Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 30 tháng 9, 2017

Thế giới ngày nay:

Venezuela : Dân đói khổ, lãnh đạo kiên định «xã hội chủ nghĩa»

Người dân Venezuela xếp hàng mua giấy vệ sinh và tã trẻ em tại Caracas.

L’Obs tuần này nhìn sang Venezuela tại châu Mỹ La-tinh, viết về « Maduro, nhà độc tài vùng Caribê ». Lũng đoạn tư pháp, vô hiệu hóa Quốc hội, tra tấn những người đối lập trong lúc dân tình đói khổ…Trong ba năm qua, người kế nhiệm Hugo Chavez đã dập tắt những ngọn lửa leo lét cuối cùng của cuộc cách mạng Bolivar.
Thiếu đói, ba phần tư dân số sụt mất 9 kí lô

Tờ báo cho biết, theo nghiên cứu của một trường đại học, chỉ trong một năm qua, gần ba phần tư người dân Venenezuela đã bị sụt mất trung bình 9 kí lô. Sữa, mì, dầu ăn, trứng…tất cả đều thiếu thốn. Giáo viên bỏ lớp, bác sĩ rời bệnh viện để đi xếp hàng mua thực phẩm, xà bông…Họ phải chọn lựa, hoặc xếp hàng 5 đến 10 tiếng đồng hồ một ngày, hoặc phải trả cái giá gấp năm lần khi mua ngoài chợ đen. Có thể làm gì khác hơn, khi một giảng viên đại học đầy kinh nghiệm lương chỉ có 40 đô la mỗi tháng ?
Tại các khu lao động cũng như những khu phố sang trọng của thủ đô Caracas, người dân phải đi lục thùng rác. Mùa hè vừa qua, có những con thú biến mất khỏi sở thú, cảnh sát cho rằng những người bắt cóc chúng là để ăn thịt. Có đến 9/10 hộ gia đình khẳng định không có đủ thức ăn, và 10 triệu người mỗi ngày chỉ ăn một bữa, hầu hết là để nhường phần cho con. Ông Pedro José Garcia Sanchez, nhà xã hội học Venezuela nay sống ở Paris thổ lộ với tuần báo L’Obs : « Tôi nhận được những email đầy tuyệt vọng của bạn bè cũ, các giảng viên, cán bộ, van nài tôi giúp đỡ. Trước đây khi về Caracas, tôi mang theo gan béo, rượu vang ngon làm quà, thì bây giờ các va li của tôi nhét đầy những mặt hàng thiết yếu ».

Ngày lại ngày, đất nước chìm dần vào khủng hoảng, còn tổng thống Nicolas Maduro lại chối bỏ thực tế, từ chối viện trợ lương thực. Từ năm 2014, khi các siêu thị bắt đầu trống rỗng, ông kêu gọi « Đừng tiêu thụ quá trớn ». Maduro tố cáo « những kẻ tư bản lợi dụng » đã đầu cơ, tạo ra nạn khan hiếm giả tạo ; và các « đế quốc », đứng đầu là Mỹ, đã « bức hại Venezuela về tài chính ». Ông mặc kệ hai triệu người dân Venezuela phải tị nạn ở Brazil, Ecuador hay Colombia – những nước láng giềng nghèo mà trước đây Venezuela nhìn bằng nửa con mắt. « Ai không yêu nước mình thì cứ việc ra đi, chúng ta không cần họ ».

Một bé gái Venezuela bới rác tìm thức ăn thừa.
Cực tả châu Âu vẫn bênh vực đất nước của «chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21»

Bạo lực của lực lượng an ninh đã làm ít nhất 115 người chết từ tháng Tư đến tháng Bảy ? Đó là do lỗi của người biểu tình. Bắt bớ các lãnh đạo đối lập ? Đó là những kẻ muốn đảo chính. Giựt dây tư pháp, gây áp lực lên báo chí, hủy trưng cầu dân ý vì biết sẽ thua, vô hiệu hóa Quốc hội từ khi đối lập chiếm đa số năm 2016…Trong ba năm, ông Maduro đã phá sập từng thành lũy một của dân chủ, và mới nhất là việc dựng lên Quốc hội lập hiến, thâu tóm mọi quyền lực.

Nhà xã hội học Garcia Sanchez khẳng định : « Rõ ràng đó là một chế độ kiểu Stalin áp đặt một cách tuần tự, khiến nó trở nên hết sức hiệu quả ». Cũng như nhiều nhà ly khai khác, ông ngạc nhiên trước sự im lặng của cộng đồng quốc tế. 

Theo L’Obs, đó là vì phe cực tả khắp châu Âu vẫn dành cảm tình cho « chủ nghĩa xã hội thế kỷ 21 » mà Hugo Chavez hứa hẹn. Ngay tại Pháp, thủ lãnh đảng cực tả Nước Pháp Bất Khuất là ông Jean-Luc Mélenchon chưa bao giờ có một lời nào phê phán. Khi gọi Nicolas Maduro là « nhà độc tài », tổng thống Emmanuel Macron đã bị phe này chỉ trích dữ dội. Nhưng liệu có cách gọi nào khác cho một chế độ đang giam giữ ít nhất 600 tù nhân chính trị, trong những điều kiện tồi tệ ? Những bằng chứng do Human Rights Watch thu thập được cho thấy những người tù bị bỏ đói, không cho ngủ, tra tấn, bị buộc phải ăn phân…

Nicolas Maduro và Raul Castro tại La Habana ngày 22/09/2017.
Chiếc bóng của Cuba

Ông Hector Navarro, cựu bộ trưởng thời Chavez cho biết, Hugo Chavez trước đây biết lắng nghe, còn Nicolas Maduro chỉ thích bao quanh mình là những kẻ phỉnh nịnh. Xuất thân là tài xế xe buýt, Maduro là nhà hoạt động nghiệp đoàn đầy tham vọng, quen điều hành những cuộc biểu tình, « một kẻ quấy rối chuyên nghiệp ». Maduro nhanh chóng leo lên những bậc thang của Liên đoàn Xã hội, một phong trào nhỏ có liên hệ chặt chẽ với Cuba, sau đó trở thành đệ tử trung thành của Chavez. Vài năm sau khi được bổ nhiệm làm ngoại trưởng, Maduro theo hẳn chính sách của La Habana.

Nhà xã hội học Margarita Lopez Maya nhấn mạnh : « Ông ta toàn sang đảo quốc nhờ cố vấn. Nhiều nhà ngoại giao Venezuela đã từ chức, Maduro bèn thay thế bằng người của mình, những quân nhân chẳng biết gì về đối ngoại. Ông ta hoàn toàn bị Cuba khống chế ». Năm 2012 khi Chavez lâm bệnh nặng, việc chọn người kế vị rất đơn giản, tuy Nicolas Maduro không hề có được sự thu hút của Hugo Chavez lần tầm nhìn của Fidel Castro. Bà Maya nói : « Maduro chỉ là một người thừa hành, luốn thực hiện chính xác những gì Chavez yêu cầu ».
 
Castro đã áp đặt sự chọn lựa này chăng ? Cha Luis Ugalde, giảng viên đại học Dòng Tên vốn hiểu rất rõ chế độ cho biết : « Đây là chủ đề thảo luận giữa Chavez đang hấp hối và lãnh đạo Cuba ». Điều duy nhất có thể khẳng định là La Habana đã vớ bở. Hiện nay G2, cơ quan tình báo đầy quyền lực của Cuba, vẫn đang chiếm trọn một tầng lầu trong tòa nhà của cơ quan tình báo Venezuela !

Lục tìm thức ăn trong thùng rác, một cảnh tượng thường thấy ở Caracas.
Thuyền trưởng bất lực trước giông bão

Nhưng Nicolas Maduro không có được tầm vóc của một vị thuyền trưởng, đặc biệt là trong phong ba bão tố. Chiếc tàu mà ông được thừa kế có nguy cơ bị chìm đắm. Trước đây, nhờ nguồn lợi trời cho là dầu lửa, người hùng Chavez đã vung tiền không cần đếm, như một người trúng số độc đắc. Chavez chiếm được cảm tình của các nước láng giềng, các đảng anh em, và của nhân dân, với những chương trình xã hội hào phóng. Nhưng ông không hề chuẩn bị cho tương lai : không đầu tư vào sản xuất, không dự trữ ngoại hối, không có quỹ đầu tư. Khi Chavez qua đời, ngân sách quốc gia trống rỗng.

