Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 21 tháng 10, 2017

tên đãi chữ khù khoằm ở hoang dã tây



ĐM, đến Hoang Dã Tây[1] mà không biết nói tiếng “Đan Mạch” thì chúng nó đập cho giập mạch đan. Cái “định mệnh”, gặp tên khù khoằm này, Vương Ngọc Minh (VNM) ở Cựu Kim Sơn (San Francisco), mà không biết văng tục, thì hắn léo tiếp. Với cái mặt và cái họ Vương, dễ nghĩ nghỉ gốc Tàu, nhưng chàng chỉ bảo “Tôi Nam rặt”; Nam đây là Miền Nam nước Việt. Nhưng, cái mặt y thì y chang một chú Khách, lai Mỹ da đỏ …. Theo lời khổ chủ, có lần được chủ một nhà hàng Việt mời, tới nơi thấy mấy cha làm ở Tổng lãnh sự đang ngồi, VNM đã mắng chửi đám đó liên hồi đủ hết cả lồn, cặc, đụ, đéo chỉ vì bọn họ cứ thờ ơ với tình cảnh đau thương của dân/nước Việt, và gã chủ đã phải tiễn ổng ra cửa vội. “Đường Kách Mệnh” cái thời cuộc! Người ta đến Hoang Dã Tây là để đào/đãi vàng, nhất là mấy quan chức Việt ở tòa Tổng lãnh sự Cựu Kim Sơn kia; ảnh thì đến đây làm cái chó gì? Cứ theo lời, thì VNM đến đây chỉ để ỈA và ĐỤ, tin tôi đi.
Thực lòng, đã từ lâu tôi thấy nếu không viết gì về VNM thì tôi nợ cả chàng lẫn đời cái gì đó lớn lắm, ĐKM. Bởi vì, theo tôi, VNM vừa chính đại diện khủng nhất của “văn chương mạng” (Internet Literature) tiếng Việt, vừa bố nhất của cái gọi là “văn học lưu vong” đương đại của văn học Việt. Chẳng ai có thể sánh được đâu, yên tâm đi, lũ tôi mọi (đầy “tài năng” đến mức nô tài) kia. Cho nên, ngay từ tháng 3 năm kia tôi đã rắp tâm viết, tiếc nuối là suốt mấy năm nay hoàn cảnh bí bách trong “thập diện mai phục”, thời gian chẳng có dư dả cho bất kỳ cái viết nào dài quá một trang giấy (mà tôi thường chỉ tranh thủ được chừng nửa tiếng “thoát tục” để viết ra), nên hôm nay (8/8/16), chợt linh tính mách vào Facebook (FB) chàng, ngó thấy chàng kề 60 rồi tôi mới giật mình mà tự ép đôi bàn tay thô bỉ bôi chữ ra file word này, để có thể ra một bài dai dai, sau nhiều năm chẳng hiểu sao bị giang hồ đồn “Đặng Thân đã cạn kiệt khả năng sáng tạo” (ĐM, thực ra thì tôi tự xét mình chưa bao giờ có khả năng đó, he he).
Vào ngày 11 tháng 3 năm 2014, tôi đã nhắn VNM gửi cho 10 bài thơ chàng đắc ý nhất, với ý định viết ngay về thơ chàng. Xin trích một đoạn inbox trong FB:
Dang Than: bác Vương Ngọc Minh! 
bác hãy gửi cho 10 bài mà bác tâm đắc nhất nhé!!!!!
Minh Ngọc Vương:
làm gì chàng?
Dang Than:
muốn đọc thật kỹ thơ chàng VNM.
Minh Ngọc Vương:
okay, những bài mình tâm đắc nhất, hiện đang nằm trên da màu với tiền vệ, độ chừng một tháng trở lại thôi, chàng vào lục, nhé!
Dang Than:
1 tháng qua??
clip_image001[1] Minh Ngọc Vương:
yeah, gần đây nhất, khoảng một tháng nay, hơn mươi bài, thể tân hình thức.
clip_image001[2]
Dang Than:
thế quá khứ bỏ đi à?
Minh Ngọc Vương:
bỏ đi.
Dang Than:
hay tại chàng quên chúng?
clip_image001[4]Minh Ngọc Vương:
thực tình, mình chả giữ bất cứ gì, chàng ạ, thấy chàng hỏi, mình nghĩ, tốt nhất đọc những thứ mới nhất, nó thiết thực hơn.
Dang Than:
ok. hay!
clip_image001[5] Minh Ngọc Vương:
chàng cứ nghĩ lại xem, tại sao cứ phải đào bới những bãi cứt cũ mãi!
clip_image001[6] Dang Than:
câu này ĐƯỢC LẮM 
và nó quá đúng với bác 
do ngày nào bác cũng “ỉa” đều 
hah
Minh Ngọc Vương:
đúng như thế chàng, sảng khoái ghê lắm, đụ, ỉa, hai thứ khoái, mình mê.
Dang Than:
rất tốt
clip_image001[7] Minh Ngọc Vương:
chàng làm việc đi, mình ỉa nữa đây!
Rõ hết chứ, VNM đã nói trắng. Sau đó, tôi copy 10 bài thơ của chàng ra, đọc xong rồi thất lạc đâu đó, chưa kịp sử dụng, vì bài viết này suốt mấy năm nay chỉ mới được gõ ra mươi dòng.
Nói VNM ngày nào cũng ỉa ra thơ, chẳng sai. Làm thơ như đi ỉa. Ngày nào chàng cũng phọt ra thơ, suốt hàng chục năm nay (trước đây VNM còn hay dùng bút danh Lưu Hy Lạc). Nhiều người nói thơ chàng không hay, không thiếu kẻ chê thơ chàng kém cỏi. ĐKM, tôi thấy thơ chàng tuyệt luân. Đặc biệt nhất là cái “tâm thế thơ” của chàng. VNM được trời sinh ra với cái “cơ địa” rặt nghệ sỹ, nghệ sỹ toàn tòng. Con người xã hội của chàng đã được “giải cấu”, cho nên sống giữa Hoang Dã Tây mà ngoài ăn, ngủ, đụ, ỉa ra thì chàng chỉ còn biết “làm” mấy việc này: làm thơ, vẽ tranh và chụp ảnh. Thần kinh hệ của chàng hình như không còn thích hợp cho việc gì khác, thậm chí là lái xe, một việc tối thiểu ở Hoa Kỳ. Ừ, thì chàng không thích “đào bới những bãi cứt cũ”, nên hãy xem hú họa vu vơ cái thứ mới nhất chàng post trên FB (8/8/16) xem nó ra sao:
Ðọc.
chúng ta 
một lũ rớt hột 
hở chút về việt nam- tìm 
ấy  
tôi vẫn nói thế 
do  
(lúc đấy!) có thể không nghĩ ra 
ý gì mới
dù- như nào  
bầu trời trong mắt  
có chùng thấp hay cao  
rộng
với tôi 
– chung quanh  
luôn độc một màu xám 
từ tro
hễ bày bố
là cố tình 
loay hoay- tôi 
vẽ đi/ vẽ lại một con rắn (cũng màu xám 
từ tro 
nốt!)
hiện sương đầy trời 
nom- giống tàn 
đóm 
nhang/ đèn
từ cuộc tống táng 
  
dâu bể  
lãng đãng bay 
… 
lúc đầu rỗng 
thì chữ 
dẫu chỉ dăm chữ 
để viết xuống (ngay lúc này!) 
nghĩa không nhất thiết  
đi đôi nhau (giữa con rắn và chúng ta
một lũ rớt hột!) hở chút  
về việt nam- tìm 
tìm quái gì chứ? ngã ra  
còn nghĩ/ nắm- chi được 
hử
wow 
khi không hồn 
vía 
thoát- tôi  
cắp khuôn mặt thị lộ 
dàu dàu  
vụt về hướng côn sơn
ôi cha 
suốt đêm  
nhắm mắt liền thấy 
tôi- kẻ giải oan cho nguyễn trãi 
chứ chả ai khác 
từ giờ cho tới 
  
