Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 27 tháng 10, 2017

Bà Trương Mỹ Lan và 9 thành viên trong gia đình rút hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam


Nghi Điền
NDT - 10 thành viên gia đình bà Trương Mỹ Lan đã rút hồ sơ xin thôi quốc tịch và được chấp thuận.

Theo nguồn tin của Nhadautu.vn, bà Trương Mỹ Lan cùng 9 thành viên khác trong gia đình đã rút hồ sơ xin thôi quốc tịch Việt Nam và được trả hồ sơ vào tháng 6/2015.

Trước đó, giữa năm 2014, bà Trương Mỹ Lan cùng Trương Lập Hưng, Trương Mễ, Trương Huệ Nhi, Trương Chí Trung, Ngô Thanh Nhã, Trương Lập Tân, Trương Huệ Vân, Trương Lập Phát và Lâm Thị Hoà đồng loạt xin thôi quốc tịch Việt Nam.

Bà Trương Mỹ Lan được biết đến là chủ của Vạn Thịnh Phát, một trong những tập đoàn tư nhân lớn nhất Việt Nam.

Tập đoàn Vạn Thịnh Phát là một nhóm các doanh nghiệp có vốn điều lệ từ vài nghìn tỷ tới cả chục nghìn tỷ đồng, sở hữu nhiều bất động sản có giá trị lớn, trong đó phải kể đến 5 dự án/tòa nhà trên phố đi bộ Nguyễn Huệ, chiếm 1/3 diện tích khu đất “vàng” đắt đỏ nhất TP.HCM.

Nguồn tin của Nhadautu.vn cho biết bà Trương Mỹ Lan và 9 người xin thôi quốc tịch vào ngày 15/5/2014 là thành viên trong một gia đình. Những cá nhân này đều không nêu lý do khi nộp đơn xin rút hồ sơ sau đó.

Nhadautu đã liên hệ với bà Trương Mỹ Lan để tìm hiểu cụ thể hơn, song không nhận được phản hồi cụ thể.
***

Khoản 2 Điều 27 Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 quy định: Người xin thôi quốc tịch Việt Nam chưa được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu thuộc một trong những trường hợp sau đây:

a) Đang nợ thuế đối với Nhà nước hoặc đang có nghĩa vụ tài sản đối với cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân ở Việt Nam;

b) Đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự;

c) Đang chấp hành bản án, quyết định của Toà án Việt Nam;

d) Đang bị tạm giam để chờ thi hành án;

đ) Đang chấp hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh, trường giáo dưỡng.

Khoản 3 Điều này quy định: Người xin thôi quốc tịch Việt Nam không được thôi quốc tịch Việt Nam, nếu việc đó làm phương hại đến lợi ích quốc gia của Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên Thứ trưởng Bộ TN-MT Bùi Cách Tuyến phản hồi về "biệt phủ"



LÊ PHONG - PHƯƠNG NHUNG thực hiện
(NLĐO) - Ông Bùi Cách Tuyến, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường, từ Úc điện thoại đến Báo Người Lao Động phản hồi về thông tin ông sở hữu "biệt phủ" ở vùng ven TP HCM.

Tối 25-10, từ Úc, GS-TS Bùi Cách Tuyến, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN-MT), đã chủ động gọi điện thoại đến Báo Người Lao Động phản hồi về bản tin: "Xôn xao biệt phủ của "quan" về hưu".

Ông Tuyến nói: "Tôi đang qua nước ngoài để thăm con thì nghe thông tin mình sở hữu biệt phủ nên phải lên tiếng để dư luận hiểu rõ".

- Phóng viên: Vậy, căn nhà tại huyện Hóc Môn, TP HCM có thuộc sở hữu của ông?

Ông Bùi Cách Tuyến: Nói thật, lúc trước tôi làm giáo viên và giảng dạy, năm 2008 được mời ra Bộ TN-MT.

Hồi trước đến giờ, tôi đều lo làm việc Nhà nước, còn về kinh tế đều do vợ đảm trách.

Năm 2013, khi tôi còn làm tại Bộ TN-MT, vợ tôi mua khu đất ruộng 7.000 m2 ở vùng ven huyện Hóc Môn. Lúc đó có kê khai tài sản theo quy định pháp luật.

Năm 2015, tôi về hưu nên vào TP HCM tiếp tục công tác giảng dạy tại Trường ĐH Nông Lâm. Lúc này, vợ chồng tôi bắt đầu bỏ tiền ra xây dựng căn nhà. Nói thật, lúc bấy giờ là giáo viên thì không còn phải kê khai gì nữa.

Ông có thể cho biết giá trị khu đất và căn nhà sở hữu xây dựng?

- Anh biết rồi đó, khu đất ấy là đất ruộng mà nằm ở tận Hóc Môn thì giá rẻ rồi. Về căn nhà tôi sở hữu chỉ rộng 120 m2, một trệt, một lầu thì giá đâu có nhiêu đâu.

Nếu không tin, có thể tìm Trường ĐH Nông Lâm hỏi sẽ rõ hồi tôi chưa làm hiệu phó, hiệu trưởng trường thì kinh tế gia đình tôi cũng đã khá rồi. Thật tình nếu dùng từ "biệt phủ" thì không đúng lắm.
***

"Tôi là người đàng hoàng"

Căn nhà ông nằm trong khu đất đến 7.000 m2 là rất lớn. Gọi là "biệt phủ" cũng có căn cứ?

- Nó là đất ruộng ở sát bờ sông chứ đâu phải đất trong TP. Coi hình có thể thấy mà. Đất ruộng mà lập vườn lên thì có gì đâu. Trong miền Nam, bạn bè tôi cũng là người trong nhà nước mà còn mua vài chục hecta đất ở Long An để làm vườn mà.

Đất nhà tôi là đất vườn, ở góc ruộng lúa, tôi tôn tạo nó lên. Giờ trồng nấm linh chi để tăng thu nhập. Có chuồng nuôi gà nữa…

Ông có thể cho biết giá đất mua hồi đó?

+ Cái đó là bà xã lo chứ tôi cũng không để ý vì tôi làm việc ở Hà Nội.

Bà xã ông làm nghề gì?

- Bà xã tôi trước là nhân viên Trường ĐH Nông lâm TP HCM thôi.

Vậy, ông có thể chia sẻ nguồn tài chính của gia đình ông khi ông có đủ sức mua lô đất đó?

- Tôi gốc là nhà giáo. Năm 1979, tôi tốt nghiệp Trường ĐH Nông lâm TP HCM rồi ở lại trường công tác. Sau đó, tôi là Hiệu trưởng Trường ĐH Nông lâm TP HCM đến hết năm 2007. Tôi có chuyên môn và cũng có nguyện vọng là đào tạo thế hệ trẻ sau này. Năm 2008, Bộ trưởng Bộ TN-MT mời tôi ra bộ làm thì tôi có ra một thời gian rồi vô lại dạy học sau khi nghỉ hưu...

Tôi là thầy giáo đứng đắn, trước giờ ai cũng biết. Tôi tự lo mọi thứ ngay từ đầu, từ hồi mới ra trường, tức là năm 1979 đến giờ. Những chuyện này trong trường tôi người ta biết hết chứ có gì đâu. Hỏi nhân viên Bộ TN-MT thì người ta cũng biết tôi là người đàng hoàng trong các mặt về năng lực cũng như về đối nhân xử thế và công việc khác liên quan bên ngoài.