Không may cho Maduro : giá dầu thô thời Chavez từ 8 đô la tăng vọt lên 120 đô la một thùng, nhưng đến khi Maduro lên kế vị lại rơi xuống chỉ còn 20 đô la. Làm thế nào bây giờ ? « Con trai của Chavez » - như người ta mệnh danh – chỉ còn giải pháp tình thế. Quân đội tha hồ buôn lậu, tham nhũng. Dù có trữ lượng vàng đen thuộc loại lớn nhất thế giới, từ hai năm qua, Venezuela bắt đầu phải nhập dầu lửa. 

93,3% dân Venezuela khẳng định thu nhập không đủ để mua thực phẩm, 72,7% cho biết đã sụt mất 8,7 kí lô trong vòng một năm.
Tình hình y tế rất thê thảm : không còn insuline hay vắc-xin, không có thuốc cho người bị SIDA lẫn bệnh nhân ung thư cần hóa chất để trị liệu…Cũng như Liên Xô trong cuộc khủng hoảng thập niên 80, người bệnh phải cung cấp găng y tế và gạc cho bác sĩ nếu muốn được giải phẫu. Chính phủ không còn công bố những con số thống kê về tỉ lệ tử vong trẻ em, sự tái xuất hiện của một số bệnh như bại liệt…

Tổng sản phẩm nội địa sụt 30% trong ba năm liên tiếp – một kỷ lục thế giới – lạm phát trên 50% hàng tháng đối với thực phẩm, và trong nửa đầu năm 2017, giá cả đã tăng 366%. Hậu quả là trên ¾ người dân sống dưới ngưỡng nghèo khó. Nếu năm 2001, Venezuela là nước giàu nhất châu Mỹ la-tinh, thì nay vừa nằm trong số nước nghèo nhất, lại vừa nguy hiểm nhất : tỉ lệ các vụ giết người lên đến 91,8 trên 100.000 dân, cao gấp 20 lần so với Bắc Mỹ. Bị nghẹt thở vì món nợ khổng lồ, Venezuela nay đành phải bán mình cho Trung Quốc.
Ông Maduro sẽ còn đi đến đâu ? Nhà phân tích Mauricio Hernandez cho rằng : « Sẽ đi càng xa càng tốt nếu có thể, để duy trì quyền lực. Những người thân cận đều biết họ đang lao thẳng vào băng sơn, nhưng cũng hiểu rằng nếu mất quyền, họ có nguy cơ vào tù ».

Một người bán hàng rong ở La Habana mời mọc du khách Mỹ, 29/09/2017.
Cuba mở hé cửa thị trường, nhưng vẫn chống tư bản !

Cũng về châu Mỹ La-tinh, Le Monde Diplomatique nhận định « Cuba thích kinh tế thị trường nhưng lại không muốn tư bản chủ nghĩa ». Chủ tịch Raul Castro loan báo sẽ rời chức vụ vào năm 2018, người kế vị có thể là Miguel Diaz-Canel, sinh sau khi Fidel lên ngôi ở La Habana. Đây là một cuộc cách mạng nho nhỏ, sau khi ông Raul cố gắng đưa mô hình kinh tế Cuba thích ứng với thời thế.

Các nhà quan sát ghi nhận, chủ tịch 86 tuổi Raul Castro đã bỏ qua nhiều dịp kỷ niệm : 55 năm cách mạng chiến thắng, 161 năm ngày sinh người hùng José Marti…Từ khi lên thay người anh Fidel, ông Raul đã mở cửa cho những người làm ăn cá thể, với 201 nghề nghiệp được cho phép, chủ yếu là nghề thủ công. Các tiểu chủ còn được mời tham dự cuộc diễu hành trang trọng nhân ngày lễ Lao Động 1/5. Năm ngoái, đảo quốc đã tiếp đón đến 4 triệu khách du lịch.

Nhưng năm 2016, lần đầu tiên Cuba bị suy thoái (-0,9%), dầu thô được Venezuela bán với giá hữu nghị đã giảm 40%. Người dân phải tự xoay sở bằng mọi cách để sinh tồn, nhưng phe cứng rắn trong chính quyền vẫn coi lãnh vực tư nhân là kẻ thù của cách mạng. Nhà kinh tế Pedro Monreal nhận xét, trong khi hầu hết các nước cố gắng xóa đói giảm nghèo, thì Cuba lại đấu tranh chống giàu có !

Biểu tình trước đại sứ quán Miến Điện tại Jakarta ngày 08/09/2017 lên án việc bức hại người Rohingya.
Aung San Suu Kyi, thần tượng sụp đổ

Thảm trạng của người Rohingya tại Miến Điện, tình hình căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên, chiến thắng mang dư vị đắng của thủ tướng Đức Angela Merkel, Catalunya đấu tranh đòi ly khai khỏi Tây Ban Nha… là những vấn đề thời sự quốc tế được các tuần báo Pháp kỳ này quan tâm. 

Về châu Á, Le Courrier International có hồ sơ « Miến Điện : Tất cả đều chống lại người Rohingya ». Điều trớ trêu là quân đội vốn bị ghét bỏ sau 50 năm độc tài quyền lực, nay lại giành được tính chính danh khi tấn công lực lượng ARSA mới thành lập của người Rohingya mới thành lập, khiến trên 400.000 thường dân phải di tản. Nhưng chính sự im lặng của giải Nobel hòa bình Aung San Suu Kyi mới gây sốc cho phương Tây.

Trong bài « Aung San Suu Kyi, thần tượng sụp đổ », tờ Mekong Review ở Sydney tỏ ý tiếc là Lady của Răngun đã rơi xuống khỏi chiếc bục mà phương Tây đã dựng lên. Từ khi lên nắm quyền, bà luôn từ chối đề cập cụ thể đến vấn đề người Rohingya. Năm 2015, bà cấm các thành viên theo đạo Hồi của đảng LND ra ứng cử Quốc hội, và đến 2016 còn yêu cầu các viên chức và ngoại giao đoàn không dùng từ « Rohingya », thay vào đó là « những người Hồi Giáo bang Arakan ».
 
Bán nguyệt san Mỹ The New Republic nêu lên thắc mắc của nhiều người : « Liệu đó có phải là bà Aung San Suu Kyi thực sự hay không ? ». Lá thư ngỏ của hơn một chục giải Nobel hòa bình gởi lên Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc tháng 12/2016 về nạn đàn áp người Rohingya đã khiến tên tuổi bà bị ảnh hưởng nặng nề, nhiều chuyên gia về Miến Điện gọi bà Suu Kyi là « nhà dân chủ độc tài ». Sử sách sẽ ghi lại cái tên Aung San Suu Kyi như một ngôi sao rơi rụng, một thần tượng có đôi chân bằng đất sét.

Các áp-phích "Hồng Kông độc lập" tại City University, Hồng Kông ngày 08/09/2017.
Hồng Kông : Cuộc chiến biểu ngữ của sinh viên đòi độc lập

Cũng về châu Á, Le Monde cuối tuần cho biết « Tại Hồng Kông, những người đòi độc lập đấu tranh bằng biểu ngữ ». Nếu mùa tựu trường 2016 được đánh dấu bằng việc phát các tờ rơi vận động cho độc lập trước các trường trung học và đại học ở Hồng Kông, thì mùa khai trường năm nay ý tưởng này lại xuất hiện tại giảng đường, các diễn đàn đại học.

Tại sáu trường đại học Hồng Kông uy tín nhất, những bức tường để dán những mẩu rao vặt bỗng đầy những áp-phích kêu gọi độc lập cho Hồng Kông. Phe thân Bắc Kinh bèn thức suốt đêm để gỡ bỏ, dán chồng lên những áp-phích tuyên truyền cho chế độ, và trong nhiều trường hợp, bảo vệ nhà trường phải can thiệp để tránh xô xát giữa hai bên. 

Nhưng cuộc đấu khẩu bộc phát dữ dội vào giữa tháng Chín, do trong một cuộc tập hợp những người thân Bắc Kinh, dân biểu Hà Quân Nghiêu (Junius Ho) và cán bộ quận Tăng Thụ Hòa (Tsang Shu Wo), tuyên bố rằng các lãnh đạo phong trào dân chủ xứng đáng « bị giết chết không thương tiếc ». Báo chí Hồng Kông so sánh với thời Cách mạng Văn hóa, 22 dân biểu đối lập ra thông cáo chung lên án. Còn về các biểu ngữ, nghiệp đoàn trường đại học danh giá Hong Kong U đòi hỏi phải có quy định rõ ràng về những gì được và không được dán, nếu không thì phải để sinh viên tự do biểu đạt.

Trụ sở ngân hàng Société Générale ở khu tài chính La Défense gần Paris.
Tổng thống Pháp biếu không 4,5 tỉ euro cho những người giàu nhất ?