lịch sử  
khép lại. 
… 
vương ngọc minh
Kiểu thơ này VNM đã làm chắc rằng không dưới nửa ngàn bài. Vì chàng cứ đều đặn, hàng ngày. Quái lạ, chàng viết nhiều như thế mà chưa ai viết gì về thơ chàng! Quái đản, là có những người thấy cái hay ở bài thơ “Con cóc” trong dân gian mà lại không thấy thơ VNM hay! ĐM! Trước hết, thoáng qua mà nói ta thấy sự khá đồng điệu giữa thơ VNM nói chung, bài này nói riêng, với dòng “thơ mông lung” khá ồn ào bên Trung Quốc và có không ít ở Việt Nam. Thậm chí, “tính mông lung” đã rất bị lạm dụng trong các nhà thơ đình đám trong nước thời gian qua. Và, thú thật, chỉ với VNM, ta mới thấy hết muôn vẻ của kiểu thơ này. Rõ ngay, đó là không gian lập thể hóa, để tạo nên được sự đa nghĩa, liên tưởng nhiều chiều, với những liên văn bản đan cài. Chỉ cần đọc lên mươi chữ, ta đã thấy sự áp chế không gian thơ của trực giác, rồi sau đó là những ào ạt ngôn từ bật ra từ vô thức, với một chút hữu thức của hiện sinh. Gam màu xám (ôi, những “tro” những bụi buồn thê lương hoang hoải của đời sống đương đại; những “con rắn”, minh tượng của trí tuệ, nay cũng bợt bạt lợm nhược, ôi chàng, kệ má lịch sử đi…) bao phủ hầu khắp bài thơ này khiến nó gần gũi với thơ mông lung Trung Quốc, tuy nhiên, nó không bị đẩy quá xa khỏi trường ngữ nghĩa như các đồng nghiệp bên Tàu. Song hành, ta còn thấy tinh thần “thơ vụt hiện” thật là phóng dật… Đó là một số điểm gợi trong nhiều người đọc (hâm hâm) những đặc tính quen thuộc. Thế nhưng, những điểm HAY và MỚI trong thơ VNM thì chắc rằng nhiều người thấy, chỉ không ai chịu nói ra. Nào là “nhịp, phách” của chàng rất lạ, vừa đỏng đảnh, vừa bộc trực, vừa bất chấp, vừa tinh tế. Nào là tính “trơ” của từ vựng được VNM thể hiện thật thoải mái trong thơ mình. À vâng, có thể đặc tính này sẽ khiến khá đông người quen thói với “thơ du dương” khó gần thơ chàng. Kệ đi, tôi thấy rất hay. ĐKM! Cái hay của thơ chàng, với tôi, thì tương tự như xem tranh của những danh họa “quái vật” chuyên môn vẽ “tranh xấu” như de Kooning, Pollock, Rothko, Dubuffet, Breton, Ossorio của dòng “Art Brut/Primitivism”, hay như gã Basquiat vẽ tranh như thằng thần kinh mà giá tranh hàng mấy chục triệu đô. VNM cũng là một họa sỹ (tuy nhiên, trong lĩnh vực này thì chàng vẫn có xu hướng vẽ tranh đẹp, kiểu “Ab Ex” Hoa Kỳ, vì hồn chàng “nên thơ” lắm). Tôi ủng hộ VNM viết nhiều nữa những bài thơ kiểu này. Nó dường như thô cứng, dường như rất công nghệ, dường như lạnh lùng, dường như vô cảm, dường như hóc búa (hay “hóc xương gà”), dường như dằn dỗi, dường như trần trụi, dường như căm hờn, dường như lạc lõng… Nhưng, tất cả những cái “dường như” đó lại vô cùng xác tín, lột tả được hết cái THỜI mà chúng ta đang sống, nhất là cái đời sống tâm thức đầm lầy Nam Việt và cả chốn Hoang Dã Tây. Tôi thường thèm đọc những bài thơ như thế!
Thưa quý vị!
Xu hướng rất phổ biến trong thơ VNM là lối “tân hình thức”. Đơn cử, đây là một bài rất tân hình thức chàng viết tặng tôi cùng một bức tranh:
Giềng Mối Giữa Tôi  
và Nhà Thơ!
.. tặng đặng thân.
hôm nay ấm ớ tôi  
ra ngồi trong một không  
gian có thứ thời gian  
trôi cực chậm đầu kề 
  
chỗ sinh phần bứt bụng  
ra cho tách xa hẳn  
hai chân hai tay i 
chỗ cũ nhưng giờ thì 
đã hết sức lỏng lẻo  
tóc rũ dài quá vai  
trong một không gian có  
thứ thời gian trôi cực 
  
chậm bọn đạo tì túc  
trực sẵn đứng chống nạnh  
ngó dáo dác chờ tôi  
mà mạnh dạn hô lên
chúng sẽ vung xẻng lấp  
huyệt bọn thương vay khóc  
mướn có mặt từ đời  
nào trong một không gian 
  
có thứ thời gian trôi  
cực nhanh hết khóc ủ  
dột chúng lại mạnh dạn  
cười toe đếm “một hai 
  
ba ra cái gì..” hai  
mắt tôi treo trên đọt  
cây sào chốc chốc phóng  
nhìn sao trong một không 
  
gian có thứ thời gian  
trôi cực nhanh thình lình  
chiếc miệng mở đếm “một  
hai ba ra cái gì..” 
cùng lúc cũng thình lình  
hai chân vụt đứng dậy  
mặc dù hết sức lỏng  
lẻo (kiểu tiến thoái lưỡng 
  
nan!) quả tình tôi chả 
biết hai chân vụt đứng  
như vậy để làm gì  
nữa (!) cuối cùng trong một 
  
không gian có thứ thời  
gian trôi im ỉm tôi  
điều khiển đầu trút xuống  
hít hà cuộc đất đoạn 
  
vòng tay che chắn hết  
mặt chẳng hiểu gì cả  
phải không? một người làm  
thơ lúc nào cũng ấm 
  
đầu vào một ngày ấm  
ớ ra ngồi trong một  
không gian có thứ thời  
gian trôi cực chậm thử 
  
