Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 1 tháng 10, 2017

6 loại ‘tài phú’ một người nhất định cần trân quý trong cuộc đời


Trong cuộc đời mỗi người luôn có những cuộc gặp gỡ khác nhau. Có người sẽ coi chúng ta chỉ là một cọng cỏ, nhưng có người sẽ xem chúng ta là bảo bối. Có lúc được người khác xem là hoa thơm bánh ngọt, nhưng có lúc lại bị người khác xem như thứ bỏ đi. Khi ấy, chúng ta đều nên dùng một tâm thái bình thản để đối đãi, trân quý hết thảy những gì bản thân mình có, nhất định không thể vì thế mà đánh mất bản thân mình.
cuộc đời
(Hình minh họa: Qua bookriot.com)
Đời người, có rất nhiều thứ mà vĩnh viễn chúng ta cũng không thể có được. Cho nên, càng phải quý trọng những thứ mà mình đã có. Vậy trong cuộc đời, có những loại “tài phú” nào một người cần trân quý giữ gìn?

Trân quý phẩm đức của bản thân mình

Khổng Tử nói: “Ích giả tam hữu, tổn giả tam hữu: hữu trực, hữu lượng, hữu đa văn, ích hĩ; hữu tiện tích, hữu thiện nhu, hữu tiện nịnh, tổn hĩ.”  Ý nói rằng, có ba kiểu bạn bè có ích và ba kiểu bạn bè có hại. Kết giao với người chính trực không vụ lợi, kết giao với người khoan dung, kết giao với người hiểu biết sâu rộng, là đều có ích đối với đức hạnh của chúng ta.
Nếu như kết giao với người a dua, kết giao với người xu nịnh, kết giao với người xảo ngôn, thì đều sẽ tổn hại đức hạnh của chúng ta. Chúng ta có thể xem hết thảy mọi người đều là bạn bè, thế nhưng phải biết quý trọng sinh mệnh của mình, kết giao với những người có đức hạnh tốt, không thân cận với những người có đức hạnh xấu xa.
Thời cổ đại có câu chuyện nổi tiếng kể về Quản Ninh và Hoa Hâm rằng:
Quản Ninh và Hoa Hâm từng là bạn thân thiết của nhau. Lúc còn đi học, thường thường là vừa đọc sách vừa làm việc. Một hôm, hai người đang ở trong vườn cuốc đất trồng rau, thì cuốc được một thỏi vàng.
Tiền tài quả thực khuấy động lòng người! Quản Ninh nhìn thấy thỏi vàng liền coi nó cũng giống như hòn gạch hòn đá, cứ tiếp tục cuốc và đẩy thỏi vàng sang một bên. Hoa Hâm không đành lòng, nên cầm thỏi vàng lên xem một chút rồi mới ném xuống đất.
Mấy ngày sau, khi hai người đang ở trong phòng đọc sách, thì ngoài đường có tiếng tiền hô, hậu át vang dậy, tiếng chiêng trống quả thực náo nhiệt và tiếng người kháo nhau rằng: “Có vị quí nhân ngồi xe đi qua.”
Quản Ninh “mắt điếc tai ngơ”, tiếp tục chăm chú đọc sách. Nhưng Hoa Hâm lại ngồi không yên liền bỏ sách chạy ra xem. Khi xe ngựa đã đi qua, Hoa Hâm trở lại trong phòng, Quản Ninh cầm một con dao nhỏ cắt đôi chiếc chiếu mà hai người ngồi chung ra và nói: “Ngươi không phải là bạn của ta!”
Nhiều năm sau, Hoa Hâm trở thành nhân vật quan trọng trong triều đình, làm trọng thần nước Ngụy thời Tam Quốc. Quản Ninh vẫn là người đọc sách, trọn đời không ra làm quan với nhà Ngụy. Hậu duệ của ông chính là nhà chính trị, tư tưởng nổi tiếng nước Tề, thời Xuân Thu – Quản Trọng.
Mỗi người có một chí hướng, việc tuyệt giao bạn bè của Quản Ninh là nói rõ ra nguyên tắc làm người của ông, trân quý phẩm đức của bản thân mình. Điển cố này nói cho chúng ta biết rằng, con người khi còn sống trên đời thì không thể đánh mất bản thân, không thể để tâm động vì những điều hấp dẫn bên ngoài.

Trân quý cha mẹ mình

cuộc đời
(Hình minh họa: Qua cmoney.tw)
Hiếu là gốc rễ của mọi đức hạnh. Từ xưa đến nay, hiếu đạo luôn là mỹ đức tốt đẹp của con người.
Khi chúng ta còn nhỏ, cha mẹ chính là bầu trời của chúng ta. Cha mẹ cho chúng ta một gia đình ấm áp, dạy chúng ta những đạo lý làm người, những bài học vỡ lòng.
Mãi đến khi chúng ta trưởng thành, cha mẹ vẫn luôn ở bên, cho chúng ta những điều tốt đẹp nhất. Tình yêu thương của cha mẹ chính là tài phú của cuộc đời con cái.

Trân quý những người bạn mà chúng ta đang có

cuộc đời
(Hình minh họa: Qua artevent.eslite.com)
Con người sống cả đời đều không thể thiếu bạn bè, bạn bè không nhất định phải là người hoàn mỹ, chỉ cần có thể đồng cam cộng khổ, giúp nhau lúc hoạn nạn, đối xử chân thành thì đã là một người bạn thực sự. Nếu như có thể vinh nhục cùng nhau, cùng hội cùng thuyền thì đó đã thực sự là người bạn thân tình.
Chúng ta hiểu rằng, trong cuộc đời này, gặp được ai, ấy đều là vì duyên phận. Đặc biệt, những người có thể ở bên mình, chia ngọt xẻ bùi, có phúc cùng hưởng có họa cùng chịu, thì ấy chẳng phải duyên phận đáng quý sao?

Trân quý con cái

cuộc đời
(Hình minh họa: Qua read01)
Trẻ con là nhân duyên, là tìm đến cha mẹ để có nơi nương tựa. Trong mắt trẻ, cha mẹ chính là ông trời.
Con cái luôn tuyệt đối tin tưởng ở cha mẹ. Vì thế, cha mẹ nên làm bạn với con, cho chúng cảm giác an toàn, cho chúng hoàn cảnh ban đầu tốt đẹp, trợ giúp chúng bước đi vững chắc trên con đường nhân sinh.

Trân quý người dạy dỗ mình

cuộc đời
(Hình minh họa: Qua thebrofessional.net)
Thân là học trò, như thế nào mới là có tinh thần học hỏi chân chính? Học trò đối với thầy của mình phải kính trọng, tôn sư là đạo đức cơ bản nhất mà người học trò phải có.
Thời cổ xưa, xã hội đã hình thành một hệ thống chuẩn tắc tôn sư. Học trò nhập học, trước tiên phải làm lễ bái sư. Sau đó, trò hướng về phía thầy giáo mà quỳ lạy, thầy đứng vái đáp lại. Hàng ngày cứ sáng sớm vào học, chiều tối ra về đều phải tới vái lạy thầy.
Đời người, có thể gặp được người dạy dỗ, hướng dẫn, chỉ bảo mình là điều vô cùng may mắn. Một người có thể thành thạo được một nghề là có thể có khả năng sinh tồn. Cho nên, nhất định phải trân quý người dạy dỗ mình, dìu dắt mình trong sự nghiệp.

Trân quý tín ngưỡng của bản thân

cuộc đời
(Hình minh họa: Qua dynamitenews.com)
Tín ngưỡng là phương pháp cho phép con người tìm kiếm được sự an tĩnh về tâm linh. Con người bởi vì có tín ngưỡng mới biết được ý nghĩa, tương lai và chốn trở về chân chính của sinh mệnh. Cổ nhân cho rằng, đó là con đường mà Thần Phật chỉ ra, để con người chúng ta không bị mê lạc mất.
An Hòa / Trithuctre

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đưa 1 triệu người lên “thống trị” sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài?


