Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 20 tháng 10, 2017

Đáo [thô] bỉ ngạn cùng Đỗ Lai Thúy


Đặng Thân
Đỗ Lai Thúy vừa ra sách mới, Bờ bên kia của viết, cả một cái tên của tuyệt đỉnh chữ. Nhà xuất bản Hội Nhà Văn có lời giới thiệu (hơi bị "công chức"):
[...] Chính lý thuyết đã cho Đỗ Lai Thuý nhìn mới đối tượng và, quan trọng hơn, cách tiếp cận đối tượng ấy. Phê bình văn học của ông, do vậy, dù ngắn hay dài đều là phê bình học thuật. Nghĩa là ông thiên về tìm kiếm những giá trị mới, những phương pháp mới, nhất là những thứ có thể tạo ra sự chuyển đổi hệ hình. Tuy say mê lý thuyết như vậy, nhưng, Đỗ Lai Thuý không ứng dụng đơn giản, mà chủ yếu là trải nghiệm lý thuyết qua những thực hành phê bình cụ thể. Tập tiểu luận Bờ bên kia của Viết, tuy là một tập hợp, nhưng là một tập hợp có ý đồ, có cấu trúc. Nó chẳng những bộc lộ ít nhiều viết-Đỗ-Lai-Thuý mà chúng tôi vừa trình bày một cách cô đọng ở trên, mà cả những gì đằng sau viết ấy, tức "bờ bên kia của viết" mong bạn đọc cùng ông "đáo bỉ ngạn".
Mấy dòng ấy chỉ có xác chữ mà chưa có hồn. Các "cách tiếp cận đối tượng" xưa nay đều chưa có cái nào "đáo bỉ ngạn |" đâu nhé. Mọi thứ "học thuật", "trải nghiệm lý thuyết qua những thực hành phê bình cụ thể" cũng thế; "có ý đồ, có cấu trúc" càng xa "bỉ ngạn" (pāramitā | | ba la mật).
Còn Đỗ Lai Thúy nói gì? Ông tự giới thiệu:
Viết văn, viết văn hoá, viết người viết chung quy là viết bản thân. Nhưng không từ cái ngã còn nhiều rong rêu bám víu, mà là cái bản ngã - vô ngã. Viết, khi ấy đã sang bờ bên kia của viết.
Vậy, đến "bờ bên kia", là do viết được bằng cái "bản ngã - vô ngã"? Dẫu Đỗ Lai Thúy đã gắng nói lòng mình, nhưng e, là ông vẫn bị "lời" nó ám, cho nên lòng ông đã "vô", nhưng vẫn làm người đọc thấy "rong rêu" trong mắt, nên nhẽ vẫn chưa ai thật sự nhìn ra chính ông cho hết nhẽ. Tham khảo "bờ bên kia" trong mắt Tuệ Trung Thượng sỹ,[1] thì hiển hiện rõ ràng ("sạch sẽ"), như trong bài "Thị chúng" (Bảo mọi người):

Phiên âm:
Thế gian nghi vọng bất nghi chân, Chân vọng chi tâm diệc thị trần. Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn, Hiếu tham đồng tử diện tiền nhân.
Dịch nghĩa:
Thế gian ưu dối không ưa thực, Cái tâm thực hay dối cũng đều là bụi cả! Nếu muốn vượt lên cao sang bờ bên kia, Hãy hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt.[2]
"Chân vọng chi tâm diệc thị trần", nên rằng, "bản ngã"/"vô ngã" thì dường như "cũng đều là bụi cả". Kìa, "hãy hỏi đứa trẻ thơ ở ngay trước mặt". "TRẺ THƠ", chính là cái thể chất chứa đầy trong Đỗ Lai Thúy, và cũng chính điều tôi muốn nói về ông, bút/chữ của ông.
Đến đây, thì tôi muốn nói ngòi bút của ông không khác con dao của gã đồ tể thực sự "đáo bỉ ngạn" trong Nam Hoa Kinh của Trang Tử. Chuyện về gã như vầy: Khi tên bếp của vua Văn Huệ mổ bò gã đưa lưỡi dao xoèn xoẹt, phát ra những thanh âm có tiết tấu của những khúc nhạc như trên thiên giới. Điều quan trọng, là đã 19 năm, đã mổ nhiều ngàn con bò, mà gã chưa hề phải mài dao bao giờ, lưỡi dao vẫn sắc như mới mài. Gã nói, hồi mới học nghề chỉ thấy bò là bò, rồi sau ba năm thì không thấy bò nữa, gã không còn phải dùng mắt hay mọi cảm quan, mà chỉ mổ bò bằng tinh thần. Vấn đề là gã đã biết hết cơ cấu con bò, nên chỉ lách lưỡi dao mỏng vào những chỗ kẽ "hư không" trong thân thể con vật mà không đụng tới kinh lạc, gân, bắp thịt, xương. Gã tâu với vua: "Mỗi khi gặp một khớp xương mà thần thấy khó khăn, thần nín thở, ngẫm kỹ, rồi chầm chậm đưa lưỡi dao thật nhẹ tay, khớp xương rời ra dễ dàng cứ như bùn rơi xuống đất. Rồi thần cầm dao, ngửng lên, nhìn bốn bên, khoan khoái, chùi dao, đút vào vỏ." Ngòi bút của Đỗ Lai Thúy, cũng tương tự. Ông có thể giải quyết mọi vấn đề rất gọn gàng, viết về mọi "người viết" một cách thoải mái nhất có thể mà cứ đâu ra đấy; đưa ra những kiến giải hay ho, sinh động, độc đáo, uyên áo, ngọt ngào... Hãy nghe Đặng Tiến, giảng viên ĐH Thái Nguyên, đưa ra nhận xét giản dị:
Dầu ai nói ngang hay nói chéo thì tôi vẫn thấy Đỗ Lai Thúy là một trong dăm bảy nhà phê bình văn chương, nghệ thuật, văn hóa... đáng ngưỡng mộ. Ông đọc nhiều, tham bác nhiều học thuyết và ứng dụng thành công.