hỏi … 
.. 
vương ngọc minh 
clip_image003
ngày 8 tháng 3, 2015. 
acrylic mix bút lông trên giấy
.
Quả thực, VNM làm thơ như dị hóa. Những lối “thơ mới” này được chàng ưng vì nó nói lên được cái “tâm thức hậu hiện đại” trong lòng chàng, giữa đằng đẵng Hoang Dã Tây. Tân hình thức là một cuộc chơi có lý, phần nào nó chung tay giúp văn chương Việt vượt ra khỏi cái lối thơ đầy “tình tủn mủn” và vần vè kiểu “ve kêu” dãi dặc thê lương, đã ám quẻ tâm tình người Việt suốt nhiều trăm năm, nay lại được đám “mậu dịch quốc doanh” và lũ thờn bơn “ma zde in Việt Nam” đông như kiến cỏ suốt ngày chăm ấp vỗ về mà nôn ra những đống chữ nhảm nhí, vô cùng phản động và kinh tởm, khiến cho người đọc có chút lòng với từ chương hễ thấy thơ của đám ấy là lợm mửa. ĐKM!
“Thơ Tân hình thức Việt dùng lại các thể thơ Việt, thêm những yếu tố như vắt dòng, lập lại, tính truyên và ngôn ngữ đời thườngVắt dòng vừa giữ cho bài thơ đúng hình thức của các thể thơ, vừa có tác dụng vắt ý tưởng từ dòng này qua dòng khác. Tính truyện có nghĩa là nối kết những ý tưởng với nhau, không rời rạc như trong thơ tự do, và cũng có nghĩa là kể truyện. Ngôn ngữ đời thường, được hiểu như đưa cách nói đời thường và dùng ngôn ngữ thông thường, để diễn đạt cuộc sống. Người làm thơ thay vì phải bận tậm tới những chữ bí hiểm, khó hiểu, có thể chú tâm tới việc tìm kiếm ý tưởng và nhịp điệu mới. Ba yếu tố trên cùng với kỹ thuật lập lại, phối hợp thành nghệ thuật thơ Tân hình thức Việt. Tuy nhiên, kỹ thuật lập lại, là yếu tố chủ chốt, hình thành nhịp điệu thơ, và làm lúng túng người làm thơ nhất.” [2]
Nhận định đó là đúng luôn với tân hình thức VNM. Không hiểu, khi viết tiểu luận ấy thì tác giả Khế Iêm có đọc kỹ thơ VNM hay không nhỉ? Thỉnh thoảng, VNM còn tung ra những cú “dòng ý thức” thần sầu (trong những bài dòng ý thức chàng viết, tôi rất nhớ chàng có một đoạn tuyệt tác về con lươn, nhưng tôi thì không kịp copy, hỏi chàng thì khác gì hỏi đầu gối vì chàng nói đéo nhớ, ĐM). Đây cũng là một lối thơ tôi rất quan tâm, từng làm, nhưng tôi thấy nó hiện lên trong thơ VNM mới thật là tự nhiên như hơi thở nên quyến rũ vô cùng. Không tìm ra được cái ưng ý nhất, thôi cũng đành trưng tạm (mừng húm!) ra đây một cái dòng ý thức mới nhất (đề ngày 10/8/16 trên FB) rất mang tinh thần “tượng trưng” cùng những cú liên tưởng đột ngột và tài tình:
Đừng có nói vớ vẩn!
đây không còn cảm thấy thoải mái khi đã phải giấu mình như trước kia nữa- nọ nay cũng do chưa dám mạnh dạn bước ra khỏi bóng tối/ thủ một vai quần chúng/ đây cứ nằm rút ở đấy và hết lời khen ngợi/ tán tụng những đứa con- những tưởng chúng- con ngoan (!) vai chính/ nhưng- đây đã lầm/ chúng- thực ra chỉ một lũ vô tích sự/ dư luận viên- hay ngồi ấm ớ xem thường người khác đang dọn dẹp đống chữ nghĩa do chính chúng thải ra- ôi! hãy để ta nói với các ngươi/ các ngươi có biết- các ngươi một lũ con vô công rỗi nghề/ ưa ăn hại/ phá thối- các ngươi làm ơn ấn ta vào vòng tay ấm áp của vòm cây/ hãy để yên cho ta trôi vào kẽ của xào xạc từ các cành lá va/ đập- qua khe hở- các ngươi có nhìn thấy bố các ngươi đứng dưới chụp đèn (có hình cái nón lá) thủ vai người hoà giải các cuộc li hôn/ bố các ngươi- lớn giọng đôi co với dì các ngươi- tại sao lại phải sống trầm lặng như nữ tu/ khi đấy- trước kia ta nằm bất động/ đăm đăm nhìn bóng tối- nên nhớ- nếu sự an toàn này/ sự đú đởn/ thỏa mãn này- bỗng chốc phải chấm dứt? giờ thì/ thôi đi- đây không còn cảm thấy thoải mái với thói đọc truyện lớn tiếng- mặc dù khắp bốn bề hiện rất tĩnh lặng- nhá!
.. vương ngọc minh.
Cái “có một không hai” của VNM chính là ngày nào chàng cũng làm nhiều thơ, hầu như hôm nào cũng có thơ đăng trên các báo mạng uy tín như Tiền Vệ và Da Màu; cùng với những cá tính độc đáo, những tự sự khù khoằm, những nhịp điệu hoang dị… làm nên một sức vóc hiếm có trên văn đàn, cho nên tôi mới khẳng định VNM hiện là đại diện vạm vỡ nhất của văn học mạng tiếng Việt. Còn ai chẳng tin thì tôi cũng chẳng ép; nhưng mà thực tế cho thấy, những ai không tin tôi đều đi đến những sai lầm hơi bị tệ hại.
Thế nhưng, nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc … Đừng nghĩ VNM chỉ yêu đương đại mà quên huyết thống Việt nhân. Nói thẳng ra là chàng chơi “lục bát” hay “bảy chữ” cực kỳ “tám nghề”, ĐM, hay đứt ruột, đập chết bọn gạo cội luôn. Đây, một bài mới cứng trên FB chàng (đề ngày 9/8/16):
minh ngọc vương with khaly cham and 14 others.
Đêm- sương, hoa..
Người rẽ về đâu bên kia sông 
Chiều trôi giạt đám khói lên đồng  
Vẳng nghe lũ quạ kêu thảng thốt  
Ngửa hớp lưng bụng nhúm hư không
Ô hay bóng người dưng thành khói 
Nghi ngút trong bát cơm chiều nay 
Câu bao đồng còn bặt tiếng nói  
Nỗi nhớ xòe mọc đầy hai tay. 
.. 
vương ngọc minh
Bồi hồi, bâng khuâng đến thế là cùng! Cứ “bảy chữ” nhiều nữa đi chàng! Và đây, là mấy câu lục bát mới nhất (đề ngày 6/8/16), chàng buột ra khi nghe “Tình cầm” qua giọng ca Sỹ Phú:
một người cột chặt một người  
vào mỗi tơ tưởng khóc cười trần thân  
bây giờ mỗi một tấc- phân  
có xương đời trước có phần phước sau 
có trầm luân dưới cuống nhao  
có tôi ngồi liếm nỗi đau cuối đời
Đã đời phải không!?! Nữa đi chàng, mấy cái món dân dã này chàng chơi chả thua Bùi “đười ươi” (mà tôi thường gọi “Tuyệt-Tự-Tiên”)! Có điều, đọc Bùi thì cười rách mép. Sau khi thỏa chí với những bài hiện đại rất “công nghiệp hóa” của chàng, những “giai điệu quê hương” hiện lên như những dòng sông mát lành gọi mời ta xuống uống nước và tắm. Trong huyết quản chúng ta luôn thèm những dòng sông ấy. Rất tiếc, chàng chẳng bao giờ công bố trên báo chí những thứ “truyền thống” này. Cũng có thể, tại các trang mạng hải ngoại thường chỉ đăng những bài có tính “cách tân,” mới mẻ.
Thế đấy, VNM đến Hoang Dã Tây nhưng không đi đãi vàng. Người như chàng dễ coi vàng như cứt và cứt như vàng vậy! Hàng ngày chàng thầm lặng đi “đãi chữ”, mỗi hôm được dẫu có là chút vẩy, hay cả cục quặng lớn, thì rồi sau đó chàng cũng quên luôn, coi như vứt luôn. Đại nghệ sỹ là ở chỗ ấy. Hồn VNM cũng có thể là muôn trượng, cũng khả thể là cực chập cheng, chỗ ấy.
VNM mê ỉa (nhất là ỉa ra thơ), cũng như toàn thể nhân loại. Có điều, đa phần thiên hạ đều giấu diếm, hơn cả giống mèo; chẳng được công khai thẳng thắn tuyên bố như VNM. Họ ghê tởm ỉa, một trong “tứ đại cực khoái” của kiếp người, thì đời còn cái nghĩa lý gì. Định kiến, vô minh, chết tắc trong biện biệt, đấy là họ (đã bảo rồi, “phân tích cho lắm thì chỉ tổ tích phân nhiều”). Nên thấu đáo rằng, chỉ cần thỏa mãn tứ đại cực khoái, mọi con người (viết hoa) đều có thể tự hào, “yên tâm công tác” mà bỏ qua các loại “tứ” khác, kể cả “tứ diệu đế” hay “tứ trụ”. Tuy nhiên, nhân chuyện VNM mê ỉa, cũng như hầu khắp thiên hạ, tôi xin hầu chàng và các vị câu chuyện ngược lại, ấy là đã có những người từng sợ ỉa, hãi ỉa, không dám ỉa, sống ở thời “tập trung bao cấp” tại nước Việt Nam “thiên đường XHCN”. Mới cách đây chừng 30 năm, có tên sinh viên đã viết trong nhật ký thế này:
Ai cũng thích ỉa, nhưng chắc chỉ có lũ sinh viên chúng tôi là hãi ỉa nhất. Mỗi ngày được trường cho ăn 2 bữa cơm trưa và chiều, toàn là gạo mục với rau cỏ nên ăn mãi không thấy no. Có mấy thằng xin được thêm cơm để ăn, có đứa nhồi hẳn 5 suất mà chả ăn thua gì sất. Khốn khổ, là những buổi phải đi học sáng. Giời ơi, đã đói, lại không có tiền ăn sáng, ngồi còn chẳng yên, thở còn chẳng ra, nữa là học. Chữ vào đầu làm sao nào được hở giời. Nhưng vẫn chưa là khốn nạn nhất. Khốn nạn hơn là những đứa có thói đi ỉa đêm. Hỡi ôi, hôm nào mình ỉa đêm là coi như đêm hôm đó khỏi ngủ. Đói quằn quại, đói dí bụng vào xương sườn, xương sống. Những hạt cơm cứ lởn vởn trong đầu, mỗi hạt cảm giác cứ to như hạt lạc. Lúc ấy mà có bọn nào đó kiếm được gạo nấu cháo, bẻ giát giường, phên liếp ra đun nấu, mùi cháo theo gió bay lởn vởn, thì giời đất quỷ thần ơi, bọn ấy còn ác hơn các cai ngục Côn Đảo hay trại tập trung phát xít. Cái kiểu tra tấn ấy còn khủng khiếp hơn thời trung cổ.
Thực tế cho mình thấy, tầm ỉa tốt nhất là trước bữa cơm trưa, hoặc trước bữa chiều, để sau đó được ăn bù ngay. Cho nên mình đã cố rèn luyện để đi ỉa vào đúng tầm thời gian ấy. Khốn nạn thay, chả mấy khi trời chiều lòng người, khi mà cơn buồn ỉa quái ác xuất hiện rất lung tung. Nhiều khi phải cố mà nhịn, chờ cho đúng “thời cơ cách mạng” mới cho ra, mà cũng rất ít khi ép nó được. Tối nay cũng thế, cơn buồn ỉa khốn kiếp lại hào phóng xuất hiện tới 2 lần. Giời Phật ơi, Đảng Bác Hồ ơi, 1 phát lúc 6h chiều, 1 cữ lúc 11h đêm thì con còn biết phải làm gì với cái bụng cho đến tận 11h trưa hôm sau? Đành cố gắng gượng viết vài trang nhật ký này, mong át đi cơn quằn quại chết chóc của cõi lòng, cho mai sau biết thế nào là thời thiên đàng ưu việt.
ĐKM! Kể chuyện này, cũng để cho VNM biết chàng chưa đến mức phải “liếm nỗi đau cuối đời” ở Hoang Dã Tây đâu hị. Giờ thì xin trở lại với văn chương của chàng trong bối cảnh “văn chương di dân” hay là “văn học lưu vong”.
Chàng trai Sài Gòn VNM vượt biên từ năm 1980, đã nhập quốc tịch Mỹ. Đã 36 năm xa xôi, nên văn chương chàng còn được xếp vào dòng “lưu vong”. Trong mấy chục năm qua, người ta cứ loay hoay phân chia các loại văn học Việt, khá nhức nhối.
Quả thật, đã có sự phân rã trong văn học Việt sau năm 1954, thành “văn học Miền Nam” và “văn học Miền Bắc”. Trong đó, văn học Miền Nam vừa kế thừa được thành tựu trong quá khứ lẫn tiếp thu được mọi thành quả của các phong trào văn hóa lớn trên thế giới, cho nên đó là một dòng văn học chững chạc, nhiều thành công. Sau 1975, phần lớn các đại diện của dòng này đã ra nước ngoài, cùng với một lực lượng viết trẻ hơn đã hình thành nên cái gọi là “văn học lưu vong” hay “văn học hải ngoại”, mang tính kế thừa không nhỏ từ dòng văn học Miền Nam.
Sau 1954, “văn học Miền Bắc” được gọi là dòng “văn học hiện thực XHCN”. Dòng này bị áp lực phải “công nông binh hóa” nên xa rời thành tựu của văn học Việt trước đó. Nhãn kiến của dòng này có thể ví như tình cảnh “con ngựa già của Chúa Trịnh” (tên một truyện của Phùng Cung viết năm 1956), chỉ nhìn được một hướng. Dù ở thời gian đó, nhiều trí thức phía bắc cũng nhận thức được mọi vấn đề, nhưng chỉ là những tiếng nói rì rầm, nhất là sau khi Văn Nhân Giai Phẩm bị đánh. Văn chương “phản kháng” sau đó cũng có, nhưng chủ yếu chỉ tồn tại dưới dạng dân gian truyền miệng. Sau 1975, phần lớn văn giới phía bắc đã hiểu được phần nào thực tế cuộc sống và văn hóa chung trên thế giới, mà Miền Nam may mắn được hưởng trong 20 năm. Đến 1987, khi báo Văn Nghệ đăng bài “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”[3] của Nguyễn Minh Châu, thì có thể khẳng định, văn hóa và văn học Việt Nam đã thực sự thống nhất. Tuy nhiên, từ tri đến hành là một con đường rất dài. Trót kiếp “ngựa già” (hay thậm chí là “chó già ưa dùi nặng”) nên phần lớn cũng chẳng nghĩ hay viết được cái gì mới, vì thế đa phần đám phía bắc vẫn phải “cúng cụ” kiếm sống (cho đến hết thế kỷ 20). Trước khi chết một số vị cố viết vài lời sám hối, tự ỉa vào mặt mình, nên nói chung vẫn là đê tiện. Suốt thời gian dài trì trệ, hãm tài, dốt nát, văn giới phía bắc cũng chỉ có ít người có đột phá sáng tạo chun chút. Đọng lại cũng chỉ vài cái tên. Một Nguyễn Huy Thiệp “bạo động về ngôn ngữ” (lão tự nhận thế)[4] nhưng dựa trên phong cách chơi đồ cổ, ưa “tải đạo” lẩm cẩm; một Phạm Thị Hoài sắc sảo, chảnh, kiêu bạc, lai căng; một Bảo Ninh lĩnh một số giải thưởng nước ngoài (thiết nghĩ, mỗi lần ổng lĩnh thêm một giải thưởng ở bên ngoài thì văn nhân Việt nên thấy thêm một lần nhục, vì chẳng hiểu sao mà “nước ngoài” họ lục mãi vẫn chẳng thấy gì khác ngoài Nỗi buồn chiến tranh – thường được coi là một thứ copy Remarque nhưng với giọng lưỡi phản biện nhảm của “bên thắng cuộc”). Chỉ có từ khởi đầu thế kỷ 21 trở đi, toàn thể văn học Việt mới thực sự cùng chuyển mình, vừa âm thầm vừa dữ dội, vươn lên từng bước trên cái phông nền chung có tên ngu dốt (thậm chí, nhiều vị cỡ “GSTS” hiện nay còn bị nhà phê bình Lã Nguyên coi là “chết não”, thì huống gì đám phu chữ đã hôn ám lại còn hám đủ thứ).
VNM đi ra hải ngoại sớm, mang ảnh hưởng từ dòng “văn học Miền Nam”. Chàng thuần thành với “văn học lưu vong”, vì chàng không sáng tác bằng tiếng bản địa như đám Monique Truong, Linda Le, Nam Le, Viet Thanh Nguyen… (những người gặt hái đầy những giải thưởng danh giá, mang lại tự hào to lớn cho người Việt, nhưng rất tiếc, họ đếch phải là “văn học tiếng Việt”), cũng vì chàng suốt quá nửa đời người, 36 năm nay, chỉ cảm nhận thực thể Việt qua báo chí và lời kể của bạn bè, và chàng chỉ viết bằng tiếng Việt. Cây đã trồng khác chỗ, VNM là lưu vong trọn nghĩa vậy. Đội hình văn học lưu vong chắc chắn làm thành một bộ phận của văn học Việt. Họ có thế mạnh không nhỏ, nếu không muốn nói là rất lớn. Những đại diện như VNM hay Đinh Linh rất rành tiếng Việt, đã thế thế giới họ sống lại đa ngữ, cho nên cái tiếng Việt của họ được va chạm, “trột mầm” lên những góc cạnh mới, đem lại khoái cảm mới cho tai Việt, đồng thời giúp cho những chỗ ao tù trong nước đỡ tù đọng. Có thể ví văn học lưu vong như phở “xe lửa” to như cái chậu; có khi thêm cả tiết, lòng, sụn, giò, xương; lại thường có cả rau húng, ngò, giá đỗ. Tuy nhiên, trong đám lưu vong ấy cũng có nhiều thứ xí xọn. Ấy là, có những người được gọi là nhà thơ nhưng điểm ra thì thơ thẩn không quá năm đầu ngón tay; có những nhà phê bình văn học chưa hề viết nổi một tiểu luận để phê bình tác phẩm hay tác giả nào (kiểu gần giống mấy trường hợp trong nước, những tưởng loại này chỉ có trong cánh văn nghệ của những nền văn hóa thối nát), nếu năng lực cảm thụ kém thì nên nhận mình là người khác đi chứ, thiếu gì việc; có những kẻ phát ngôn càm ràm, thiển cận, hoang tưởng, huênh hoang, đố kỵ, phân biệt chèn ép hẹp hòi nam-bắc ngoài-trong…
Văn tài giữa bắc-nam trong-ngoài, xin hậu xét hơn thua. Nhưng hình như, he he, là cánh văn nhân phía nam ăn đứt cánh phía bắc về mặt VĂN ĐỨC. Về mặt này, ngoài bắc không ai ngoài mỗi Dương Tường là dám tự nhận mình có.[5] ĐM. Tại sao văn đức phía bắc kém thì chắc rằng nhiều người cũng tự hiểu, còn viết ra thì tốn giấy lắm. Quan sát từ xa, tôi thấy văn giới phía nam, và hải ngoại, dường như trân trọng, nâng niu tài năng, con người và tác phẩm của nhau lắm. Ôi, họ gặp nhau thấy mới đằm thắm làm sao. Xin nói tiếp từ trải nghiệm cá nhân của tôi thế vầy: Trước đây, tôi vốn dĩ toàn bị các tòa báo trong nước vứt bản thảo vào sọt rác, nên không có động lực viết. May nhờ có internet, nhiều trang báo mạng nổi lên. Từ 2004 tôi bắt đầu gửi bài, và trời đất ơi, mọi bài vở của tôi đã được các tòa báo “ngoài luồng” ấy đón nhận và chăm sóc mới chu đáo làm sao. Những là Hợp Lưu, talawas, Tiền Vệ, Văn, Thơ, Gió-O, Tân Hình Thức, Da Màu… Nhớ những khi trao đổi thật chi li với nhau hàng chục bức email cho mỗi bài viết với nhiều biên tập viên của talawas, nhớ bao đêm giao ban/lưu cùng chủ bút Hoàng Ngọc-Tuấn của Tiền Vệ, nhớ những trao đổi bài vở chân tình với cố nhà văn Nguyễn Xuân Hoàng của tạp chí Văn hay quái kiệt Đỗ Kh. của tạp chí Thơ, rồi là thi sỹ Khế Iêm của CLB Tân Hình Thức hay văn sỹ Sao Mai của Wordbridge và The Writers Post…. Cả một đận dập dìu, nay sao cứ tản mát đi đâu, dễ chỉ còn Da Màu là chuyên chú văn nghệ?
VNM là một trong vài người hiếm hoi ở hải ngoại khen văn tôi lắm, khích động tôi viết cái này cái khác. Chàng nói đọc truyện tôi mà cười rung xe bus, khiến cả xe tưởng chàng điên. Và ngay lập tức họa sỹ VNM đòi vẽ chân dung tôi. Nghe lời mà mừng nên cũng gửi cho chàng vài cái ảnh làm mẫu, và kết quả sau đây là bức chân dung đầu tiên chàng vẽ tôi, hoàn thành vào 22/9/11:
clip_image005
Oh my God! What the fuck is this? Cái lề gì thốn? Chân dung tôi đây ư? Tôi đã từ ngạc nhiên đến shock, rồi sướng tê người. Thôi thì để các nhà chuyên môn, các họa sỹ, góp ý kiến trước (trích FB):
Hoa Hoa:
Như một hạt ngọc trai đang được hình thành.
Khánh Sinh Từ:
Hố Trời…!!! Đẹp một cách trừu tượng.
(Cánh cửa đầu tiên của mỗi mầm sống bước ra, (của Mẹ!)…!) và cả như… một tế bào Gốc của sự sống tồn tại trong mỗi chúng ta….!!!!
Trần Minh Hương:
Tư thế tĩnh để tư duy toả sáng! Một góc nhìn độc trong một bức tranh đẹp lạ!
Sỹ Hà:
Đẹp!
Hoàng Định:
Tôi nghĩ Dang Than còn huyền bí hơn nhiều. Đầy bí hiểm không lộ hết.
Phạm Quốc Tuấn:
Kiểu mở Bách Hội rồi…
H.N.: 
Kiểu cờ đỏ sao vàng ý, có gì đâu mà bí với chả mật!!!
Thiết Phan:
GỌI NGƯỜI.
Khởi bày 
biện chân  
dung Chúa 
khuôn sắc hạt  
trái cấm  
dung cùng dị 
Dang diện Than 
Adam Eva xơi  
phàm 
mặt hào 
quang thế giới  
gọi  
Người…!!!
Thật là cao xa đầy mỹ ý, xin cảm ơn! Ha ha… Còn nhiều bình luận rất hay của các văn nghệ sỹ, nhưng thôi, sẽ để dành cho các bài khác vậy. Còn đây, là cuộc trao đổi giữa tôi và họa sỹ VNM về bức tranh:
Dang Than:
Trời! Tuyệt tác!
Sau đây là những ý tưởng bật ra từ bức tranh:
– ĐT là 1 núi lửa.
– Lửa phụt ra từ cửa Huyền Tẫn (như ý của Lão Tử).
– Rực rỡ đúng như cái âm hộ chuẩn mực nhất của các đại quý phi Trung Hoa (như có sách kể là thơm như hoa, đỏ như hồng ngọc, và lúc nào cũng như có một luồng lửa chực phụt ra).
clip_image001[8]
Minh Ngọc Vương:
mẹ, như vậy thì bức tranh đấy là chàng rồi còn gì, tôi cứ loay hoay nghĩ tới lúc vẽ nó đấy.
Dang Than:
bác thích ý nào?
Minh Ngọc Vương:
nói chung, ý nào cũng thích, có cảm tưởng bấy giờ ý tôi như vậy đấy.
clip_image001[9]
Dang Than:
Kinh hãi!
Thật đúng với miếng “võ” mà Nã Phá Luân bầy cho một danh họa về vẽ chân dung, ĐM. Không chỉ đúng với vẽ chân dung, quan điểm nghệ thuật của bậc cái thế ấy còn đúng với hội họa đỉnh cao, cả hiện thực lẫn trừu tượng. Đây, thế này:[6]
Napoleon:
Giống? Không phải sự chính xác của nét mặt, hay cái mụn cóc trên mũi làm nên sự giống. Tinh thần mới là cái cần phải vẽ…
Jacques-Louis David:
Bằng nhận định này ngài đã dạy tôi nghệ thuật hội hoạ.
Thật đúng cái tinh thần của kẻ mê đụ! ĐKM! Vẽ chân dung mà lại thành ra cái lồn đang nhả ngọc phun châu! Chịu chàng. Cái nền nâu của bức tranh còn đem đến cho tôi một thăng hoa tột đỉnh khác, tại sao thì đó là một bí mật. Quả thật, tôi thấy VNM cứ như đụ ra tranh. Chàng ghiền đụ đã đành. Có khi đang vui chuyện, chàng chợt nhớ ngay tới người phụ nữ tuyệt vời gốc Hà Nội chàng đang se tơ cùng: “Trưa nay, ngủ dậy thì nàng đang bương chảy, thèm.” Có buổi, đang nói chuyện cùng chàng rất say, rất vô, thì chàng chợt ngưng:
Minh Ngọc Vương: khà khà, bên ngoài, nắng vừa lên, 
thôi bye nghen, đi đụ đây!
Dang Than: ố kề 
đụ giữa trưa thế à
Minh Ngọc Vương: bất kể chàng, hễ nứng là đụ.
Chàng say tình suốt bốn mùa. Không chỉ mê đụ, chàng còn quan tâm đến cái sự đụ của thân hữu. Tháng Giêng năm ngoái, tôi du xuân Miền Trung. Đêm đến Đà Nẵng, tôi buông lèo cái “tus” nhảm lên FB: “Đi đâu cũng thấy bồn chồn; Nơi nao cũng chỉ thịt lợn là hơn.” Chàng vồn vã quan tâm ngay: “Chà, ĐT, lồn là tuyệt thế anh minh ân phước, thế đêm nay chàng có ăn thịt lồn chứ?” Sốt sắng đến thế là cùng, ĐM. Tuy nhiên, kẻ mê đụ này không chỉ bị thần lồn ám. Cụ thể thì VNM đã vẽ cho tôi một bức chân dung thứ hai (7/14), một tuyệt phẩm, như nữ họa sỹ có tiếng Nguyễn Lan Hương đã thốt lên: “Đỉnh cao bất thần về trạng thái cảm xúc của nghệ sỹ!” Nhưng, thú thật là, chẳng giấu gì các bác, trông cứ như cái dương vật:
clip_image007
Bức tranh này rất đặc biệt với tôi. Nhìn tranh tôi cứ nghĩ vẩn vơ, giá như loài người có dương vật mọc giữa trán thì tuyệt vời biết bao! Thế giới sẽ vạn lần văn minh hơn; con người sẽ chân thực và đạo đức hơn gấp ức triệu lần! Sẽ gần với thánh thần. Nếu có tên người nào mặc quần áo (gốc của mọi thủ đoạn chính trị bịp bợm nhất) sẽ bị coi là phạm tội khiêu dâm, tội âm mưu phản loạn, tội quỷ ám, tội chống lại loài người. Thứ nữa, tôi và họa sỹ Phan Nguyên có chung ý muốn xúc tiến và xiển dương lối vẽ bằng cà phê, mà bức này là VNM vẽ bằng cà phê trên giấy láng! Nhìn bức tranh, Phan Nguyên mừng: “Hay đó bạn hiền, mình bay chung một chuyến!”
Thật đúng là VNM ỉa ra thơ, đụ ra tranh. Thơ chàng, thì nói rồi. Họa chàng, thì đành mượn bút Mao Trạch Đông tả Vũ Di Sơn:
直指武夷山下 
山下山下 
風展紅旗如畫
Trực chỉ Vũ Di Sơn hạ 
Sơn hạ sơn hạ 
Phong triển hồng kỳ như hoạ
để tả đường cho mọi người tìm Vương Ngọc Minh vậy:
Trực chỉ Cựu Kim Sơn hạ 
Thiên hạ thiên hạ 
Minh triển hồng họa như kỳ
Thưa quý vị!
VNM đã unfriend tôi trên FB từ năm ngoái, chả rõ lý do. Chắc rằng chàng đã bị bọn xấu bụng nào đó xúi giục, chứ tôi với chàng thì chẳng hề có hục hặc gì, ĐM. Cũng xin nhắn chàng rằng trên cõi thế gian, nhất là loài Giao Chỉ, dù ở bất kỳ đâu, cái lũ vừa ngu xuẩn vừa đố kỵ lại còn thích huếnh hoắng có mà đầy rẫy. Quả là “đa thư loạn mục”, đám mọt sách nhảm nhí thường vô tình hay cố ý trở nên đê tiện lúc nào không hay. Việc ấy cũng thể hiện chàng rất là “nghệ sỹ tiểu tư sản” he he, ĐKM, dễ bị lôi kéo, lập trường bấp bênh. Chàng còn bấp bênh ở chỗ đã unfriend rồi mà đôi khi vẫn vô like bài tôi, làm tôi cứ bồi hồi. Khuyên chàng, giờ đã lên lão rồi, nên vững vàng độc lập hơn nhé. Ví dụ, đã unfriend thì đừng add friend lại nữa. Chỉ duy nhất mong chàng luôn post bài ở chế độ “public”, để tôi, cùng toàn thể những người yêu thơ và tranh/ảnh VNM, được thỏa, được hả. Ô mà sao không bao giờ thấy chàng cười, cả trong đời lẫn trong thơ?? Đời chàng đau khổ nặng nề đến vậy sao. Kệ hết cả đi, hãy vén môi lên chàng.Cám ơn chàng đã sinh ra trên cõi đời này, happy birthday lão tướng Vương Ngọc Minh!!
12/3/14 – 8/16/16