Trước đây, ngoài dạy học, ông còn làm gì khác để có thu nhập?

- Nhiều lắm. Nhất là bà xã tôi. Làm để sinh sống từ năm 1979, rất nhiều thứ, "tay trái nuôi tay mặt", chứ không phải dựa vào đồng lương nhà nước đâu. Lăn lộn trong cuộc sống để có thể phục vụ cho nhà nước.

* Giờ về hưu, ông có làm gì khác?

- Tôi về hưu thì lại dạy học tại Trường ĐH Nông lâm TP HCM. Ngoài thời gian dạy học thì làm vườn.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 26 tháng 10, 2017

Tư liệu châu Phi:

Số phận các Quốc gia Cộng sản hoặc theo đường lối XHCN ở châu Phi sau năm 1989:


Algeria – Bạo loạn Tháng Mười 1988, cuộc nổi dậy Hồi giáo ở Algeria 1991, đã buộc nước này phải từ bỏ chế độ độc đảng chuyển sang cuộc bầu cử đa đảng năm 1995.
Angola – Chính phủ MPLA cầm quyền đã từ bỏ chủ nghĩa Mác-Lênin vào năm 1991 và đồng ý với Hiệp định Bicesse trong cùng năm, tuy nhiên cuộc Nội chiến Angola giữa hai đảng MPLA và UNITA bảo thủ vẫn tiếp tục trong một thập kỷ nữa.
Cape Verde – Đảng cầm quyền châu Phi độc lập của Cape Verde đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ để cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.
Cộng hòa Dân chủ Congo – Chính quyền của Denis Sassou Nguesso bị áp lực phải từ bỏ Chủ nghĩa Mác - Lênin vào năm 1991. Quốc gia này đã có những cuộc bầu cử vào năm 1992 và thành lập Cộng hòa Congo vào năm 1993.
Cộng hoà dân chủ liên bang Ethiopia – Một hiến pháp mới được thực hiện vào năm 1987, và sau khi Liên Xô và Cuba sụp đổ, chính quyền quân sự Cộng sản Derg do Mengistu Haile Mariam lãnh đạo đã bị đánh bại bởi phe nổi dậy trong cuộc Nội chiến ở Ethiopia và trốn chạy vào năm 1991.
Cộng hoà Madagascar – Chủ tịch nước Chủ nghĩa xã hội, ông Didier Ratsiraka bị lật đổ.
Mali – Chính quyền của Moussa Traoré đã bị lật đổ, Mali thông qua một hiến pháp mới; Tổ chức các cuộc bầu cử đa đảng. Cuộc nổi dậy năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1991.
Mozambique – Cuộc nội chiến ở Mozambiku giữa FRELIMO và các đảng bảo thủ RENAMO đã kết thúc thông qua hiệp định năm 1992. FRELIMO sau đó đã từ bỏ chủ nghĩa xã hội và với sự ủng hộ của Liên hợp quốc đã tổ chức nhiều cuộc bầu cử.
São Tomé and Príncipe – Phong trào Giải phóng Lao động São Tomé và Príncipe / Đảng Xã hội đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.
Somalia – Rebelling Somali đã lật đổ chính quyền quân sự Cộng sản của Siad Barre trong cuộc Cách mạng Somali.
Tanzania - Đảng Chama Cha Mapinduzi cầm quyền đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và các viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1995.
Tunisia - Đổi tên Đảng Cộng sản Tunisia ở Phong trào Ettajdid năm 1993 và đổi tên Đảng Destourian Xã hội Chủ nghĩa trong Cuộc Hiến pháp Lập hiến Dân chủ năm 1988.
Zambia – Đảng Thống nhất Quốc gia đã cắt giảm hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa và viện trợ nước ngoài gây áp lực cho chính phủ cho phép bầu cử đa đảng vào năm 1991.
Seychelles – Dân chủ hoá năm 1991.
Guinea-Bissau – Dân chủ hoá năm 1991.
Chad – Dân chủ hoá năm 1991.
Burkina Faso – Dân chủ hoá năm 1990.
Sierra Leone – Sự khởi đầu của cuộc nội chiến Sierra Leone vào năm 1990 và cuộc đảo chính năm 1992. Gắn liền với cuộc chiến này là nội chiến ở nước láng giềng Liberia
Riêng Zaire, tức cộng hòa dân chủ Congo ngày nay, rơi vào cuộc nội chiến từ năm 1996 tới tận ngày nay. Nhiều nhóm vũ trang tham gia nội chiến là những nhóm phiến quân được đào tạo bởi Che Guevara hồi những năm 60 vẫn hoạt động đến những năm 2005.
Zimbabwe là nước kiên trì nhất với XHCN, đất nước vẫn duy trì đường lối này đến năm 1999.
Châu Phi từng là châu lục có nhiều nước theo đường lối XHCN nhất thế giới, nhưng phần lớn các nước chỉ mang tính định hướng trong hiến pháp chứ không xây dựng XHCN toàn diện như các nước châu Âu và châu Á. Đa phần các nước châu Phi sau khi dành độc lập những năm 50, 60 đã duy trì quan hệ gần gũi với Liên Xô và các nước XHCN vì đã ủng hộ cuộc chiến dành độc lập của họ. Đến nay hầu hết các nước châu Phi đã từ bỏ XHCN. Chỉ còn Ai Cập, Lybia, Tanzania và Zimbabwe là giữ lại hiến pháp dựa trên XHCN, nhưng chính phủ Gadafi ở Lybia và Mubarak ở Ai Cập đã bị lật đổ trong "Mùa xuân Arap' năm 2011.
Ảnh: Người dân Ethiopia ăn mừng bên cạnh bức tượng Lenin bị giật sập ở thủ đô Addis Ababa-bức tượng Lenin duy nhất ở châu Phi-sau khi chính phủ độc tài thân Liên Xô của Mengistu Haile Mariam bị lật đổ. Mengitsu phải trốn lưu vong sang Zimbabwe và bị tòa án ở Ethiopia kết án tử hình vắng mặt. Thủ tướng sau này của Ethiopia Addisu Legese đã nói: "Mengitsu là nỗi sỉ nhục với đức vua ( ý nói đến Haile Selassie I- anh hùng chống quân Ý xâm lược) và những người đã chiến đấu để bảo vệ đất nước này khi mang về đây bức tượng tên đồ tể của nhân loại. Hắn không bao giờ được tha thứ".
Nguồn: Wikipedia/World History
Theo member Long Vũ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hỗn độn và trật tự

 Lê Thiết Cương

Từ ngày 14-10 đến 12-11, tại Trung tâm Nghệ thuật Đương đại Vincom (VCCA), họa sĩ Lê Kinh Tài bày triển lãm thứ hai của mình ở Hà Nội. Khác với lần trước, triển lãm lần này giống như một tiểu kết “Nhìn lại” – cũng là tên gọi của triển lãm - giai đoạn sáng tác khoảng mười năm gần đây của anh. Trước khi nói kỹ hơn về hội họa của Tài, tôi muốn điểm lại bối cảnh chung của mỹ thuật Việt Nam hiện nay, bởi chỉ có bằng cách đó ta mới có thể nhìn nhận khách quan về vị trí của một họa sĩ, về những gì anh ta đã làm được cho nghệ thuật.