Cứ thế, ngòi bút ấy đã viết nên 11 cuốn sách (trong đó có những tuyệt phẩm như: Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực, Chân trời có người bay, Bút pháp của ham muốn, Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy, Thơ như là mỹ học của cái khác, Hé gương cho người đọc...),[3] ôm chứa hầu khắp mọi "người viết" của văn học/hóa Việt khắp hai bên bờ Thái Bình Dương, trong đó có nhiều tác giả cực kỳ khó nhằn cả về văn phong lẫn quan điểm chính trị. Thế nhưng, "các khớp xương rời ra dễ dàng cứ như bùn rơi xuống đất". Hãy chiêm ngưỡng một đoạn ngắn mở đầu bài "Tô Thùy Yên là hiện tại" của ông trong tập sách mới:
Thơ thành thị miền nam 1954-1975 đa dạng, phong phú. Trong khu rừng nhiệt đới sum suê cá tính ấy nổi lên ba đại thụ: Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Tô Thùy Yên. Thơ họ hay, khỏi phải nói, đáng nói họ mở ra những con đường sáng tạo khác nhau; đưa thơ Việt cập nhật và cập... thế giới. Thanh Tâm Tuyền, như Trần Dần sau đó, đi hết mình về phía (chủ nghĩa) hiện đại. Bùi Giáng cũng như Lê Đạt sau đó, đặt một chân vào hậu hiện đại. Còn Tô Thùy Yên rẽ ngang vào một hiện đại khác, hiện-đại-cổ-điển.
Chỉ có 6 câu mà "giải | 解 | mổ xẻ" xong các đỉnh núi thơ của 20++ năm!
Xưa, đã có trự "chí thiện đồ ngưu" của Văn Huệ [Vương]; nay, cả mừng mà thấy bậc "cập thiện đồ văn" của vương quốc Văn Chương. Đọc chữ của Đỗ Lai Thúy, cảm quan ban đầu dìu dịu, rồi triển lên ngay rất là mạnh, chắc rằng không khác chi Kinh Kha khi xưa nghe Cao Tiệm Ly gẩy đàn, như Chiến quốc sách đã ghi: ", | Cao Tiệm Ly kích trúc, Kinh Kha hòa nhi ca | Cao Tiệm Ly gẩy đàn trúc, Kinh Kha hòa theo mà ca." Cho nên, đọc Đỗ Lai Thúy, mà không thấy cái sự thúc bách "hòa nhi ca", thì quả là rất mất vệ sinh ("kém tắm").
Gã mổ bò của Văn Huệ "hồi mới học nghề chỉ thấy bò là bò, rồi sau ba năm thì không thấy bò nữa, gã không còn phải dùng mắt hay mọi cảm quan, mà chỉ mổ bò bằng tinh thần"! Ồ, chuyện của gã chính là đỉnh cao của dưỡng sinh, và, nhất là, không khác gì chuyện hệ trọng của các đại sư học đạo: Khi chưa học đạo, chỉ thấy núi là núi; khi dấn thân học đạo, lại thấy núi không phải là núi; lúc ngộ đạo rồi thì lại thấy núi là núi. Sau này, chính Georg Wilhelm Friedrich Hegel lẫm liệt đã học được tinh thần ấy, để đạt đến "tự ý thức" về tính tuyệt đối trong công thức nổi tiếng biện chứng: "thesis - antithesis - synthesis | đề - phản đề - hợp đề". Nên nhớ, "synthesis" của ông chính là "núi" của giai đoạn ba; nôm na thì: núi/sông..., mà không phải là núi/sông..., mới đích thực là núi/sông... Người đọc, dù bình thường đến mấy, sẽ thấy cái thượng thặng chân lý (có vẻ) "đèn cù" ấy trong viết-Đỗ-Lai-Thúy. Ồ, vũ trụ này cũng chính là một cái đèn cù ("kèn đù"?) hỗn độn nhất (nhưng "hài hòa"); bỏ qua hiểu biết này mọi người đều rất dễ lãng phí cả cuộc đời. Cái "kèn đù" ấy, phản ánh trong thiền và Hegel, chính là tam nguyên luận trong triết học, là cái không những loài người hiện nay hầu như "không thèm biết", mà hầu hết các học giả hàng đầu nhân loại, cũng "đành bỏ qua".
Hành trình viết của Đỗ Lai Thúy (hiếm hoi) còn là một quá trình phản ánh rõ nét nhất tư tưởng của Friedrich Wilhelm Nietzsche hùng tráng, về những chặng đường của một trí giả thực sự: lạc đà, sư tử, trẻ thơ. Bắt đầu như con lạc đà chất lên lưng mà thồ biết bao gánh nặng của tri thức nhân loài, trở thành "sư tử hí cù" cuồng điên tàn hủy tất tật, rồi thanh tẩy tất cả để hóa thành trẻ thơ, từ đây mới có "cá tính sáng tạo", "cái mới", "cái khác". Tiếc thay, trong giới "học giả" nước Nam hiện nay, đa phần thì vẫn chỉ là "lạc đà", chỉ biết è cổ chất chồng (tuy nhiên, tất cả mà được như thế thì đã tốt) mà không sáng tạo (vì chưa từng dám đập phá và trở về hồn nhiên). Đã thế, có những "GSTS" còn thường viết (như chửi) về các thầy mình, hết thầy này đến thầy khác, những bài "nêu công ơn" kiểu như "Thầy tôi, người thồ chữ"!! Thế mà các vị "thò chầy" kia vẫn sung sướng tạc thù được với nhau mới vãi linh hồn. Ôi, những "lạc [thú] [chốc] đà"!!
Thực ra, Nietzsche cũng còn thiếu, chứ (ai cũng biết) đoạn đầu ắt phải là "trẻ thơ" (ngạc nhiên trước vạn vật), rồi mới đi tiếp chặng "lạc đà", "sư tử", để rồi mới có thể "復歸於嬰兒 | phục qui ư anh nhi | lại trở về với trẻ thơ", như Lão Tử đã truyền trong Đạo Đức Kinh cách nay hàng ngàn năm. Như Phúc Âm đã bảo: "אם לא תחזרו בתשובה ותהיו כמו ילדים קטנים, לא תיכנסו למלכות השמים | Truly I tell you, unless you change and become like little children, you will never enter the kingdom of heaven | Ai không trở nên như trẻ nhỏ không được vào nước Trời." Để rồi mới tới Nietzsche, và sau đó là René Maria Rilke: thơ là tiếng nói của trẻ thơ; nhà thơ ơi, hãy luôn biết cách nhìn mọi vật như kẻ lần đầu trên thế gian nhìn thấy...
Sáng tạo lớn của Đỗ Lai Thúy, dưới ảnh hưởng của Thomas Samuel Kuhn ("triết gia khoa học" có ảnh hưởng nhất trong thế kỷ 20) với thuật ngữ "paradigm shift | chuyển đổi hệ hình", là việc ông (cùng một số ủng hộ viên khác) chia văn học làm ba hệ hình: tiền hiện đại, hiện đại, hậu hiện đại. Tổng hợp tất cả các điều trên từ thiền, triết, Lão, Trang, Phúc Âm, Tuệ Trung Thượng sỹ, Hegel, Nietzsche, Rilke, Kuhn, Đỗ Lai Thúy... và, tam nguyên luận, tôi xin được đưa ra sơ đồ tóm lược này:
TRIẾT | THIỀN | NITZSCHE | VĂN HỌC TÍNH | HỆ HÌNH Nhất nguyên |Núi là núi | [Trẻ thơ] | “Dân gian” | Tiền hiện đại
Nhị nguyên | Núi không | Lạc đà | “Khoa học” | Hiện đại
| là núi | Sư tử | “Tâm linh” | Hậu hiện đại
Tam nguyên | Núi lại là núi| Trở về trẻ thơ | DG của KH & TL | ??