PHỤ LỤC:
Một số bài thơ mới nhất của Vương Ngọc Minh (nhặt hú họa trên FB)
8/8/16
Về Đàn Bà.
thực vậy- không những 
các bà (chỉ đi/ lại 
qua quýt!) 
ngay cả các bà 
thân thích- tỉ như: con gái 
mẹ 
nguyên đống cháu 
chị
hễ nhắc tới tôi 
hết thảy họ 
đều hết mực tỏ bất đồng 
bất như ý 
cãi nhau lia chia
đối với họ 
ở đời này 
tôi luôn là kẻ 
chẳng làm nên trò trống 
tích sự gì 
– ngoài làm thơ
họ còn lườm lườm- bảo 
trong thơ 
đàn bà dứt khoát không được tôi tôn vinh 
dẫu một chữ 
kín đáo 
tỏ cho thấy 
có 
tôn kính họ
chao ôi 
nghĩ lại- chuyện đầu thai 
chào đời 
của tôi 
quả lộn xộn/ rối rắm
tại sao tôi không đầu thai ra 
đời 
nơi một phương nào đấy 
cực lạc 
chẳng hạn- mà lại đời này (!)
hễ dong thuyền ra khơi 
thì đáy thuyền lập tức thủng 
lỗ to
rượu nốc/ thịt 
nuốt- miết 
chán cả mồm 
tôi nói bình minh họ cãi 
hoàng hôn
pháp chia đại việt thành ba miền 
có lí của họ 
giặc tràn xuống đánh miền bắc 
dân miền trung 
bình chân như vại
giặc đánh miền trung 
dân miền nam còn ca vọng cổ
có quá lắm không? 
dẫu sao- tôi- ngang ngửa nhơn tài 
chứ nhơn vật 
thì quá ư tầm thường
thử hỏi 
không đau đớn sao được 
giáp mặt nhau (chỉ với đàn bà) 
lập tức loạn cả lên 
chia tay rồi- họ còn 
giơ cao tay 
giá giá
như thể tính xáng cho tôi 
bạt tay 
nẩy đom đóm! 
… 
vương ngọc minh
7/8/16
…"