Đưa 1 triệu người lên "thống trị" sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài?
Tỷ phú người Nam Phi Elon Musk nuôi giấc mộng chinh phục sao hỏa từ năm 2011. Ảnh: LinkedIn
Liệu Elon Musk có "hiện thực hóa" được giấc mơ "thuộc địa hóa" sao Hỏa của mình hay không?
Nung nấu kế hoạch "thuộc địa hóa" sao Hỏa từ năm 2011, 6 năm trôi qua, tỷ phú gốc Nam Phi Elon Musk không ngừng đưa những ý tưởng và kế hoạch cụ thể để biến "giấc mơ đưa 1 triệu người lên hành tinh đỏ sinh sống" thành sự thật.
Chưa một ai, chưa một quốc gia nào từng làm được việc "đưa người lên sao Hỏa sinh sống" cho tới thời điểm này.
Vì vậy, việc ông chủ của SpaceX tuyên bố sẽ hé lộ kế hoạch chi tiết quá trình đưa con người Trái Đất vào lúc 2 giờ chiều giờ ACST ở thành phố Adelaide (Nam Australia) (tức 11:30 sáng ngày 29/9/2017 giờ Việt Nam) chắc chắn sẽ thu hút sự quan tâm của rất nhiều nhà khoa học, người yêu thiên văn trên thế giới.
Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 1.
Elon Musk úp mở về buổi diễn thuyết quan trọng của mình tại Hội nghị Thiên văn học Quốc tế 2017.
Buổi diễn thuyết chính nói về kế hoạch "thuộc địa hóa" sao Hỏa được tỷ phú Elon Musk trình bày tại ngày cuối cùng của Hội nghị Thiên văn học Quốc tế (International Astronautical Congress) diễn ra từ 25 đến 29/9/2017 tại thành phố Adelaide (Australia).
Xem video livestream tại website của SpaceX, tại đây.
Năm 2011 Musk khẳng định mục đích cá nhân của ông là đưa người ra khai phá và định cư ở Sao Hỏa, trong khoảng 10-20 năm nữa.
Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 2.
Ảnh Elon Musk cung cấp về căn cứ trên Mặt Trăng Moon Base Alpha trước giờ G. Nguồn: Theverge.com
Đưa 1 triệu người lên thống trị sao Hỏa: Tỷ phú Elon Musk điên rồ, lập dị hay thiên tài? - Ảnh 3.
Thành phố sao Hỏa của Elon Musk. Nguồn: Theverge.com
Theo Elon Musk, Moon Base Alpha sẽ là trạm chung chuyển để các nhà du hành vũ trụ tiến tới chinh phục sao Hỏa về sau.
Bài viết sử dụng nguồn: NYTimes

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Cốt lõi của tự do là tự do kinh tế

Deirdre Nansen McCloskey


Phạm Nguyên Trường dịch

Từ cuối những năm 1800, khi Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Tân Tự do, và Tư tưởng Tiến bộ vươn lên, thì người ta thường có thái độ coi thường tự do kinh tế, cho rằng đấy là quan niệm thô lậu, không quan trọng – chỉ có những kẻ giàu có mới thực sự quan tâm mà thôi.

Nhưng chủ nghĩa tự do nguyên thủy, trong những năm 1700, đã được Voltaire, Adam Smith, Tom Paine, và Mary Wollstonecraft cổ vũ là tự do kinh tế cho cả người giàu lẫn người nghèo, và được hiểu là không can thiệp vào công việc của người khác.

Từ cuối những năm 1800, sau sự vươn lên của Chủ nghĩa Xã hội, Chủ nghĩa Tân Tự do, Tư tưởng Tiến bộ, người ta thường có thái độ coi thường tự do kinh tế, cho rằng đấy là quan niệm thô lậu, không quan trọng – chỉ có những kẻ giàu có mới thực sự quan tâm mà thôi. Nhưng chủ nghĩa tự do nguyên thủy, trong những năm 1700, được Voltaire, Adam Smith, Tom Paine, và Mary Wollstonecraft cổ vũ là tự do kinh tế cho cả người giàu lẫn người nghèo và được hiểu là không can thiệp vào công việc của người khác.

Năm 1776, đấy là một ý tưởng hay và mới. Và trong hai thế kỷ tiếp theo, tư tưởng tự do đã chứng tỏ là nó có hiệu quả đáng kinh ngạc trong việc tạo ra người giàu có và tốt, từ những người từng tuyệt vọng và nghèo đói. Đừng bao giờ quên điều đó.

Trong những năm 1800, hầu hết những người có tư tưởng, ví dụ như Henry David Thoreau, là những người theo phái tự do kinh tế.

Khoảng năm 1840, Thoreau đã phát minh ra quy trình sản xuất cho nhà máy làm bút chì nhỏ của cha mình, giúp đưa công ty Thoreau và Con lên vị trí nhà sản xuất bút chì hàng đầu ở Mỹ trong suốt mười năm liền.

Ông vừa là doanh nhân, đồng thời là nhà bảo vệ môi trường và là một người bất đồng chính kiến. Khi việc nhập khẩu các loại bút chì chất lượng cao giành được thế thượng phong, công ty Thoreau và Con thôi không sản xuất bút chì nữa, và chuyển sang sản xuất than chì dùng cho nghề in khắc.

Đấy chính là tự do kinh tế.

Hành động đầu tiên của bạn là đề nghị cải thiện điều kiện sống của khách hàng, nhưng bạn không được có động thái ngăn chặn khách hàng tiếp cận với đối thủ cạnh tranh của bạn. Sau khi bạn đã làm một loạt hành động trong vòng đầu tiên, thì ở vòng thứ hai bạn sẽ bị người khác cạnh tranh. Khổ thế đấy.

Trong tác phẩm Bàn về tự do (On Liberty – 1859), nhà kinh tế học và triết gia John Stuart Mill tuyên bố:

“Xã hội thừa nhận không có quyền, về pháp lý hay đạo đức, giúp cho những người thua cuộc tránh khỏi những đau khổ kiểu như thế; và chỉ thấy cần can thiệp khi những phương cách được sử dụng để đạt lấy thành công, là trái với những gì mà quyền lợi chung cho phép – tức là dùng cách lừa đảo phản trắc hay cưỡng bức” (Bản dịch của Nguyễn Văn Trọng, NXB Tri Thức, 2006).

Không có chủ nghĩa bảo hộ. Không có chủ nghĩa quốc gia về kinh tế. Người tiêu dùng, đặc biệt là người nghèo, được quyền mua những cái bút chì tốt hơn và rẻ hơn.

Nghĩa là, tự do kinh tế là một phần của quyền tự do.

Trong thực tế, tự do kinh kế là quyền tự do mà đa số người dân bình thường quan tâm.

Đúng thế, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do kiến nghị với chính phủ, và bầu chính phủ mới, trong dài hạn, là những biện pháp cực kì cần thiết nhằm bảo vệ tất cả các quyền tự do. Trong đó có quyền tự do kinh tế là mua và bán.

Nhưng chỉ có một số ít người có học vấn mới coi trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do kiến nghị với chính phủ và quyền bầu chính phủ mới mà thôi. Đa số người dân thường không quan tâm tới tự do ngôn luận, miễn là họ, nếu muốn, có thể mở cửa hàng, và đến được nơi có công việc với đồng lương xứng đáng.

Phần lớn người Thổ Nhĩ Kỳ, sau năm 2013, dưới sự lãnh đạo của Erdoğan, đã ủng hộ việc Thổ Nhĩ Kỳ trượt nhanh vào chủ nghĩa tân phát xít. Mussolini và Hitler đã giành chiến thắng trong các cuộc bầu cử và được lòng dân, trong khi họ đang tước đoạt một các quyết liệt các quyền tự do. Thậm chí một vài chính phủ cộng sản còn được nhân dân bầu lên – bằng chứng là trường hợp Venezuela dưới thời Hugo Chavez.

Nhân vật chính trong tác phẩm Forever Flowing của Vasily Grossman (1905-1964) – chỉ là một ví dụ về việc một nhà văn theo đường lối của Stalin đã chuyển hóa hoàn toàn sang phía chống cộng – tuyên bố:

“Tôi đã từng nghĩ tự do là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do lương tâm. Nhưng thực ra là: Bạn phải có quyền gieo cấy những thứ mà bạn muốn, bạn có quyền khâu giày hay may áo khoác, nướng bánh mì bằng bột làm từ những hạt lúa mì mà bạn đã trồng cấy được, và bán hay không bán … có quyền tự do làm việc theo ý bạn chứ không phải theo lệnh của họ”.

Trong những năm 1870, con người thánh thiện như Adam Smith đã rất tức giận trước những vụ can thiệp nhằm ngăn chặn, và không cho người lao động ở Anh được tự do đi lại để tìm kiếm việc làm có lợi nhuận cao.