LÊ KINH TÀI, Thịt rất tươi, 200x300cm (sơn dầu, sơn thỏi, sơn bột, heavy body acrylic trên vải bố). Ảnh do hoạ sĩ cung cấp.

Sau lứa họa sĩ thế hệ Đổi mới, mỹ thuật Việt Nam đã chứng kiến sự xuất hiện của một làn sóng khác, trong đó một nửa theo đuổi những bộ môn nghệ thuật như trình diễn, sắp đặt…, một nửa vẫn duy trì hội họa giá vẽ nhưng là một kiểu hội họa giá vẽ khác, nếu không nói là khác hẳn. Nó nhiều trăn trở hơn, suy tư hơn, và có vẻ như đào sâu vào thế giới nội tâm hơn, ngược lại với hội họa Đổi mới, chú trọng đi tìm hình thức biểu đạt, điều mà các thế hệ họa sĩ thời bao cấp và thời chiến tranh không dám làm (thời đó, chỉ một hình thức được công nhận, được đặt hàng, tài trợ và triển lãm là chủ nghĩa hiện thực). Như đã nói, thời Đổi mới, việc cách tân hình thức được chú trọng, bung nở, dẫn đến sự ra đời một loạt tên tuổi như Đặng Xuân Hòa, Hồng Việt Dũng, Đào Hải Phong, Phạm Luận, Thanh Sơn, Hoàng Phượng Vỹ hay Nguyễn Thanh Bình... Những tác phẩm vẽ phong cảnh, tĩnh vật hay thiếu nữ mặc áo dài của họ mới mẻ nhưng không nhất thiết phải chuyên chở một câu chuyện nào đó. Sau thế hệ Đổi mới, những tên tuổi như Lê Kinh Tài, Lý Trần Quỳnh Giang, Thắm Poong, Lê Quý Tông… đã tạo thành một làn sóng khác, mỗi người đều đã có được con đường riêng của mình. Vậy con đường của Lê Kinh Tài là con đường nào trong bối cảnh như tôi đã trình bày ở trên?
Lê Kinh Tài học Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh, trước khi cầm bút vẽ đã có thời gian dài làm thiết kế đồ họa (graphic design). Khi đến với hội họa, anh thể hiện một quan niệm thẩm mỹ khác hẳn các họa sĩ đi trước và các họa sĩ đồng thời với anh, đó là sự pha trộn của nghệ thuật đường phố (bao gồm graffiti, tranh tường), pop art, hội họa ý niệm, và tranh cổ động, quảng cáo (poster). Tất cả những yếu tố đó làm cho các tác phẩm của Tài đứng ra một góc riêng, không phải là kiểu hội họa phục vụ khách du lịch muốn qua hội họa tìm hiểu phong cảnh đất nước, con người Việt Nam hoặc thuần túy trang trí nhà cửa. Hội họa của Tài cũng khước từ “tính dân tộc” kiểu thẩm mỹ đình chùa, nông thôn chăn trâu cắt cỏ...; ngay cả sự thơ mộng, cái đèm đẹp cũng bị loại bỏ. Cảm giác Lê Kinh Tài khát vọng đi tìm một thẩm mỹ khác, thứ thẩm mỹ xuất phát từ và gắn với đời sống đô thị hiện đại. Đời sống đô thị hiện đại trong tranh của Tài không nhất thiết quy vào những gì hữu hình như ô-tô, xe máy đời mới, cửa hiệu thời trang, nhà hàng máy lạnh hay nhà cao tầng mà có lẽ chủ yếu ở đây là cái cảm về nhịp sống nhanh mạnh, lối sống sôi động, không khí ngột ngạt, chật chội, ồn ào… Lê Kinh Tài thể hiện tất cả những mặt hay-dở của cuộc sống đô thị nhưng không sao chép hiện thực ấy mà dùng hình và màu của mình để diễn tả không khí ấy, lối sống ấy, nhịp điệu ấy. Hội họa của Tài đầy chặt những âm vang của tiếng còi xe, tiếng máy nuốt-nhả thẻ tín dụng, tiếng đổ vỡ, rạn nứt, tiếng loa quảng cáo…
 LÊ KINH TÀI, Tượng tò he, fiber glass, acrylic, và sơn dầu. Ảnh do hoạ sĩ cung cấp.
Lê Kinh Tài dùng cách lập ý để tư duy tạo hình dựa trên mô-típ chủ đạo là một con vật lưỡng thân hoặc đa thân khó mà gọi tên, có thể là đầu người nhưng mang mình vượn, mình thằn lằn, mình chim; hay thân người đầu thú nhưng lại có cánh. Con vật lưỡng thân này chuyển tải cái mô-típ không mới như tác giả từng nói, là mô-tip người-vật/vật-người/người-con/con-người. Gần 40 tác phẩm trưng bày (gồm tranh và tượng tò he) tại triển lãm lần này cũng là kết quả của cách lập ý đó.
Đặc biệt thêm vào là rất nhiều câu chữ viết trực tiếp lên bề mặt tranh - điều khiến tôi nghĩ đến sự pha trộn với nghệ thuật poster trong tranh của Tài - như một yếu tố tạo hình phụ trợ với con vật lưỡng thân kia, tất cả đều bằng tiếng Anh, gợi đến những vấn đề của đời sống hiện tại, ví dụ Citizen, Must go, Know me, Flying…
Bút pháp Tài mạnh mẽ, phóng khoáng, tự do, bay bổng đến tận cùng, bằng những cây cọ đẫm sơn, chồng đè ngay cả khi lớp màu dưới chưa khô. Không chỉ là sơn dầu, nhiều khi còn là acrylic; không chỉ là sơn dầu tuýp mà còn là sơn dầu thỏi (oil bar); không chỉ là bút mà nhiều khi là cả bay.
Lê Kinh Tài sở hữu một bảng màu vô cùng mạnh, hiểu theo nghĩa các màu đều tương phản gay gắt, nóng lạnh, chói chang, và hòa sắc thiên về sáng, giúp những hình thù trông có vẻ kỳ dị của Tài vẫn cho người xem cảm giác sống, sống động, hào hứng, vui, chứ không ủ ê và ít nhiều nghịch lý để tạo ra hài hước.
Tài là một người vẽ ở kích cỡ rất lớn, điều đó chứng tỏ anh có khả năng quản lý không gian và bố cục trong tranh vững vàng. Thao tác vẽ nhanh-mạnh, cách vẽ trực họa ào ạt, và dùng luôn màu nguyên ít pha, đồng nghĩa với việc anh phải là người vô cùng giỏi kiềm chế, bởi có cái hỗn độn nào không chứa trật tự ở bên trong nó


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thách thức và Cơ hội

Nguyễn Quang Dy

Không có ảnh

Ông Nguyễn Quang Dy đã từng học tập và nghiên cứu tại Đại học Quốc gia Úc (ANU, 1976-1979), Đại học Harvard (Nieman Fellow, 1992-1993), công tác tại Bộ Ngoại giao (1971-2005). Ông là chuyên gia về nghiên cứu quốc tế, truyền thông báo chí, và đào tạo; đã làm cố vấn cấp cao cho một số tổ chức/chương trình đào tạo; hiện nay là nhà báo tự do và nghiên cứu/tư vấn độc lập.