Vậy thì, thưa tất cả các nhà lý luận văn học Việt Nam rằng, quan điểm của các vị còn chưa trả lời cho câu hỏi của tôi (đã hỏi các vị từ lâu trong các hội thảo), đó là tôi chưa thấy rõ cái "tam nguyên", hay đơn giản là "sự trở về trẻ thơ" đâu (hệ hình? / chủ nghĩa?). Tất nhiên, tôi đã có câu trả lời của mình (và tôi tin chắc đến lúc này thì nhiều người cũng thấy), nhưng nói hết lúc này, hình như là chưa đúng "時|thời" chăng. Một lời đơn giản, thì chỗ có hai dấu hỏi (??) ấy mới thực sự là cú "trở về trẻ thơ" của "tam nguyên", một thứ "dân gian" tái hiện nhưng đầy ắp "khoa học" tính của modernism cùng "tâm linh" tính của postmodernism, sau khi đã vượt vũ môn qua các cửa ải "nhị nguyên" của những "lạc đà" và "sư tử", có thể tạm gọi đó là "transmodernism | xuyên hiện đại" (Đây, cũng là nơi tôi [nhà văn Đặng Thân, như nhiều người vẫn gọi] thường cư, và vẫn gọi là PHẠC-NHIÊN; xin các nhà lý luận phê bình nhỡ quan tâm thì lưu ý, đừng ép uổng tôi đi lung tung).
Tuy nhiên, đối với cả hành trình viết-Đỗ-Lai-Thúy thì ông lại đủ cả bốn chặng đó (trẻ thơ, lạc đà, sư tử, trở về trẻ thơ). Thế nhưng, đề nghị mọi người đừng nhìn các chặng theo kiểu "linear | tuyến tính" (Ôi, biết đến bao giờ các "học giả" nước ta mới hết "máy móc" nhỉ?), mà phải biết nhìn kiểu "non-linear | phi tuyến tính". Vì thế mà tôi đã nói: "trẻ thơ", chính là cái thể chất chứa đầy trong Đỗ Lai Thúy, và cũng chính điều tôi muốn nói về ông, bút/chữ của ông. Đúng vậy, Đỗ Lai Thúy là một trẻ thơ phi tuyến tính | non-linear child.
Cập nhật 1: Vừa có một vị tiến sỹ văn học gạo cội nhắc:
“Tôi cho cái được nhất của Đặng Thân là đặt lại vấn đề cho các nhà lý luận văn học Việt Nam rất hay (có thể là mở ra một hệ hình cho nghiên cứu, lý luận văn học). Còn vụ "trẻ thơ phi tuyến tính" mà dành viết về Bùi Giáng thì chắc là cực hay như Đặng Thân đã có một bài thơ rất "thượng thừa" về Bùi Giáng.[4] Mong cho mỗi cú viết của Đặng Thân đều kết thúc bằng cảm hứng "viết đến đây nhẹ cả bìu..." như cao trào huyết lệ về "trung niên thi sỹ"!!!”
Thưa anh, thứ nhất, tôi đã có đặt một danh xưng cho Bùi Giáng, là tuyệt-tự-tiên, và, nếu có viết nữa về người, tôi sẽ viết trên tinh thần ấy. Thứ hai, tôi thấy Bùi Giáng đúng là "trẻ thơ", nhưng, ông là "trẻ thơ" cỡ vừa thủy tổ vừa vị lai, đến mức ông đã tự gọi mình là "đười ươi" (Rất chính xác, vì sinh học đã chỉ ra đười ươi và khỉ có bộ não như của đứa trẻ hai tuổi. Bùi Giáng là "trẻ thơ mặc định | default child"). Thứ ba, anh đừng quên Đỗ Lai Thúy đã có một chuyên luận khủng khiếp về Bùi Giáng (đã in trong tập Thơ như là mỹ học của cái Khác), có thể nói đó là bài viết của một non-linear child về default child vậy.
Cập nhật 2: Nhiều "học giả", cũng như cánh ngộ chữ "loser" vất vưởng, rất phản ứng và căm tức với cái nhan đề "bờ bên kia" mà Đỗ Lai Thúy đã đặt, như thể cái từ đó chỉ dành cho các bậc đại giác ngộ ngất ngưởng. Hỡi ôi, bây giờ là thời nào? Thời phong kiến, chắc rằng không thường dân nào dám tự nhận mình là "vua" trên văn bản nào, tru di cái chắc. Nhưng hiện nay, ta thấy nhan nhản vua: vua dầu mỏ, vua truyền thông, vua bất động sản... cho chí vua bãi rác. Tức là, "vua" đã thành một từ phái sinh, không còn chỉ có mỗi hàm nghĩa "nguyên thủ một quốc gia quân chủ theo chế độ cha truyền con nối" nữa, mà còn chỉ "người đứng đầu và có quyền lực" trong bất cứ lĩnh vực nào. Vậy là, chúng ta ai cũng hoàn toàn có quyền gọi ông là vua, như là "vua đống rác cũ" chẳng hạn (từ này hay). Tương tự, "bờ bên kia" cũng đã thành từ phái sinh; riêng trong phê bình văn học, Đỗ Lai Thúy thực sự "đáo bỉ ngạn" vậy.
Cũng mạo muội khuyên ông, sao không nghĩ ra từ/ngữ của riêng mình, khỏi phải "ăn lại đờm dãi của người xưa", như Trần Nhân Tông đã "chém". Vì thế, mà tôi "nhún nhường" bảo là "đáo [thô] bỉ ngạn" cùng ông.
[còn tiếp]
_______________
[1] Ông sinh năm 1230, mất 1291, là anh ruột của Trần Hưng Đạo, người hướng đạo của "Phật Hoàng" Trần Nhân Tông.
[2] Nguồn: Thơ văn Lý Trần, NXB Khoa Học Xã Hội, 1977.