“Tài sản mà mỗi người đều nằm trong sức lao động của người đó, vì nó là nền tảng đầu tiên của tất cả các tài sản khác, vì thế, sức lao động là thiêng liêng nhất và bất khả xâm phạm. Ngăn cản người ta sử dụng sức lao động… theo cách mà người đó nghĩ là thích hợp mà không làm hại người láng giềng, là vi phạm trắng trợn thứ tài sản rất mực thiêng liêng này”.

Một cách đáng ngạc nhiên, tự do kinh tế đã làm cho cả thế giới giàu lên về về hàng hoá và dịch vụ một cách nhanh chóng.

Đến mức nào?

Năm 1800, thu nhập bình quân đầu người ở những nước như Thụy Điển hay Nhật Bản, tính bằng mức giá cho năm 2018, là khoảng 3 USD/ngày. Hiện nay là hơn 100USD/ngày, tức là tăng 3.200%. Không phải 100% hay thậm chí 200%, mà là 3.200%.

Của cải tăng lên không phải gấp hai lần, như thường xảy ra trong những giai đoạn bùng nổ trước kia – ví dụ như ở Hy Lạp cổ đại hay thời nhà Tống ở Trung Quốc, để có thể quay về mức 3 USD/ngày. Nó đã tăng lên những ba mươi ba lần.

Không còn nạn đói. Con người phát triển cao lớn hơn. Tuổi thọ tăng gấp đôi. Nhà ở rộng hơn. Đi lại nhanh hơn. Học vấn cao hơn. Nếu bạn còn nghi ngờ, xin hãy xem những đoạn băng video của Hans Rosling (đã quá cố) tại Gapminder.

Những lời giải thích thường thấy của các nhà kinh tế học và sử học về Khối Tài sản Khổng lồ (The Great Enrichment), vì thế là không chính xác.

Quá trình tích lũy vốn hoặc khai thác thuộc địa không phải là nguyên nhân.

Tính khéo léo (ingenuity) mới là nguyên nhân. Mà chính cái tính khéo léo ấy, sở dĩ có thể được tạo ra, là bởi vì từ sau năm 1800, con người đã được hưởng những quyền tự do mới.

Viễn kiến của chủ nghĩa tự do về bình đẳng, tự do và công bằng đã khiến cho rất nhiều người trở thành dũng cảm. Trước hết là những người tự do và giàu có, rồi đến những người nghèo, rồi tới những người từng là nô lệ, rồi tới phụ nữ, những người đồng tính, rồi đến người tàn tật, v.v.

Khiến cho mọi người trở thành tự do đã trở thành hiện thực (mà đây vốn là một thí nghiệm chưa bao giờ được thực hiện ở quy mô lớn như vậy), với ngày càng có nhiều người dân được truyền cảm hứng và có thể tự thử sức.

“Tôi chứa nổi vô số thứ”, nhà thơ của chủ nghĩa tự do mới từng cất tiếng ca lên như thế. Và ông đã làm đúng với điều đó. Ông và bạn bè của ông đã thử động cơ hơi nước và các viện nghiên cứu, với đường sắt, trường công lập, đèn điện, các tập đoàn, kỹ thuật mã nguồn mở, chở hàng bằng container và Internet.

Chúng ta trở nên giàu có bằng cách để cho những người dân bình thường được hưởng quyền tự do kinh tế.

Và bây giờ, chúng ta đã vươn ra bên ngoài vùng trung tâm của Tây Bắc Âu.

Trung Quốc sau năm 1978, cũng như Ấn Độ sau năm 1991, bắt đầu từ bỏ lý thuyết xã hội chủ nghĩa phi tự do của châu Âu – vốn được hình thành vào giữa những năm 1800 và đã được “xuất khẩu” đến gần 1/3 diện tích địa cầu vào trước năm 1970.

Kết quả của việc chuyển sang chủ nghĩa tự do về kinh tế, là sức tăng trưởng hằng năm của hàng hóa và dịch vụ dành cho người nghèo ở Trung Quốc và Ấn Độ, đã tăng từ mức 1%/năm (đôi khi còn âm) thời xã hội chủ nghĩa lên đến mức 7-12%/năm.

Với tốc độ tăng trưởng như thế, chỉ cần hai hoặc ba thế hệ là cả hai nước sẽ có mức sống của Châu Âu. Đối với 40% dân số hiện nay, đấy không còn là mơ ước viễn vông nữa.

Hồng Kông, Hàn Quốc, Singapore và Đài Loan cũng làm ra nhiều của cải như thế trong giai đoạn tương tự. Chủ nghĩa tự do mới và chính phủ trung thực ở Ireland và Botswana cũng tạo ra những câu chuyện thành công đáng ngạc nhiên khác.

Đương nhiên là, một chính phủ phi tự do về kinh tế có thể vay vốn từ các nước tôn trọng tự do. Ví dụ từ năm 1917 đến năm 1989, Liên Xô đã làm như thế. Và trong một thời gian dài, thậm chí nhiều nhà kinh tế học ở phương Tây cũng tin vào câu chuyện cổ tích của nước này, rằng kế hoạch hóa tập trung đạt được hiệu quả. Năm 1989, khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, chúng ta đã tìm ra câu trả lời khẳng định rằng, kế hoạch hóa không có hiệu quả, không chỉ đối với nền kinh tế, mà còn đối với môi trường và các quyền tự do khác.

Singapore đôi khi được nêu lên như một ví dụ về một nền độc tài thông minh. Trung Quốc cũng thế, nước này vẫn do thành phần ưu tú của các đảng viên cộng sản cao cấp cai trị. Tuy nhiên, người dân cả hai nước đều được hưởng khá nhiều quyền tự do kinh tế, mặc dù các chính phủ tại đó vẫn bỏ tù những người có tư tưởng chính trị đối lập.

Giàu có sẽ dẫn đến những đòi hỏi về tất cả các quyền tự do, tự do chính trị, cũng như tự do kinh tế.

Đó là những gì mà người dân đã làm ở Đài Loan và Hàn Quốc.

Người giàu sẽ không tiếp tục chịu đựng cảnh nô lệ nữa. Và dù nói thế nào thì thành tích trung bình của các chế độ độc tài là thảm hại về kinh tế, ví dụ như Zimbabwe, sát nách nước Botswana thịnh vượng. Hay ta có thể thấy điều đó trong lịch sử lâu dài và ảm đạm của chủ nghĩa phi tự do trên toàn thế giới, kể từ khi con người phát minh ra ngành nông nghiệp cho đến năm 1800.

Phúc âm của Kitô giáo đã hoàn toàn chính xác khi cho rằng, “Nếu một người chiếm được cả thế giới, nhưng mất đi linh hồn thì lại có ích gì?”.

Những tuyên bố chống lại chủ nghĩa tự do kinh tế luôn luôn theo cùng một kiểu. Đó là, ngay cả khi nếu khi chúng ta được hưởng lợi từ thế giới vật chất, thì chúng ta đánh mất linh hồn.

Cánh cực tả nói với chúng ta rằng, tự do trao đổi về bản chất là xấu. Bất cứ sự khuếch trương nào cũng chỉ là khuếch trương cái ác mà thôi.

Cánh cực hữu thì lại nói với chúng ta, trao đổi tự do chẳng là gì so với niềm vinh quang của cấp bậc và chiến tranh.

Nhưng tất cả những gì mà cánh cực tả lẫn cực hữu, cũng như phái trung dung phàn nàn về “chủ nghĩa tiêu thụ”, là đều sai.

Bằng chứng là, chủ nghĩa tự do kinh tế không làm chúng ta hư hỏng, Mà ngược lại, đã làm cho chúng ta có đạo đức hơn, cũng như giàu có hơn hẳn. Nó làm cho chúng ta giàu lên theo cả hai nghĩa, vật chất và tinh thần.

Vì lí do là, việc trao đổi mà hai bên cùng có lợi không phải là trường dạy đạo đức tệ hại nhất. Nó hoàn hảo hơn thái độ tự cao tự đại của các nhà quý tộc hay thái độ xấc xược của các quan chức.

Trong chủ nghĩa tự do về kinh tế, có hàng triệu con đường đầy vinh quang, có thể đưa ước muốn thành công của con người tới đích, từ xây dựng mô hình đường sắt tới lĩnh vực giải trí. Khác hẳn với những xã hội phi tự do, mà trong đó chỉ có một con đường hẹp, với các tòa án, bộ chính trị hoặc quân đội.

Chúng ta không đánh mất linh hồn trong thương mại mà đang nuôi dưỡng nó.