Lâu nay tôi ít dự các hội thảo hay hội nghị, vì nội dung thường nhàm chán, nặng về hình thức (nhiều người gọi là “cờ đèn kèn trống”). Nhưng dự “Mekong Connect Forum 2016” là một trải nghiệm khác biệt về cách thức tổ chức và chất lượng nội dung, thiết thực góp phần đối phó và vượt qua những thách thức đang đe dọa đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Tôi cảm thấy dường như có một dòng chảy năng lượng tích cực làm hạt nhân kết nối mọi người với nhau.
Tác giả Nguyễn Quang Dy (phải) tại hội nghị Mekong Connect Forum 2016.

Thách thức của Mekong Connect 2016
Tôi may mắn vừa được dự “Mekong Connect Forum 2016” (Cần Thơ, 26/10/2016). Khẩu hiệu năm nay là “Tìm Cơ trong Nguy” để đối phó với “biến đổi khí hậu, vấn nạn môi trường, thách thức hội nhập”. Đó là một khẩu hiệu rất hay, với tầm nhìn và định hướng rất đúng. Đây là diễn đàn hằng năm (năm nay là năm thứ hai), chủ yếu dành cho các doanh nghiệp, do Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao (BSA), Câu lạc bộ Doanh nghiệp dẫn đầu LBC phối hợp với mạng lưới liên kết bốn tỉnh ABCD Mekong (liên kết giữa hai tổ chức doanh nghiệp và bốn tỉnh này,  tức bốn tỉnh An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp, đã hình thành từ 2013) nay đang lan tỏa ra các tỉnh khác qua các chương trình kết nối, hỗ trợ doanh nghiệp.  
Về tổ chức, đội hình BSA làm việc chuyên nghiệp. Tuy ít người nhưng biết phối hợp nhóm hiệu quả, năng động, trách nhiệm. Sau phiên toàn thể, diễn đàn được chia làm ba nhóm thảo luận chuyên đề, người dẫn chương trình và điều hành các phiên thảo luận đều chuyên nghiệp. Chất lượng phiên dịch tốt hơn nhiều sự kiện khác. Chất lượng tài liệu từ in ấn đến phân phát cũng tốt. Song song với diễn đàn, còn có triển lãm giới thiệu sản phẩm khá sinh động và hấp dẫn.
Diễn đàn đã quy tụ được hơn 20 diễn giả chuyên nghiệp, cả Việt Nam lẫn nước ngoài, bao gồm quan chức, chuyên gia, doanh nhân tiêu biểu. Bài tham luận “đề dẫn” của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về “các giải pháp đổi mới nông nghiệp” là một tài liệu tham khảo rất quan trọng, không những cho diễn đàn này, mà còn cho các đối tượng khác. Các tham luận của các chuyên gia và doanh nhân trong và ngoài nước đều rất thiết thực. Ví dụ, GS Philip Zerillo (SMU, Singapore) có tham luận về “Biến đổi khí hậu và rủi ro trong kinh doanh”; hay tham luận của Julien Brun (CEO, CEL Consulting) về “chuỗi cung ứng”; Herb Cochran (Giám đốc điều hành AmCham VN) về “an toàn thực phẩm nhập khẩu vào Mỹ”; Gal Yarden (CEO, Natafim, Israel) về “nông nghiệp sạch và thông minh”.
Về khách tham gia, diễn đàn đã quy tụ được hơn 600 người tới dự, trong đó có một số lượng lớn doanh nhân từ vùng ĐBSCL và các nơi khác. Điều gây ấn tượng nhất là hầu hết khách đã dự đến cuối cùng chứ không bỏ về sớm như nhiều hội thảo khác (vì nặng về hình thức, như “cưỡi ngựa xem hoa”). Thái độ nghiêm túc và sự quan tâm của khách đến dự càng chứng tỏ: một là nhu cầu thực sự của người dân, hai là bản tính chân thật của người miền Tây, ba là chất lượng tổ chức và nội dung thiết thực.
Trong khi ĐBSCL là “vựa lúa của cả nước” đang bị thiên tai và nhân họa đe dọa đến sự sống còn, thì sự vắng mặt của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NN&PTNT) tại Mekong Connect Forum 2016 thực sự là điều đáng tiếc. Ngoài ra, Bộ Tài nguyên và Môi trường và Bộ Công Thương cũng không có mặt. Cũng trong mấy ngày này (24-26/10/2016), tại Hà Nội đang diễn ra Hội nghị ACMECS-7, Hội nghị CLMV-8 và Hội nghị WEF–Mekong. Cả ba hội nghị quan trọng này đều liên quan đến Tiểu vùng Mekong, đang đối mặt với hậu quả của biến đổi khí hậu và những bất cập giữa các quốc gia trong tiểu vùng. Nhưng diễn đàn Mekong Connect 2016 dường như vẫn là một ốc đảo, đang tự bươn chải trong một thể chế bất cập với những nút thắt và rào cản chưa được tháo gỡ.   
Cơ hội đổi mới nông nghiệp
Như bài thuyết trình của chuyên gia Phạm Chi Lan đã đề cập, muốn đổi mới nông nghiệp tại ĐBSCL, cần hiện đại hóa và thương mại hóa nông nghiệp theo phương châm “nhiều hơn từ ít hơn” (more from less), và cải cách thể chế toàn diện (như “đổi mới vòng hai”) theo khuyến nghị của “Báo cáo Việt Nam 2035” (vừa xuất bản). Để tháo gỡ những bế tắc hiện nay tại ĐBSCL, cải cách thể chế về sở hữu ruộng đất là cơ bản. Muốn phát huy truyền thống “đổi mới vòng một” (1986), cần giương cao khẩu hiệu “hãy tự cởi trói” (của đồng chí NVL).
Tại ĐBSCL, cũng như trên thế giới, con người không thể chống lại biến đổi khí hậu, mà chỉ có thể tìm cách ứng phó với hệ lụy của nó để tồn tại và phát triển, trong môi trường thay đổi. Đó là câu chuyện toàn cầu, không phải chỉ Việt Nam. Nước nào năng động, chịu đổi mới tư duy, biết ứng dụng công nghệ mới và cách quản trị mới thì thoát hiểm. Nước nào bảo thủ, không chịu đổi mới tư duy và thể chế (hay “không chịu phát triển”) thì sẽ tụt hậu. Người ta hay nói, không ai có thể thay đổi được quá khứ, nhưng có thể sắp xếp lại tương lai.
Trong môi trường biến đổi khí hậu đầy thiên tai, con người càng phải khôn ngoan để giảm thiểu nhân họa (do mình gây ra). Không ai lại dại dột muốn đối phó với cả thiên tai và nhân họa cùng một lúc như “hiệu ứng kép”. Nhân họa có thể do chủ trương phát triển thủy điện tràn lan (trên thượng nguồn) làm cạn kiệt nguồn nước và nguồn phù sa (dưới hạ nguồn). Nhân họa cũng có thể do chủ trương tăng tối đa diện tích trồng lúa 2-3 vụ, đắp đê bao chống lũ và cống ngăn mặn, làm thay đổi hệ thống cân bằng sinh thái và thủy văn, xô đẩy người nông dân phải tăng sản lượng bằng mọi giá, nên sử dụng quá nhiều phân hóa học và thuốc trừ sâu khiến đất bạc màu, nguồn nước bị ô nhiễm, và lúa gạo khó đáp ứng các tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ngày càng cao dẫn tới không có vị thế cạnh tranh trên thị trường xuất khẩu.
Việc FDA Mỹ vừa từ chối không nhận 94 container gạo của Việt Nam do dư lượng thuốc trừ sâu quá mức cho phép là một bài học. Chúng ta đã suýt mất thị trường Mỹ cho ngành thủy hải sản, nay có thể mất nốt thị trường Mỹ cho lúa gạo nếu không đảm bảo an toàn thực phẩm. Đây không phải lỗi của người nông dân, mà lỗi của người quản lý. Người nông dân thiếu thông tin, chỉ hành động theo thói quen. Do bị thúc đẩy phải tăng sản lượng lúa bằng mọi giá, phải trồng 2-3 vụ để đạt thành tích xuất khẩu, nông dân đã sử dụng quá nhiều phân bón và thuốc trừ sâu. Người ta hay nói, “quan tham, dân gian”, cũng không sai. Phải đổi mới tư duy và thể chế, theo hướng “phi truyền thống hóa” và hiện đại hóa nông nghiệp.