[3] Đặng Tiến, giảng viên ĐH Thái Nguyên, có ý kiến tiếp khá chi tiết như sau:
Như cái còm (cá) măng trước Đặng Tiến có nhận xét rất là ngu ngơ rằng ông Thúy là một trong số không nhiều lắm những nhà phê bình rất đáng kính trọng hiện thời. Ông đọc nhiều nguồn và ứng dụng thành công vào phê bình nghiên cứu văn chương nghệ thuật văn hóa Việt Nam. Tầm nhìn của ông rộng và sâu. Công trình của ông mở rộng tầm mắt cho người đọc, nhất là người đọc ở khu vực miền Bắc dài dài chìm đắm trong các chức năng văn nghệ cực kì "mao nhiều" chứ không ít, ... là chưa tiến hóa cùng nhân loại! Đặng Tiến chỉ là người đọc rất bình thường. Vì yêu tri thức mà đọc thôi chứ chả vì sự nghiệp vẻ vang giáo hóa gì hết. Nếu không vì định kiến hẹp hòi cá mương, cá mập gì đấy thì sau Mắt thơ có phần "tai tiếng" Đỗ Lai Thúy còn tung nhiều chưởng cực kì là cực kì! Công trình nghiên cứu văn hóa Việt từ góc nhìn nhân cách học văn hóa phải nói thực sự là "ghê răng" chỉ tiếc là ông chưa nghiên cứu mô hình con người cán bộ máy móc kiểu robot hiện đại trên nền tảng hợp nhất hai mẫu quân tử và nông dân mà đẻ ra dạng cốt cán ngự trị dài dài ở xứ ta suốt từ hồi cải cách ruộng đất mà vương vấn tới tận bây giờ!!! (Đó là công trình Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, đề tài cấp Viện, do Viện Văn hoá xuất bản. Đây là công trình nghiên cứu từ góc nhân cách học hay cũng là nghiên cứu phát triển gì đó. Theo hướng này sẽ tìm ra quy luật hình thành nên GS Nguyễn Lân "chứ ranh" từ điển sai bét nhè. Theo họ Đỗ, văn hoá là cái kết tinh ở một trình độ phát triển, kết tinh ấy hiện thành con người mang tính điển mẫu cho mỗi một thời đại cũng là một trình độ phát triển. Ông cho ta biết mấy mẫu người: người làng xã, người vô ngã thời Lí, người Hoàng đế, mẫu nhà Nho hành đạo, nhà Nho tài tử, người cá nhân... Vì thế tôi mới tiếc ông không nghiên cứu mẫu người cán bộ công nông binh robot nho sĩ nông phu). Rồi ông vận dụng phân tâm học hậu Freud cộng với tư tưởng của ông Bakhtin để nghiên cứu Hồ Xuân Hương, công trình này của Đỗ Lai Thúy đảm bảo đọc hay không kém gì tiểu thuyết của Đặng Thân. Rồi còn gì nữa? Bút pháp của ham muốn đọc thấy mê man nhưng mê xong rồi lại tỉnh! Rồi gì nữa, cuốn Chân trời có [hay hết?] người bay phác thảo chân dung văn hóa của những anh tài xứ Việt. Ai đã đọc chân dung ông Thúy viết về Trần Quốc Vượng - "người theo nết đất" thì chỉ còn biết "than" trời sinh một cặp rõ là tuyệt. Viết về ông Vượng trước họ Đỗ thì có cả... chục, nhưng họ Đỗ mới là người viết hay nhất về Trần Giáo sư. Rồi còn gì nữa? Thơ như là mĩ học của cái Khác đọc cũng thú đấy chứ? Còn gì nữa nhỉ? Rất nhiều thứ mà Đặng Tiến kẻ ngu ngơ này không thể nói hết trong cái còm măng này. Cuối cùng thì hoan hô Đặng Thân. Xin được nhắc lại Giời mượn Đặng Thân để nghị luận về Đỗ Lai Thúy. Không viết về Đỗ Lai Thúy thì Đặng Thân có thể vẫn chưa là Đặng Thân dù họ Đặng đã đình đám với 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]! (Nguồn: FB)
[4] Xem bài: "Búi Jàng: một bó cỏ trời".

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao nước Pháp phải chú ý tới Biển Đông?



Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.

Từ khoảng chục năm trở lại đây, biển Hoa Đông và Biển Đông là nơi diễn ra nhiều sự kiện, vốn là kết quả của những căng thẳng đang tồn tại giữa các quốc gia ven biển, đồng thời cũng là những căng thẳng giữa Trung Quốc và các cường quốc phương Tây như Úc hay Mỹ. Tháng 1 năm ngoái, chính quyền mới của Mỹ đã đưa ra lời cảnh báo tới Bắc Kinh. Thật vậy, khu vực này là đối tượng yêu sách chủ quyền của nhiều bên liên quan. Ngoài Trung Quốc, và Đài Loan là những bên yêu sách phần lớn diện tích Biển Hoa Đông và Biển Đông, Việt Nam và Nhật Ban cũng yêu sách lần lượt các quần đảo như Trường Sa, Hoàng Sa và Senkaku.[1] Philippines, Malaysia, Brunei và Indonesia yêu sách một phần vùng đặc quyền kinh tế.
Cuộc chơi của Trung Quốc
Chủ thể chính tại Biển Hoa Đông và Biển Đông là Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)Ngoài việc coi khu vực này có vai trò quan trọng giống như Tây Tạng hay Đài Loan, Trung Quốc cũng tuyên bốđây là trung tâm của “các lợi ích cốt lõi”. Trước hết là về lợi ích chiến lược. Một mặt, Trung Quốc đã triển khai hệ thống tàu ngầm hạt nhân lớp Jin ở Đảo Hải Nam. Khi tiếp cận vào khu vực Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, thế hệ tàu ngầm này chỉ có thể phát huy khả năng răn đe nếu đạt được những điều kiện tối thiểu là có đủ không gian để “giấu mình” trong lòng đại dương. Có nghĩa là, các tàu ngầm này cần có vùng biển do Trung Quốc kiểm soát và lặn đủ sâu để có thể hoạt động mà không bị phát hiện. Mặt khác, Biển Hoa Đông và Biển Đông là khu vực qua lại quan trọng đối với thương mại quốc tế, với 50% khối lượng hàng hoá vận tải đường biển, 1/3 là vận chuyển dầu; việc kiểm soát được khu vực này mang lại lợi thế chiến lược mấu chốt. Đó cũng là các thách thức về kinh tế vì các nguồn lợi năng lượng được dự đoán tại khu vực. Năm 2013, Cơ quan Thông tin năng lượng đã đánh giá nguồn năng lượng ở đây tương đương với 11 tỷ thùng dầu mỏ và khí đốt, gấp đôi trữ lượng dầu của Trung Quốc hiện nay (chiếm 1,1,% trữ lượng toàn thế giới). Trung Quốc cũng dòm ngó tới nguồn tài nguyên sinh vật. Ngành thuỷ sản đang nuôi sống 10 triệu ngư dân Trung Quốc và mang lại nguồn thực phẩm cơ bản cho con người, trong khi đó Trung Quốc yêu sách vùng đặc quyền kinh tế, một khu vực chứa đựng khoảng 10% trữ lượng tài nguyên toàn cầu. Cuối cùng, đối với Trung Quốc, các yêu sách về các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông xuất phát từ chính sách đối nội. Những yêu sách này là cơ sở cho chủ nghĩa dân tộc Trung Quốc và người dân Trung Quốc coi các yêu sách đó là hoàn toàn chính đáng.