Hiện nay, ngay cả trong những xã hội tự do, quân đội vẫn được ngưỡng mộ, người ta ca ngợi quân đội vì “tinh thần phục vụ” của nó.

Thế nhưng, tất cả các hành vi kinh tế giữa những người trưởng thành đều mang tinh thần phục vụ cả.

Những thói quen mang tính đạo đức của thương mại được thể hiện mỗi ngày, theo cách mà một chủ cửa hàng ở Mỹ chào hỏi khách hàng: “Tôi có thể giúp được bạn điều gì không?”

Kết quả là gì? Các khán phòng hòa nhạc và viện bảo tàng ở các nước giàu có lúc nào cũng đầy khách tham quan. Các trường đại học phát triển liên tục, và những kẻ tìm kiếm phương pháp khiến cho tâm hồn được thăng hoa – nếu không phải thuộc về các nhà thờ tôn giáo truyền thống – cũng đang gia tăng.

Người ta không thể dành nhiều thời gian cho sự thăng hoa trong nghệ thuật, trong khoa học, trong bóng chày, hay trong gia đình hoặc Thiên Chúa, khi phải đầu tắt mặt tối làm việc từ rạng sáng tới tối mịt.

Chủ nghĩa bảo hộ mới là lý do khiến tỷ lệ thất nghiệp ở người trẻ trên toàn cầu gia tăng, và khiến cho con người trở nên nghèo đói, hủ bại.

Cách tốt nhất để làm cho người ta trở nên xấu xa và nghèo đói là các xã hội phi tự do của chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít, và thậm chí là cả chủ nghĩa xã hội đầy hấp dẫn nhưng với quá nhiều quy định.

Phụ nữ trong chế độ độc tài thần quyền của Saudi Arabia chỉ được luẩn quẩn trong xó nhà, không được làm cả những việc như lái xe ô tô. Chủ nghĩa dân tộc về kinh tế của phái cực hữu có tên là Alt-Right đang bần cùng hóa mọi người, vì nói gì thì nói, họ cũng ngăn chặn và không cho chúng ta tiếp xúc với những ý tưởng từ thế giới rộng lớn bên ngoài.

Nếu quá trình cải thiện điều kiện sống ở Mỹ đang chậm lại – một khẳng định đáng ngờ, nhưng được nhiều người chia sẻ – thì chúng ta cần các nước mới giàu có như Trung Quốc hoặc Ấn Độ giúp đỡ, chứ không phải đóng cửa để “bảo vệ việc làm” ở trong nước.

Logic của phái bảo hộ sẽ khiến cho chúng ta phải sản xuất tất cả mọi thứ ở Illinois hay Chicago, hoặc trong những đường phố ở địa phương của chúng ta – bất kể là sản xuất bột ăn sáng, chế tác đàn Accordions, chế tạo máy vi tính. Xét về kinh tế học, logic này là ngớ ngẩn, nhưng chủ nghĩa dân tộc thì đang khuấy động nó lên.

Cốt lõi của chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa phát xít, và cả cái bản năng thích áp đặt của các chính phủ mang tính cưỡng bức nằm ở giữa phổ chính trị, là can thiệp quá nhiều vào công việc của người khác.

Ở Mỹ, hơn một nghìn ngành nghề cần có giấy môn bài của chính phủ. Muốn mở một bệnh viện mới, thì lại phải cần các bệnh viện hiện hành cung cấp giấy chứng nhận là có nhu cầu. Ở Tennessee, nếu bạn muốn mở một công ty vận chuyển đồ gia dụng – với hai người đàn ông và một chiếc xe tải – luật pháp buộc bạn phải được các công ty đang làm việc này đồng ý.

Những biện pháp bảo vệ những công việc hiện có người đang làm, gây ra nạn thất nghiệp hàng loạt, cũng như dễ dẫn đến bùng nổ về chính trị trong giới trẻ trên khắp thế giới. Một phần tư người Pháp dưới 25 tuổi và đã thôi học hiện đang thất nghiệp. Ở Nam Phi, tình hình còn tồi tệ hơn nữa.

Tuy nhiên, những người theo phái tự do chân chính và nhân văn không phải là những người vô chính phủ (xuất phát từ tiếng Hy Lạp-archos, không có người cai trị).

Người ta có thể thừa nhận rằng, giảm một chút quyền tự do kinh tế bằng cách đánh thuế người giàu nhằm giúp đỡ người nghèo, ví dụ như giáo dục công lập, là tốt. Không có ai phản đối – Smith và Mill và thậm chí Thoreau cũng đồng ý như thế.

(Đúng là chính phủ to lớn thường giúp đỡ những người giàu có và quyền lực, ví dụ như bảo hộ nông dân ở Mỹ và Thị trường Chung [Common Market]. Các chính phủ to lớn thường tuân theo phiên bản đáng ghê tởm của Luật Vàng [Golden Rule], mà cụ thể là, người có vàng thì cai trị).

Và có thể công nhận rằng, thí dụ như người Canada xâm lược Mỹ, thì để phục vụ quốc phòng, việc phải giảm bớt tự do kinh tế trong một thời gian, có thể là có ích. Chả có ai phản đối gì ở đây cả. (Tuy nhiên, các chính phủ lớn thường phá vỡ hoà bình để tiến hành những cuộc chinh phục mà họ cho là vinh quang. Họ thậm chí sẵn sàng lấy người Canada ra để làm cớ dọa nạt).

Tốt nhất là phải “nhốt” chính phủ trong cái lồng cơ chế.

Những người theo phái tự do tin rằng giải pháp là hạn chế quyền lực của chính phủ, ngay cả khi đấy là một chính phủ được lòng dân.

Vì rất đáng tiếc là, chủ nghĩa phát xít thường được lòng dân, còn chủ nghĩa cộng sản thì đôi khi cũng được lòng dân. Các phiên bản ôn hòa của hai chủ nghĩa này, tức là chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đã rất được lòng dân – trước khi những chế độ này mắc sai lầm nghiêm trọng.

Người dân từng ủng hộ việc đàn áp người nước ngoài (Châu Âu, tháng 8 năm 1914), và bữa ăn miễn phí khi chính phủ kiểm soát nền kinh tế (Venezuela, tháng 8 năm 2017).

Vậy nên, chính phủ cần phải bị kiềm chế. Trong số 190 chính phủ trên thế giới được xếp hạng về trung thực, thì New Zealand đứng đầu còn Bắc Triều Tiên đứng cuối bảng.

Chúng ta có thể xem 30 chính phủ trên cùng, là những chính phủ đủ trung thực để hoàn thành nhiệm vụ. Tây Ban Nha là nằm ở cận biên. Anh và Mỹ hội đủ điều kiện. Italy, xếp thứ 75 và ngay bên trên Việt Nam, thì không.

Nhưng 30 chính phủ tương đối trung thực đứng đầu bảng chỉ phục vụ có 13% dân số thế giới.

Các phép toán đã cho thấy, vì sao thái độ lạc quan của những người dễ thương bên cánh tả và những người không dễ thương như thế bên cánh hữu, về việc khuếch trương quyền lực phi tự do của chính phủ, là ngây thơ.

Thoreau từng viết, đúng theo phong cách của phái tự do, “Tôi hoàn toàn đồng ý với phương châm: ‘Chính phủ tốt nhất là chính phủ cai trị ít nhất’ và mong ước phương châm ấy được áp dụng vào thực tế một cách có hệ thống hơn và càng nhanh càng tốt”.

Đúng là như thế, với một vài ngoại lệ khiêm tốn.


Tác giả, Giáo sư Deirdre Nansen McCloskey đã dạy kinh tế, lịch sử, tiếng Anh và truyền thông ở Đại học Chicago, Illinois từ năm 2000 đến năm 2015. Bà là nhà kinh tế học, sử gia và nhà hùng biện nổi tiếng, đã viết 17 cuốn sách và khoảng 400 bài báo về các chủ đề từ kinh tế kỹ thuật và lý thuyết thống kê, đến ủng hộ người chuyển giới và đạo đức của giai cấp tư sản.

Cuốn sách mới nhất của bà, xuất bản tháng 1 năm 2016 ở University of Chicago Press có nhan đề Bourgeois Equality: How Ideas, Not Capital or Institutions, Enriched the World.

Đã đăng trên Luật Khoa

Nguồn https://fee.org/articles/the-core-of-liberty-is-economic-liberty/


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Việt bao giờ mới thôi giết nhau?