Muốn vậy, phải thay đổi cơ cấu nông nghiệp truyền thống lâu nay lấy lúa gạo làm chủ đạo (tương tự như một thời “lấy quốc doanh làm chủ đạo”). Từ lâu nay Bộ NN&PTNT đã chỉ đạo phải tăng sản lượng lúa bằng mọi giá để xuất khẩu bằng cách trồng 2-3 vụ, bất chấp rủi ro và hệ lụy. Từ năm 1990, các tỉnh ĐBSCL, bắt đầu từ An Giang và Đồng Tháp, đã xây dựng hệ thống đê bao chống lũ rất tốn kém để trồng lúa vụ 3 (với diện tích lên đến 600.000ha). Tổng sản lượng lúa của ĐBSCL đã tăng từ 7 triệu tấn (năm 1986) lên 25 triệu tấn (năm 2015), chiếm 90% kim ngạch xuất khẩu gạo cả nước. Nhưng cái giá phải trả cho chủ trương đó là diện tích rừng tràm đã biến mất ở Đồng Tháp Mười, Tứ giác Long Xuyên, vùng U Minh Thượng và Hạ. Theo GS Nguyễn Ngọc Trân, “Tăng trưởng được đánh đổi bằng chế độ thủy văn bị xáo trộn bên ngoài đê bao. Bên trong đê thì độ màu của đất giảm sút, môi trường bị suy thoái”.
Theo các chuyên gia, trong bối cảnh đó, phải rà soát lại quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội, các quy hoạch phát triển ngành, địa phương ở ĐBSCL theo hướng tiết kiệm nước ngọt, và chung sống với hạn hán và ngập mặn. Nhiều nước khác đã biết cách khai thác thành công nước mặn như một tài nguyên. Theo GS Võ Tòng Xuân, “Đối với các tỉnh có nước ngọt quanh năm như An Giang, Đồng Tháp và một phần Tiền Giang, Vĩnh Long, thì cần tập trung đầu tư cho cây lúa nhưng sử dụng nước tiết kiệm hơn. Còn vùng mặn thì linh hoạt theo hướng đầu tư cho cây lúa trong mùa mưa và nuôi tôm mùa khô…”.
Trong thị trường toàn cầu hóa ngày càng cao, cạnh tranh ngày càng khốc liệt, kinh doanh nông nghiệp sẽ quan trọng hơn cả sản xuất nông nghiệp thuần túy. Các địa phương và các doanh nghiệp cần linh hoạt chọn cho mình vị trí thích ứng trong chuỗi giá trị và chuỗi cung ứng, biết cách kết nối với thị trường toàn cầu để tham gia cuộc chơi có hiệu quả. Nói cách khác, phải hiện đại hóa và thương mại hóa nông nghiệp, như một quy luật phát triển.
Một thách thức rất lớn và nan giải do “nhân họa” là việc khai thác triệt để tài nguyên nước trên thượng nguồn, trong đó có việc chuyển dòng nước sang lưu vực sông khác và khai thác thủy điện tràn lan trên dòng chính sông Mekong từ cao nguyên Tây Tạng trở xuống. Theo Ủy ban sông Mekong, sáu đập thủy điện ở Trung Quốc cùng với 11 đập ở hạ lưu và 30 đập trên các chi lưu sẽ tích lại một lượng nước của sông Mekong vào năm 2030 là 65,5 tỷ m3 trong khi nhu cầu về nước tại hạ lưu tăng 50% so với năm 2000.
Khi nói đến thủy điện, người ta thường nói nhiều về số lượng nước mà ít nhấn mạnh đến chất lượng nước, thể hiện qua lượng phù sa có trong nước. Lượng phù sa này sẽ bị các đập thủy điện ngăn lại gần như vĩnh viễn. Không có phù sa, đồng bằng sẽ chết. Theo các chuyên gia sinh thái, quá trình kiến tạo ĐBSCL diễn ra từ hàng ngàn năm trước, nhưng sự mất cân bằng phù sa hiện nay sẽ làm đảo ngược quá trình kiến tạo đó và dẫn đến nguy cơ tan rã ĐBSCL. Hiện tượng nước sông Hậu bỗng trong xanh như nước biển là một hệ lụy nhãn tiền cho thấy lượng phù sa từ thượng nguồn sông Mekong đổ về ĐBSCL ngày càng ít.
Theo một kết quả nghiên cứu của trường Đại học Quốc gia Singapore (NUS) về tác động của đập thủy điện Mạn Loan (Trung Quốc) về lượng phù sa đổ về ĐBSCL cho thấy trước khi có con đập này, lượng phù sa vào khoảng 160 triệu tấn/năm. Nhưng sau khi con đập được đưa vào hoạt động, lượng phù sa chỉ còn 75 triệu tấn/năm. Như vậy, chỉ với một con đập, lượng phù sa đã giảm xuống một nửa. Theo TS Lê Anh Tuấn (Đại học Cần Thơ), “con số này sẽ tiếp tục giảm thêm 1/2 nữa, chỉ còn khoảng 42 triệu tấn/năm, một khi các đập trên dòng chính sông Mekong ở Lào và Campuchia đi vào hoạt động”.
Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, các hồ chứa trên dòng chính của sông Mekong ở phía Trung Quốc có dung tích khoảng 23 tỉ m3, trong khi các hồ chứa trên những dòng nhánh khoảng 20 tỉ m3. Tổng dung tích này tác động rất lớn đến việc điều tiết nước và lưu lượng dòng chảy về hạ lưu. Hiện có 11 đập thủy điện trên sông Mekong bên ngoài Việt Nam (gồm chín đập ở Lào và hai đập ở Campuchia). Nhưng tác động của 11 đập này chỉ bằng 1/7 các đập ở Trung Quốc. GS Nguyễn Ngọc Trân nói, “Đã đến lúc sáu nước trong lưu vực sông Mekong phải xây dựng một cơ chế sử dụng nguồn nước. Trong đó, quyền và lợi ích mỗi quốc gia phải đi đôi với trách nhiệm và nghĩa vụ đối với cả lưu vực, với tinh thần hợp tác cùng phát triển”.  
Tuy diễn đàn Mekong Connect 2016 liên kết bốn tỉnh ABCD là một mô hình kiểu mẫu, góp phần tích cực và hiệu quả vào việc tháo gỡ những vấn nạn tại ĐBSCL, nhưng để kết nối 13 tỉnh thành của ĐBSCL lại với nhau thành một tiểu vùng là bài toán khó, đòi hỏi phải biết cách quản trị, nếu không có thể gây cản trở và làm suy yếu lẫn nhau. Những thách thức từ bên ngoài và từ bên trong không chỉ tác động riêng lẻ đến mỗi địa phương, mà còn tác động lẫn nhau, làm cho liên kết toàn vùng có thể khó hơn. Bên cạnh đó còn đầy rẫy những khó khăn khác: như sức cạnh tranh của nông nghiệp còn thấp, chi phí lớn, nguồn nhân lực chất lượng cao còn ít, hạ tầng tuy được đầu tư nhưng so với yêu cầu còn thấp kém, chưa có khả năng ứng phó với biến đổi khí hậu. Số phận ĐBSCL vẫn như một ẩn số đang làm đau đầu các nhà quản trị.
Thay lời kết
Sau một năm, Mekong Connect Forum đã đi được một quãng đường dài, trở thành một diễn đàn quan trọng hàng đầu của ĐBSCL. Về đối nội, diễn đàn đã: (1) giúp bốn tỉnh ABCD tăng cường liên kết dọc và ngang trong vùng để thúc đẩy hội nhập và phối hợp hành động vì sự phát triển bền vững của ĐBSCL, (2) biết cách thu hút và tối ưu hóa nguồn lực tri thức trong và ngoài cộng đồng để hỗ trợ cho quá trình đổi mới, (3) khuyến khích và hỗ trợ các hoạt động khởi nghiệp có tiềm năng của thế hệ trẻ tại ĐBSCL.
Muốn trở thành diễn đàn có uy tín nhất Việt Nam và quốc tế về Tiểu vùng Mekong, về đối ngoại, Diễn đàn cần: (1) kết nối với các cơ quan chỉ đạo của Trung ương để vận động chính sách hỗ trợ cho ĐBSCL, (2) kết nối với các tỉnh thành khác trong cả nước để phối hợp hành động và hợp tác cùng phát triển, (3) kết nối với các chính phủ, nhà tài trợ, và các tổ chức quốc tế, ủng hộ hiệu quả cho chiến lược phát triển ĐBSCL và Tiểu vùng Mekong.
So với bài toán đố Formosa ở miền Trung, bài toán đố ĐBSCL cũng nan giải, nhưng còn có tính “khả thi” cao hơn. Sứ mạng của Mekong Connect Forum là “biến điều không thể thành có thể”, để giúp các tỉnh ABCD (và các tỉnh khác) giải bài toán đố ĐBSCL. Lịch sử đã chứng minh, khi bị dồn đến chân tường, hay đứng trước vực thẳm, người Việt nói chung và người miền Tây nói riêng có một sức sống mãnh liệt. Trong tương lai gần, Mekong Connect Forum không phải chỉ là sự kiện hằng năm, mà có thể hằng quý, không phải chỉ ở Cần Thơ, mà có thể ở các địa phương khác.  
Mekong Connect Forum như một ngọn hải đăng mới đang tỏa sáng, đem lại niềm tin cho nhân dân và lãnh đạo các địa phương năng động của miền Tây, không chịu đầu hàng trước thiên tai và nhân họa. Như chuyên gia Phạm Chi Lan đã kết luận trong bài tham luận đề dẫn, ĐBSCL phải “RICH” (giàu có) bằng Resilient (bền bỉ) + Innovative (sáng tạo) + Connecting (liên kết) + Harmonious (hài hòa).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhặt nhạnh từ chuyến ra miền Trung