Về thời sự nước Pháp, tuần san L’Obs đăng ảnh tổng thống Pháp Emmanuel Macron trên trang nhất và đặt câu hỏi « Canh bạc 4,5 tỉ euro : Tại sao ông đem cho người giàu ? ». Kể từ năm 2018, tổng thống Pháp giảm đến 4,5 tỉ euro tiền thuế cho những người giàu có nhất, với hy vọng số tiền này sẽ được tái đầu tư vào nền kinh tế. Nhưng theo tờ báo, đây là một canh bạc đầy rủi ro.

Những người được lợi nhiều nhất trong việc cải cách sắc thuế đánh vào tài sản (ISF) chỉ chiếm 1% dân số Pháp. Đó là khoảng 280.000 gia đình rất giàu : có thu nhập trên 30.000 euro/tháng, hoặc có tài sản trị giá trên 2 triệu euro. Một đại biểu hội đồng quận 15 Paris than thở : « Làm thế nào giải thích cho những người tuổi 60 sở hữu một căn hộ cũ, là họ sẽ bị đánh thuế nhiều hơn các nhân viên giao dịch chứng khoán trẻ tuổi đi xe Ferrari ? »

Ngủ đủ giấc tránh được béo phì, đau tim, tiểu đường…

Trên lãnh vực xã hội, Le Point dành hồ sơ cho giấc ngủ. Theo những phát hiện mới nhất của khoa học, thì giấc ngủ ngon vô cùng quan trọng cho sức khỏe, khả năng tập trung tư tưởng, trí nhớ và cả sự thành công. 

Không phải là ngẫu nhiên khi con người phải dành đến một phần ba cuộc đời để ngủ. Theo Viện nghiên cứu về giấc ngủ (INSV), những phụ nữ ngủ dưới 6 giờ/ngày, có 34% nguy cơ bị béo phì, còn đối với nam giới thì lên đến 50%. Nguy cơ bị đau tim và cao huyết áp tăng 48%, đột quỵ 15%, bên cạnh đó là tiểu đường, ung thư.

Đối với các nhà lãnh đạo, ngủ ít không có nghĩa là làm việc được hiệu quả hơn. Cựu tổng thống Mỹ Bill Clinton từng thú nhận : « Tất cả những sai lầm lớn mà tôi phạm phải trong cuộc đời đều là do mệt mỏi ». Đức giáo hoàng Phanxicô mỗi ngày đều dành ra 40 phút cho giấc ngủ trưa.

Tất nhiên là luôn có những người không thích theo quy luật tự nhiên, mà người nổi tiếng nhất đang ngự trong Nhà Trắng. Ông Donald Trump khoe rằng chỉ ngủ bốn tiếng đồng hồ mỗi ngày, nên có nhiều thì giờ hơn các đối thủ. Trong thời gian tranh cử, đôi khi ông chỉ ngủ có 90 phút mà thôi. Thế nên mới có chuyện ông viết Twitter mắng cô hoa hậu hoàn vũ Alicia Machado vào lúc ba giờ rưỡi sáng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tôi đi kiểm tra... Trung Quốc..

 (Ghi nhanh, thư giãn)

1
Từ Sài Gòn bay đi Bắc Kinh HẾT 6 TIẾNG, các chuyến tour thường bay sáng sớm (để kịp đi tham quan buổi chiều), tức nếu bạn bay vào lúc 5g sáng sớm ở SG thì 11g sáng sẽ đến Bắc Kinh. 
Vận tốc của máy bay Airbus chẳng hạn, thường là 800km/h, trừ lên xuống (chậm) nên vận tốc trung bình là 600km/h, dễ suy ra KHOẢNG CÁCH SÀI GÒN-BẮC KINH KHOẢNG 3600-3800km (tương đương khoảng cách đến Seoul, Hàn Quốc*, Bình Nhưỡng, Bắc Triều Tiên, hay Tokyo, Nhật Bản, có thể xem 4 thủ đô này là cùng ‘kinh độ’), càng dễ suy ra khoảng cách Hà Nội-Bắc Kinh.

Sài Gòn nói riêng hay Việt Nam nói chung, CÁCH TRUNG QUỐC 1G hay ‘một múi giờ’, tức nếu ở VN là 11g sáng thì ở Bắc Kinh là 12g trưa (còn ở Seoul Hàn Quốc thì ‘trễ’ hơn, cách ta hai ‘múi giờ’, nên là 1g chiều).
Vào mùa thu, khí hậu ở Bắc Kinh khá mát mẻ, nay, ban ngày có nhiệt độ là 20 độ C...


*
Có một cái đúng trên mạng, đó là BẮC KINH BỊ Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG RẤT NẶNG: 'bên này ô nhiễm lắm đi đâu cũng bụi mù trời' (trích Sổ tay ghi chép)...
KHÁCH SẠN (giá trung bình) ở Bắc Kinh giống như các khách sạn ở VN, vì khách sạn nào cũng như khách sạn nào!, đối với các tour du lịch thì khách có thể ở chung 3-4 người một phòng.
Từ khách sạn nhìn ra, đường phố Bắc Kinh 'vào đêm' trông giống như đường Trần Hưng Đạo, Hà Nội hay Nguyễn Huệ, Sài Gòn, đường khá vắng (so với VN) vì CHỦ YẾU LÀ Ô-TÔ/XE CA chứ hầu như không có xe máy...

*
'Bên này người ta KHÔNG CHO DÙNG FACEBOOK' (trích Sổ tay ghi chép), tuy nhiên, nếu du khách mua sim lạ - một loại 'sim đặc biệt' thì có thể truy cập facebook, chứ không hẳn là tuyệt đối 'cấm', tức là ta có thể dùng 'video call' (một loại tương đương webcam hay skype...) gọi về VN nói chuyện thoải mái.
Nay, 1 đồng TQ (tệ) = 3.500 đồng VN, trong khi vào năm 2000, 1 tệ = 2.000 đ... Cho nên, muốn truy cập facebook thì khách phải mua một cái sim giá 700k (tức 200 'tệ', đắt hơn bên Sin - có 300k) tên là TRUEMOVE với toàn tiếng Anh (xem hình)...
*
ĂN UỐNG ở TQ có thể nói là khá khác, nếu không muốn nói là rất khác với VN.
Tương tự như ở Chợ Lớn, Sài Gòn, hay bên Singapore, người Tàu ăn bày biện đơn giản, không cầu kỳ, kiểu cách (xem hình). Họ thường ăn bằng nĩa, chủ yếu là ăn đồ xào, dùng dầu và đường nhiều: 'Món nào cũng toàn dầu..., không có nước mắm..., nó nấu toàn xì dầu với dầu ăn thôi..., canh thì nó hỗn độn và đục đục chứ nước không ‘trong’ như bên mình' (trích Sổ tay ghi chép), tức không có canh 'thuần' rau muống, bù ngót, rau đay, bầu, bí đao... như bên ta...
Ngoài ra, ở bên đó quan sát thấy nhà hàng nào, khách nào cũng uống bia loại 500ml với nhãn hiệu là Yanjina...
Nói chung, trừ trường hợp người Việt đi tour thì do đăng ký trước nên có cơm ăn, đũa..., thì có thể hình dung cơm Tàu thường là ‘cơm xào’ - giống như cơm chiên Dương Châu, canh Tàu là canh thập cẩm - gần gần như kiểu canh chua cá lóc hay bún mắm miền Tây, hay món cà ri - nhưng không được bài bản như cà ri đám cưới ở VN...
*
Du khách thường được ở không xa Quảng trường Thiên An Môn lắm... 
Thường đầu tiên là đi thăm BIỆT PHỦ HÒA THÂN (Hòa đại nhân*) - một trong những ‘Thiên hạ đệ nhất tham quan' trong lịch sử Trung Hoa... Có thế nói là thời đoạn 1790-1799 là thời giàu cực đỉnh của Hòa Thân: 'khu kho chứa của cải của ổng gồm 3-4 gian, gian dài nhất khoảng 50, 60m' (trích Sổ tay ghi chép)...
'Sau khi vua Càn Long chết, do những tác động hữu hiệu của Kỷ Hiểu Lam và Lưu Dung (Tể tướng Lưu Gù), Hòa Thân bị vua Gia Khánh hạ lệnh thắt cổ giữa chợ' - tư liệu trên mạng hay wikipedia là không đúng lắm!, bởi sự thật là Hòa Thân 'chấp hành' lệnh của vua Gia Khánh, phải tự thắt cổ mà chết (một trong 2 hình phạt của hoàng đế Tàu, một là uống thuốc độc, hai là thắt cổ chết bằng dải lụa).
Lý do: Được đồn đại là môt 'bê-đê' của Càn Long!, thuở sinh thời, Hòa Thân có được Càn Long tặng một chữ 'phúc' (xem hình). Bảng chữ 'phúc' này hiện nay được bảo tồn, được lồng kính nên nếu nhìn từ xa thì không rõ lắm...
Nay, 'chữ này nằm sâu trong hang... do ổng xây dựng để cất..., nhờ chữ phúc này mà sau này gia đình Hoà Thân thoát chết..., ông chỉ phải tự treo cổ' (trích Sổ tay ghi chép), bởi bên Tàu thời phong kiến có lệnh 'tru di tam tộc', thậm chí là 'tru di cửu tộc'!...
*
TIẾNG TÀU rất khó nhớ, và mặc dù có đi chung với vài người Việt gốc Tàu, nhưng 'nghe miết mà chẳng nhớ nổi’!