Rõ ràng là Trung Quốc đang chứng tỏ mong muốn làm bá chủ trên biển, điều đó được thể hiện qua các hoạt động từ nhiều năm nay. Trung Quốc muốn mở rộng vùng biển rộng 2 triệu cây số vuông bằng yêu sách “đường lưỡi bò” bao trùm 80-90% vùng biển quốc tế, tương đương với diện tích của Địa Trung Hải. Chính sách chiếm hữu thực tế đã được tiến hành từ năm 1974, lợi ích của Trung Quốc đối với vùng biển này xuất phát từ năm 1968, thông qua việc tấn công đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa. Từ đó, Trung Quốc vẫn tiếp tục hành động của mình, chiếm đóng một số đảo thuộc quần đảo Trường Sa vào năm 1978 và 1984, sau đó vào năm 1995 chiếm đóng Bãi Vành Khăn. Năm 2016, Philippines đã kiện Trung Quốc  ra Toà Trọng tài thường trực La Hay, với phán quyết có lợi cho Philippines. Tuy nhiên, Trung Quốc đã phản đối. Thái độ phản đối Toà trọng tài cho thấy Trung Quốc từ chối việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ tại các biển Hoa Đông và Biển Đông thông qua phương thức pháp lý.
Tình hình đối đầu gần như lan toả tới các quốc gia láng giềng và khả năng xung đột là rõ ràng. Nhiều tuyên bố chính thức của Trung Quốc thể hiện quyết tâm cứng rắn, thông qua tờ Hoàn Cầu (tờ báo do Đảng kiểm soát), đã viết về các biển Hoa Đông và Biển Đông rằng “cuộc chiến ở đây là không tránh khỏi”. Hiện nay, từ các khu vực do nước này kiểm soát, Trung Quốc đã tiến hành lấn biển và xây dựng các cơ sở hạ tầng quân sự như sân bay, cầu cảng với mức độ chưa từng có: bốn căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo tại quần đảo Trường Sa (7km2) trong đó có hai sân bay; ba căn cứ quân sự trên một số đảo nhân tạo trong vùng đặc quyền kinh tế do Philippines yêu sách (6km2), trong đó có một sân bay ở trên bãi Vành Khăn; bốn căn cứ quân sự trên các đảo nhân tạo đã được mở rộng, trong đó có một sân  bay quân sự với đường băng dài 3 km trên đảo Phú Lâm. Đồng thời, Trung Quốc luôn thể hiện quyết tâm chính trị mạnh mẽ, tăng cường năng lực, cưỡng ép quân sự, đặc biệt  tăng cường năng lực không quân và hải quân tại các biển Hoa Đông và Biển Đông. Trong đó lực lượng hải quân đứng thứ ba trên thế giới, với số nhân sự là 255.000 người, có tàu sân bay Liêu Ninh (Trung Quốc đề ra mục tiêu tăng số tàu sân bay lên 4 chiếc từ nay đến năm 2030), cùng số lượng lớn tàu ngầm (3 tàu ngầm phóng hạt nhân, 6 chiếc tàu ngầm tấn công và 56 tàu ngầm thế hệ cũ). Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chú trọng tới phát triển lực lượng bán quân sự trong lĩnh vực biển, một mặt là sự chuyển giao từ lực lượng hải quân sang lực lượng cảnh sát biển; mặt khác huy động ngư dân Trung Quốc, còn được gọi là “dân quânbiển”. Các lực lượng có sự phối hợp qua các tổ chức nghề nghiệp hoặc chịu sự kiểm soát của Cục Hải dương Quốc gia hoặc chịu sự điều phối của cơ quan theo luật Thuỷ sản của Tổng cục Thuỷ san thuộc Bộ Nông nghiệp.
Tất cả các lực lượng đó phối hợp hành động cứng rắn để khẳng định chủ quyền tại các vùng biển chồng lấn yêu sách, đuổi tàu nước ngoài hoặc có những hành động đáp trả như ở khu vực dầu khí lô 143. Thật vậy, vào năm 2014, Trung Quốc đã hạ đặt dàn khoan tại lô 143 trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam ở phía Tây quần đảo Hoàng Sa. Việc đặt dàn khoan được thực hiện với sự huy động 80 tàu Trung Quốc với 7 tàu chiến để đối đầu với lực lượng cảnh sát biển Việt Nam. Cùng thời gian đó, Trung Quốc luôn khẳng định sự chiếm đóng các quần đảo, đặc biệt thông qua việc cải tổ quân đội gần đây như cải tổ “chiến khu miền Nam và miền Đông” thành các bộ chỉ huy trên biển và cải cách hành chính, thành lập Thành phố Tam Sa. Những động thái đó chứng tỏ sự bành trướng có kế hoạch và rõ ràng từ chủ nghĩa bá quyền tới việc mở rộng chuỗi đảo thứ hai theo học thuyết chính thức của hải quân Trung Quốc. Chuỗi đảo thứ nhất là yêu sách chín đoạn xác định vùng biển theo hình đường lưỡi bò. Chuỗi đảo thứ hai là đường nối từ phía Bắc đảo Papouasie-New Guinea tới phía Nam Nhật Bản đi qua đảo Guam. Chính sách bành trướng cũng mở rộng tới tận Ấn Độ Dương, thông qua cái gọi là chiến lược “chuỗi ngọc trai”. Chiến lược này là cuộc cạnh tranh giữa các đồng minh và chạy đua ảnh hưởng với các quốc gia ven Ấn Độ Dương, những quốc gia này sẽ tạo thành các điểm hậu thuẫn thương mại hoặc quân sự cho Trung Quốc. Cạnh tranh này cũng kéo theo rủi ro căng thẳng nghiêm trọng giữa Trung Quốc và Ấn Độ tại Myanmar hay ở Việt Nam.