Phải nói ngay từ đầu, vừa xấu hổ vừa không, đám lứa 5X chúng tôi sinh ra và lớn lên (không dám dùng chữ trưởng thành) ở miền Bắc là chúa vô thần. Chả chịu tin vào điều gì ngoài tin đảng, Bác và chính phủ. Thực ra thì cả ba món ấy cũng chỉ là một. Vừa thôi bú mẹ là đã được tuyển vào đội nhi đồng, rồi đội thiếu niên, tiếp nữa là đoàn thanh niên, họ nhồi nhét vào đầu chủ nghĩa duy vật, vật chất quyết định ý thức, công ơn trời biển của đảng của bác, cứ thế là tin thôi. Chỉ tin những cái hiện hữu trước mắt, còn thứ gì siêu hình đều là nhảm nhí, tào lao, mê tín dị đoan cả.

Lớn lên chúng tôi lại chứng kiến những cuộc ra quân phá đình phá chùa, phá cả nhà thờ. Đình của bọn phong kiến cổ hủ lạc hậu, phải phá lấy gỗ lấy gạch xây chuồng lợn hợp tác xã. Nhất cử lưỡng tiện, vừa thủ tiêu được tàn tích phong kiến, vừa có vật chất phục vụ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội. Hồi bé tôi nghe người lớn hát bài “Phá đình đi, phá đình đi” hào hùng khí thế lắm. Đình làng Trà Phương quê tôi có gốc tích từ thời Mạc, phục dựng thời cuối Lê đầu Nguyễn, to như… cái đình, mấy chục cột gỗ lim cả vòng tay ôm, đá xanh Thanh Hóa, Ninh Bình tảng nào tảng ấy nặng cả tấn ghép xung quanh hành lang, chạm khắc làm chân cột, mái ngói vảy khít rịt chắc khừ, mưa bão không rịn nổi một giọt, thế mà đùng một cái, năm 1964, chính quyền và hợp tác xã tiến hành “hạ giải” lấy gỗ gạch đá ngói để xây trại chăn nuôi. Chỉ trong 1 tuần ngôi đình sạch bách, trơ cái nền ngổn ngang vữa gạch vụn. Giờ thỉnh thoảng về quê, tôi lại ngóng ra phía đình cũ, chỗ đất đẹp nhất làng ấy người ta đã xây trường cấp 2, còn lại dấu tích duy nhất của đình là gốc nhãn cổ thụ đã vài trăm tuổi. Cây nhãn này hồi chúng tôi còn bé chơi trốn tìm, đứa nào giỏi leo trèo mà trèo lên núp trong đám lá rậm rạp, đố đứa nào tìm ra nổi.

Chùa làng tôi không bị phá nhưng cứ thu hẹp dần. Hàng thế kỷ, chùa Trà Phương, tên chữ là Thiên Phúc Tự, nổi tiếng vùng duyên hải Bắc Bộ. Chùa có từ thời nhà Lý, được tôn tạo dần qua các triều đại Lê, Mạc, Nguyễn, vừa thờ Phật, vừa thờ bà thái hậu Vũ Thị Ngọc Toàn người làng tôi, là vợ đức vua tiên khởi Mạc Đăng Dung người làng Cổ Trai kế bên. Dưới chính quyền mới, chùa cứ teo tóp dần, bây giờ nhìn thảm lắm, cây cối xác xơ, mấy sư quốc doanh núp bóng cửa thiền phá mỗi ngày một ít, chở đá hộc ở đâu về xây cổng xây tường bao quanh trông như cái lô cốt thời giặc Pháp. Đến cả cái chuông quý, đồ tam khí trân bảo có một không hai đúc từ thời Mạc, tiếng chuông vang xa hàng mấy cây số, cũng bị bán lén mất từ hồi nào. Nay thì chùa còn đó nhưng chỉ là cái xác, có cũng như không, đúng là sắc sắc không không.