Bạch Hoàn - Thật khủng khiếp, một lò mổ heo quy mô lớn sử dụng thuốc an thần cho heo trước khi giết mổ vừa bị Cục cảnh sát Môi trường (C49, Bộ Công an) và các lực lượng chức năng ở TP.HCM bắt quả tang.


Tiêm thuốc an thần cho heo ngay trước khi giết mổ
Tại hiện trường, chỉ có 600 con heo còn khoẻ mạnh. Trong khi có tới 5.000 con đã nằm la liệt tại các dãy chuồng heo đang chờ giết mổ, nghi đã bị tiêm thuốc an thần. Cần nhấn mạnh rằng, đây không phải lần đầu tiên việc tiêm thuốc an thần vào heo ngay trước khi giết mổ bị phát hiện.

Cần thiết phải nhấn mạnh hơn rằng, tiêm thuốc an thần vào heo trước khi giết mổ sẽ để lại những hậu quả khôn lường đối với sức khoẻ của con người. Tồn dư thuốc an thần trong thịt heo sẽ làm người ăn lừ đừ, trầm cảm, tụt huyết áp và đặc biệt nguy hiểm với người bị bệnh tim, gan. Thậm chí, nếu sử dụng thường xuyên sẽ có nguy cơ mục xương, ung thư tủy, giảm hồng cầu…

Người dân đã nhiều lần rơi vào tình huống phải hoang mang tột độ, sợ hãi tột cùng, khi nghĩ đến thịt heo. Chỉ một miếng thịt mà có quá nhiều bê bối, nào là tiêm thuốc an thần, nào là sử dụng chất tăng trọng, chất tạo nạc…

Nếu như toàn bộ 5.000 con heo kia thực sự đều đã bị tiêm tiêm thuốc an thần, thì điều gì sẽ xảy ra?

5.000 con heo, nếu mỗi con sau khi giết mổ cho 50 kg thịt, nếu mỗi người ăn 200g thịt, thì sẽ có tới 200.000 người có thể bị bào mòn sức khoẻ và có nguy cơ phải đối diện với những bệnh tật khủng khiếp.

Đáng sợ hơn, tội ác này không biết đã được thực hiện từ bao giờ? Không biết đã có bao nhiêu con heo bị tiêm thuốc an thần trước khi giết mổ trong suốt thời gian qua? Không biết đã có biết bao nhiêu người dân vô tội bị đầu độc bởi sự vô cảm của những con người vô lương, những kẻ đã bị đồng tiền làm mất cả nhân tính?

Đây rõ ràng là hành vi huỷ diệt sức khoẻ người Việt trên quy mô lớn.

Bao giờ người Việt mới thôi giết nhau? Bao giờ mới chấm dứt những hành vi độc ác này? Bao giờ mới ngừng cuộc tàn sát hàng loạt này?

Mới hai tuần trước, ở Gia Lai, lại một vựa sầu riêng ngâm hoá chất làm chín bị phát hiện và dư luận đến giờ vẫn chưa nguôi nỗi sợ hãi. Chúng ta đã nói quá nhiều về an toàn thực phẩm như một quốc nạn. Nhưng, tại sao những hành vi này vẫn không dừng lại? Cứ hết vụ việc này đến vụ việc khác, người dân bị đầu độc, mà kẻ bất lương thì chỉ bị phạt nhẹ như phủi bụi.

Tại sao những kẻ cố tình thực hiện những hành vi có thể cướp đi sức khoẻ, tính mạng của người dân, lại được xử phạt hành chính? Rõ ràng, đó không phải một vi phạm hành chính, đó chính xác phải gọi là tội ác. Nó đúng hơn là những hành động có thể dẫn đến một sự huỷ diệt giống nòi, đẩy dân tộc đến bờ vực suy tàn.

FB Bạch Hoàn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuốn tiểu thuyết vĩ đại về Chiến tranh Việt Nam không được viết bởi người Mỹ

Biên dịch: Phan Thiên Lý | Biên tập: Nguyễn Huy Hoàng


Năm 1967, Le Ly Hayslip, khi đó mang tên Phùng Thị Lệ Lý, còn là một thiếu nữ sinh sống và làm việc tại Đà Nẵng. Là một cô gái nông thôn đã sống sót qua chiến tranh và nạn cưỡng hiếp ở làng quê của mình, bà chuyển tới Đà Nẵng để trốn chạy sự áp bức của cả phía Cộng sản lẫn phía người Việt chống Cộng. Năm 1972, bà kết hôn với một người Mỹ và chuyển tới Hoa Kỳ, và năm 1989 bà xuất bản cuốn tự truyện chấn động về tình trạng bị mắc kẹt giữa hai phía, When Heaven and Earth Changed Places (“Khi đất trời đảo lộn”). Tới năm 2017, đây có lẽ vẫn là cuốn tự sự ngôi thứ nhất duy nhất bằng tiếng Anh về trải nghiệm của những người dân quê Việt Nam mắc kẹt giữa hai chiến tuyến trong Chiến tranh Việt Nam. Trong cuộc đời và tác phẩm của mình, bà Hayslip là hiện thân cho định nghĩa rộng của tôi về ý nghĩa của việc là người Việt Nam, một bản sắc bao trùm cả những người Việt ở Việt Nam lẫn ở hải ngoại, cũng như cả những người viết bằng tiếng Việt hay các ngôn ngữ khác, mà trong trường hợp này là tiếng Anh.

Tôi tình cờ đọc cuốn sách của bà hồi còn là sinh viên trường Berkeley đầu những năm 1990. Cuốn sách khiến tôi vô cùng xúc động, không chỉ bởi đây là một cuốn hồi ký đầy lôi cuốn, mà còn bởi nó là một trong số ít sách của tác giả người Việt viết bằng tiếng Anh. (Bà viết cuốn sách cùng với Jay Wurts.) Khi tìm kiếm lịch sử của chính mình, một người Việt tị nạn được đưa tới Mỹ bởi một cuộc chiến của Mỹ ngay tại quê hương mình, tôi không tìm thấy nhiều thông tin bằng tiếng Anh, dù là bản gốc hay bản dịch. Số lượng tràn ngập các tác phẩm ở Mỹ về cuộc chiến ấy đều là do người Mỹ viết, và không ngạc nhiên khi chúng đều viết về người Mỹ.

Có một vài ngoại lệ. Trần Văn Dĩnh là một cựu viên chức ngoại giao của miền Nam, Việt Nam Cộng hòa, người ở lại Mỹ và viết hai cuốn tiểu thuyết về Chiến tranh Việt Nam, No Passenger on the River (“Sông không lữ khách,” 1965) và Blue Dragon, White Tiger (“Lam long, bạch hổ,” 1983). Là một đứa trẻ biết nhận thức sớm và đọc mọi thứ có thể về cuộc chiến, tôi gặp cuốn thứ hai trong thư viện cộng đồng ở quê nhà San Jose, California, và cảm thấy bối rối trước sự dị thường của cuốn sách. Từ khi đó tôi đã biết thật hiếm mà tìm thấy được các cây bút Việt Nam ở Hoa Kỳ nói về cuộc chiến này, hay nghe thấy tiếng nói của người Việt trong dòng chính ở Mỹ.

Đắm chìm trong các câu chuyện, cảm xúc, và ký ức của cộng đồng tị nạn người Việt nơi tôi lớn lên, tôi đã quyết tâm kể lại một vài câu chuyện, bởi tôi biết người Mỹ nhìn chung biết rất ít về những câu chuyện này. Chỉ có một nhóm nhỏ người Mỹ tin rằng việc hiểu thêm về tiếng nói và trải nghiệm của người Việt là cần thiết và cấp bách, mà nếu không có chúng thì người Mỹ sẽ không bao giờ có hiểu biết trọn vẹn về Chiến tranh Việt Nam. Sự thiếu hiểu biết của người Mỹ về lịch sử, văn hóa, và chính trị Việt Nam đã góp phần kéo nước Mỹ vào một cuộc chiến và một đất nước mà họ không hiểu. Sự thiếu hiểu biết này có lẽ còn tiếp diễn đến ngày hôm nay, xét cả về những điều người Mỹ tiếp tục thờ ơ về Việt Nam và những điều người Mỹ từ chối tìm hiểu về Trung Đông. Văn chương đóng vai trò quan trọng như một cách sửa chữa sự thiếu hiểu biết này.