quả tình tôi rất 
bực bội 
cái tính mặc quần 
áo- khá lâu 
của cô
– thường
trong lúc như thế đầu tôi 
trống rỗng 
và tai cứ nghe- từ mùa 
tiếng "ui ui" khi to 
khi nhỏ 
cực rối trắm
thử xem- bốn mươi 
năm hơn 
đã trôi qua 
tôi còn biết đếch gì về 
mảnh đất ấy
– không sao cả! cô bảo
nghe 
tôi đã phải giấu mình 
dưới tấm khăn trải bàn nhưng 
quái 
thế- tôi lại thấy thực rõ 
vẻ lãnh đạm
trì độn/ trong cái cách 
mặc quần 
áo 
của cô
phấn hương 
và thời gian- vẫn cất cánh 
(chả cần sân bay!) 
mọi thứ rối tung
chúng ta sống- trao đổi 
bằng cách nhắn tin 
(chat) 
là chính
hiện giờ 
cái cách cô mặc quần 
áo 
nom- bao giờ tôi cũng phải thốt 
kêu "tối rồi
tối rồi 
kiếm cái gì- đậy- chống lạnh!" 
.. 
một lần (sởn da gà!) 
tôi nhìn 
phấn hồng 
trên thân cô rơi ra- nắm
nắm! 
.. 
vương ngọc minh
5/8/16
Sự thật.. là.
em còn sống và tôi chưa chết 
ngày ngày chúng ta đụng mặt xây xẩm- ngó nhau 
những bất trắc/ tai ương nhẫn tâm thành chuỗi kết 
vào ánh trăng ủ dột để em nhìn thấy tôi dầm nơi tầng tầng máu 
bỏ đi thời xuân chúng ta không ngớt kêu- hồ như.. hồ như 
rồi em vẫn sống như tôi chưa chết 
cuộc tồn sinh này dằng dặc mỗi một thứ 
nghi nan- mà lời phù chú rầm rì.. rầm rì.. theo áo cơm bê- lết.. 
.. 
vương ngọc minh