Vùng làng tôi chỉ có đình chùa, không có nhà thờ, mà phải mãi tuốt tận xã Tân Phong gần Đồ Sơn mới có nhà thờ Thiên chúa. Nhưng quê ông anh rể tôi bên huyện An Lão, mấy xã vùng ven sông Văn Úc, gần đò Khuể lại theo đạo gốc. Làng Kim Côn anh tôi có những 2 nhà thờ, trong đó một cái nghe đâu còn to hơn cả nhà thờ lớn Hà Nội. Năm 1954, một phần do con chiên bị hắt hủi, một phần bị dụ dỗ, họ bỏ quê bỏ nhà thờ theo Chúa vào nam. Tòa nhà thờ nguy nga bị phá ngay sau đó, trơ cái nền rộng mênh mông. Hồi năm 1971 tôi lên thăm anh chị, tò mò lần ra coi xác nhà thờ chỉ thấy khoảng sân hoang vắng, lạnh lẽo, cỏ dại mọc đầy. Chả hiểu người ta phá công trình tín ngưỡng bề thế như vậy để làm gì. 

Phá đình chùa nhà thờ, chỉ cho học duy vật biện chứng, nên bọn tôi là đám vô thần, không tin chúa phật trời, càng không tin có đấng siêu nhiên, có con tạo huyền bí, có cơ giời, có vận may… Thế nên sau này nhiều lúc ngỡ ngàng.

Tôi đang biên những dòng ghi chép về chuyến đi miền Trung nhưng mở đầu lại kể lể mấy điều trên bởi nó có liên quan, bởi tôi suốt bao năm muốn có một chuyến ra miền Trung thăm thú chơi nhởi lắm nhưng không có dịp, không có điều kiện. Ai ngờ lúc mình không cầu mong nữa thì nó lại tới. Thế thì không phải cơ duyên là gì. (còn tiếp)

Nguyễn Thông
(Ảnh: Từ trái sang: Nhà văn Hoàng Minh Tường, nhà báo Đăng Bình, và nhà cháu, trước tượng đài mẹ Thứ ở Quảng Nam)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những thú chơi xa xỉ “khoe” đẳng cấp của giới nhà giàu Việt



Dân trí - Nhiều đại gia Việt sở hữu khối tài sản khổng lồ với bộ sưu tập siêu xe đắt tiền mạ vàng, dinh thự gỗ “khủng” và có lối sống xa hoa không khác gì các đại gia giàu có trên thế giới.

Đàn cá Koi bạc tỷ quy tụ những Koi đẳng cấp, có 
kích thước "khủng" của đại gia Sài Gòn. Ảnh: Ngô Thắng
Chơi cá chép Nhật nghìn đô
Cá Koi được xem như quốc ngư của Nhật, tượng trưng cho sự thân thiện, may mắn và tài lộc. Ở Việt Nam, thú chơi này đã du nhập và phát triển được khoảng 15 năm tuy nhiên thời gian gần đây mới rộ lên và được nhiều người biết đến. Nhiều người kinh doanh có thói quen nuôi cá Koi để cầu may mắn và thịnh vượng. Tuy nhiên, đây là thú chơi chỉ dành riêng cho giới nhà giàu.


Một con cá Koi có kích thước trên 100cm, đạt được các tiêu chí như: màu sắc đẹp mắt, độc lạ có thể được định giá lên hàng trăm thậm chí hàng tỷ đồng. Chơi cá Koi phải chơi theo đàn và thiết kế hồ bơi với những tiêu chí rất ngặt nghèo, tốn kém. Trong đó, chi phí cho một hồ cá với đầy đủ thể loại, kích thước cá tầm 50 – 60cm, số lượng trên 30 Koi cũng tốn vài tỷ bạc.

Hiện nay, đàn cá Koi đẳng cấp, độc nhất Việt Nam thuộc sở hữu của một đại gia ở quận 2, TP. Hồ Chí Minh. Đàn cá gồm 39 con có kích thước trung bình từ 70-106cm, được tuyển chọn từ những trại cá danh tiếng bậc nhất của Nhật Bản.


Một chú cá Koi được định giá vào khoảng 100.000 USD ở Nhật Bản. Ảnh: Ngô Thắng

Đặc biệt, trong đó, một Koi 16 tuổi thuộc dòng Sanke (trắng đỏ đen) đã từng đạt giải lớn nhất tại cuộc thi cá Koi “All Japan Koi Show 2008”. Trong giới chơi Koi chuyên nghiệp trên thế giới, chú cá Koi này cũng rất nổi tiếng và từng được nhiều người “săn” lùng với giá cao, nhưng chủ trại cá không bán.

Anh Ngô Thắng, đại diện đơn vị thi công và thiết kế hồ cá Koi này cho biết, ở Việt Nam rất nhiều dân chơi cá Koi, tuy nhiên để tìm ra hồ cá thứ 2, quy tụ những Koi có kích thước lớn, hình thể cân đối, vạm vỡ, màu sắc và hoa văn đẹp mắt như thế này rất hiếm. Thậm chí, ngay cả ở Nhật Bản, cái nôi của cá Koi, hồ cá của vị đại gia này cũng được xếp vào dạng đẳng cấp "hiếm có, khó tìm".

Chi tiền tỷ chơi nhà gỗ cổ truyền

Trước đây những căn nhà cổ có niên đại lâu năm, hoa văn độc, lạ như nhà sàn của các tù trưởng, già làng dân tộc thiểu số, nhà của vua quan với ngói cổ, rường, cột bằng gỗ lim đen bóng... được ưa chuộng hơn cả. Tuy nhiên, vài năm nay thú chơi này có phần chững lại thay vào đó những căn nhà giả cổ được săn lùng và trở thành “mốt” của người giàu.

Căn nhà được làm hoàn toàn bằng gỗ lim trị giá lên tới gần 200 tỷ đồng của đại gia Điện Biên. Ảnh: Phan Lương

Trong đó, nhiều đại gia sẵn sàng chi hàng trăm tỷ sở hữu những căn nhà làm từ gỗ quý như Đinh, Lim, Sến, Táu… với các thiết kế công phu không khác gì thủ phủ của vua chúa ngày xưa.

Nội thất trong căn nhà truyền thống cũng được làm công phu, đắt đỏ với lối kiến trúc cổ truyền tạo nên sự hài hòa, ấn tượng. Ảnh: KTS Nguyễn Giang

Ông Bùi Đức Giang – một đại gia ở Điện Biên cũng vừa hoàn thiện xong căn nhà sàn bằng gỗ lim được xem là lớn nhất Việt Nam. Nhà gồm 2 tầng, 7 gian với tổng diện tích trải rộng gần 500m2. Đặc biệt, trên các tường gỗ được trang trí bằng 25 bức chạm trổ tinh xảo là các họa tiết dân gian như hoa cỏ, chim muông thú... Ước tính chi phí để hoàn thiện căn nhà lên tới hơn 200 tỷ đồng. Đây được xem là căn nhà gỗ hoành tráng và bề thề bậc nhất Việt Nam.

Thú chơi “siêu cây cảnh” tiền tỷ của đại gia Việt

Chơi cây cảnh không chỉ là niềm đam mê mà còn là cách để nhiều đại gia thể hiện đẳng cấp giàu có của mình. Theo giới sành chơi cây, để có được một cây cảnh đạt đến độ “chân - thiện - mỹ” có giá hàng tỉ đồng là rất khó, kỳ công và phải qua thời gian dài, thậm chí là phải nhiều đời.