Nghĩ lại về Trần Văn Dĩnh, tôi tự hỏi ông có cô đơn không khi là tiểu thuyết gia người Việt duy nhất ở Mỹ vào thời của ông. Ngày nay chúng ta không thiếu người Mỹ gốc Việt viết bằng tiếng Anh, cũng như các bản dịch tiếng Anh của văn chương tiếng Việt. Nhưng nhận thức về sự tồn tại của nền văn chương này vẫn còn hạn chế. Đối với phần lớn người Mỹ và thế giới, “Việt Nam” có nghĩa là “Chiến tranh Việt Nam,” và Chiến tranh Việt Nam có nghĩa là chiến tranh của Mỹ, với những cuốn tiểu thuyết của đàn ông Mỹ viết về lính Mỹ. Mặc dù trải nghiệm của họ cũng quan trọng, họ khó mà đại diện được cho Chiến tranh Việt Nam, chứ chưa nói đến Việt Nam.

Như nhà văn Lê Thị Diễm Thúy và nhiều người khác đã nhắc đi nhắc lại, Việt Nam là một đất nước, chứ không phải là một cuộc chiến. Chỉ cần đọc tập truyện ngắn Tướng về hưu của nhà văn bậc thầy Nguyễn Huy Thiệp là hiểu được điều này. Các truyện ngắn của ông đã hé lộ những điều phức tạp trong cuộc sống thời hậu chiến ở một đất nước Việt Nam vỡ mộng, vốn đang đấu tranh để tái thiết chính mình và điều hòa giữa một bên là những thói đạo đức giả và thất bại của người Việt Nam cũng như nhà nước Việt Nam, với một bên là những lời ca ngợi thời chiến hào hùng của Đảng Cộng sản. Đồng thời, chiến tranh cũng định hình nên một thế hệ, và những hệ quả của nó lại định hình thế hệ tiếp theo, như bà Thúy đã thể hiện trong cuốn The Gangster We are All Looking For (“Gã du đãng mà chúng ta đều đang tìm kiếm”).

Cuốn tiểu thuyết trữ tình này kể về câu chuyện của một cô gái trẻ tị nạn ở San Diego, người có gia đình phải chịu nỗi ám ảnh bởi chấn thương tâm lý của người cha từng đi lính và cái chết của người anh trai, vốn bị lạc trong chuyến đi tị nạn. Giống như đa số tác phẩm văn chương của người Việt và người Mỹ gốc Việt viết về cuộc chiến, tiểu thuyết của bà cho thấy chiến tranh tác động đến nhiều người hơn chứ không chỉ những người lính hay những người đàn ông. Chiến tranh Việt Nam đã không được chú ý nhiều ở khía cạnh số lượng dân thường bị sát hại nhiều hơn binh lính, và ở khía cạnh hàng triệu người dân bị biến thành người tị nạn mà trải nghiệm của họ còn đau thương hơn nhiều so với trải nghiệm của nhiều lính Mỹ chưa bao giờ thực sự thấy cảnh chiến trường. Văn chương của người Mỹ gốc Việt buộc độc giả phải thừa nhận rằng định nghĩa hẹp về chiến tranh chỉ phác họa người lính là thiếu chính xác.

Hết lần này đến lần khác, văn chương của người Mỹ gốc Việt cho thấy tác động tổn thương tâm lý của chiến tranh lên dân thường và người tị nạn (như cuốn tiểu thuyết thể loại noir về băng đảng của Vu Tran, Dragonfish (“Cá rồng”); hay tập truyện We Should Never Meet (“Chúng ta không nên gặp nhau”) của Aimee Phan, viết về những đứa trẻ mồ côi người Việt và con lai Mỹ Á; hay cuốn The Lotus and the Storm (“Hoa sen và bão tố”) của Lan Cao, kết nối giữa Chiến tranh Việt Nam và Chiến tranh Iraq; hay cuốn Where the Ashes Are (“Ở nơi tro tàn”) của Nguyen Qui Duc, viết về việc người cha của chính tác giả, một quan chức của chính quyền Nam Việt Nam, bị bỏ tù); sự tái định hình đầy tàn khốc của chiến tranh lên cuộc sống người Việt thời hậu chiến (như hồi ký của Andrew X. Pham về chuyến đạp xe xuyên Việt, Catfish and Mandala(“Cá da trơn và Mạn đà la”); hay tác phẩm châm biếm thô ráp về nạn tham nhũng kinh tế ở Sài Gòn của Linh Dinh, Love Like Hate (“Yêu như ghét”); hay cuốn She Weeps Each Time You’re Born (“Bà khóc mỗi lần bạn sinh ra”) của Quan Barry, viết về tài năng đáng chú ý của một nhà ngoại cảm cảm nhận được nỗi đau của những người sống sót); sự hiện diện ám ảnh của cuộc chiến trong thế hệ thứ hai của những người tha hương (như cuốn hồi ký bằng tranh đầy mạnh mẽ của Thi BuI, The Best We Could Do (“Điều tốt nhất chúng ta làm được”); hay cuốn tiểu thuyết Grass Roof, Tin Roof (“Mái cỏ, mái tôn”) của Dao Strom, viết về một người phụ nữ Việt Nam kết hôn với một người Mỹ và ảnh hưởng của cuộc hôn nhân lên những đứa con của họ; hay cuốn hồi ký của Bich Minh Nguyen về việc lớn lên ở vùng Midwest, Stealing Buddha’s Dinner(“Trộm đồ cúng Phật”); hay cuốn Perfume Dreams: Reflections on the Vietnamese Diaspora (“Những giấc mơ hương: Chiêm niệm về người Việt tha hương”) của Andrew Lam); hay dấu hiệu của cuộc chiến trong quá khứ người Việt (như cuốn The Book of Salt (“Sách muối”) của Monique Truong, viết về đầu bếp người Việt của Gertrude Stein và cuộc gặp của anh ta với Hồ Chí Minh; hay cuốn The Sacred Willow: Four Generations in the Life of a Vietnamese Family(“Cây liễu thiêng: Bốn thế hệ trong cuộc sống của một gia đình Việt”) của Duong Van Mai Elliott).

Danh sách vẫn còn dài. Văn chương của người Việt và người Mỹ gốc Việt đang ở ngoài kia chờ đón bất cứ ai biết sử dụng Google. Thế nhưng rất nhiều người ở Mỹ và các nước khác thà không muốn biết đến, hay khi một tác giả người Việt mới được xuất bản, họ sẽ nói “Cuối cùng cũng có một tiếng nói cho người Việt Nam!” Trên thực tế, đã có rất nhiều tiếng nói, vì người Việt thì rất ồn ào. Chỉ là tiếng nói của họ thường không được lắng nghe bởi những người không hiểu người Việt, hay những người chỉ muốn nghĩ đến người Mỹ khi nghe thấy từ “Việt Nam,” hay những người chỉ dành chỗ cho một cuốn sách duy nhất của người Việt trong đề cương khóa học mà họ dạy, như một thực tế trong vô cùng nhiều lớp đại học về Chiến tranh Việt Nam, cho dù cuốn sách đó có đáng đọc như cuốn tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh. Cuốn sách này không chỉ là một tác phẩm kinh điển về chiến tranh của Bắc Việt – nó còn là cuốn tiểu thuyết kinh điển về chiến tranh của bất cứ thời đại nào và ở bất cứ đâu.

Về phần Đảng Cộng sản Việt Nam, họ cũng thà không nghe thấy những tiếng nói nhất định. Ngay cả Bảo Ninh giờ cũng bị bắt im lặng, cũng giống như người đồng hương của ông, Dương Thu Hương, một cựu thanh niên xung phong miền Bắc vỡ mộng bị lưu đày vì những tiểu thuyết chống Cộng gây lo ngại thời hậu chiến, những cuốn như Tiểu thuyết vô đề và Những thiên đường mù. Về phần những tiếng nói người Mỹ gốc Việt, dù đôi khi chúng tôi vẫn được lắng nghe ở đây – và rồi thường bị quên lãng – chúng tôi hiếm khi được lắng nghe ở Việt Nam. Chúng tôi là những kẻ thua cuộc, những kẻ phản bội, những kẻ bất đồng chính kiến, hay chỉ đơn giản là những kẻ ngoài cuộc thấy được cái hư không đằng sau một đảng ca ngợi chủ nghĩa cộng sản trong khi đang điều hành đất nước như một chế độ độc tài tư bản chủ nghĩa.