Xin hẹn ngày mai kể tiếp…

---------
Chú dẫn:
1- Đi tour Hàn Quốc: Xứ Hàn cách ta 2 múi giờ (lệch về phía biển), nên cứ lấy giờ ta cộng thêm 2 là ra giờ Hàn; nó cách ta khoảng 3400km, nên từ Đà Nẵng có thể bay đến Seoul (sân bay Incheon, đồng thời cũng là một nơi quá cảnh để bay sang Mỹ) hết khoảng 3,5 - 4,5g, tùy theo điều kiện thời tiết tốt hay xấu (và nói chung khoảng cách từ ta đến Bắc Kinh, Seoul, Bình Nhưỡng (cách Seoul 50km)… là khá như nhau, vì chúng gần như cùng nằm trên một tuyến nằm ngang), có nhiệt độ biến thiên từ âm 6 độ đến 6 độ C (có lúc âm 12 độ) vào mùa đông với nhiều nơi tuyết rơi như bông trên đầu người và nước trên nhiều dòng sông có thể bị đóng băng… Xem thêm: http://nhagomlabang.blogspot.com/2017/02/897-bat-canh-he-nguoi-tinh-im-lang.html
2- Hòa đại nhân: ‘Hòa đại nhân’ hay Hòa Thân (1750-1799) xuất thân từ một gia đình nhà võ, không giàu có lắm. Tuy không có bằng cấp nổi trội, nhưng thuở nhỏ ông là một cậu bé có thiên tư, có một nền học vấn rất cơ bản, lớn lên lại rất chịu khó tự học, vì thế có lúc làm đến chức Quân cơ đại thần, Cửu môn đề đốc…., đặc biệt là ông rất có tài về ‘nâng cần’ ( = nịnh). Ông là ‘sủng thần’ của vua Càn Long, đã từng tư vấn nhiều ‘giải pháp’ trị nước cho vua và được đề bạt thăng chức đến 47 lần (mà được xem là ‘vị vua thứ hai’ vào thời đó). Tuy nhiên, ông yêu ‘tiền’ hơn dân mà đã đem hết trí lực và sức lực trong đời ra để vơ vét càng nhiều càng tốt, ông đã từng tuyên bố: ‘thứ gì mà Hoàng Thượng có, ta cũng có, thứ gì Hoàng Thượng không có, ta cũng phải có’, và ngày nay Cung Vương Phủ vẫn còn đó: ‘Tổng diện tích 60 nghìn m2, trong đó phủ đệ chiếm 32 nghìn m2, hoa viên chiếm 28 nghìn m2’, và 'Hoa viên còn được gọi là Tụy Cẩm Viên. Bố cục tổng thể 3 mặt giáp giả sơn, với hơn 50 Cảnh Điểm phân bố 3 trục Đông, Tây, Trung. Vương Phủ theo vòng quay của thời gian, hàm chứa hết những tinh túy, cao quý của văn hóa Vương phủ đời Thanh’ (theo ttvnol.com). Vì thế, ông được nhân dân phong tặng danh hiệu ‘Đệ nhất tham quan’. Sau khi vua Càn Long chết, do những tác động hữu hiệu của Kỷ Hiểu Lam và Lưu Dung, Hòa Thân bị vua Gia Khánh hạ lệnh thắt cổ giữa chợ, thế là Đệ nhất tham quan cũng đành phải ‘tủi nhục’ về với cát bụi. Xem thêm: http://nhagomlabang.blogspot.com/2013/03/324-nhan-oc-truyen-ky-hieu-lam-te-tuong.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Oan Thị Mầu


Trân Văn - Theo báo chí Việt Nam, ngày 28 tháng 9, Tổng cục Môi trường đã triệu hồi ông Nguyễn Xuân Quang về Hà Nội để giải trình. Chẳng riêng dân chúng, báo giới mà bây giờ, dường như cả lãnh đạo Tổng cục Môi trường cũng thiếu đồng cảm với ông Quang, người vừa mất 385 triệu đồng!
Image result for Nguyễn Xuân Quang Cục phó Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường
Đúng là “họa vô đơn chí”!
Ông Quang, Cục phó Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường là một trong những viên chức được chỉ định làm lãnh đạo mười đoàn thanh tra, chia nhau kiểm tra tất cả các doanh nghiệp mà hoạt động có thể nguy hại cho môi trường trên khắp Việt Nam.

Ông Quang đến Long An hôm 20 tháng 9, dự tính sẽ ở đó 45 ngày để kiểm tra hoạt động của 30 doanh nghiệp. Mới kiểm tra được bảy doanh nghiệp thì ngày 26 tháng 9, phòng của ông Quang tại một khách sạn ở thị xã Tân An bị trộm viếng. Gần 400 triệu của ông Quang không cánh mà bay. Đã vậy Công an Long An còn tiết lộ thêm với báo chí, rằng may mà ông Quang vừa đem đến ngân hàng, gửi vào tài khoản riêng của ông một khoản tiền lớn (không rõ số lượng), nếu không, hậu quả của vụ trộm còn trầm trọng hơn.

Đáng nói là chỉ một mình ông Quang đau xót. Còn công an, báo giới, dân chúng đều cùng làm ngơ trước nỗi đau ấy. Dù ông Quang đã giải thích là khoản tiền khổng lồ so với thu nhập bình thường của một viên chức đó là tiền Nguyễn phu nhân giao cho ông mang vào Sài Gòn giải quyết việc riêng của gia đình nhưng thiên hạ chẳng những không tin lại còn gièm pha.

Hẳn ông Quang rất buồn vì chẳng “thằng nào, con nào” thấy sự tận tụy của ông. Hoạt động của những doanh nghiệp mà ông Quang phải kiểm tra trong đợt công tác này đều thuộc loại phức tạp. Đâu dễ để xác định việc xả - xử lý nước thải từ sản xuất giấy, dệt, nhuộm, bao bì, hóa chất,… có gây nguy hại cho môi trường hay không, vậy mà trong sáu ngày, ông đã kiểm tra xong tới 7/30 doanh nghiệp thuộc loại này. Dưới gầm trời đầy dẫy chuyện ô trọc, vàng thau lẫn lộn, “đố cha thằng nào con nào” tìm được những người có năng lực tuyệt vời tới vậy.

Thiên hạ rõ ràng là… bạc!
***

Chẳng phải bây giờ mà nhiều năm gần đây, dân chúng Việt Nam thường xuyên tỏ ra bạc bẽo như thế đối với các “công bộc” của họ.

Năm 2011, ông Hoàng Thế Liên, Thứ trưởng Bộ Tư pháp, bị kẻ gian đột nhập vào phòng làm việc, cuỗm mất 245 triệu đồng và 2.000 Mỹ kim... Trong năm 2011, kẻ gian đột nhập tư gia của ông Trương Công Chiến, Đội trưởng Đội Thuế Trước bạ của Chi cục Thuế quận Bình Tân, TP.HCM, cuỗm sổ tiết kiệm, Mỹ kim, vàng, nữ trang, trị giá hơn sáu tỉ đồng... Năm 2012, kẻ gian đột nhập tư gia của ông Đồng Xuân Thọ, Phó Ban Chỉ đạo Chống tham nhũng của tỉnh Đồng Nai, trộm một chiếc xe hơi trị giá 800 triệu đồng... Năm 2013, kẻ gian đột nhập vào tư gia ông Đặng Xuân Thọ, Giám đốc Sở Tài chính tỉnh Kon Tum, cuỗm mất 65 lượng vàng, vào thời điểm đó trị giá khoảng 2,8 tỉ đồng... Cũng trong năm 2013, kẻ giam đột nhập tư gia của một cặp vợ chồng mà vợ là cán bộ Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An, chồng là cảnh sát giao thông tỉnh Nghệ An, cuỗm cả tiền lẫn vàng, trị giá khoảng hai tỉ đồng... Năm 2014, kẻ gian đột nhập phòng làm việc của ông Đào Anh Kiệt, Giám đốc Sở Tài nguyên – Môi trường TP.HCM, cuỗm 1,6 tỉ đồng…

Thế nhưng không riêng dân chúng mà ngay cả báo chí cách mạng cũng tỏ ra thiếu đồng cảm trong việc… chia sẻ hoạn nạn với các… nạn nhân. Yếu tố nổi lên hàng đầu sau những vụ trộm vừa kể luôn luôn là chuỗi thắc mắc, bình phẩm tại sao các “công bộc” nhiều tiền, lắm vàng như vậy? Luồng dư luận có tính chủ đạo ấy khiến phòng làm việc và tư gia của các “công bộc” trở thành nơi nhiều kẻ gian thích thăm viếng. Các “công bộc” vốn đã đau vì mất của, lại phải ngậm đắng nuốt cay, khai báo có khác gì chường mặt cho “chúng” dè bỉu.

Năm 2014, khi điều tra hoạt động của một băng trộm tại Bắc Kạn, công an Bắc Kạn phát giác, hóa ra băng trộm này từng đột nhập tư gia của ông Lăng Văn Hòa (Giám đốc Sở Giao thông – Vận tải Bắc Kạn) và bà Dương Thị Hạnh (cán bộ Tỉnh ủy Bắc Kạn) trộm cả tiền, Mỹ kim, vàng, nữ trang, trị giá 1,2 tỉ. Tương tự, sau khi công an Việt Nam bắt được Nguyễn Tuấn Vũ, công chúng Việt Nam mới biết, phòng làm việc của nhiều “công bộc” tại các tỉnh: Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thanh Hóa, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế, Đà Nẵng, Quảng Nam, Bình Định, Đắk Lắk, Ninh Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, Bình Dương, Cần Thơ, Sóc Trăng,… đều đã từng bị Vũ “viếng”.

Năm 2015, sau khi ông Võ Kim Cự, lúc đó là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Hà Tĩnh, bắt quả tang Nguyễn Tiến Quân đang cạy cửa phòng làm việc của mình, người ta mới biết phòng làm việc của ông Cự thời ông làm Chủ tịch tỉnh này từng bị Quân viếng mà ông Cự không kể nên người ta không rõ Quân nẫng của ông bao nhiêu. Thiên hạ chỉ biết Phó Chủ tịch huyện Can Lộc từng bị Quân đột nhập vào phòng làm việc trộm 233 triệu đồng!

Nói theo kiểu ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Việt Nam khóa 13 thì rõ ràng là “văn hóa ứng xử tại Việt Nam đang có vấn đề”. Tiếc là ông Kiên đã thôi đăng đàn nên không thể nhờ ông phân tích “vấn đề” về “văn hóa ứng xử” đến từ phía nào và tại sao lại thế!
***

Bây giờ thì nhiều người đang tỏ ra hồ hởi trước sự kiện ông Quang – nạn nhân vụ trộm 385 triệu đồng – bị triệu hồi về Hà Nội để giải trình. Thế là không “ôn cố”, làm sao có thể “tri tân”?

Hồi thượng tuần tháng 4 năm 2006, tiếp viên trên một phi cơ của Vietnam Airlines giao lại cho An ninh hàng không của phi trường Nội Bài một cái cặp hiệu Echolac, ở quai có gắn thẻ VIP mà hành khách để quên. Mở cặp để thực hiện các thủ tục liên quan đến hành lý vô chủ, An ninh hàng không tìm thấy 11 phong bì mà hai ghi nơi gửi là Ủy ban nhân dân các tỉnh Bình Định và Phú Yên. Hai ghi nơi gửi là các doanh nghiệp nhà nước (Ban Quản lý Dự án thủy điện Sê San 3A thuộc Tổng Công ty Sông Đà, Công ty Tư vấn - Xây dựng đường thuỷ thuộc Tổng Công ty Tư vấn - Thiết kế giao thông vận tải). 7/11 phong bì không ghi nơi gửi. Tổng số tiền chứa trong 11 phong bì này lên tới 20 triệu đồng và 10.300 Mỹ kim…

Sau đó, Ủy ban Kiểm tra của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN đã làm việc với An ninh Hàng không để thu lại cặp vì nó của ông Nguyễn Văn Lâm, Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ - chức vụ tương đương Thứ trưởng. Một trong những cá nhân mà chỉ Ban Bí thư của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN mới có quyền định đoạt số phận.

Do tác động của dư luận, Đảng ủy Văn phòng Chính phủ đã tổ chức kiểm điểm ông Lâm vì lỗi “quên cặp sau chuyến công tác dài ngày ở miền Trung”. Nơi này thông báo, nhờ trong cặp không có tài liệu mật nên lỗi của ông Lâm không đáng kể.

Đảng ủy Văn phòng Chính phủ nói thêm, họ không kiểm điểm chuyện ông Lâm đã nhận phong bì do một số nơi gửi tặng bởi đó là “quà cho cả đoàn”. Ủy ban Kiểm tra của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN chấp nhận giải thích của ông Lâm về 7/11 phong bì không ghi nơi gửi: Đó là tiền do “anh em trong Nam gửi mua ‘sừng tê’ và một số thứ khác.

Để dân chúng thôi dị nghị, Văn phòng Chính phủ loan báo sẽ chuyển ông Lâm từ chỗ đặc trách chống tham nhũng, buôn lậu và gian lận thương mại sang đặc trách nghiên cứu, xây dựng pháp luật. Ông Đoàn Mạnh Giao, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ lúc đó, loan báo, tuy Ủy ban Kiểm tra của Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN không có ý kiến về khoản tiền ông Lâm đã nhận của một số nơi nhưng ông Lâm vẫn chứng tỏ thiện tâm bằng cách gửi số tiền ấy vào Quỹ Công đoàn của Văn phòng Chính phủ nhằm… giúp người nghèo và khuyến học.

Việc tiếp nhận – xử lý vụ ông Nguyễn Văn Lâm của Đảng, Chính phủ đã nghiêm túc, khách quan đến vậy mà dân chúng vẫn cứ bàn ra, tán vào. Tháng 7 năm 2006, ông Lâm xin từ chức. Thật là… đau lòng!
***

Việt Nam có hàng chục ngàn người nhờ nghiên cứu những đề tài kiểu như “Tắm, giặt của chiến sĩ miền núi” mà trở thành tiến sĩ nhưng lại chưa có ai nghiên cứu vấn đề đang càng ngày càng nóng: Tại sao ác cảm của dân chúng Việt Nam đối với “công bộc” càng ngày càng tăng? Bao giờ các nghiên cứu sinh tiến sĩ của hệ thống Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh chú ý tới đề tài này nhỉ?
Trân Văn


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đâu mới thực sự là nỗi đau?


Cách một chức vụ trong quá khứ mà gọi là đau ư? Có nỗi đau nào hơn khi nhìn vào một nền kinh tế bệ rạc, khi nhân dân mất đi mồ hôi xương máu của mình? Có nỗi đau nào hơn khi hàng ngàn, hàng chục ngàn tỉ đồng và thậm chí còn hơn thế nữa bị mất đi theo những dự án vĩ cuồng, những dự án với các tính toán phi thực tế, phi quy luật, để lại hậu quả từ thất thoát đến thua lỗ và phá sản?

Vậy là Liên minh hợp tác xã Việt Nam đã có một lãnh đạo mới. Điều này đồng nghĩa, chức danh Chủ tịch Liên minh Hợp tác xã Việt Nam là điểm dừng chân cuối cùng trong sự nghiệp chính trị của ông Võ Kim Cự.

Với tất cả những gì đã làm, sau tất cả những gì đã xảy ra, có lẽ Võ Kim Cự là một người may mắn khi chỉ bị cách các chức vụ trong quá khứ, còn chức danh hiện tại vẫn được giữ nguyên để chờ ngày về hưu, một cách để hạ cánh an toàn.

Nhưng, khi một quan chức đã có sai phạm bị kết luận ở mức nghiêm trọng lại gặp may mắn trong sự nghiệp chính trị còn lại của mình, thì đó thực sự là nỗi bất hạnh của nhân dân.

Những người có trách nhiệm nói đại ý rằng, cách các chức vụ trong quá khứ là một biện pháp rất đau đối với kẻ đã làm điều sai trái. Nhưng, tôi đang tự hỏi, họ có thực sự biết đau không? Họ có còn biết đến liêm sỉ không? Họ có còn biết đến đạo đức của một con người không? Họ có còn coi trọng đạo làm quan không?...

Nếu còn thì tại sao có thể làm những việc ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo của nhân dân và làm suy kiệt tiềm lực của đất nước?

Nếu không thì làm sao cảm nhận được thế nào là nhục, thế nào là đau?

Cách một chức vụ trong quá khứ xa lắc xa lơ chẳng ảnh hưởng gì đến mũ cao áo dài hiện tại mà gọi là đau ư? Nỗi đau ấy là cái gì nếu so với nỗi đau khi một vùng biển mênh mông của đất nước bị đầu độc, khi sinh kế của hàng trăm ngàn người dân bị ảnh hưởng, khi những chiếc thuyền nằm yên trên cát và ngư dân buộc phải rời bỏ chiếc lưới đánh cá của mình?

Cách một chức vụ trong quá khứ mà gọi là đau ư? Có nỗi đau nào hơn khi nhìn vào một nền kinh tế bệ rạc, khi nhân dân mất đi mồ hôi xương máu của mình? Có nỗi đau nào hơn khi hàng ngàn, hàng chục ngàn tỉ đồng và thậm chí còn hơn thế nữa bị mất đi theo những dự án vĩ cuồng, những dự án với các tính toán phi thực tế, phi quy luật, để lại hậu quả từ thất thoát đến thua lỗ và phá sản?

Có nỗi đau nào hơn khi người dân cứ miệt mài làm lụng, thắt lưng buộc bụng, cun cút đóng góp vào ngân khố quốc gia, để rồi kẻ cắp biến thành của mình? Để rồi tiền thuế của dân bị bòn rút, môi trường bị ô nhiễm, tài nguyên thiên nhiên bị khai thác vô tội vạ? Và cuối cùng là nguồn lực quốc gia ngày càng cạn kiệt.

Trong bất kì một thể chế chính trị nào, khi quan tham có thể cười thì nhân dân sẽ luôn phải khóc.

Bạch Hoàn
(FB Bạch Hoàn)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

VŨ HỮU ĐỊNH, ĐƯỜNG ĐI CHƯA TỚI


(Nhân bác Lê Quỳnh Kontum hỏi bài viết đã lâu về nhà thơ tôi yêu mến Vũ Hữu Định. Tiện tôi treo lại, bác nào chưa đọc, đọc cho vui)

(nhà thơ Vũ Hữu Định 1942-1981)
Từ độ Nguyễn Bính bị “giam mình“ bởi Trăm Hoa đua nở, để rồi phải chết trong cái tận cùng của sự đói khổ vào một đầu ngày xuân, nơi bè bạn. Cứ tưởng rằng, văn học sử Việt Nam không phải viết tiếp những cái bi thương đó. Nhưng đúng mười lăm năm sau (1981) thi sĩ Vũ Hữu Định ra đi, trong cái khốn cùng ấy, đã lặp lại y chang bóng hình Nguyễn Bính. Tuy không cùng một thế hệ, nhưng Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định đều là hai thi sĩ đích thực nhất, lấy thơ, rượu và rong chơi bạn bè, giang hồ làm thú vui của cuộc đời. Nếu như Lỡ Bước Sang Ngang hay đến độ trùm cả lên tên gọi của Nguyễn Bính, thì Còn Một Chút Gì Để Nhớ đã làm nên tên tuổi nghệ sĩ Vũ Hữu Định. Tôi không có ý so sánh, nhưng quả thật, Nguyễn Bính và Vũ Hữu Định có những cá tính, thân phận khá trùng hợp nhau.
Vũ Hữu Định tên thật là Lê Quang Trung, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên Huế, trong gia cảnh nghèo túng. Cuộc đời lang bạt nhiều nơi, nhưng Đà Nẵng mới là chốn đi về, cũng là nơi dừng chân cuối cùng của ông.
Vũ Hữu Định bộc lộ năng khiếu văn thơ khá sớm. Những năm đầu thập niên sáu mươi, của thế kỷ trước, ông đã có thơ đăng rải rác trên các báo ở Sài Gòn. Nhưng phải đến chục năm sau,(1970)thơ của ông mới thật sự bước vào độ chín. Dù trước khi dừng bước giang hồ (chết) Vũ Hữu Định chưa có một tập thơ riêng nào, nhưng thơ của ông đã được in một cách trân trọng, sâu đậm nhất, trong lòng bạn bè và người đọc, từ suốt mấy chục năm qua. Tôi nghĩ, Vũ Hữu Định đã chinh phục được nhiều thế hệ người đọc như vậy, bởi sự trong sáng trong thơ, trong tư tưởng, chứ không hẳn chỉ vì tài năng của ông. Thơ Vũ Hữu Định nhẹ nhàng không chỉ trong tình yêu quê hương, tình yêu đôi lứa, tình bằng hữu, mà khi viết về thân phận con người dù trong xã hội, hoàn cảnh bi đát nhất, đắng chát nhất, ta vẫn cảm thấy lời thơ, nỗi buồn ấy, man mác, dìu dịu, dường như thoảng qua thôi. Chứ tuyệt nhiên không thấy nó bùng, hoặc gợn lên một chút hằn học, đắng cay. Nên đọc thơ ông, không gây cảm giác nặng nề, dù người đọc khó và kỹ tính nhất.
Cũng như Nguyễn Bính, cuộc đời Vũ Hữu Định là chuỗi ngày dài khao khát tìm kiếm, trong men say với những bước chân giang hồ. Nhưng nó lại là chiếc vòng luẩn quẩn, Vũ Hữu Định không bao giờ đi tới đích. Cho nên, bốn mươi năm rong chơi, cuộc đời ông chỉ là những áng mây, bồng bềnh trong buổi chiều đông xám ngắt, buồn hay vui cũng chẳng thể giãi bày:
“Chiều dựng mùa đông mây xám ngắt
núi cao trời thấp có ta về
giang hồ đâu có ai phong ấn
mà nghĩ từ quan trở lại quê
-------------------------------
Ta đi, có những ngày trú quán
lòng mốc tình khô như lá bay
ngồi quán suốt ngày trông thiên hạ
ta có sầu không ta cũng chẳng hay…“
(Chẳng Hay)
Thật là kỳ lạ, thoáng đọc qua Vũ Hữu Định, ta cứ ngỡ, trong những lúc bồng bềnh tỉnh say ấy, thi sĩ bất chợt viết ra những câu thơ, làm nao lòng đến như vậy. Nhưng khi bình tâm, đọc ông kỹ hơn, ta mới cảm được, cái lung linh, tinh túy đó, chỉ có thể được chiết, vắt ra từ cái quằn quại trong tâm hồn sâu thẳm, tỉnh táo hơn ai hết của thi sĩ. Biết là thế và rất tĩnh tâm đọc ông, nhưng đôi khi ta vẫn phải giật mình tự hỏi. Thi sĩ vờ? Hay Vũ Hữu Định đang say: “Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”.
Vâng! Vũ Hữu Định đã vờ say, để vắt ra những câu thơ rất tỉnh. Chỉ một chút hương tinh túy của đất trời, thi sĩ đã chưng cất lên bức tranh Quê Rượu, yên bình tuyệt đẹp. Trước cũng như sau Vũ Hữu Định, có nhiều thi sĩ đã dùng hương, khói bay để diễn tả tâm trạng, hay một nỗi nhớ quê xa…Như câu thơ Huy Cận “ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà“. Huy Cận bảo, không có khói. Thật ra hương khói ấy, đã có thường trực trong lòng thi sĩ, trong lòng người đọc rồi. Nhưng viết lạ như Vũ Hữu Định, có lẽ chúng ta ít gặp. Thi sĩ bảo, dường như đã say men, say rượu, nhưng đâu phải vậy (ông đang đùa đấy). Ông đang say cái đẹp, cái hương đầu mùa trong làn khói hoàng hôn xuống:
“ Tới đây thấy lúa vàng đang chín
Đứng lại nhìn thôn xa khói bay
Không biết nhà ai đâu nấu rượu
Thoảng thoảng hương mùa đã muốn say“
(Quê Rượu)
Có lẽ, không thể thơ nào ép nén ngôn từ, ý tưởng của người thi nhân, như thơ tứ tuyệt. Nó chỉ được(nở) bung ra, khi người thưởng ngoạn chạm đúng vào cái van nén đó. Cấu trúc thơ tứ tuyệt nhỏ là thế, nhưng lại dung tải những điều lớn lao khôn cùng. Thông qua hình tượng cụ thể, nhà thơ gửi vào đó cảm xúc, tư tưởng của riêng mình và đôi khi nó còn là của cả một xã hội đương thời hay chế độ xã hội đã qua…(Nói vui, làm thơ tứ tuyệt cứ như công việc của người thợ nén và nổ bỏng ngô vậy).
Vũ Hữu Định cũng thế, ông có nhiều bài thơ tứ tuyệt hay, nhưng hai bài: Màu Trời Cũ, Cảm Mà Viết 3, được viết trước và sau 1975, tôi thích hơn cả. Có một điều kỳ lạ, cả hai bài đều có nội dung tư tưởng trùng lặp nhau. Nó như là khúc hát u hoài, mang mang niềm tiếc nuối. Dường như người thi sĩ cố giấu đi cái xót xa đau đớn đó. Nhưng trong cơn say, cơn mê, sự thật lại trở lại và nỗi đau kia đã vỡ òa trong ông. Đọc hai bài thơ này, ta chợt ngộ ra cái mâu thuẫn ngay trong nội tâm của thi sĩ. Và cả cuộc đời ông luôn phải đi tìm, giải quyết mâu thuẫn ấy:
“Sáng hôm nào ngó lại
Màu xanh trên trời cao
Màu của trăm năm cũ
Mà sao lòng ta đau“
(Màu Trời Cũ)
“Khi tỉnh chẳng bao giờ ta khóc
Lúc say mê khúc hát người xưa
Một ý cũ như là trái đất
Ngấm trong ta bật tiếng khóc òa“
(Cảm Mà Viết 3)
Trong hành trình tìm kiếm đó, lúc nào Vũ Hữu Định cũng cảm thấy cô độc, dù xung quanh ông đầy ắp bạn bè. Và ông luôn luôn là người đi ngược lại những con đường. Để rồi khi thành phố về đêm, ông chỉ còn là người lỡ hẹn. Rồi những bước chân vô định ấy, in lên thành phố, một tiếng lặng câm, dù ông đang nghe thấy hàng nghìn tiếng động. Vâng! Đó là những bước chân đã lỗi nhịp. Dù không tiếng vọng, nhưng nó như ngàn nhát búa gõ vào hồn người. Bài “Tạm Trú“ là một bài thơ hay. Tôi nghĩ, có nhiều người chung hoàn cảnh, đau và thấm thía, khi đọc bài thơ này:
“…trong đám đông anh lại càng cô độc
bởi một nơi đâu cũng ăn tạm ở nhờ
sợ cả lời chia vui thành thật
bạn bè thì đông sao anh vẫn bơ vơ
buổi tối xe lam muộn màng ế khách
lại tới một nơi không hẹn không tìm
anh đi ngược lại con đường xe chạy
mỗi bước chân rời mỗi nhịp đau tim
thành phố lặng là khi nghìn tiếng động
không xô tan được khối lòng sầu
chân anh bước, mắt chỉ nhìn phía trước
tai nghe hoài một câu hỏi về đâu…”
Bước chân đã lỗi nhịp, Vũ Hữu Định chơi vơi trong khoảng không rách nát. Sự cô đơn cùng cực trong cái hoang vắng của linh hồn, nhà thơ tìm đâu ra một tri kỷ? Thời chẳng còn những Thi Thánh, Thi Tiên, cùng với rượu thi sĩ tìm về với Thi Qủi Lý Hạ trong cõi u hoài. Đêm Mưa Thiếu Rượu Nhớ Lý Hạ, là một bài thơ như vậy. Vũ Hữu Định đã mượn Lý Hạ, để giãi bày sự cô đơn trong tận cùng nghèo khổ về cả vật chất lẫn tâm hồn của thi nhân:
“…Cứ tưởng nằm kề bên họ Lý
Gác chân nhau nói chuyện biển dâu
Ma quỷ sợ tâm hồn ướt rượu
Gối chai không mà thương nhớ nhau
Thời đại thánh thần đi mất biệt
Còn lại bơ vơ một giống sầu
Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn
Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau…“
Bốn mươi năm trên cõi tạm của Vũ Hữu Định là vòng tròn luẩn quẩn. Cái luẩn quẩn ấy, có ngay từ trong tâm thức nhà thơ. Do vậy, bao khát khao, khi đi cũng như lúc trở về của ông đều mờ mờ, nhạt nhạt. Và con đường cuối của nhà thơ là con đường lang thang về lại cõi ao tù. Tuy hoang mang cay đắng là thế, nhưng ta vẫn thấy lời thơ nhẹ nhàng, như chính con người ông:
“Bờ chiều sắc cỏ sông xanh
Mây bay anh đứng lại nhìn mây bay
Nỗi niềm vui với đắng cay
Theo sông nước chảy theo ngày phù du
Lang thang về cõi ao tù
Lạ quen ai đó nghìn thu nhớ gì!“
(Không Đề)
Đọc Luân Hoán và Hoàng Cát, thấy hai ông thi sĩ này, tử vì thơ đã thấy kinh, nhưng khi nghiên cứu Vũ Hữu Định, tôi còn thấy thất kinh hơn. Nói như từ ngữ thời nay, của mấy ông bà nghệ sỹ trẻ: Vũ Hữu Định đã cháy hết mình cho thi ca. Qủa thật, cháy hay đốt thế nào thì chưa biết, nhưng cứ để vợ con nheo nhóc, nhiều bạn bè dù rất thương Vũ Hữu Định, cũng phải phàn nàn về ông.
Nói là như vậy, nhưng từ một khía cạnh nào đấy trong tâm hồn thi sĩ mới hiểu và cảm thông được cho ông. Nói như nhà thơ Đinh Trầm Ca:
“ Tôi không thích những người vô trách nhiệm, thiếu bổn phận...Hai mươi năm nay tôi lại giống anh lúc trước, tôi mới hiểu được và thương anh. Khi tôi hiểu được thì không còn Định nữa để mời một chén rượu cảm thông. Tôi không nghĩ anh là người ham danh, hay nhẹ nhàng hơn, có chút ưu ái hơn các bạn tôi rằng anh là người say đắm thơ, rượu. Tôi biết rằng những tháng năm đen tối đời anh không nhờ thơ, rượu thì không biết con người anh sẽ ra sao? Và cuối cùng thơ rượu đã cứu rỗi anh.“
Cuộc sống Vũ Hữu Định là những chuyến đi dài, ngắn. Trách nhiệm gia đình chắc chắn dồn lên vai người vợ trẻ. Tôi cho rằng, không phải Vũ Hữu Định ít nghĩ đến trách nhiệm gia đình, mà có thể ông còn nghĩ nhiều hơn đã tưởng. Nghiên cứu về Vũ Hữu Định, tôi thấy có nhiều bài thơ, ông viết về vợ con gia đình, đọc cảm thấy rưng rưng. Vâng! Cũng có lẽ, từ những vần thơ đắng chát này, không những bạn bè mà vợ con gia đình cảm thông cho thi sĩ phần nào chăng?
“…Lần nào em sinh nở
ta cũng phải vắng nhà
tháng này em sinh nở
ta lại trên đường xa
…cám ơn người vợ khổ
chiều nay ta khóc thầm
uống những giọt rượu đắng
ngày xa quê long đong…“
Cũng như nhiều nhà thơ khác, Vũ Hữu Định là người gắn bó, yêu quê hương, đất nước hơn bao giờ hết “ Mùa lúa năm nay đòng đòng đã trổ/ Anh yêu mùa yêu đất yêu quê“. Dường như, bài thơ nào viết về quê hương đất nước, của ông cũng hay. Lời thơ nhẹ nhàng, giầu hình tượng, tưởng như những nốt nhạc rót thẳng vào lòng người. Và có lẽ, chỉ có tình yêu trong sáng, chân thực người nghệ sĩ mới làm rung động lòng người đến như vậy. Có khi chỉ là làn khói bếp bay lên trong chiều hoàng hôn, bên đồng lúa vàng đang vào mùa gặt, hay một tiếng gọi đò trưa cũng làm tâm hồn ông thổn thức bồi hồi. Và có cơn bão về làm cho lòng ông quằn quại, đớn đau:

“cơn bão lớn về bình nguyên giục giã
run theo cây mùa lúa rạp buồn rầu
cát bụi lộn đường bay tản về đâu
khung cảnh dựng mùa nguyên sơ man dã
con sông nước về tràn mọi ngả
thuyền bè đi, đi mất tự bao giờ
những bến chiều tấp nập mộng ban sơ
đã hun hút trong triều lên trắng xoá…“
(Thời Tiết)
Có thể nói bài thơ Còn Một Chút Gì Để Nhớ là chiếc đinh, đã đóng dính tên tuổi Vũ Hữu Định vào trang, thế kỷ hai mươi với những bài thơ hay của văn học đất Việt. Nó cũng giúp cho nhạc sỹ Phạm Duy, để lại cho đời một nhạc phẩm (cùng tên) mãi ru hồn người.
Có người cho đây là bài thơ tình. Tôi nghĩ, không hẳn như vậy. Và câu chuyện bắt đầu, từ người lính chiến trên đồn biên giới, lần đầu làm thân lữ khách. Có phải người lữ khách đó là Vũ Hữu Định, hay thi sĩ đã hóa thân làm anh lính chiến ấy? Trong tâm trạng buồn tênh, trước khoảng trời xanh dường như đang thấp xuống, thi sĩ chợt thấy em đi trong sương khói mông lung huyền ảo, giữa cái lạnh chiều đông. Để rồi, chợt một phút xuất thần và có lẽ giây phút xuất thần đó đến với Vũ Hữu Định chỉ có một lần? Thi sĩ đã kịp vẽ lại. Thật là kỳ lạ, chỉ có bốn khổ thơ ngắn gọn đơn giản, thế mà dáng vóc, thần thái của phố núi hiển hiện lên rất hoang sơ mà lãng mạn. Nó như là bức tranh hai mặt, thành phố đã tạc vào em, hay em đã tan trong thành phố, làm người lữ khách phải ngất ngây. Cho nên, dù quen, hay người lần đầu đến với Pleiku, trong hoàn cảnh, tâm trạng nào, khi đọc(nghe) cũng cảm thấy gần gũi và không khỏi bồi hồi xúc động.
Và tôi tin rằng, chắc chắn mai này, sẽ có một con đường Vũ Hữu Định mờ mờ sương khói, được gắn với với bài thơ này, trên dáng hình em phố núi Pleiku.
Không hiểu do vô tình hay cố ý, ở trong nước, khi viết, đọc và hát, người ta đã đổi từ TRÊN ĐỒN trong câu thơ nguyên bản: Mai xa lắc trên đồn biên giới, là một câu thơ sống, nó sẽ hiển hiện ra sự sống, hình bóng người lữ khách, người lính trên đồn biên cương, bằng từ BÊN ĐỒI, làm cho câu thơ trở thành câu thơ chết, vô nghĩa vô hồn: Mai xa lắc bên đồi biên giới.
Hay câu: Đi dăm phút đã về chốn cũ. Từ Dăm trong câu thơ bị thay bằng con số đếm NĂM (5) làm cho câu thơ bị đóng khung, gò bó. Từ dăm, ba mang tính ước lệ, làm cho câu thơ thoáng đạt và hay hơn rất nhiều.
Thật vậy, trong một bài thơ chỉ bị thay một từ, một câu ý nghĩa của cả bài sẽ khác đi nhiều lắm.
Và thật kỳ lạ, trên bia mộ thi sĩ Vũ Hữu Định cũng thấy khắc câu thơ vô nghĩa “Mai xa lắc bên đồi biên giới“ này? Tôi nghĩ, nếu như vì lý do gì đó, không được sử dụng nguyên bản, nên đổi câu thơ, đoạn thơ khác của thi sĩ. Vũ Hữu Định không thiếu những câu thơ hay. Nghe nói, bia mộ này, do các nhà thơ bạn của thi sĩ cùng với gia đình dựng lên?
Chúng ta hãy đọc(nghe) bài thơ này, để cảm lại tài năng của thi sĩ Vũ Hữu Định nhé: https://www.youtube.com/watch?v=8C7JowQ3qhY

“phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương
phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng
em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong
xin cảm ơn thành phố có em
xin cảm ơn một mái tóc mềm
mai xa lắc trên đồn biên giới
còn một chút gì để nhớ để quên.“

Sinh ra và lớn lên, rồi phải sống cùng chiến tranh, nên Vũ Hữu Định nhận ra sự tàn khốc của nó. Đọc bài thơ Trên Đoạn Đường Về Quê của ông, được viết vào năm 1972, làm tôi chợt nhớ đến câu thơ, của Nguyễn Duy “nghĩ cho cùng/mọi cuộc chiến tranh/phe nào thắng thì nhân dân đều bại“ Tôi nghĩ, đây là bài thơ rất hay, viết về chiến tranh trong kho tàng thi ca đất Việt. Nó không những hay về nội dung nghệ thuật, mà còn bộc lộ rõ tư tưởng, cái nhìn khách quan của nhà thơ về chiến tranh. Cuối bài thơ là một câu hỏi, đọc lên ta cảm thấy đau đến xé lòng “Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất/Có làm tương lai con cháu huy hoàng?“. Huy hoàng sao được khi con cháu chúng ta cũng là nhân dân. Đã là nhân dân thì sự thất bại là điều không tránh khỏi. Và tương lai, đã thấy những gì từ mấy chục năm qua?
“Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đạn, lửa trời đốt người nghiệt ngã
Lửa đã cháy trong lòng anh hóa đá
Giữa biển người thành thú bò ngổn ngang
Trong hai lằn đạn giữa đồng hoang
Máu chảy ngập chân lúa gầy cỏ dại
Máu đã đỏ con đường anh đi lại
Của những ngày xưa yêu dấu vô cùng
Ôi con trẻ cũng biết tìm sự sống
Bò giữa hôn người vừa chết nát thân
Đêm ngã xuống vô tình con trăng bạc
Những tiếng gọi gào sao không động từ tâm
Lửa rực đỏ treo trăm đường sinh tử
Trong đêm cay, đêm địa ngục hãi hùng
Mẹ thét tìm con tóc dài điên dại
Xiêu vẹo giữa đường chết đuổi sau lưng
Lửa đã cháy đường ra quê em
Lửa đã cháy một đoạn lòng của mẹ
Ôi cái chết có còn chăng lý lẽ
Có lý lẽ nào đã giết anh em
Ðường ra quê em trăm ngàn cay đắng
Lửa hạ đạn gào trăm tiếng kêu la
Những dòng máu vô tình vô tội
Ðã chảy lên nhau thành suối chan hòa
Lửa Quảng Trị lửa rượt về Mỹ Chánh
Rải những thây người gục giữa đồng khô
Những dòng máu đã thấm tràn mạch đất
Có làm tương lai con cháu huy hoàng?”

Với tôi, một số bài thơ viết về tình bạn, tình yêu đôi lứa, tôi đã đọc, không phải là những bài thơ hay của Vũ Hữu Định. Viết về tình bạn, tình yêu của ông thường nặng tính kể lể, liệt kê. Chứ hoàn toàn không triết lý sâu sắc viết về tâm trạng, thân phận con người như trong thơ tứ tuyệt. Hay trữ tình, giầu hình tượng như viết về quê hương đất nước. Hôm rồi, có một nhà thơ gửi cho tôi tập Thơ Vũ Hữu Định Toàn Tập, do nhóm nhà thơ Trần Hoài Thư sưu tầm, nhà in Thư Ấn Quán, Hoa kỳ. Đây là tập thơ thứ hai của Vũ Hữu Định. Nhưng tôi tin chưa đầy đủ, thơ của thi sĩ vẫn còn luẩn quất đâu đó. Trong tập thơ này, có bài Một Chiếc Gương Soi, rất dở. Lời thơ sên sến, nhạt nhạt. Không biết Vũ Hữu Định viết bài thơ này vào thời gian nào?(có sự nhầm lẫn khi sưu tầm hay không?) Nếu xóa tên tác giả đi, tôi tin, không ai nghĩ, đó là thơ của Vũ Hữu Định:
“Với số tiền còn lại ngày ở Sài Gòn
Em sẽ soi gương mỉm cười rẽ tóc
Em sẽ nhìn để nhớ anh hôn
Mua cho em chiếc gương tròn bỏ bóp
Quà Sài Gòn về tặng người yêu
Buổi trưa nắng trong vườn xanh Đại Nội
Em sẽ vì anh tô lại môi thơm
Để em nhớ hàm răng em có ngọc
Mắt em đa tình, em sẽ soi gương
Để nhớ anh những ngày xa cách
Tập lại duyên cài lại tóc hoa hường
Anh còn lại năm mươi đồng trong túi
Không mua được gì ngoài một chiếc gương
Bởi anh nghĩ xa nhau còn để nhớ
Trong gương soi anh hôn hết nỗi buồn“

Cứ tưởng mới đây thôi, thế mà đã trên ba mươi năm, Vũ Hữu Định từ bỏ hành trình “đi học làm thơ, xin phần rượu tặng“ trong nhân gian, để về đối ẩm, ngâm thơ cùng Thi Qủi Lý Hạ.
Bốn mươi năm cuộc đời là bốn mươi năm thi sĩ Vũ Hữu Định khao khát, mải miết đi tìm. Tuy nó ngắn ngủi và đường đi chưa tới…nhưng hình ảnh ông, thơ văn ông để lại cho đời, vẫn mãi đậm sâu trong lòng bạn bè và người đọc.

Leipzig 10-4-2014
Đỗ Trường

Phần nhận xét hiển thị trên trang