Trong giới chơi cây cả nước, ông Nguyễn Gia Thọ không còn là cái tên lạ lẫm. Vị đại gia ngành nhựa nổi tiếng với bộ sưu tập “siêu’” cây cảnh trị giá lên tới hàng tỷ đồng, trong đó có nhiều cây thuộc dạng “hiếm có, khó tìm”.

Hàng đoàn khách và giới yêu cây cảnh đã đến chiêm ngưỡng cây ổi quý hiếm "độc nhất vô nhị". Ảnh: Gia Thọ



Cây ổi bonsai cổ thụ có tuổi đời trên 100 năm, có nguồn gốc ở Lâm Đồng. Ảnh: Hà Trang

Gần đây nhất, hình ảnh về cây ổi bonsai cổ thụ trăm năm tuổi trong vườn nhà ông bất ngờ gây "sốt" và nhận được sự quan tâm đặc biệt của dư luận nhờ hình dáng lạ mắt.

Theo đó, cây có chiều cao khoảng 1m, đường kính thân 60cm với dáng thế “bạt phong”. Đây là cây ổi bonsai mọc trong chậu có tuổi đời trên 100 năm, được ông Thọ mua của một tay chơi Lâm Đồng.

Dù không tiết lộ giá cả cụ thể song vị đại gia ngành nhựa chia sẻ đã phải chi một số tiền không nhỏ để sở hữu cây ổi cổ thụ “có một không hai”. Theo ông Thọ, cây ổi ra xanh tốt quanh năm, vào tháng 3, tháng 4 cành cây lại đơm hoa, kết trái thành từng chùm. Khi chín quả có vị ngọt sắc, hương thơm ngào ngạt rất đặc biệt.

Trong 5 năm năm qua có nhiều đoàn khách và giới chơi sinh vật cảnh tìm đến nhà ông Thọ để tận mắt chiêm ngưỡng cây cảnh quý này. Rất nhiều người trong số đó ngỏ lời muốn mua đứt nhưng ông Thọ không đồng ý bán.


Trong một triển lãm sinh vật cảnh, Mâm xôi con gà được định giá 6 triệu USD, tương đương với 120 tỷ đồng. Ảnh: Hà Trang

Trước đó, siêu cây “mâm xôi con gà” của ông Nguyễn Nam Thành (Việt Trì, Phú Thọ) từng gây xôn xao dư luận khi được lên trang bìa của tạp chí về nghệ thuật chơi cây cảnh BCI của Mỹ. Đặc biệt, trong một triển lãm sinh vật cảnh, Mâm xôi con gà được định giá 6 triệu USD, tương đương với 120 tỷ đồng.

Mạ đá quý, đúc vàng ròng cho siêu xe

Thực tế, trào lưu độ vàng cho siêu xe ở Việt Nam mới chỉ rộ lên trong vài năm trở lại đây. Trong đó, các dòng xe như: Rolls- Royce, Phantom, BMW, Lexus… được nhiều người lựa chọn để độ hơn cả.

Tùy từng loại xe, chi tiết mạ vàng và độ khó mà giá cả sẽ khác nhau. Tuy nhiên, trung bình để có một chiếc xe độc đáo, thể hiện đẳng cấp của mình, các đại gia Việt cũng phải chi không dưới trăm triệu cho một chiếc xe mạ vàng.

Siêu xe Phantom mạ vàng của đại gia Sài Gòn từng khiến nhiều người choáng ngợp bởi sự chịu chi của gia chủ. Ảnh: Khôi Nguyên

Cách đây 2 năm, tại một gara Long Biên hàng trăm người dân đã đổ về để chiêm ngưỡng ra mắt của siêu xe Phantom mạ vàng hình rồng thời Lý. Đây được xem là chiếc siêu xe “độc nhất vô nhị” ở Việt Nam khi toàn bộ nội thất, lá chắn, gương chiếu hậu… đều được mạ vàng 24k. Điểm đáng chú ý nhất là việc xe được gắn hai hình rồng ở hai bên thành xe với trọng lượng vàng khoảng 300 - 400 gram. Trong đó, nhiều chi tiết mạ vàng của xe được đặt từ nước ngoài có giá lên tới hàng trăm triệu.

Dù không tiết lộ giá tiền cụ thể cho việc mạ vàng, song người chủ xe này cho biết ông đã phải bỏ ra một số tiền không hề nhỏ. Ảnh: Khôi Nguyên.

Theo bật mý của chủ nhân, việc độ xe được tiến hành hoàn toàn bằng phương pháp thủ công với 30 nhân công, thực hiện trong gần 6 tháng. Chủ nhân của chiếc siêu xe này là một đại gia bất động sản ở TP Hồ Chí Minh. Ông này khẳng định: Yêu thích xe hơi, nên muốn tạo ra một phiên bản “độ” đặc biệt không đụng hàng với bất cứ ai. Thậm chí, ông còn ấp ủ việc độ vàng cả phần mái trần của xe, sau đó đính đá quý để đảm bảo độ độc đáo cho xế cưng của mình.

“Sốc” với những món ăn giá nghìn đô la của đại gia Việt

Trứng cá tầm, tôm khổng lồ, tổ yến hay gà đen mặt quỷ… có giá “siêu đắt đỏ” được xem là những thực phẩm xa xỉ, đẳng cấp bậc nhất mà chỉ những gia đình có điều kiện mới đủ tiền mua.

Trong đó, một ki lô gam trứng cá tầm được bán với giá 2.000-2.500 USD, có loại lên đến 1,8 tỷ đồng/kg. Trước đây cá giống được dùng nguồn trứng thụ tinh từ các nước như Nga, Đức... Ngày nay, một số công ty Việt Nam đã sản xuất thành công giống cá này.

Tôm hùm Canada có trọng lượng lớn có giá bán khá đắt đỏ trên thị trường. Ảnh: H.T

Trong khi đó tôm hùm Canada hay còn gọi là tôm hùm Mỹ, tôm Alaska có giá bán giao động từ 900 – 1 triệu/ kg tùy thời điểm. So với các loại tôm thông thường, tôm hùm Canada có trọng lượng khá lớn từ 1 – 3kg/ con, thậm chí nhiều con nặng tới 6kg. Loại tôm này có thịt ngọt, vị đậm và rất chắc thịt nên rất được ưa chuộng.

Hiện nay tại đảo Java (Indonesia), giống gà này bị lai tạp nhiều nên tìm được một con giống thuần chủng là cực kỳ khó khăn. Ảnh: Hà Trang

Gà đen mặt quỷ là giống gà độc đáo và đắt đỏ bậc nhất thế giới, có xuất xứ từ Indonesia. Giá của một con gà trưởng thành lên đến 2.500 USD (tương đương trên 50 triệu đồng). Người dân địa phương coi giống gà này như một biểu tượng của sự may mắn và thịnh vượng. Vì thế, chúng được nhiều đại gia trên thế giới săn lùng để làm cảnh hoặc ăn "giải đen".

Ở Hà Nội, hiện có một trang trại nuôi và nhân giống gà cao cấp này, tuy nhiên người muốn mua cũng phải đặt trước và số lượng cũng không có nhiều.

Hà Trang
http://dantri.com.vn/doi-song/choang-voi-nhung-thu-choi-xa-xi-khoe-dang-cap-cua-gioi-nha-giau-viet-20171022153330467.htm
Phần nhận xét hiển thị trên trang