Giống như Le Ly Hayslip, chúng tôi bị mắc kẹt giữa hai bên, Việt Nam và Mỹ, tiếng Việt và tiếng Anh, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa tư bản. Một tình cảnh khó khăn như vậy lại có ích cho các nhà văn. Sự bất an khiến chúng tôi viết ra những câu chuyện của mình, lặp đi lặp lại, với hy vọng có thể thay đổi những điều mà người ta vẫn nghĩ đến khi nghe thấy hai chữ “Việt Nam.”

Viet Thanh Nguyen 
( là tác giả của cuốn Nothing Ever Dies: Vietnam and the Memory of War và gần đây nhất là tập truyện ngắn mang tên The Refugees).
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đêm phương Bắc nhớ về Tổ Quốc



Một màu trắng rợn người dân tộc tôi chưa biết
Đang đối chọi gắt gao với màu than đêm
Nỗi nhớ tôi xin nhập vào bão tuyết
Bay qua nước Nga, vượt Trung Hoa gió bấc
Mưa phùn đêm nay có thổi rát mặt Người
Tổ quốc ơị
Nửa nước tôi giờ này cuốn trong rơm rạ
Biển dạ dày cồn sóng Thái Bình Dương
Tiếng mọt nghiến đêm kèo nhà đói võng
Từ đỉnh cao tập bước xuống đời thường
Đất nước tôi thuyền vỏ trấu vờn đỉnh sóng
Số phận người neo vào bóng Trường Sơn
Chẳng lẽ không còn con đường nào yên lành hơn
Ngoài một lối vượt đá ngầm dông bão
Trời mắt ếch đáy giếng nào kiêu ngạo
Tổ quốc tôi nằm ở nơi đâu
Trên mùa gặt địa cầu ?
Người cày xới bằng xương sườn lấy máu mình gieo hạt
Nứt nẻ vết chân cò, chân vạc toạc đồng sâu
Loa thành ơi, ai lường gạt Mỵ Châu ?
Dấu lông ngỗng tình xưa còn trắng tóc
Tổ quốc tôi đau mà không dám khóc
Hoa cau cười nhòe nhoẹt áo nàng Bân.
Đâu nỗi nhớ nhà đứt ruột Huyền Trân
Đâu Tổ quốc của nàng Kiều Kim Trọng ?
Thế giới này quá rộng
Nhưng nỗi nhớ thương chỉ một chỗ đi về
Chỉ nơi mẹ mò cua bùn lạnh cóng
Lửa đói lòng dìm bóng mẹ vào đêm
Chỉ một chỗ em qua đò vịn sóng
Trăng xòa tay dừa ngóng móng chân thềm.
Đêm ai hát tôi nghe qua nửa vòng trái đất
Đêm tro bếp quê hương mầm lửa mạ hoen màu
Nghe gió bấc gọi mặt trời xa khuất
Tổ quốc, xin Người đánh thức cả niềm đaụ
Matxcơva mùa đông 12-1988
Trần Mạnh Hảo

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TẬP THƠ LỤC BÁT CỦA NHÀ THƠ KHIẾM THỊ NGUYỄN VIỆT ANH LẠI LÀM TÔI NGẠC NHIÊN.