[1] “Hoang Dã Tây” là cách dịch của một đứa bé (Đặng Khải Minh, khi chừng 7 tuổi) cho “the Wild West”. Tôi thấy cách dùng từ này xác đáng, hơn hẳn các kiểu dịch khác của các dịch giả gạo cội.
[2] Khế Iêm, “Nhịp điệu thơ Tân hình thức Việt trong tiến trình sáng tác”.
Nguồn: http://tapchisonghuong.com.vn/tin-tuc/p0/c7/n21965/Nhip-dieu-tho-Tan-hinh-thuc-Viet-trong-tien-trinh-sang-tac.html
[3] Xem: http://phebinhvanhoc.com.vn/hay-doc-loi-ai-dieu-cho-mot-giai-doan-van-nghe-minh-hoa/
[4] Xem: http://tuoitre.vn/tin/tuoi-tre-cuoi-tuan/van-hoa-nghe-thuat/20150609/nha-van-nguyen-huy-thiep-toi-viet-truyen-tuong-ve-huu/757242.html
[5] Xem: http://laodong.com.vn/van-hoa/dich-gia-duong-tuong-dung-la-chet-56231.bld
[6] Xem: https://nguyendinhdang.wordpress.com/2013/10/16/danh-hoa-va-danhtuong/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Gió ngược mang ô nhiễm đến Bắc Kinh trong Đại hội Đảng


Lính canh bên ngoài Đại sảnh đường Nhân Dân, trong ngày khai mạc Đại hội Đảng Cộng Sản Trung Quốc 18/10/2017.

Tuy đã cấm các nhà máy và nhà hàng trong khu vực hoạt động để giữ cho bầu trời Bắc Kinh được xanh trong vào dịp Đại hội Đảng lần thứ 19, nhưng một làn gió ngược từ phương nam từ hôm qua 20/10/2017 đã mang đến những đám mây ô nhiễm, làm hỏng mất ngày đại lễ long trọng của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
Trong bài diễn văn hôm khai mạc 18/10, tổng bí thư Tập Cận Bình đã hùng hồn tuyên bố :« Cần phải chận đứng nạn ô nhiễm ngay từ gốc, tiếp tục đấu tranh chống ô nhiễm không khí và giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu cho một bầu trời xanh ».


Cả 2.300 đại biểu đồng loạt vỗ tay hoan nghênh nhiệt liệt. Nhưng bên ngoài Đại lễ đường Nhân Dân, tỉ lệ vi phân tử độc hại (có đường kính dưới 2,5 micron) đo được từ hôm qua đã vượt quá ngưỡng 200, theo công ty AirVisual. Trong khi đó, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) khuyến cáo tỉ lệ này tối đa chỉ có 25.
Nhà cầm quyền Trung Quốc, một trong những nước ô nhiễm nhất thế giới, mỗi dịp hội nghị lớn đều muốn có được một bầu trời xanh trong trên màn ảnh truyền hình. Đến nỗi có lần người dân đặt tên là « màu xanh APEC », do nhờ hội nghị APEC, các nhà máy bị đóng cửa, mới thấy lại được màu trời xanh.

Trong Đại hội Đảng 19, các nhà máy luyện thép ở cách Bắc Kinh 160 km đã bị buộc phải ngưng hoạt động, các công trường xây dựng bị ngưng, thậm chí các nhà hàng bán món thịt nướng cũng bị tạm đóng cửa.

Tuy nhiên cơ quan khí tượng cho biết một trận gió đã ập vào thủ đô, mang theo khói mù từ các nhà máy thuộc ngành công nghiệp nặng của các tỉnh miền nam đến Bắc Kinh. Đám mây độc hại « ô nhiễm ở mức trung bình đến cao » này sẽ tồn tại ít nhất là đến hết cuối tuần.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bùi Tín nói gì về phim:‘The Vietnam War’?




16x9 Image

Bùi Tín

Nhà báo Bùi Tín hiện sống tự do ở Pháp, là một nhà báo chuyên nghiệp, một nhà bình luận thời sự quốc tế, và là cộng tác viên thường xuyên của đài VOA. Ðối tượng chính của nhà báo Bùi Tín là giới trí thức trong và ngoài nước, đặc biệt là tuổi trẻ Việt Nam quan tâm đến quê hương tổ quốc.

Sau khi xem bộ phim dài nhiều tập «The Vietnam War» của 2 nhà đạo diễn Ken Burns và Lynn Novick, tôi thấy có 2 vấn đề cần phản biện vì các tác giả không thể hiểu rõ ràng, đầy đủ về Việt Nam nên đã đưa ra những nhận xét không thích hợp với thực tế.
Trước hết bộ phim tỏ ý tiếc rằng hồi 1945, ông Hồ Chí Minh đã có thiện chí gửi đến 6, hay 8 bức thư và điện cho tổng thống H.S. Truman để kêu gọi sự ủng hộ của Hoa Kỳ đối với cuộc đấu tranh dành độc lập của Việt Nam chống thực dân Pháp. Nhưng đáng tiếc là phía Hoa Kỳ không đáp ứng, sau đó còn giúp vũ khí và tài trợ cho Pháp rồi thay chân Pháp tham chiến ở Việt Nam.
Bộ phim còn nói lên thiện chí của ông Hồ Chí Minh trích dẫn Tuyên Ngôn Độc lập của Hoa Kỳ trong bản Tuyên Ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 ở Hà Nội.
Điều này phản ánh suy nghĩ của nhiều người cho rằng nếu hồi đó Hoa Kỳ đáp ứng lời chìa tay hữu nghị của Hà Nội thì chiến tranh có thể không xảy ra, Việt Nam được độc lập như Ấn Độ, Miến Điện… mà không phải đổ máu.
Cũng theo luồng suy nghĩ này, nhiều người cho rằng hồi 1945, ông Hồ Chí Minh là nhà lãnh đạo theo chủ nghĩa yêu nước, có chú tâm giành độc lập dân tộc, do Hoa Kỳ không đáp ứng lời kêu gọi ủng hộ và kết thân mà ông Hồ phải buộc lòng quay sang tìm sự ủng hộ của Trung Cộng và Nga Xô, ngả vào lòng thế giới cộng sản.
Trên đây chính cũng là lầm lẫn của tôi từ khi ở trong nước, được tự đính chính sau khi nghiên cứu nhiều hồ sơ lịch sử ở Moscow, Paris, London, Washington DC, trong các kho tư liệu của Đệ Tam Quốc tế Cộng sản ở Nga, của «Phòng Nhì» và thư viện Montpellier / Pháp, của Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ…
Ngay từ khi còn ở trong nước, tháng 5/1990, tôi gặp ông Archimede Patty tại lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh ông Hồ ở hội trường Ba Đình, chính ông A. Patty từng ở trong tổ Con Nai của tình báo Mỹ đột nhập Việt Bắc để bắt liên lạc và giúp huấn luyện quân sự bộ đội Việt Minh, cho tôi biết rằng ông không tiếc gì việc lỡ làng mối quan hệ Mỹ - Việt, vì sự thể ắt phải như thế. Theo ông tìm hiểu, hồi đó, tổng thống F.D. Roosevelt và tổng thống H.S. Truman cùng các ngọai trưởng E. Stentinius và J. Byrns nắm rất chắc lý lịch của ông Hồ, qua trao đổi tin tức rất đầy đủ kịp thời giữa tình báo Pháp, Anh và CIA. Từ đầu năm 1945 họ đã thông báo cho nhau rằng ông Hồ là cán bộ quốc tế ăn lương của Quốc tế Cộng sản, được huấn luyện kỹ ở Moscow từ năm 1924, cầm đầu Đảng Cộng sản Đông Dương và sớm muộn sẽ thực hiện chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam, Lào và Cam-bốt.
Năm 1992 tôi cùng nhà sử học Stanley Karnow gặp các nhà ngoại giao Mỹ tại trụ sở bộ ngoại giao, khi trao đổi về vấn đề này, các bạn Mỹ cho rằng cả 6 bức thư của ông Hồ gửi tổng thống Truman đều được nghiên cứu nhưng cố tình không trả lời, vì chả lẽ lại nói rằng chúng tôi đang thực hiện «Chiến lược be bờ ngăn chặn chủ nghĩa Cộng sản» - «Containment Strategy», mà các ông đích thị là cộng sản trá hình, không thể chơi với nhau.
Các bạn nhà báo Pháp, Anh, Đức, Nhật của tôi được trao đổi về vấn đề này cũng chung một ý nghĩ là ông Hồ là con người rất khôn ngoan, nhiều mưu mẹo, rất «già jeu» về chính trị. Ông có thủ thuật «lạt mềm buộc chặt» là thế.
Năm 1945, khi thế chiến II kết thúc, phe xã hội chủ nghĩa theo chủ nghĩa Cộng sản vừa phôi thai ở châu Âu, ở châu Á chưa có nước nào theo chủ nghĩa cộng sản, đảng cộng sản Trung quốc chưa nắm được chính quyền, nên ông Hồ phải che dấu thật kỷ bản chất cộng sản của mình. Ở trong nước số đảng viên cộng sản chỉ có 1 vài nghìn, yếu ớt lắm. Phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930 với các khẩu hiệu cực đoan, bạo động «đả trí phú địa hào, đào tận gốc trốc tận rễ» không được lòng dân, còn gây phản cảm mạnh trong mọi giới.
Ngay từ năm 1941 phong trào Việt minh – «Việt Nam độc lập đồng minh» do đảng cộng sản chủ trương đã dấu kỹ bản chất cộng sản, tất cả các tỏ chức của Mặt trận đều mang tên «Cứu quốc». Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Binh sỹ Cứu quốc, Công nhân Cứu quốc… với tiêu chí giành độc lập dân tộc, không nói gì đến giai cấp và đấu tranh giai cấp.
Cuối năm 1946 đảng cộng sản Đông dương còn giả vờ tuyên bố tự giải tán để cố tập họp các nhân sỹ, quan lại cũ, trí thức tham gia kháng chiến, học đòi thủ thuật của Staline giải thể Đệ tam quốc tế cộng sản năm 1943 để bắt tay với thế giới dân chủ chống phát xít.
Chỉ sau khi nối liền biên giới với đảng cộng sản Trung Quốc đã nắm được chính quyền tháng 10/1949, đảng Cộng sản Đông dưong mới bắt đầu hé lộ bản chất cực đoan phi dân tộc, bè phái của mình, qua cuộc cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp, chống Nhân văn giai phẩm, qua vụ án xét lại chống đảng, thải lọai các nhân sỹ trí thức trong 2 đảng Xă hội và Dân chủ, nắm trọn chính quyền về mình không chia xẻ cho ai, dẫn đến sự thoái hóa, rồi tha hóa toàn diện, phụ thuộc làm tôi đòi cho đảng cộng sản Trung quốc, bế tắc, mất trọn niềm tin của xã hội như hiện nay.
Bài học rút ra từ vấn đề trên đây là Việt Nam hiện nay nếu muốn có nền độc lập chân chính, trọn vẹn, hòa nhập với thế giới hiện đại để phát triển vững chắc mang lại phồn vinh hạnh phúc cho toàn dân, chỉ có một con đường là từ bỏ chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa xã hội mù mờ, từ bỏ con đường chia rẽ dân tộc, hèn với giặc ngoại xâm ác với dân, tham nhũng lan tràn bất trị, hòa nhập trọn vẹn với thế giới dân chủ, thật lòng thực hiện đòan kết hòa giải dân tộc, không có con đường nào khác.
Vấn đề thứ hai cần phản biện là trong cuốn phim và trên các mạng thông tin từng đưa ra con số thổi phồng quá đáng về số quân nhân Trung Quốc có mặt ở Việt Nam trong thời chiến. Có nơi đưa ra con số 320.000, cứ như quân Tàu có mặt khắp nơi để Quân đội nhân dân đổ vào Nam hết. Không có gì gian dối bằng!
Tôi từng ở bộ Tổng tham mưu trong thời chiến. Con số quân nhân Trung Quốc luôn được cập nhật để có các đoàn thăm viếng quà cáp khi có ngày lễ lớn của mỗi bên. Số lựong, tên đơn vị, địa điểm đóng quân ghi rõ trên bản đồ để cho Cục Tuyên huấn hàng tháng cử tổ chiếu phim đến phục vụ bộ đội «bạn,» và đôi khi cử Đoàn văn công quân đội của Tổng Cục chính trị đến múa hát cho bạn.
Phần lớn là các đơn vị phòng không sang để luyện tập, học hỏi kinh nghiệm chiến trường. Khi cao nhất là 22 tiểu đoàn gồm có chừng 140 ụ súng, với quân số từ 8.000 đến 12.000. Họ đóng quân trong rừng, nhà gỗ ở tạm, tránh quan hệ với nhân dân địa phương, xa các thị trấn. Chỉ ở vài tỉnh thuộc quân khu 1.
Còn ở phía Nam sông Hồng, ở các Quân khu 3, 4, 5, 7, 8, 9, vào miền Trung và Nam bộ, - chừng 92% diện tích thì tuyệt nhiên không có 1 quân nhân Trung Quốc nào.
Đây là kiểu thống kê gian xảo của Trung Quốc. Mỗi đợt quân Trung quốc được luân phiên phái sang chỉ 3 dến 4.000, thời gian mỗi đợt chỉ có 3 đến 4 tháng, nếu cộng lại trong 10 năm là 120 tháng, có 40 đợt cộng lại mới là 160.000 người. Họ tùy tiện thổi phồng lên 2 hay 3 lần nữa cho có vẻ đông đảo lắm. Anh Tàu hay ngoa ngôn, phóng đại, thổi phồng là thế!
Nên hồi đó trong cả nước, rất ít người thấy, gặp mặt lính Trung cộng. Phòng tùy viên quân sự trong Sứ quán khi đông nhất chỉ có 130 người.
Vài tỉnh phía Bắc thuộc quân khu 1, người dân rất vui nhộn khi thấy các đơn vị phòng không Trung quốc bắn máy bay Mỹ, đó là họ bắn vô tội vạ, không hề tiết kiệm, bắn từ rất xa, có khi chưa nhìn thấy máy bay, một tay bấm cò một tay giơ cao Mao tuyển bìa đỏ chót; miệng đọc lời ông Mao thuộc lòng như đọc kinh. Và có hạ được chiếc nào đâu, dù vãi đạn lên trời. nếu hạ được 1 chiếc họ đã khoe khoang hết mức.
Họ ngủ dậy là đọc Mao tuyển, trước khi cầm đũa ăn cơm, trước khi đi ngủ đều đọc Mao tuyển, làm nhà, đào hầm hố đều niệm Mao tuyển…
Quả thật phía Trung Quốc có lần yêu cầu để cho họ vào tham gia vận chuyển trên đường Hồ Chí Minh, nhưng lãnh đạo Việt Nam không chịu, vì biết rằng họ vào dễ, trở về thì khó, sẽ bị mắc mưu thâm.
Đó là điều cảnh giác đáng khen, không như hiện nay mở toang cửa cho tràn ngập vào trên mọi địa bàn, tận Tây Nguyên, Nam bộ, với các phố xá, hàng giả, hàng độc hại tràn vào khắp nơi.
Trên đây là 2 điều thực tế cần phản biện qua bộ phim «The Vietnam War» để tránh những hiểu sai, hiểu lầm về cuộc chiến này.

https://www.voatiengviet.com/a/vietnam-war-burns-novick-westmoreland/4079738.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đỗ Lai Thúy chia sẻ về thơ Tân hình thức

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đặng Thân chia sẻ về thơ Tân hình thức



THƠ CỦA ĐẶNG THÂN 
Hội phố mộng

buồn
ngủ
quá
dậy sớm bay
ngày
chưa
tỏ
đôi mắt đỏ
nắng loang mang vàng chanh trời xanh cô ban giật mình sau 1 giờ bay trên ngàn mây trắng vạn mây đen khi ngày chưa kịp đánh thức những du khách lười 1 cuốc taxi đưa ta về chốn nhiêu khê

%

ta hoang mang đi
ồ mà
không biết đi đâu
đi đâu làm gì
ăn đi ngủ nghỉ
thanh thản quá nhỉ
bố khỉ
người đi ta đi đâu cần làm gì đi để mà đi cho đỡ phát phì cho tuột mồ hôi lượn lờ phố nhỏ thấy xinh tệ
đi qua nhà thờ đi vào nhà chùa Chúa ra ở riêng Phật cũng xuất giá
để làm gì
boong
hình như vẫn còn buồn ngủ
dật dờ Quảng Nam tìm phở Bắc gặp hàng Hà Nội không thấy thịt bò chỉ vài cọng húng lội bát nước trong mắt trong cô chủ nói giọng Hà Tây nơi Ba Vì gặp con bò đội nón ngóng cơn đằng Đông nhớ Nguyễn Quang Thiều dáng như Tây Ban ngưu xuất khẩu sang Mễ Tây Cơ đang nung nấu trường ca về 1 cái lò mổ bò có con nhặng à quên ruồi đòi đầu thai vào bụng người
buồn ngủ không chịu nổi
dưới nắng hàng họ bày dọc ngang thấy xinh đẹp mọi người ăn nói nhỏ nhẹ dễ thương nên thăm phố cổ thấy cái gì cũng cứ mơi mới nước chảy lờ cờ dưới chân Lai Viễn chả thấy gì hấp dẫn chợt thấy đồng 20.000 mới phát hành có hình cái kiến trúc thượng gia hạ kiều nên chợt hỏi 1 em có biết cầu mà có mái thì gọi cầu gì em cười ngơ ngác
thì gọi là nhà cầu chứ còn gì nữa
hớ hớ hớ
thôi thế đủ rồi kiếm chỗ ngủ thôi
phải ngủ chứ

%

những đêm tràn mênh mông
ta bơi lội trong cái lồng mông cuộc đời mà đôi khi thấy ghê sợ
trong mơ ta thấy gặp gỡ nhiều người hơn khi tỉnh
đặc biệt là nhân cách và hành vi của mọi người đều được thể hiện rõ ràng
và có nhiều lúc vô cùng mờ ảo
ôi nghe thật là bẽ bàng
cười/nói/chửi/bơi/chạy/rống/trợn mắt/nhe răng/cởi phăng áo/xắn cao quần/tụt quần/thủ dâm/thủ thỉ/rỉ tai/đấm đá/tranh giật/khen thối/nịnh thơm/múc/xúc/lao xao/cười duyên/khóc thầm/ngưỡng mộ/đái tồ tồ/**** bậy/**** quỵt bỗng thấy bản thớt con dê già Woody Allen hiện lên phán rằng trên đời chỉ có 2 loại sex là sex mất tiền và sex không mất tiền nhưng chết nỗi sex không mất tiền lại tốn kém hơn nhiều so với sex mất tiền

%

thế là phiền

rấtt
phphiền
man miênn
quá nhiềuu sự
kiện uống rrrrượu
say tất nhiênnnn giữa
nhiều người hâmmmm mộ
chợt mình nhìn ra kìaaaa quần
ướt rồi đái cả ra quần lúc nào không
biết thì quả là sayyyyyyyyyy quá rồi bỗng
nàng kể 1 tên thi sỹ sâu hùm hòn én khét tiếng
tại sao mà lại hóa thành hoạa sỹ vì thấy y đem tranh
đi triển lãm mà lại cách đây dững 4 năm thì quả là lạ thật
lạ lùng hơn hắn vẽ tranh trừu tượng chả ai hiểu chó gì mà có tờ
báo mạng đăng tin không biết phạm huý thằng nào mà ngayy lập tức
bị tường lửa 4 ngày **** mẹ mày mường tượng giữa sảnh lớn gã dựng đứng đôi
song phi đỏ rực trông như đôi câu đối có 1 nhã ý gì rất thốiii khi mà một bên như mặt
ngửa đồng tiền nó làm 4 chữ thư pháp đại tự kiểu long đụ phượng hayyyyy đại bàng đạp mái
chim sâu gì đấy nghe như chữ thằng ngọng đang tập tọng học đánh vần thế mà ai cũng bảo bí hiểm:

sông
Hương
biển
tươi

vế bên kia là hàng chữ vẫn chạy theo chiều dọc nhưng mờ ảo như mặt sấp đồng tiền mà nhiều bậc
đại sỹ thì thào rằng phải nhìn bằng tuệ nhãn mãiiiiiii mới thấy 4 chữ như là lời giải câu sấm bên kia:

quê
hương
biến
đổi

kết thúc triển lãm nhân vật chính trao tặng lại 1 bức tranh dâm
đại ý thế thôi bố ai hiểu cái quân hoạ sỹ mà lại còn có gốc thi sỹ chúng muốn nói cái ý gì
vì thế mà có đứa bảo tranh của hắn chuyển tải những ý trời
có bác gửi gắm rằng tranh bác mang thông điệp của giời
ông thì ngôn là những ý rời
mà tại sao lại bị tường lửa mà chỉ có 4 ngày rồi thôi

thôi bỏ mẹ
sa đà quá rồi
hỡi ôi
rồi tỉnh

NGUỒN:TIENVE.ORG/

 Phần nhận xét hiển thị trên trang