Những hệ quả không thể phủ nhận
Việc Bắc Kinh kiểm soát Biển Đông có thể kéo theo nhiều hậu quả nghiêm trọng, đặc biệt là việc tiếp cận khu vực này sẽ bị ngăn chặn bởi hệ thống tàu ngầm truyền thống, tên lửa hành trình, tên lửa chống tàu hoặc vũ khí của không quân. Từ đó, sẽ tạo ra nguy cơ cho khả năng tự do hành động đối với cácchiến dịch của Pháp tại khu vực, kể cả tại Ấn Độ Dương. Khả năng ngăn chặn tiếp cận khu vực có thể được coi là một vũ khí chiến lược, trong đó có nguy cơ cản trở thương mại quốc tế trong trường hợp xung đột; 2/3 vận tải hàng hoá đi qua các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông, chiếm gần 70% trao đổi của Châu Âu trong mặt hàng chế biến, ảnh hưởng tới việc cung ứng cần thiết cho hàng công nghiệp như sản  xuất ô-tô hay tin học. Cũng có ít khả năng Trung Quốc sẽ làm tổn hại nền thương mại của mình, nước này có thể kiểm soát thương mại của các quốc gia láng giềng. Hơn nữa, việc Trung Quốc từ chối áp dụng Công ước UNCLOS[2] và hành vi kiểm soát trên thực thế (de facto) các vùng biển có thể xem là tiền lệ có thể ảnh hưởng tới các yêu sách hiện nay về vùng đặc quyền kinh tế Pháp, đặc biệt là ở các đảo Eparses, Tromelin, hay Clipperton.
Xét từ khía cạnh thuần tuý kinh tế, các mối quan hệ đối tác kinh tế và quân sự chiếm khoảng 10% trong tổng số 24 tỷ euro về xuất khẩu và 15% trong số 21 tỷ euro về nhập khẩu của Liên minh Châu Âu vào năm 2016. Buôn bán vũ khí quốc phòng của Pháp tại Châu Á cũng đang tăng mạnh: 28% vào năm 2015 so với 12% trong giai đoạn 1998-2002, chủ yếu với Úc, Ấn Độ, Malaysia và Singapore. Ngoài vai trò của ngành công nghiệp quốc phòng Pháp, việc hợp tác quân sự giữa Pháp và các quốc gia trong khu vực cũng  vấn đề đáng lưu tâm. Bên cạnh đó, kế hoạch tự do thương mại giữa EU-ASEAN hiện nay vẫn đang trong giai đoạn thảo luận và tương lai có thể sẽ thúc đẩy mức độ trao đổi giữa hai khối. Tuy nhiên, cần nhấn mạnh rằng quá trình quân sự hoá hỗn loạn ở châu Á, đặc biệt qua việc bán vũ khí củaPháp và Đức phần nào cũng thúc đẩy quá trình chạy đua vũ trang, có thể gia tăng căng thẳng tại khu vực, nơi có 130.000 công dân Pháp (gấp bốn lần cách đây 20 năm) đang sinh sống và hàng năm có khoảng 1,2 triệu du khách Pháp đến thăm quan khu vực.
Cuối cùng, các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông cũng là thách thức chính trong việc đảm bảo nguồn tài nguyên sinh vật của nước Pháp. Hiện nay, ngư dân của Trung Quốc (được sự hậu thuẫn của các lực lượng chức năng Trung Quốc, trong đó có lực lượng dân quân) đang tiến hành xác định lại các khu vực đánh cá. Điều này dẫn tới việc nhiều ngư dân Việt Nam tới đánh cá tại vùng đặc quyền kinh tế quanh đảo New Caledonia, và từ đó đe doạ tới nguồn lợi đánh cá của nước Pháp. Ngoài ra, ô nhiễm môi trường, sự nóng lên của Trái đất, tình trạng thiếu phối hợp giữa các quốc gia ven biển trong lĩnh vực đánh cá, cùng những sức ép chính trị từ các quốc gia ven biển-đặc biệt là của Trung Quốc và Indonesia-nhằm chiếm đoạt các nguồn tài nguyên dẫn đến hệ quả phá huỷ nghiêm trọng các rặng san hô. Sự suy thoái này cũng gây ra sự suy giảm nguồn tài nguyên đánh cá, đẩy ngư dân đi tới các vùng đánh cá khác. Nếu vùng đặc quyền kinh tế quanh đảo New Caledonia trở thành đối tượng thèm muốn của các nước, số phận các vùng đặc quyền kinh tế của Pháp như quanh đảo Reunion hay Polynesia sẽ tương tự.
Sự can dự khiêm tốn của nước Pháp
Nước Pháp có nhiều mối liên hệ trong lĩnh vực ngoại giao và quốc phòng tại Đông Nam Á, tuy nhiên, cam kết cụ thể tại các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông dường như lại hạn chế. Hàng năm, Pháp chỉ có hai hay ba lần triển khai tàu hoặc tập trận chung,  nhất là qua tuyên bố chính thức như tại Đối Thoại Shangri La. Từ mức độ cam kết thấp của Pháp tại khu vực, các đồng minh của chúng ta (Pháp) nhìn nhận Pháp  một đồng minh thiếu thuyết phục nhất. Hơn nữa, ngoài việc chiếm hữu một số đảo tại Thái Bình Dương, Pháp còn bị xem  chưa đủ tin cậy để hội nhập các tổ chức khu vực. Ngày nay, Pháp lựa chọn lập trường trung dung, dựa trên nguyên tắc luật pháp quốc tế, không đứng về bên nào trong các vấn đề chủ quyền tại Biển Đông, kêu gọi các bên giải quyết hoà bình tranh chấp.
Vào tháng 7/2016, Toà Trọng tài Thường trực (PCA) La Hay đã tuyên bố rằng Trung Quốc không có “quyền lịch sử” đối với các vùng biển yêu sách tại Biển Đông, và Philippines đã thắng kiện. Toà Trọng tài cũng khẳng định các hành vi của Trung Quốc tại khu vực là trái pháp với luật pháp, lên án Trung quốc đã hành động làm “gia tăng căng thẳng” bằng các hoạt động trên các thực thể tranh chấp, từ đó ảnh hưởng xấu tới môi trường. Bắc Kinh đã tái khẳng định “các quyền lịch sử” đối với đường 9 đoạn và chủ quyền đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, phản đối thẩm quyền và phán quyết của Toà trọng tài. Ở điểm này, Pháp ủng hộ tính chất ràng buộc của phán quyết từ Toà trọng tài và cho rằng, không quốc gia nào có thể nhân danh quyền lịch sử, vốn không được UNCLOS thừa nhận, để thực hiện chủ quyền trên các vùng biển quốc tế. Pháp cũng nhận định rằng quan hệ giữa các quốc gia phải điều chỉnh bằng luật pháp, giải quyết tranh chấp hoà bình và các phán quyết có tính chất ràng buộc. Nhưng trên thực tế, EU đưa ra tuyên bố vào ngày 15/7/2016 về Kết luận của Toà, Pháp đã không tuyên bố rộng rãi và tôn trọng tuyên  bố của EU. Lập trường này của EU là nhằm tránh thái độ khó chịu của Bắc Kinh khi cân nhắc mối quan hệ đối tác chiến lược kinh tế với Trung Quốc, tránh tình thế đối đầu với Bắc Kinh và không làm ảnh hưởng tới một số vùng đặc quyền kinh tế của Pháp[3].
Cuối cùng, Pháp không tham gia vào các hoạt động tự do hàng hải, kiểu như các chiến dịch FONOP[4]mà Mỹ thường tiến hành. Pháp chỉ dừng ở mức độ thực hiện quyền đi lại trên biển và quyền bay tại các vùng biển quốc tế ở khu vực, với mục đích duy trì cân bằng quan hệ quân sự với Trung Quốc, và áp dụngtheo nghĩa hẹp (stricto sensu) các nguyên tắc chủ đạo của trật tự quốc tế (cụ thể là UNCLOS).
Nguy cơ đối với trật tự hiện nay tại khu vực
Chắc chắn rằng sự leo thang căng thẳng tại Biển Đông có thể trực tiếp tác động xấu tới lợi ích của các quốc gia phương Tây. Mối đe doạ đối với quyền tự do hàng hải, diễn tập quân sựluật biển quốc tế và sự ổn định của khu vực Đông Nam Á cũng như đối với các lợi ích riêng của Pháp tại khu vực, vốn quan trọng cho sự tăng trưởng của Pháp và Liên minh châu Âubảo vệ môi trường cũng là mối nguy cơ rõ ràng. Tuy nhiên, những hậu quả chiến lược từ âm mưu chiếm đoạt của Trung Quốc qua yêu sách đường lưỡi bò sẽ mang lại những hệ quả rất tiêu cực.
Với chiến lược “sự đã rồi” (fait accompli) được triển khai cách đây 40 năm, Trung Quốc rõ ràng đã bộc lộ âm mưu áp đặt chủ quyền lên toàn bộ các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông (Hoa Đông và Biển Đông). Chính quyền Trung Quốc không giống như các chính quyền Phương Tây. Nếu các quốc gia ven biển và các cường quốc liên quan như Pháp, Mỹ hay Úc không thay đổi chính sách trong khu vực, khả năng trong 30 hoặc 50  năm nữa, trên thực tế (de facto), các vùng biển Hoa Đông và Biển Đông sẽ trở thành vùng biển nội thuỷ của Trung Quốc.
Trong bối cảnh như vậy, cần thiết phải tìm kiếm một giải pháp ngoại  giao để giải quyết vấn đề xung đột chủ quyền khu vực này. Để có thể đưa ra một giải pháp như vậy, nước Pháp phải tìm cách tiếp cận đối với các diễn đàn khu vực và ngoại vi-nhất là trong lĩnh vực quốc phòng. Nước Pháp cần thiết phải xây dựng một giải pháp ngoại giao và thúc đẩy hợp tác giữa các lực lượng hải quân. Đặc biệt, Pháp phải cố gắng thể hiện mình là cường quốc có uy tín và tin cậy trong khu vực. Để làm được điều này, một phần, Pháp buộc phải thảo luận về lĩnh vực hải quân và tính chính danh của mình tại Châu Á. Mặt khác, ngoài việc tăng cường các hoạt động ngoại giao, Pháp phải thể hiện một cam kết thực tế trong khu vực – không chỉ dừng ở lời nói – mà thông qua các hành động cụ thể, bao gồm lĩnh vực hải quân và các lĩnh vực khác. Thật vậy, vấn đề chủ quyền tại các biển Hoa Đông và Biển Đông ảnh hưởng tới việc quản lý nguồn tài nguyên cá, thăm dò dầu khí cũng như bảo vệ môi trường. Kinh nghiệm nuôi trồng thuỷ sản tại các vùng đặc quyền kinh tế của châu Âu và vic nghiên cứu khoa học biển và môi trường là các lĩnh vực mà Pháp có năng lực. Pháp có thể dựa vào các thế mạnh này để tăng vị thế của mình tại các diễn đàn khu vực. Cuối cùng, cần nhấn mạnh rằng, Trung Quốc chỉ chấp nhận đàm phán qua kênh song phương. Trung Quốc lo ngại sẽ bị cô lập về mặt ngoại giao trên các diễn đàn đa phương. Để đối phó với chính sách “việc đã rồi” của Trung Quốc, các quốc gia yêu sách đối lập có thể cùng nhau tìm một giải pháp ngoại giao. Cách thức vận hành ngoại giao của Trung Quốc là áp đặt đối thoại song phương  để thể hiện uy thế nước lớn (trừ với Mỹ) và sẽ dẫn dắt quá trình đàm phán. Do đó, để đạt được hiệu quả, một giải pháp ngoại giao nhất thiết phải tạo ra một mặt trận ngoại giao thống nhất và có sự đồng thuận. Từ đó, nước Pháp phải phát huy vai trò dẫn dắt và điều phối các hành động ngoại giao, quân sự, khoa học, kinh tế,  thúc đẩy đối thoại đa phương với các chủ thể trong khu vực.
Do đó, khi chúng ta lờ đi các tham vọng của Trung Quốc, cũng như việc áp dụng chính sách ngoại giao tối thiu, đó là không làm mếch lòng Trung quốc, cho dù gián tiếp hay trực tiếp, đây chính là chính sáchđà điểu. Trước những nguy cơ chiến lược tại Biển Hoa Đông và Biển Đông mà châu Âu, nhất là Pháp đang đối mặt, Pháp buộc phải dành lại sự quan tâm của mình đối với khu vực này.
Axelle Letouzé là Thuyền trưởng tàu khu trục nhỏ, tốt nghiệp Học viện Hải quân và đã từng tham gia nhiều hoạt động và chiến dịch, bà đã từng là trưởng ban đối ngoại” của tàu sân bay Charles de Gaulle. Bài viết được đăng trên Asia Focus số 41/chương trình châu Á/Tháng 9.2017/Viện Quan hệ quốc tế và chiến lược IRIS(Pháp)
Hương Lan (dịch)
Bài dịch thuộc bản quyền Nghiên cứu Biển Đông. Đề nghị chỉ được dẫn đường link, không đăng lại khi chưa có sự đồng ý của Ban Biên tập.


[1] Trung Quốc gọi lần lượt là Tây Sa, Nam Sa và Điếu Ngư.
[2] Công ước Liên Hợp quốc về Luật biển.