MỘT LẦN NỮA – “ EM LÀ ĐÔI MẮT” 
Phê bình thơ của Trần Mạnh Hảo

Trong hình ảnh có thể có: 1 người, trên sân khấu


Năm 2014, khi nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh in tập thơ lục bát ( mỗi bài chỉ 4 câu), chúng tôi ( TMH) đã viết bài khen nhan đề : “ Mặt trời khiếm thị vào thơ” ( các bạn muốn đọc xin vào : google.com, đánh tên bài viết của TMH trên, sẽ đọc được)
Nay, Nguyễn Việt Anh lại gửi tặng tôi tập thơ lục bát 4 câu có nhan đề : “ Em là đôi mắt” ( NXB Hội Nhà văn 2016). Tôi đọc và rất thích tập thơ này.
Xin trích bài : “Lưu lạc”
“Nào đâu cứ phải bôn ba
Chỉ cần ở tại ngôi nhà thân yêu
Vào ra sớm sớm chiều chiều
Đủ lưu lạc giữa bao nhiêu nẻo đường”
( trang 51)
Nên nhớ tác giả bài thơ trên là một người mù. Anh đi đâu cũng cần phải có cây gậy hay người khác dẫn đường. Nhà thơ nhìn cuộc đời bằng tâm nhãn. Ba câu đầu của bài thơ mới là kể; câu thứ bốn mới vỡ òa ý tưởng, lênh láng cảm xúc. Hóa ra nhà thơ mù lưu lạc trong ngôi nhà mình, lưu lạc trong chính tâm hồn mình. Bóng tối cô anh đặc lại như thạch.
Anh ngồi trong chính mình mà còn lạc, còn thấy vô biên, thấy hư vô, hư ảnh, hư hình…Tưởng là tĩnh mà động, tưởng mà ngồi mà bay, tưởng rằng một mà muôn; cái vi mô đã thành vĩ mô và ngược lại. Nguyễn Việt Anh không viết bằng mắt. Anh viết bằng hồn. Chừng như người đọc anh cũng cần phải có tâm nhãn mới nhìn ra trong bóng tối lục bát của anh cái lục căn, lục bình, lục lạc, lục tung, lục lọi của hư vô và nỗi chết.
Tôi yêu câu thơ thứ tư trong các bài lục bát bốn câu của Nguyễn Việt Anh. Trong bài “ Mấy khi”, nhà thơ mù kể ra chuyện anh được về quê, ra bờ sông hóng gió :
“ Mấy khi có dịp về quê
Ra sông hóng gió thỏa thuê cả ngày
Ta ngồi như một gốc cây
Nghe trên da thịt trổ đầy tuổi thơ”
( trang 37)
Hóa ra, khi chúng ta ngồi lặng trên mặt đất, chúng ta cũng chỉ là một gốc cây. Nhưng là một gốc cây của Phật, của Chúa, của linh cảm thi sĩ tuyệt vời. “Nghe trên da thịt trổ đầy tuổi thơ” là một câu thơ có dấu hiệu thiên bẩm, người sáng mắt làm sao viết nổi ?
Bạn ơi, bạn muốn thành một thi sĩ lớn, bạn hãy biến mình thành một cái cây của Nguyễn Việt Anh, cái cây trổ đầy tuổi thơ, tuổi của thiên đường xưa bé. Chao ôi là những cây người, xum xuê những thiên thần tí hon chồi biếc. Ai bảo nhà thơ mù không nhìn thấy gì ? Anh nhìn thấy cái sâu vô cùng của bản thể vũ trụ bằng cái nhìn thiên sứ !
Trong nhóm những bài thơ lục bát hai câu cuối sách, chúng tôi như mê đi khi tìm thấy câu này của thi sĩ Nguyễn Việt Anh :
“ Thức mà đơn độc xanh tươi
Chẳng thà mê sảng cùng người tàn phai”
( trang 68)
Có những “đơn độc xanh tươi” trên đời này đấy, thưa các bạn. Nhà thơ mù đã nhìn thấy những cô đơn xanh biếc. Trái đất chúng ta là một tinh cầu cô đơn xanh biếc trong vũ trụ xa xanh thăm thẳm khôn cùng. Về bản thể, tâm hồn chúng ta dù đang có tình yêu, có gia đình, hình như cũng chỉ là một tinh cầu “đơn độc xanh tươi” ?
Nguyễn Việt Anh từng có tuổi thơ và tuổi học trò sáng mắt. Năm anh mười lăm tuổi, nhà thơ bị căn bệnh lạ mang đi đôi mắt. Tuy vậy, đến tuổi trưởng thành, anh vẫn có vợ có con. Nhưng rồi cô vợ đã từ bỏ cha con anh mà đi mất vào cõi đời mù tăm, bỏ anh lại cho cây gậy dẫn đường. Nhà thơ rơi vào hai lần cô đơn. Con người càng cô đơn càng tỉnh táo.Cho nên thi sĩ mới mơ được mê sảng, được tàn phai cho thoát nỗi cô đơn. Hóa ra còn có những “tàn phai” hạnh phúc ? Xin được chia sẻ cảm giác tươi xanh trong héo úa của thi sĩ trong bài “ Không đề 2” :
“Đột nhiên phố xá lặng im
Lòng ta cũng bất giác chìm lắng theo
Gió lơ đãng thổi qua chiều
Một vài héo úa ít nhiều tươi xanh”
( trang 27)
Chúng ta có thể sống thiếu cơm, thiếu nước trong nhiều ngày. Nhưng chúng ta không thể thiếu dưỡng khí và hi vọng trong năm phút.Trong tuyệt vọng, thi sĩ tìm thấy hi vọng. Trong héo úa, nhà thơ khiếm thị tìm thấy tươi xanh. Anh thanh lọc lá vàng tìm ra chồi non. Câu thơ hay làm ta thẫn thờ buồn vui lẫn lộn mãi trong vu vơ, trong thông cảm và trong bối rối : “Một vài héo úa ít nhiều tươi xanh”
Hãy xem Nguyễn Việt Anh nhìn mưa trong tâm hồn mình khi nghe tiếng mưa đêm ngoài song cửa :
“Mưa đêm chợt đến chợt đi
Khoảng sân trước cửa nghĩ gì mà rêu
Ánh trăng hắt xuống đìu hiu
Tự nhiên sờ sợ những điều chưa qua”
( Mưa đêm trang 6)
Đêm với ngày với người thi sĩ mù cũng chỉ là bóng tối. Và mưa và ánh trăng cũng tối như vệt rêu trước sân, chỉ bàn chân anh cảm thấy. Câu thơ bâng khuâng lạ, cắc cớ lạ, sao mà lòng trai cũng tưởng đã xanh rêu : “Khoảng sân trước cửa nghĩ gì mà rêu” …
Cảm thương cái sân trước cửa buồn quá, cả nghĩ quá mà hóa rêu cho anh làm thơ. Mưa và rêu có nghĩ gì đâu. Chỉ hồn thơ anh cô đơn quá mà nghĩ ra cái điều trơn trượt ấy. Một thế giới tĩnh lặng và bất an với một người không còn đôi mắt, phải nhìn bằng tay, nhìn bằng chân và nhìn bằng thính giác của thời gian đang đến vây bủa anh trong buồn thương hũ nút : “ Tự nhiên sờ sợ những điều chưa qua”…
Anh, người thi sĩ mù nghi ngờ chính sự tồn tại của mình. Anh viết hay là cái bóng viết ? Cõi mung lung có có không không này đang ú tim anh hay anh đang chơi trò bịt mắt bắt dê chính mình :
“Đôi lần thoáng hiện trong ta
Thân hình buốt giá như là mùa đông
Bồn chồn tay gối mung lung
Đang còn mình đấy mà không thấy mình”
( Mung lung, trang 7)
Chàng thi sĩ như con ếch số phận đào bóng tối ra để trú đông hay bóng tối đang đào anh ra từng hố hầm ảo ảnh để neo vào thời gian, đặng nghi hoặc chính mình ? Ta có thực không ? Ánh sáng có thực không ? Tất cả chúng ta, hầu như vẫn thường tự hỏi mình như chàng thi sĩ chung thân bóng tối này tự hỏi : “Đang còn mình đấy mà không thấy mình” ! Chao ôi là cái chàng Hamlet của Shakespeare mắt nhìn sáng rực mà vẫn mang một tâm hồn mù, đã liên tực tự hỏi mình : “ To be or not to be” ( tồn tại hay không tồn tại)…
Khi chơi thuyền trên Hồ Tây, Nguyễn Việt Anh viết :
“Đền đài lầu gác nguy nga
Chìm trong giấc mộng xa hoa đáy hồ
Hãy nhè nhẹ mái chèo khuya
Kẻo làm sống dậy ngôi vua một thời”
( Chơi thuyền ở Hồ Tây, trang 11)
Chèo nhẹ thôi bạn ơi, để các triều vua dưới đáy hồ yên ngủ. Thi sĩ thương giấc nghìn năm lịch sử bị đánh thức. Đi nhẹ chân thôi các bạn ơi, kẻo ông cha nằm dưới đất mất ngủ ! Chừng như các triều vua, chừng như linh hồn ông cha không ngủ dưới hồ, không ngủ trong đất mà đang yên giấc trong hồn ta ?
Trùm lên những dòng thơ Nguyễn Việt Anh là nỗi cô đơn kiếp người; như thể chàng thi sĩ đi một mình, ngồi một mình trên bờ biển :
“Trăng lên biển đã vào khuya
Cánh buồm khuất nẻo bên kia chân trời
Sóng giờ cũng ngược ra khơi
Bơ vơ hạt cát lặng ngồi hóa anh…”
( Viết ở Bãi Cháy, trang 24)
Không phải anh hóa hạt cát mà ngược lại. Hạt cát ấy buồn vì biển đã lùi xa, đêm tĩnh lặng như biến mất. Hạt cát ấy cứ đùn dần, lớn dần thành một ngôi mộ, không, thành một con người bơ bơ giữa thế giới bơ vơ. “Rồi cát bụi sẽ trở về cát bụi” . Lời Kinh thánh như tiếng gió đang ro ro trong vỏ ốc biển. Con người, thương thay chính là một hạt cát ngồi ngóng biển cả mang mình đi. Đi đâu ? Đi vào thơ Nguyễn Việt Anh chứ biết còn đi đâu !
Chính vì vậy, thi sĩ mù cám ơn hạt cát hư vô xô dạt ta về cõi hữu hình :
“Bấy lâu ngọn sóng hư vô
Rắp tâm tẩy xóa cuốn xô kiếp người
Không ngờ hạt cát nhỏ nhoi
Lại đưa con sóng về nơi hữu hình”
( Viết ở Đồ Sơn, trang 25)
Khoa học bảo rằng : sự sống mấy tỉ năm trước đã xuất hiện trong biển khơi. Hình như hạt cát lẻ loi này đã tha sự sống lên mặt đất ? Nhà thơ, cũng như hạt cát xíu xiu kia hình như đã theo sóng tấp vào bờ hồn ta một thi hứng, một xúc động trong ngẩn ngơ lục bát vô bờ.
Hãy chia sẻ nỗi đau của chàng thi sĩ trong đêm sâu như bình rượu :
“Đêm đau đêm tối âm thầm
Bóng đau bóng thức trầm ngâm với hình
Thơ đau thơ trút cạn tình
Gió đau gió thổi rỗng bình rượu tăm”
( Đau, trang 48)
Tôi yêu câu thơ thứ tư này quá. Hóa ra khi đau, gió cũng giải sầu bằng rượu ? Thực ra, người đau đã uống hết bình rượu nhưng lại ngờ gió uống. Tại gió cả thôi ! Lại nhớ Trịnh Công Sơn : “ Để làm gì em biết không ? – Để gió cuốn đi”. Nhờ gió ấy, rượu ấy, mà có thi ca, có bài hát, có cơn say của gió thổi rỗng những bình đời, những bình rượu sủi tăm thi sĩ !
Hồi chàng thi sĩ mù bị vợ bỏ đi, nỗi buồn đã bày tiệc trên hồn anh, một nỗi cô đơn cụ thể, cô đơn đến tê tái cả câu lục bát rất thật này :
“Dây phơi chẳng chiếc áo nào
Mỗi khi gió động vẫn chao hai tà
Em mang ấm cúng đi xa
Hiu hiu hắt hắt ở nhà với tôi”
( Trống vắng, trang 49)
Chúng ta, hầu như rất ít ai bị vợ hoặc chồng bỏ đi giữa tuổi thanh xuân như Nguyễn Việt Anh; sao có khi giữa một gia đình tưởng hạnh phúc lắm, tưởng đông vui lắm, ta vẫn có cảm tưởng cái vĩnh hằng, cái may mắn, cái thiên đường trong mộng xưa đã bỏ ta mà đi; khiến ta thấy câu thơ thi sĩ mù không chỉ viết cho riêng anh, mà còn viết cho chúng ta câu thơ thật hay này nữa :
“ Em mang ấm cúng đi xa
Hiu hiu hắt hắt ở nhà với tôi”…
Thưa các bạn yêu thơ, thế nào rồi cái “hiu hiu hắt hắt” trong thơ Nguyễn Việt Anh cũng sẽ tìm đến chúng ta, để xin ở chung nhà mãi mãi cùng ta dưới mái cỏ xanh mai hậu…Thơ ơi, hiu hiu hắt hắt ơi, chờ ta với .,.
Sài Gòn ngày 29-9-2017
T.M.H.
( ghi chú : điện thoại của nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh : 0973 820 249)
Ảnh : nhà thơ khiếm thị Nguyễn Việt Anh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang