai, về những điều kiện tiên quyết để tiến lên chủ nghĩa xã hội ở “các nước lạc hậu” trong thời đại ngày nay


Những điều kiện tiên quyết mà C. Mác, Ph. Ănghen, V.I. Lê-nin đã dự đoán khả năng các nước lạc hậu phát triển lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN đó là:

– Chủ nghĩa tư bản đã phát triển lên tới đỉnh cao ở các nước tiên tiến;
– Cách mạng vô sản đã thắng lợi ở Tây Âu;
– Cách mạng vô sản ở Tây Âu kết hợp với cách mạng ở các nước lạc hậu;
– Sự nêu gương và sự ủng hộ tích cực của cách mạng XHCN ở phương Tây đối với các nước lạc hậu đi theo con đường XHCN;
– Những lực lượng tiên tiến của các nước “lạc hậu” chủ động thực hiện quá trình phát triển bỏ qua CNTB.

Rõ ràng, những điều kiện tiên quyết mà các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin, dự báo khi đó đến nay hầu như không còn nữa /hay không còn phù hợp. Tuy nhiên, nhìn một cách khách quan các điều kiện này ta thấy, vào thời điểm đó, trong tư duy của các ông luôn thường trực ý thức quyết liệt rằng, giữa CNTB và chủ nghĩa cộng sản luôn hiện diện trong tình trạng đấu tranh sinh tử “một mất một còn”, kiểu như “chủ nghĩa xã hội là người đào mồ chôn chủ nghĩa tư bản”. Nghĩa là CNTB và CNXH luôn đối đấu và phủ định nhau. Nhân loại được đặt trước lựa chọn duy nhất: hoặc CNTB, hoặc CNXH. Hệ lụy của tư duy ấy là đã chia thế giới thành hai phe, hai hệ thống đối đầu nhau, tìm mọi cách tiêu diệt nhau… đã dẫn đến chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang và cuối cùng là góp phần dẫn đến sự sụp đổ hoàn toàn hệ thống XHCN ở châu Âu nửa cuối thế kỷ XX. Trong cuộc đối đầu “một mất một còn” ấy CNXH hiện thực theo mô hình Xôviết về cơ bản đã bị tiêu diệt và CNTB với rất nhiều khuyết tật của nó vẫn tiếp tục tồn tại và phát triển.

Vì lẽ đó, trong điều kiện hiện nay, khi mà các điều kiện tiên quyết nêu trên không còn thì để tiến lên CNXH chúng ta phải làm thế nào?.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và các thành tựu của cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay, thế giới đã ở một trạng thái hoàn toàn mới. Có người gọi đó là một “thế giới phẳng”. Hầu như mọi rào cản giữa các quốc gia, các khu vực cơ bản đã được dỡ bỏ. Mọi quốc gia tồn tại trong trạng thái tùy thuộc lẫn nhau. Một sự kiện kinh tế, chính trị, an ninh, môi trường… diễn ra ở một quốc gia có thể ảnh hưởng đến nhiều quốc gia khác. Đặc biệt sau khi hệ thống CNXH ở châu Âu sụp đổ và chiến tranh lạnh kết thúc thì CNTB trở thành “nhân vật chính” của vũ đài thế giới và sự vận động, phát triển của lịch sử thế giới ngày nay nhìn chung bị chi phối bởi CNTB hiện đại.

Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có quan hệ hữu nghị với hầu như các quốc gia trên thế giới; đặc biệt có quan hệ đối tác chiến lược với hầu như các cường quốc. Việt Nam không chỉ là thành viên tích cực của cộng đồng thế giới mà còn là thành viên có vai trò và vị trí quan trọng trong các thế chể, định chế, các liên minh kinh tế, xã hội rộng lớn toàn cầu.

Trong bối cảnh mới, mặc dù chúng ta gặp nhiều khó khăn, thách thức nhưng rõ ràng chúng ta cũng có nhiều điều kiện và cơ hội phát triển hơn. Vấn đề là ta phải đặt mình vào trong bối cảnh ấy, một cách khách quan và đề cao tính mục đích của thời kỳ phát triển định hướng XHCN để ta có chiến lược, chủ trương, biện pháp và giải pháp hướng tới ngăn chặn nguy cơ, hạn chế thách thức, có nhiều điều kiện để tận dụng thời cơ và cơ hội hơn cho sự phát triển kinh tế – xã hội đất nước. Vấn đề quan trọng là trong quá trình mở cửa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng chúng ta cần phải đề cao tính mục đích của sự phát triển – đó là CNXH, từ sự đề cao mục đích, chúng ta phải biết tận dụng nhiều điều kiện, cơ hội khách quan, kịp thời nắm bắt thời cơ – nghĩa là tìm phương tiện, phương thức, nguồn lực, động lực để sớm đạt được mục đích xây dựng thành công CNXH ở Việt Nam.

Muốn vậy chúng ta phải ngày càng thực sự trở thành một thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng thế giới; cũng như thực sự trở thành “bạn” của mọi quốc gia, dân tộc trên thế giới. Đây chính là một điều kiện “tiên quyết”, “bắt buộc” để chúng ta thực hiện được các mục tiêu và nhiệm vụ của thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực là những điều kiện khách quan và chủ quan cho sự phát triển của mỗi quốc gia ở những thời điểm nhất định chỉ xuất hiện vào đúng những thời điểm đó, vì vậy, những dự báo lý luận dù có thần kỳ đến mấy cũng không thể bao chứa hết.

Thứ ba, xuất phát điểm của Việt Nam khi bước vào thời kỳ phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa 


Xuất phát từ tình hình cụ thể, hoàn cảnh lịch sử cụ thể của mỗi quốc gia là nguyên tắc chỉ đạo quan trọng nhất. Đây cũng chính là một nguyên tắc cơ bản của phép biện chứng duy vật. Chỉ có xuất phát từ thực tiễn mới nắm vững được thực trạng đời sống xã hội, các xu thế vận động cũng như quy luật vận động của thực tiễn. Xa rời thực tiễn, chủ quan, duy ý chí, giáo điều, quan liêu, bất chấp quy luật khách quan là những bài học đắt giá mà Đại hội VI của Đảng ta đã chỉ ra.

Không xuất phát từ thực tiễn đất nước sẽ ban hành những chỉ thị, nghị quyết không phù hợp với thực tiễn vì vậy sẽ không đạt được hiệu quả mong muốn. Không xuất phát từ thực tiễn khi áp dụng những kinh nghiệm quốc tế thường dập khuôn, máy móc, giáo điều xa lạ đối với tâm tư nguyện vọng của nhân dân. Khi đó, người dân sẽ không tích cực tham gia vào các chương trình, kế hoạch phát triển đất nước.

Chẳng hạn, đối với nước ta hiện nay, nhiều người do xa rời thực tiễn, máy móc, giáo điều, duy ý chí… nên khi nhận định về xuất phát điểm của nước ta tiến hành “quá độ lên CNXH, bỏ qua chế độ TBCN”, nghĩa là khi bước vào thời kỳ phát triển định hướng XHCN họ vẫn “một mực” khẳng định xuất phát điểm của Việt Nam vẫn từ “một nước nông nghiệp lạc hậu”, “thực dân nửa phong kiến”, “chúng ta vừa bước ra từ chiến tranh và chịu hậu quả nặng nề của hai cuộc chiến tranh tàn khốc”… Với sự nhận diện như thế, rõ ràng chúng ta không thể có chủ trương, đường lối, chính sách sát hợp để lãnh đạo và chỉ đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng CNXH hiện nay.

Thực ra, chúng ta đã “từ giã” nước “nông nghiệp lạc hậu”, “thực dân, nửa phong kiến” gần 70 năm, chúng ta đã bước ra khỏi chiến tranh đã 40 năm, và chúng ta đã có 30 năm thực hiện thành công công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Thực tiễn nước ta hiện nay, khác rất xa những năm trước năm 1945, những năm trước năm 1975. Sau 30 năm đổi mới chúng cũng đã khác rất xa năm 1986 khi đất nước ta bước vào đổi mới. Thành tựu của công cuộc đổi mới đã đưa nước ta trở thành một thành viên có vai trò, vị trí và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, đã trở thành quốc gia có mức thu nhập trung bình… Vì vậy, nếu không xuất phát từ tình hình thực tiễn đất nước thì rõ ràng chúng ta không thể nhận diện đúng thời cơ, thách thức, nguồn lực, động lực… và do đó sẽ không thể có được các chủ trương, đường lối, chính sách phù hợp để phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay. Do đó, cũng sẽ không thực hiện được những nhiệm vụ và mục tiêu của thời kỳ phát triển định hướng XHCN mà chúng ta đã đề ra.

Thứ tư, vấn đề phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa 
Sau 30 năm đổi mới thành tựu to lớn nhất, quan trọng nhất của chúng ta là sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế. Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có thể khẳng định là đột phá về mặt lý luận và thực tiễn. Lý luận kinh tế thị trường định hướng XHCN đã soi sáng cho sự phát triển của đời sống kinh tế của nước ta 30 năm qua. Tuy nhiên, xã hội là một cơ thể thống nhất và đồng bộ. Các lĩnh vực của đời sống xã hội trong quá trình vận động và phát triển dù có thể có sự phát triển không đều nhưng về căn bản các lĩnh vực, bộ phận phải tương thích, đồng bộ và thống nhất với nhau tạo thành một tổng thể hoàn chỉnh. Không có một cơ thể xã hội hài hòa ổn định thì không thể phát triển bền vững được.

Sự thành công hết sức thuyết phục của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta thời gian qua chỉ cho ta thấy rằng cần phải xác định đúng thời điểm hiện nay Việt Nam đang tồn tại và phát triển ở trạng thái là thời kỳ phát triển định hướng XHCN. Đây không phải là cách diễn đạt khác của “thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” mà là sự nhận diện thực trạng xã hội và xu hướng vận động tất yếu của nó. Ai cũng biết mọi sự vận động phát triển đều là thời kỳ quá độ từ trạng thái này sang trạng thái khác một cách phổ biến. Xác định thời kỳ phát triển định hướng XHCN nghĩa là đề cao tính mục đích của sự phát triển. Nói cách khác, sự phát triển là quá trình vận động theo những quy luật khách quan nhưng có sự tham gia của nhân tố chủ quan để đạt tới mục đích đề ra.

Thứ năm, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam 

Để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ của thời kỳ phát triển định hướng XHCN một điều kiện tiên quyết có tính nguyên tắc là phải kiên quyết giữ vững vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam và phải kiên quyết đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội.

Đảng Cộng sản cộng sản Việt Nam người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam hơn 85 năm qua. Điều này đã được lịch sử khẳng định. Lịch sử cũng cho thấy vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản với cách mạng Việt Nam không phải bằng lý luận mà bằng chính thực tiễn đời sống.

Với xuất phát điểm là một xã hội chưa trải qua thời kỳ phát triển TBCN hội nhập vào sự phát triển chung của nhân loại, nếu theo sự phát triển bình thường của quá trình lịch sử tự nhiên thì như nhiều quốc gia khác, chúng ta tiến lên CNTB là một lẽ bình thường. Trong khi, CNTB sau hơn 200 tồn tại mặc dù mang lại cho nhân loại rất nhiều thành tựu nhưng cũng có những thời kỳ đen tối nhiều máu và nước mắt đối với tiến trình phát triển nhân loại. Chế độ bóc lột, phân tầng xã hội, phân hóa giầu nghèo, chiến tranh và tha hóa con người là những sản phẩm tất yếu của chủ nghĩa tư bản mà bất cứ quốc gia nào đi theo con đường TBCN không thể tránh khỏi.

Trong khi đó, giai đoạn hiện nay, nhiều nước tư bản phát triển đang đứng trước ngưỡng cửa của một thời đại mới, một chế độ xã hội mới. Đó là thời đại của sự phát triển đỉnh cao của nhân loại. Đó không còn là chủ nghĩa tư bản với đúng nghĩa của nó nữa. Có người gọi đó là xã hội hậu tư bản. Thực tiễn cho thấy, trong các nước tư bản phát triển ở đỉnh cao hiện nay đã xuất hiện rất nhiều nhân tố của chủ nghĩa cộng sản như các nhà sáng lập chủ nghĩa Mác dự báo.

Với Việt Nam từ một quốc gia đang phát triển với mức sống trung bình của thế giới trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế hiện nay phát triển theo định hướng XHCN là hoàn toàn hiện thực và đó là một tất yếu khách quan. Thực chất, đây là một sự phát triển rút ngắn mà lịch sử cho thấy có nhiều dân tộc đã từng trải qua.

Vấn đề cốt lõi ở đây là chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới là người lãnh đạo đất nước ta đi theo con đường XHCN. Vì vậy, giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam là một vấn đề có tính nguyên tắc, một điều kiện tiên quyết. Tuy nhiên, để giữ vững được nguyên tắc này Đảng Cộng sản Việt Nam cần thực hiện một số vấn đề cốt lõi sau:

Một là, Đảng Cộng sản không phân chia quyền lãnh đạo quá trình xây dựng CNXH ở Việt Nam cho bất cứ lực lượng chính trị nào khác nhằm đảm bảo sự thống nhất và tính nhất quán của công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN;


Hai là, Đảng phải đổi mới toàn diện về tổ chức và phương thức lãnh đạo đối với Nhà nước và xã hội.

Ba là, Đảng cần kiên quyết chỉnh đốn xây dựng đảng. Kiên quyết chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong đảng viên nhất là đội ngũ lãnh đạo cao cấp; Kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng xây dựng lòng tin trong nhân dân; Kiên quyết giải tán các tổ chức đảng cơ sở suy thoái, mất sức chiến đấu; Kiên quyết loại bỏ những phần tử thái hóa, biến chất ra khỏi đội ngũ Đảng.

Bốn là, Kiên quyết đấu tranh chống những thế lực phản động trong nước và quốc tế nhằm xóa bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo của Đảng. Kiên quyết chống “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ, giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng, giữ vững ổn định chính trị;

Năm là, Mở rộng quan hệ quốc tế, kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo đất nước, bảo vệ lợi ích quốc gia, bảo đảm đời sống hòa bình cho nhân dân.

PGS.TS. Nguyễn Linh Khiếu
Tạp chí Cộng Sản


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

Thôi đành


Tay này quả thật đẹp trai/
Thủy chung với vợ chẳng ai sánh bằng/
Gái theo lẵng nhẵng quá đông/
Nhưng hắn sợ vợ nên không làm gì/
Nhìn ngoài tưởng hắn nhu mỳ/
Bên trong hắn lại cực kỳ bướng ương/
Suốt ngày chiến đấu trên gường/
Còn tôi ngồi ở chiến trường ngoạm khoai/
No đói nó chẳng chừa ai/
Hắn sướng tôi khổ cùng loài ngu lâu/
Tôi dùng Lục bát chửi tầu/
Hắn ca ngơi vợ từng câu hết mình/
Cảm ơn tiên tri cơ minh/
Bói tôi giống hắn thực tình hơi ngoa/
Hắn đúng con ông cháu cha/
Còn tôi đích thực con nhà bình dân/
Ngoài đời tôi hắn cũng thân/
Nhưng trên facebook nhiều lần phang nhau/
Phán tôi giống hắn hơi đau/
Thôi đành đợi đến kiếp sau hãy bàn???



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Giáo dục 10 năm, 20 năm nữa sẽ như thế nào?



Nếu tin lời phân tích của tờ The Economist, nhiều nghề sẽ biến mất trong tương lai gần.Phần mềm khai thác dữ liệu sẽ thế chỗ các trợ lý luật sư vì chúng tìm và phân tích thông tin nhanh hơn con người nhiều lần. Kỹ thuật viên đọc phim chẩn đoán y tế sẽ nhường ghế cho phần mềm xử lý hình ảnh vì chúng cho ra kết quả chính xác hơn con người. Các ứng dụng đa dạng sẽ tước việc của các đại lý du lịch, bán vé máy bay… Đó chỉ là một vài ví dụ.

Còn nếu nghe theo dự báo của các chuyên gia một bàn tròn do BBC tổ chức, không hẳn tự động hóa sẽ chiếm hết việc của con người mà đúng hơn, đến 60% ngành nghề hiện nay sẽ phải nhường hai phần ba các công đoạn của nghề cho máy móc, phần mềm. Tức là có thể công việc không mất đi nhưng cách “hành nghề” sẽ khác trước một trời một vực.

Dù tin theo ai đi nữa, có lẽ chúng ta phải thừa nhận một điều: không ai biết 10 năm nữa, kỹ năng nào sẽ không còn cần thiết, kỹ năng nào sẽ được nhấn mạnh; kiến thức nào sẽ trở nên lạc hậu, điều gì sẽ giúp một người thích nghi với cuộc sống lúc đó. Nhường cho máy làm hai phần ba công việc thì chúng ta sẽ làm gì?

Chúng ta không biết – vậy làm sao chúng ta có thể yên tâmđứng trước các em học sinh hiện nay đang ngồi ở bậc tiểu học và 10 năm, 15 năm nữa sẽ phải ra đời, đối diện với sự bất định đóđể rồi dạy các em những điềuđã từng được dạy cho chúng ta?Không lẽ chúng ta cứ loay hoay chuyện thi cử trong khi biết đâu tương lai, máy sẽ tuyển người và máy sẽ không thèm nhìn đến bằng cấp?

Trở lại với dự báo của BBC, lấy nghề báo để minh họa. Nghề báo hiện nay, viết chỉ là công đoạn cuối cùng. Các công đoạn chuẩn bị trước đó cần sự hỗ trợ rất lớn từ máy móc: tìm thông tin nền trên Internet, kiểm tra các tin về cùng đề tài đã được đăng tải, nên hỏi câu hỏi gì trong cuộc họp báo sắp tới, xác định được tranh cãi quanh đề tài được giao thực chất là gì… 

Khác với ngày xưa, phóng viên ngày nay phải biết xu hướng người đọc đang quan tâm gì, phải biết khai thác dữ liệu lớn, phải biết “ngửi” tin từ mạng xã hội, từ cái âm thanh ồn ào, râm ran của hàng ngàn ý kiến để sàng lọc các manh mối cần biết. Chẳng khác gì người phóng viên phải hợp tác chặt chẽ với phần mềm, với ứng dụng hay với các công cụ mang tính thông minh nhân tạo, nhường bớt việc cho chúng.

Trường đào tạo các nhà báo tương lai không dạy cụ thể các kỹ năng làm việc theo kiểu hợp tác như thế. Các kỹ năng như đào xới dữ liệu (data mining), nhận biết và tận dụng dữ liệu lớn (big data), viết từ khóa (key words) cho máy tìm kiếm… thường do phóng viên tự tìm hiểu và tự học trong khi hành nghề.Mà dù có muốn tổ chức cũng không biết tìm thầy ở đâu ra trong ngành báo chí để dạy các kỹ năng này. Chỉ mới hình dung đến đó đã thấy tương lai của ngành đào tạo nghề báo phải khác bây giờ nhiều lắm.

Nhìn rộng ra cuộc sống của một người bình thường hiện nay: phải thừa nhận họ tiêu tốn từ vài phút cho đến vài giờ cho mạng xã hội, ở đó, khác với ngày xưa, họ phải có những kỹ năng như viết ngắn gọn, súc tích nhưng mang tính thuyết phục người nghe, đọc hiểu được mọi hình thức biểu cảm để lọc được nội dung thật sự, biết phân biệt được giả chân, ngay cả trong tin tức. 

Sẽ có người thấy tiếc vì ngày xưa chỉ biết học viết theo văn mẫu, đẻ ra toàn những câu sáo rỗng, những đoạn văn vô hồn, không thuyết phục được ai. Sẽ có người băn khoăn vì sao ngày xưa mình cũng học phân tích, chứng minh, bình luận đủ cả nhưng đọc một nội dung có linh tính là sai nhưng không biết sai ở đâu, vì sao sai, làm sao để bác bỏ.

Sẽ có người đọc đến đến đây và thốt lên: không lẽ giáo dục mà phải mang nhiệm vụ chuẩn bị cho người ta chơi Facebook à? Nếu đo lường được tác động của các mạng xã hội, trong đó Facebook là một kênh quan trọng, đang ảnh hưởng đến suy nghĩ, hành vi, quyết định của nhiều người như thế nào, ắt chúng ta sẽ không nghĩ thế. 

Quan trọng hơn, sự độc quyền và đôi lúc sự lũng đoạn thông tin của các tay chơi lớn như Google, Facebook, Twitter sẽ bị hạn chế phần nào nếu chúng ta có những kỹ năng chống chọi lại. Và đó chính là nhiệm vụ của giáo dục – trao công cụ để con người tìm tự do, không bị khống chế bởi xu thế chung hay sự xô đẩy của đám đông bị kích động.

Chỉ vài ba năm nữa thôi, cảnh một em học sinh đưa điện thoại di động lên hỏi một câu bất kỳ, máy sẽ trả lời vanh vách không phải là chuyện khoa học viễn tưởng. Kiến thức sẽ không nằm trong bộ nhớ con người nữa, nó sẽ chuyển qua nằm trên máy hay trên mây. Khi tốc độ truy xuấtgiữa bộ nhớ sinh học và bộ nhớ điện tử là gần như nhau thì việc gì không chuyển kiến thức lên mây để não bộ chứa chuyện khác.

Vậy con người tương lai cần gì; trẻ em đang ngồi ghế nhà trường cần học gì trước những thay đổi đó? Chúng ta không biết cụm kỹ năng nào sẽ tối cần, cụm kỹ năng nào sẽ biến mất trong tương lai nhưng việc đó không ngăn cản các nước chuẩn bị cho học sinh của mình. Và các chuyên gia giáo dục hàng đầu cũng gần như đạt sự đồng thuận về tương lai của giáo dục, trong đó ai cũng nhấn mạnh cần nhất là tính sáng tạo, tư duy độc lập và kỹ năng giải quyết vấn đề. 

Thế giới hiện nay tràn ngập thông tin nên vấn đề không phải là tiếp nhận hay chia sẻ thông tin mà là ứng xử như thế nào với thông tin, bắt nó phục vụ mình trong thế giới thật. Thật ra trẻ nhỏ bắt đầu những ngày đi học với sự độc lập trong suy nghĩ, óc tưởng tượng của các em tràn ngập sự sáng tạo nhưng nhà trường mài mòn dần các đặc tính đó bằng cách nhồi nhét kiến thức, áp đặt suy nghĩ theo lối mòn và đi kèm là các biện pháp kỹ luật, ít nhất là bằng điểm số. Chỉ cần người lớn tránh sang một bên cho các em sáng tạo cũng đã là một thay đổi lớn trong giáo dục tương lai.

Nhìn ra hơn một chút nữa, người ta đang nói về khả năng thiết kế các chương trình học mang tính cá nhân hóa cho từng em học sinh; một điều hoàn toàn khả thi nhờ tiến bộ công nghệ, lúc đó em giỏi sẽ học nhanh hơn em trung bình trong cùng một lớp. Người ta cũng nói về môi trường học, không chỉ trong lớp học truyền thống mà còn là học bất cứ lúc nào bất cứ ở đâu cũng nhờ tiến bộ công nghệ. 

Nói cách khác, học sẽ là phụ, hành (thực hành trong đời thực để giải quyết vấn đề) mới là chính. Kiến thức là phụ, tìm giải pháp cho các dự án thầy cô giao mới là chính. Cũng nhờ thế học sinh sẽ có quyền chọn môn học, chọn tốc độ học, thậm chí tự thiết kế chương trình học cho mình.

Nền giáo dục Việt Nam hiện chỉ mới chú trọng trang bị cho các em kiến thức nền về văn học, toán học, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và một chút kỹ năng công nghệ thông tin, vẫn còn thiếu lãnh vực tài chính, văn hóa và quan hệ dân sự. Các năng lực khác gồm tư duy độc lập, giải quyết vấn đề, cổ súy cho sáng tạo, thực hành giao tiếp, tổ chức hợp tác chưa được chú trọng. Chính vì thế các em thiếu đi sự tò mò, sự chủ động, tính bền bĩ, thích nghi, óc lãnh đạo… toàn là những tố chất cần có của một người sống ở thế kỷ này. Từ đó mới thấy tương lai giáo dục vẫn còn ngổn ngang trăm bề chứ đâu phải chỉ là biên soạn chương trình mới.
NVP

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phản cảm hay vi phạm pháp luật?


Thạch Đạt Lang - Ngày 30.10.2017 trên báo Pháp Luật TP có bài: Chặn xe cô dâu đòi tiền xây dựng nông thôn mới, trong đó có đoạn: “Ngày 30-10, PV Pháp Luật TP.HCM đã chuyển đến bà Hồ Nguyên Thảo, Bí thư Huyện ủy Tây Hòa (Phú Yên), thông tin việc bí thư chi bộ, trưởng thôn Sơn Tây, xã Sơn Thành Tây, huyện Tây Hòa chặn xe rước dâu giữa đường để đòi nợ tiền đóng góp làm đường nông thôn mới”.

Nhiều cán bộ thôn Sơn Tây tham gia chặn xe đám cưới để
 đòi tiền làm đường. Ảnh do người dân cung cấp cho báo PLTP. 

Trời! Mới đọc mấy câu thôi mà người viết có cảm giác như đọc truyện thảo khấu ngày xưa, hay truyện 108 Anh Hùng Lương Sơn Bạc. Không ngờ rằng dưới thời đại Hồ Chí Minh rực rỡ tên người, sau hơn 42 năm xây dựng CNXH mà vẫn xảy ra chuyện đòi tiền mãi lộ giữa thanh thiên bạch nhật. Bài báo cho biết, nội vụ đã được báo Pháp Luật TP. HCM chuyển thông tin đến quan huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên là bà Hồ Bạch Thảo, đề nghị “xử lý”.

Chuyện xảy ra từ ngày 17.10.2017, bà Nguyễn Thị Thu tổ chức đám cưới cho con trai là Dương Thanh Tuấn, 32 tuổi. Khi xe rước dâu từ huyện Sông Hinh về huyện Tây Hòa, đến cổng thôn Sơn Tây thì bị một số người nhào ra chận đường đòi tiền mãi lộ. Số người này là cán bộ của thôn, lấy danh nghĩa xây dựng Nông Thôn Mới đòi đám cưới phải nộp đủ 3 triệu tiền “hụi chết” mới cho đi qua.

Theo lời bà Thu:“Đích thân bà Thẩm Thị Linh, Bí thư chi bộ thôn và ông Phạm Văn Quảng, trưởng thôn, ra giữa đường huy động nhiều người là công an thôn, cán bộ thôn dùng cây làm barie chặn xe rước dâu. Họ còn lấy xe máy chặn ngay đầu ô tô, không cho đi. Khi tôi hỏi vì sao lại chặn xe đón dâu, ông trưởng thôn yêu cầu gia đình phải trả ngay tiền nợ đóng góp làm đường xây dựng nông thôn mới thì mới cho xe đi. Họ nói con đường này do Nhà nước hỗ trợ xi măng, dân đóng góp tiền để làm. Họ buộc phải trả nợ xong thì mới được đi”.

Bố khỉ! Chuyện thật mà cứ tưởng như đùa. Mới năm ngoái, ngày 09.10.2016, trang CafeBiz đăng bài báo Việt Nam lọt top những quốc gia đáng sống nhất thế giới, sao giờ đây lại có chuyện đòi tiền xây dựng nông thôn mới nữa hả trời? Một quốc gia đang phấn đấu để lọt vào Top Ten (10 quốc gia đứng đầu) đáng sống nhất trên trái đất, mà người dân tổ chức đám cưới cho con cũng không yên khi đi qua một con đường nhỏ – theo như trong hình là con đường đất.

Không hiểu các đỉnh cao của trí tuệ loài người định nghĩa thế nào là nông thôn mới, nó khác với nông thôn cũ ra sao, có hỏi đến ông tổng Trọng hay bà chủ tịch Kim Ngân, chưa chắc đã nhận được câu trả lời. Chỉ có một điều chắc chắn là khi một kế hoạch, chính sách nào đó về nông nghiệp, đồng ruộng, chăn nuôi… được ban hành thì phần thiệt hại luôn là người nông dân.

Xây dựng đất nước cần phải phát triển hạ tầng cơ sở, xây đựng đường phố, bệnh viện, trường học, nhà cửa, công viên, khu giải trí… là chuyện đương nhiên. Tuy nhiên, phí tổn cho việc xây dựng hạ tầng cơ sở phải do ngân sách nhà nước chi trả vì người dân đã đóng đủ mọi loại thuế. Con đường trong thôn Sơn Tây không phải là con đường chỉ dành riêng cho người dân trong thôn, nó được xây dựng chung cho tất cả mọi người sử dụng, người trong thôn cũng như người lạ từ xa đến. Không có lý do nào chỉ bắt người dân trong thôn đóng góp tiền xây dựng. Khi nhà nước chưa kịp xây dựng nhưng nếu một số người dân tự nguyện bỏ tiền ra làm lại là chuyện khác. Khi đó cần phải có một buổi họp có biên bản rõ ràng, mỗi gia đình sẽ phải đóng góp bao nhiêu, sau đó họ có quyền dựng bảng Đường Riêng Của Dân Thôn Sơn Tây – Cấm sử dụng, qua lại, nếu không phải là người trong thôn.

Đọc hết bản tin mới thấy chế độ CSVN thật là ưu việt. Xây dựng một con đường đi lại cho dân trong một thôn ở làng quê mà chỉ cung cấp xi măng, còn chi phí xây dựng bắt người dân phải đóng góp. Chẳng biết trên thế giới có nước nào áp dụng phương thức quái đản này không nhỉ?

Hơn nữa, luật lệ, điều khoản nào cho phép một trưởng thôn và một bí thư của thôn cùng công an ra lệnh cho người dân phải đóng góp mỗi người 1,5 triệu đồng cho việc xây dựng con đường trong thôn, rồi khi họ chưa đóng kịp thì dùng hình thức cưỡng bức, quấy nhiễu như phường thảo khấu? Bản chiết tính, dự đoán phí tổn làm đường đâu, người dân nào đã được trông thấy? Ai đã (ngầm) dung túng hành động của những ông (bà) trời con thôn Sơn Tây, nếu không phải là cán bộ, đảng viên, chính quyền của xã, cao hơn nữa là chính quyền huyện Tây Hòa? Ngoài ra còn thêm câu hỏi: Các cán bộ, chức sắc trong thôn có đóng góp như mọi người dân hay không, ai được miễn?

Trả lời phóng viên báo Pháp Luật, Trịnh Lâm Hải, chủ tịch xã Sơn Thành Tây nói: “Sau khi xảy ra sự việc, nghe bà con phản ánh xã mới biết. Xã đã mời trưởng thôn lên làm việc. Thôn báo cáo là do gia đình bà Thu có điều kiện nhưng không chấp hành, còn nợ tiền làm giao thông nông thôn. Chúng tôi nói rằng có nhiều cách vận động, thuyết phục chứ chặn xe như vậy là sai rồi. Xã yêu cầu thôn phải khẩn trương rút kinh nghiệm, nhận thiếu sót để khắc phục. Xã cũng yêu cầu thôn liên hệ gia đình bà Thu để giải quyết cho ổn”.

Thế nào là gia đình có điều kiện nhưng không chấp hành đóng tiền làm giao thông nông thôn? Căn cứ vào đâu để biết người dân nào, gia đình nào có điều kiện đóng tiền? Thế người dân thành phố Sài Gòn hay thủ đô Hà Nội có điều kiện thì chừng nào sẽ phải đóng tiền làm giao thông thành phố, giao thông thủ đô? Người nông dân VN đã phải è cổ đóng bao nhiêu thứ thuế, giờ làm con đường nhỏ trong thôn cũng đè dân ra để bóp cổ. Sao không bớt xây tượng đài hàng ngàn tỉ mà làm đường cho dân đi lại?


Mja! Cán bộ, đảng viên làm sai thì ”khẩn trương” rút kinh nghiệm, nhận thiếu sót để khắc phục, dân làm sai thì đi ở tù. Đúng là miệng lưỡi quan chức CS có gang, có thép.

Người viết tin chắc rằng, không có điều khoản hay văn bản rõ ràng nào quy định việc mỗi nhân khẩu trong gia đình ở thôn Sơn Tây phải đóng góp 1,5 triệu đồng để xây dựng con đường trong thôn. Việc tự ý ra chỉ tiêu mỗi nhân khẩu phải nộp 1,5 triệu chỉ là hành động ăn cướp trắng trợn của bọn thảo khấu mang danh cán bộ, đảng viên đảng CSVN thời đại Nông Thôn Mới XHCN.
Trong đời người có những ngày trọng đại – không riêng gì dân châu Á mà ngay người Âu-Mỹ, châu Phi cũng thế – cần phải được tôn trọng. Đó là những ngày hôn lễ, tang tế với những tập tục nghiêm trang, trọng thể. Vào các ngày này, những việc làm có thái độ, hành vi nhũng nhiễu, quậy phá đều bị khinh bỉ và nguyền rủa. Việc làm của bí thư Thẩm Thị Linh, trưởng thôn Phạm Văn Quảng, không những gây phản cảm nặng nề mà còn ngang nhiên vi phạm pháp luật, cho dù là pháp luật của CHXHCNVN cũng thế.

Một đất nước mà những con tép riu ở nông thôn như Thẩm Thị Linh, Phạm Văn Quảng, cũng có thể trở thành bọn cường hào, ác bá mới là tại sao? Chẳng có gì khó hiểu, bởi họ được sự dung túng, cho phép và hơn nữa khuyến khích (ngầm) từ những kẻ lãnh đạo cao nhất của đất nước.

Việc xảy ra trong ngày cưới của con trai gia đình bà Nguyễn Thị Thu cũng tương tự như những gì xảy ra với với đám tang tướng Trần Độ, ông Lê Hiếu Đằng hay của mẹ của cô Phạm Thanh Nghiên, Tạ Phong Tần… Tất cả chỉ do sự dàn dựng của một lũ thảo khấu có quyền lực, vũ khí trong tay, mang danh chính quyền, lợi dụng sự kém hiểu biết về luật pháp của người dân để tham nhũng, bóc lột. Không tham nhũng, bóc lột được thì chơi trò tiểu nhân quậy phá, trấn áp, hành hạ họ.

© Thạch Đạt Lang

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phát hiện “ổ tham nhũng lớn nhất ở Việt Nam” gây bất ổn xã hội !


Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai, thực tế trong nhiều trường hợp không biết ai là “Nhà nước” thực sự, do đó dẫn đến các quan chức lạm quyền trong việc thu hồi đất, xâm hại quyền lợi của người dân rồi chuyển vào tay các nhóm lợi ích, khiến cả quyền lợi của người dân lẫn lợi ích quốc gia bị xâm hại. Hậu quả là trong một số trường hợp đất đai sẽ được chuyển từ người dân nghèo sang tay “các đại gia” với giá rất thấp. Đồng thời, “các đại gia” này lại bán đất ra với giá cao cho người dân. 
Không có văn bản thay thế tự động nào.
Tuần hành phản đối điều chỉnh quy hoạch tại khu Đoàn 
ngoại giao, phường Xuân Tảo, quận Bắc Từ Liêm 8/10/017
Không ít trường hợp đất đai bị thu hồi để rồi bỏ hoang, bởi những dự án “treo” không có điểm dừng, đi kèm là cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội. Đất đai là là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia. Đó là cả một vấn nạn.

Năm 2016 được coi là năm nhiều triệu phú tiền đô la ở Việt Nam xuất đầu lộ diện.

Truyền thông trong nước tường thuật rằng trong năm qua, đã có nhiều tên tuổi mới sở hữu ngàn tỷ đồng.

Với sự phát triển nhanh chóng của thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm qua, những người giàu nhất Việt Nam chủ yếu là những đại gia của sàn chứng khoán. Theo công bố của Ủy Ban Chứng Khoán Nhà Nước (UBCKNN) trong năm qua, Việt Nam đã lọt vào Top 5 thị trường chứng khoán Đông Nam Á tăng trưởng cao nhất. VNMedia trích lời chủ tịch UBCKNN Vũ Bằng cho biết mức vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đạt hơn 1.76 triệu tỉ đồng trong năm 2016, tương đương với 42% GDP.



Theo đánh giá của kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “số tỷ phú Việt Nam gần đây đã xuất hiện đông đảo hơn và tất cả họ đều liên quan đến bất động sản.”

Nguyên viện trưởng viện Quản Lý Kinh Tế Trung Ương còn cho rằng nhiều người giàu lên nhanh nhờ vào chứng khoán bằng những cách thức rất “khôn ngoan.”

“Cách của họ là họ lập ra nhiều công ty sân sau của chứng khoán – nhiều công ty con. Các công ty đó lại phát hành chứng khoán rồi họ mua bán lẫn nhau – tức là công ty mẹ mua ở công ty con, công ty con mua ở công ty mẹ. Vì vậy số tài sản, số cổ phiếu mà họ sở hữu đã tăng lên một cách rất nhanh chóng và đó cũng là một mẹo để họ làm giàu nhanh.”

Top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016, theo báo Pháp Luật, có 4 đại gia lần đầu tiên được ghi tên trên danh sách tỷ phú đô la. Một nửa trong số những người này là những doanh nhân kinh doanh bất động sản và số còn lại trong ngành thép, bán lẻ, thủy sản, ô tô…

Nổi bật trong năm qua là sự thăng tiến của chủ tịch Hội Đồng Quản Trị tập đoàn FLC Trịnh Văn Quyết, chiếm lĩnh ngôi vị cao nhất trên sàn chứng khoán Việt Nam, đánh bật chủ tịch tập đoàn Vingroup Phạm Nhật Vượng ra khỏi vị trí này. Tổng tài sản thính theo trị giá cổ phiếu của ông Quyết, theo truyền thông trong nước, ước tính lên tới hơn 33.800 tỷ đồng. Với hàng loạt dự án bất động sản, tập đoàn FLC được xem là một trong số ít công ty kinh doanh đình đám nhất trên thị trường địa ốc tại Việt Nam.

Ông Phạm Nhật Vượng là tỷ phú đầu tiên của Việt Nam được tạp chí Forbes đưa vào danh sách những người giàu nhất thế giới khi có tổng tài sản trị giá 1,5 tỷ đô la vào năm 2013.

Tiến sỹ Doanh nhận định rằng “những tỷ phú Việt Nam là những người khôn ngoan trong việc vun đắp các mối quan hệ với giới quyền lực để chia sẻ “địa tô”, tức chênh lệch giá đất, khai thác khoáng sản, đốn gỗ phá rừng.” Ông Doanh nói:

“Họ làm giàu bằng bất động sản, tức là họ ăn chênh lệnh giá đất. Rồi họ được thuê với giá đất tương đối thuận tiện. Rồi họ đầu tư bất động sản và họ ăn lãi. Điều đó có liên quan đến việc đất đai là sở hữu toàn dân mà toàn dân không phải là pháp nhân. Và nhà nước thực hiện quyền người sử dụng và vì vậy cho nên bộ máy nhà nước có thể thu hồi đất của nông dân với một giá rất thấp rồi dùng quyền của mình biến đất đó trở thành đất xây dựng và trao lại cho người là nhà đầu tư và nhà đầu tư đó chắc sẽ phải có một động thái gì đó để làm vừa lòng phía chính quyền.”

Một người kinh doanh bất động sản đã có “bước nhảy ngoạn mục” trong năm qua để lọt vào Top 10 người giàu nhất trên sàn chứng khoán Việt là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc Công ty Cổ phần Đầu Tư Dịch Vụ Tài Chính Hoàng Huy, ông Đỗ Hữu Hạ. Theo báo Pháp Luật, tổng tài sản chứng khoán của ông Hạ lên tới hơn 2.430 tỷ đồng.

Mặc dù một số tỷ phú mới nổi của Việt Nam được đánh giá là có góp phần đẩy mức tăng trường của thị trường chứng khoán và bất động sản ở Việt Nam, nhưng theo kinh tế gia Lê Đăng Doanh, “những tỷ phú mới giàu lên rất nhanh nhưng không có đóng góp gì vào công nghệ, “họ không có bằng sáng chế, phát minh”, và năng lực cạnh tranh quốc tế của họ “rất hạn chế.”

Ông Doanh cho rằng “họ là sản phẩm của thể chế hiện hành, của chủ nghia tư bản hoang dã”, “khác hẳn với Bill Gates hay Elon Musk.”

“So họ với Bill Gates, so họ với Elon Musk, thì rõ ràng Bill Gates là người có bản quyền có sáng chế và phần mềm Microsoft là một đóng góp rất quan trọng cho tiến bộ của xã hội. Còn Elon Musk, với ô tô Tesla và với nhiều dự án khác như SolarCity của anh ta thì cũng có những đóng góp rất là quan trọng. Đấy là 2 loại hình (giữa tỷ phú thế giới và tỷ phú Việt Nam) rất xa nhau và rất khác nhau.”

Theo tạp chí Forbes, Việt Nam quyết tâm trở thành một “con hổ kinh tế” mới của châu Á và Việt Nam đã trở thành nước có mức thu nhập trung bình với mức thu nhập bình quân đầu người ít nhất là 1.200 đô la Mỹ, theo Ngân Hàng Thế Giới.

Nhưng Tiến sĩ Lê Đăng Doanh lưu ý về mức chênh lệch giàu nghèo ở Việt Nam hiện rất cao và sẽ ngày càng tăng nếu không có thay đổi liên quan tới “bất động sản và quyền sở hữu đất đai” và không kiểm soát được “chế độ tư bản thân hữu.” Khoảng chênh lệch giàu nghèo quá lớn, theo ông Doanh, “sẽ dẫn đến những diễn biến rất phức tạp”.



Phạm Nhật Vượng (bên trái), Trịnh Văn Quyết và Bùi Thanh Nhơn (chụp từ trang CafeF.vn)

Mừng hay lo về tỷ phú bất động sản ở Việt Nam?

Các chuyên gia kinh tế, nhà báo bình luận với BBC về việc tỷ phú bất động sản chiếm một nửa top 10 người giàu nhất sàn chứng khoán Việt Nam năm 2016.

Truyền thông Việt Nam ghi nhận top 10 người sàn giàu nhất sàn chứng khoán năm 2016 có tổng tài sản khoảng 99.132 tỷ đồng, tăng gấp đôi so với mức 48.993 tỷ đồng của năm 2015.

Người giàu hoạt động trong lĩnh vực bất động sản áp đảo top 10 năm nay, khi chiếm một nửa danh sách, với tổng tài sản đạt 80.122 tỷ đồng, chiếm hơn 80% tổng tài sản top 10, theo VnEconomy.

Những tỷ phú bất động sản được nhắc đến trong top nêu trên là Trịnh Văn Quyết – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn FLC, Phạm Nhật Vượng – Chủ tịch Tập đoàn Vingroup, Bùi Thành Nhơn – Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Novaland… Trong đó, ông Trịnh Văn Quyết đã mua chuộc, cấu kết với các quan chức các tỉnh thành như Thanh Hóa, Vĩnh Phúc, Quảng Ninh, Bình Định,… để thu hồi (thực ra là cướp) đất đai của nông dân để làm các dự án biệt thự sân golf.



Người dân Thanh Hóa phản đối thu hồi đất tại Sầm Sơn

‘Bất ổn’

Trả lời BBC từ TP Hồ Chí Minh, ông Mai Quốc Ấn, cựu phóng viên báo Sài Gòn Tiếp Thị, nói: “Hơn một thập kỷ qua có rất nhiều người giàu mới nổi tại Việt Nam nhờ bất động sản. Tuy nhiên, tôi nghĩ đó là sự giàu có thiếu bền vững nếu nhìn vào đa số.”

“Rất nhiều tỷ phú đã trắng tay khi bong bóng bất động sản vỡ và rất ít người trụ lại được và thành công.”

“Nhưng tựu trung, việc làm giàu nhờ bất động sản mà có yếu tố chênh lệch giá nhờ cơ chế thì tôi không đánh giá cao.”

“Lấy ví dụ việc người dân khởi kiện quyết định hành chính của Ủy ban Nhân dân tỉnh về việc lấy đất làm dự án nhà nước với mức giá đền bù nhà nước rồi giao đất ấy lại cho doanh nghiệp tư nhân.”

“Cuộc thương lượng đáng ra phải có giữa doanh nghiệp tư nhân và người dân bị lấy đất đã “biến mất”.

“Điều này gây tốn kém tiền bạc, thời gian khi người dân phải khiếu kiện đòi quyền lợi chính đáng. Thậm chí, nó có thể gây bất ổn xã hội kiểu như vụ nổ súng ở Đak Nông làm 3 người chết, nhiều người bị thương hồi tháng 10/2016.”

“Tôi rất mong Đảng và Chính phủ Việt Nam nhìn nhận vấn đề này và có các điều chỉnh phù hợp về Luật Đất đai.”

“Bản thân đất đai là một loại tài nguyên có hạn. Đổi đất lấy hạ tầng là một biện pháp đặng chẳng đừng. Ngân sách nên được tăng bởi các doanh nghiệp đầu tư sản xuất và tri thức.”

“Các lỗ hổng về Luật Đất đai cần phải được điều chỉnh bằng thực tế xã hội.”

“Việc tràn ngập chung cư ở các nội đô gây kẹt xe có thể điều chỉnh bằng cách yêu cầu doanh nghiệp đầu tư hạ tầng đi kèm như đường sá, cầu cống và phương tiện giao thông công cộng như là một điều khoản của hợp đồng.”

“Miếng bánh lợi nhuận của nhà đầu tư tư nhân cần phải được tính toán lại bởi họ có quá nhiều ưu đãi, lợi thế.”

“Thị trường bất động sản cần phải minh bạch và đúng giá trị thật của nó”, ông Ấn nói.



Hải Phòng: 800 hộ dân dựng lều phản đối việc thu hồi đất

‘Lỗi chính sách’

Từ Đại học Strasbourg, Pháp, Tiến sĩ Nguyễn Văn Phú, chuyên ngành kinh tế, nói với BBC: “Tôi nghĩ là ở Việt Nam nếu có các tập đoàn bất động sản lớn thì tốt thôi.”

“Đơn thuần đây là các hoạt động kinh doanh, nếu hợp pháp thì sẽ đóng góp nhiều cho kinh tế.”

“Tuy vậy, nếu các doanh nghiệp này quá lớn thì dẫn đến khả năng thị trường bị độc quyền sẽ không có lợi cho người tiêu dùng.”

“Do đó nhà nước phải có luật để kiểm soát. Việc để các doanh nghiệp lũng đoạn thị trường bất động sản thì trước tiên là lỗi chính sách.”

“Mà có lẽ lý do đầu tiên là vấn đề quyền sỡ hữu đất đai được quy định tại Việt Nam.”

“Và thứ nữa là luật về trưng thu đất đai cho các dự án kinh tế.”

“Giá cả đất đai khu bị trưng dụng không được ước tính theo cơ chế thị trường, nên các doanh nghiệp cấu kết với chính quyền (đây chính là ‘lợi ích nhóm’) sẽ hưởng lợi nhiều nhất. Người dân nhượng quyền sử dụng đất bị thiệt thòi nhiều nhất.”

“Việt Nam cần thay đổi luật đế các doanh nghiệp bất động sản không thể tận dụng chính sách để trục lợi.”

“Khi đó khu vực bất động sản sẽ đóng góp to lớn cho nền kinh tế, và cả cho vấn đề xã hội, ví dụ nhà ở cho người thu nhập thấp, chính sách tái định cư…”



Hàng trăm người dân tập phản đối thu hồi đất

‘Quan hệ thân hữu’

Cùng ngày, trao đổi cùng BBC, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho hay: “Trong khi các nước khác đều phát triển kinh tế trên nền tảng công nghiệp, Việt Nam lại để lợi ích bất động sản lấn át khu vực các ngành công nghiệp, dịch vụ khác.”

“Tình trạng này khiến mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa năm 2020 không có cách nào đạt được.”

“Có thể thấy các doanh nghiệp bất động sản lớn tại Việt Nam đều phải có ‘quan hệ thân hữu’ thì mới tiếp cận được chính sách quy hoạch đất đai mà những doanh nghiệp bình thường rất khó tiếp cận.”

“Nhà nước còn giúp những người kinh doanh bất động sản thu hồi đất với giá thấp rồi sau đó bán lại cho khách hàng với giá cao gấp mấy trăm lần nên dễ hiểu tại sao họ kiếm lời rất nhanh và hình thành những tỷ phú, triệu phú trong lĩnh vực này.”

“Không thể phủ nhận các doanh nghiệp bất động sản có đóng góp nhất định, nhất là tại các khu vực đô thị trong bối cảnh Nhà nước chưa đáp ứng được nhu cầu về nhà ở của người dân.”

“Tuy vậy, tôi quan ngại hơn đến việc doanh nghiệp bất động sản đang hút hết nguồn lực xã hội, tạo ra môi trường kinh doanh không bình đẳng, khiến các ngành cốt lõi như công nghiệp, nông nghiệp thua thiệt và chững lại.”

“Do vậy mà cái ‘được’ của ngành bất động sản đi kèm cái ‘mất’ của hàng ngàn người dân bị mất sinh kế, tạo nên nỗi bức xúc lớn cho xã hội.”

“Hầu hết những vụ khiếu kiện đất đai đến nay đều là đất thu hồi để kinh doanh chứ không phải cho các công trình công cộng.”

“Đất đai cũng là ổ tham nhũng lớn nhất Việt Nam khi Nhà nước không có thiết chế kiểm soát và để thị trường nhà đất rơi vào tay các đại gia.”

“Đó là cả một vấn nạn”, bà Phạm Chi Lan nói

(Theo BBC, VOA)
http://tinbiendong.org/phat-hien-o-tham-nhung-lon-nhat-o-viet-nam-gay-bat-xa-hoi.php


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chừng nào Nhà nước mới chấm dứt làm kinh tế

Một số người tin tưởng ở Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh. Tôi thì chẳng tin gì ông này. Cũng là phường cơ hội, giả dối cả thôi chứ có phải loại người biết lo cho nước, lo cho dân đâu. Nhưng quả thực thời nay khó kiếm được ai biết lo cho nước, lo cho dân lắm. Với cách giáo dục hiện nay, vài thập kỷ nữa cũng chưa chắc đã có.
Chừng nào Nhà nước mới chấm dứt làm kinh tế
Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 29/10/2017, (TBKTSG) - Nhà nước kiên quyết không cấp thêm vốn vào các dự án, doanh nghiệp thua lỗ, kém hiệu quả. Bộ trưởng Bộ Công Thương Trần Tuấn Anh đã nêu ra quan điểm như vậy trong việc xử lý các doanh nghiệp gây thua lỗ trong báo cáo gửi đến các đại biểu Quốc hội.

Nhà máy đóng tàu Dung Quất, một trong 12 dự án thua lỗ ngàn tỉ. Ảnh: TL
Việc Nhà nước không dùng tiền thuế của dân để cứu những doanh nghiệp nhà nước thua lỗ là quyết định đúng đắn. Tuy nhiên, quyết định đó cũng chỉ là “chữa cháy” và mới giải quyết được phần ngọn của vấn đề, vì suy cho cùng những thiệt hại, khoản lỗ khổng lồ mà các doanh nghiệp này tạo ra Nhà nước vẫn phải gánh chịu, nghĩa là vẫn phải lấy tiền thuế của dân để bù vào.

Kinh doanh thì phải có rủi ro, nhưng với doanh nghiệp nhà nước thì mức độ rủi ro cao hơn rất nhiều bởi vì với nhiều vị lãnh đạo doanh nghiệp, đồng tiền không đi liền “khúc ruột”. Chưa kể, tâm lý ỷ lại đã có Nhà nước đứng sau, thua lỗ thì xin Nhà nước rót vốn cứu, còn rất lớn. Việc Bộ trưởng Trần Tuấn Anh khẳng định không cấp thêm vốn vào dự án, doanh nghiệp thua lỗ phần nào nói lên điều đó.

Thực tế nhiều năm qua cho thấy việc Nhà nước cứu doanh nghiệp nhà nước thua lỗ là rất phổ biến. Hình thức cứu khá đa dạng, như trực tiếp bơm thêm tiền để tăng vốn cho doanh nghiệp, hoặc cứu thông qua cho sáp nhập với doanh nghiệp khác; cho bán bớt tài sản và hạ vốn chủ sở hữu; tăng chính sách ưu đãi về thuế; cho khoanh nợ, xóa nợ hoặc giảm lãi suất các khoản vay… Nhưng dù là cách nào thì ngân sách cũng phải gánh chịu.

Để tránh Nhà nước phải dùng tiền thuế của dân để cứu hoặc bù lỗ cho các doanh nghiệp nhà nước, giải pháp căn cơ vẫn là Nhà nước không làm kinh tế nữa. Đây cũng là vấn đề được nhiều chuyên gia kinh tế nêu ra từ rất nhiều năm nay, nhưng đáng tiếc là đến nay nó chưa thể trở thành chủ trương cụ thể.

Có thể thấy trong 12 dự án thua lỗ ngàn tỉ mà Bộ Công Thương đang phải vất vả xử lý hậu quả, có nhiều dự án mà khả năng thất bại đã được một số chuyên gia trong ngành nhìn thấy từ khi nó còn ở trên giấy. Câu hỏi đặt ra là phải chăng các chủ đầu tư kém đến mức không nhận ra sự thiếu khả thi của dự án? Chắc chắn không phải như vậy. Nhưng dự án vẫn được cấp vốn để làm và câu trả lời cho nghịch lý này chỉ có thể là nó được triển khai không dựa theo chuẩn mực kinh doanh, mà được quyết định bởi ý muốn chủ quan hay vì lý do không minh bạch nào đó.

Câu chuyện về những dự án của doanh nghiệp nhà nước đã nhìn thấy thất bại ngay từ khởi đầu, nhưng vẫn được bật đèn xanh cho làm, không phải hiếm. Trong đó có những dự án thiệt hại rất lớn như trong ngành đóng tàu, khai khoáng. Nếu nhà nước không dễ dàng bật đèn xanh và cấp vốn hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư của các dự án này vay vốn, hoặc nếu chủ đầu tư của các dự án không phải doanh nghiệp nhà nước, thì chắc chắn tình thế đã khác hẳn.

Có thể nói, chừng nào Nhà nước vẫn trực tiếp làm kinh tế và chừng nào tiền bỏ ra kinh doanh, đầu tư không gắn liền với khúc ruột của các lãnh đạo doanh nghiệp, thì nguy cơ Nhà nước mất mát tài sản sẽ vẫn còn, dù có trực tiếp bỏ tiền ra để cứu những đơn vị làm ăn thua lỗ hay không.


http://www.thesaigontimes.vn/165943/Chung-nao-Nha-nuoc-moi-cham-dut-lam-kinh-te.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHUYỆN RẤT THẬT XỨ MÌNH


Hồng Giang Doãn 


Lanh quanh 

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, cây, hoa, ngoài trời và thiên nhiên

Lanh quanh..
ta về chốn cũ
Chủ đất bây giờ vất ghê
Bốn mùa bận bịu tối mặt
cực hơn cả người làm thuê!
Được mùa lại lo rớt giá
bọ sâu, gió bão.. tứ bề
mất mùa lo tiền để trả
tiền phân, tiền giống..
nhiêu khê..
Cực thân, nhưng mờ cực sướng!
Tự do, tự tại, tự mình!
Muốn chơi thì chơi..mút chỉ
chán rồi,
ai mời lặng thinh!
Làm thơ hay là viết truyện
Trước tiên có gạo trong nhà!
Thi nhân trước ngày đạm bạc
Giờ nghèo
thân tình nẻo xa!
Cái anh Huy Thiệp đến tệ
Khoe.. rung đùi ngồi viết văn!
Khó nghe nhưng lại có thật,
Hỡi người,
cao mộng.. Thi nhân!