[3] Toà đã ra phán quyết rằng các đảo do Bắc Kinh đang chiếm đóng không “có khả năng mở rộng vùng biển đặc quyền kinh tế” vì lý do các đảo đó “không có con người sinh sống”, và do đó, các thực thể đó không phải là đảo. Một số đảo do Pháp chiếm hữu như đảo Clipperton cũng có thể được xem là không có khả năng cho con người sinh sống và việc mở rộng vùng đặc quyền kinh tế cũng đang là điều gây tranh cãi.
[4] FONOP là Các chiến dịch tự do hàng hải, là việc đưa các tàu thuyền đi và các thiết bị bay trong khuôn khổ cho phép của UNCLOS bao gồm cả quanh khu vực ít nhất 12 hải lý quanh các đảo mà Trung Quốc yêu sách.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

20/10/2011: Nhà độc tài Moammar Gadhafi bị giết


Biên dịch: Nguyễn Thị Kim Phụng
Vào ngày này năm 2011, Moammar Gadhafi, nhà lãnh đạo nắm quyền lâu nhất ở các nước châu Phi và Ả rập, đã bị quân nổi dậy bắt giữ và sát hại gần quê hương Sirte của ông. Nhà độc tài kỳ lạ 69 tuổi, người lên nắm quyền năm 1969, đã lãnh đạo một chính phủ với vô số cáo buộc vi phạm nhân quyền chống lại người dân của mình và có liên quan đến nhiều cuộc tấn công khủng bố, bao gồm vụ đánh bom máy  bay hãng Pan Am năm 1988 trên bầu trời Lockerbie, Scotland.
Sinh ra trong một gia đình người Bedouin vào tháng 06/1942, Gadhafi đã tham dự Học viện Quân sự Hoàng gia ở Benghazi khi còn trẻ và còn được huấn luyện quân sự một thời gian ngắn tại Anh. Ngày 01/09/1969, ông đã dẫn đầu một cuộc đảo chính không đổ máu nhằm lật đổ chế độ quân chủ thân phương Tây của Vua Idris, người đã rời khỏi đất nước vào thời điểm đó.
Gadhafi trở thành người đứng đầu chính quyền cách mạng mới. Chính quyền này sau đó đã nhanh chóng buộc các căn cứ quân sự của Mỹ và Anh ở Libya phải đóng cửa, kiểm soát phần lớn ngành công nghiệp dầu khí của đất nước, đồng thời tra tấn và giết những người bất đồng chính kiến. Dù không thành công, nhưng chính quyền này cũng đã nỗ lực để hợp nhất Libya với các nước Ả Rập khác.
Gadhafi bắt đầu tài trợ cho các nhóm khủng bố và du kích khắp thế giới, bao gồm Quân đội Cộng hòa Ireland và Phái Hồng quân ở Tây Đức. Thêm vào đó, vào giữa những năm 1970, Gadhafi, người được những kẻ ủng hộ gọi là “Anh cả (Brother Leader)” và “Người dẫn đường cách mạng (Guide of the Revolution)” đã cho xuất bản cuốn sách viết tư tưởng chính trị của mình, kết hợp các lý thuyết xã hội chủ nghĩa với Hồi giáo. Được gọi là Sách Xanh (Green Book), bản tuyên ngôn này trở thành tài liệu bắt buộc phải đọc trong các trường học Libya.
Trong thập niên 1980, căng thẳng bắt đầu gia tăng giữa Gadhafi và phương Tây. Libya đã bị cáo buộc có liên quan đến vụ đánh bom vào một câu lạc bộ đêm ở Tây Berlin, nơi viếng thăm thường xuyên của các nhân viên quân sự Mỹ. Hai người, trong đó có một lính Mỹ, đã thiệt mạng trong vụ tấn công, còn 155 người khác bị thương. Mỹ nhanh chóng trả đũa bằng các đợt ném bom vào những mục tiêu ở Libya, bao gồm cả khu dinh thự của Gadhafi ở Tripoli, thủ đô Lybia. Tổng thống Ronald Reagan gọi Gadhafi là “con chó điên của Trung Đông” (the mad dog of the Middle East).
Ngày 22/12/1988, chuyến bay số 103 của hãng Pan Am, bay từ London đến New York, đã bị làm cho nổ tung trên bầu trời Lockerbie, giết chết 259 người trên máy bay và 11 người ở mặt đất. Mỹ và Anh đã kết tội hai người Libya trong vụ tấn công này, nhưng Gadhafi ban đầu đã từ chối không bàn giao hai kẻ bị tình nghi. Ông cũng từ chối giao nộp một nhóm người Libya bị nghi ngờ liên quan đến vụ đánh bom máy bay chở khách của Pháp vào năm 1989, giết chết 170 người.
Sau đó, vào năm 1992, Liên Hiệp Quốc đã áp đặt lệnh trừng phạt kinh tế đối với Libya. Các biện pháp trừng phạt này đã được dỡ bỏ vào năm 2003, sau khi Libya chính thức thừa nhận trách nhiệm về các vụ đánh bom (nhưng không thừa nhận tội lỗi) và đồng ý bồi thường 2,7 tỷ đô la cho các gia đình nạn nhân. (Chính phủ của Gadhafi đã chuyển giao các kẻ tình nghi trong vụ Lockerbie vào năm 1999. Cuối cùng một người đã được tha bổng và người còn lại bị kết án.) Cũng trong năm 2003, Gadhafi đã đồng ý tháo dỡ các vũ khí huỷ diệt hàng loạt của mình. Quan hệ ngoại giao với phương Tây đã được khôi phục một năm sau đó.
Gadhafi vẫn tiếp tục là một nhân vật gây nhiều tranh cãi và lập dị, người luôn di chuyển với một đội vệ sĩ nữ, mặc những bộ y phục đầy màu sắc hoặc những bộ quân phục với đầy huy chương, và trong các chuyến đi nước ngoài, ông đều cho dựng một căn lều kiểu Bedouin để tiếp khách.
Sau hơn 40 năm nắm quyền, Gadhafi chứng kiến chế độ của mình bắt đầu bị đe dọa vào tháng 02/2011, khi những cuộc biểu tình chống chính phủ nổ ra ở Libya sau các cuộc nổi dậy ở Ai Cập và Tunisia vào đầu năm đó. Gadhafi thề sẽ đè bẹp quân nổi dậy và ra lệnh dùng bạo lực đàn áp người biểu tình. Tuy nhiên, vào tháng 08, lực lượng nổi dậy, với sự trợ giúp của NATO, đã giành được quyền kiểm soát Tripoli và thành lập một chính phủ chuyển tiếp. Gadhafi đã lẩn trốn, nhưng vào ngày 20/10/2011, ông đã bị lực lượng nổi dậy bắt và bắn chết.

Phần nhận xét hiển thị trên trang