Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 28 tháng 9, 2017

Hẩm hiu trí thức Việt:

Trần Đức Thảo và đêm hát cô đầu chui ở ATK

Thời gian sống ở ATK, tôi (Trần Đức Thảo) bị sai khiến làm mấy việc vơ vẩn như ngồi dịch những tài liệu cũ kỹ, mà rồi sau chẳng dùng được vào việc gì! Hoặc là theo chân mấy phái đoàn Trung ương đi thanh tra này nọ với vai trò của một cây cảnh: đi tới đâu cũng được giới thiệu là trí thức ở bên Tây mới về tham gia cách mạng! Rồi được vỗ tay, hoan hô. Chứ chẳng làm được một việc gì hữu ích cả!
- Sống như thế thì tẻ nhạt quá, làm sao bác chịu nổi?
- Ấy trong quãng thời gian sống ở bên lề chính trị như thế không hẳn là tẻ nhạt đâu. Thinh thoảng cũng có những giây phút rất thú vị, rất vui. Bởi sống ở hậu phương thời kháng chiến, luôn luôn được chứng kiến những ngang trái xảy ra thật là bất ngờ, làm bật cười, cười đến chảy nước mắt. Trong cách mạng mà cũng có lúc ăn chơi lén lút, đáng ghi nhớ về cái “thời bao cấp” ấy. Những thú vui chui lén như vậy cũng làm cho mình phải suy nghĩ, tìm hiểu hiện tượng cách mạng và những khát vọng của con người…
- Thú vui lén lút đáng nhớ ấy là gì?
Bác Thảo kể có một lần, “không thể nào quên được”. Đó là lần được nhà văn Nguyễn Tuân mời đi ăn một bữa cơm Tây, tại một xóm dân Hà Nội tản cư về sống gần ATK. Khi vào tới xóm ấy, là phải chui qua mấy hàng giây thép, trên phơi đầy quần áo màu mẻ sặc sỡ khác hẳn với quần áo nâu sồng của nông thôn, được giặt để cất đi, ở sân sâu bên trong một căn nhà cổ, để tới cái quán ăn chui lậu hiếm hoi ở hậu phương. Chủ nhân tự khoe mình từng là đầu bếp của cựu thống sứ Bắc kỳ Graffeuil! Bữa ăn hôm ấy có cả món thịt bò. Chateaubriand, có cả rượu vang Bordeaux. Thịt tươi là do cánh công an vừa săn được mật con nai! Còn rượu cũng là do cánh công an mang từ Hà Nội ra! Ăn xong, Tuân chửi vui: “Sư bố chúng nó! Tàn dư phong kiến, thực dân mà sướng thế đấy!”. Thảo ngơ ngác không biết Tuân chửi ai? Ăn uống ngon lành thế sao lại chửi?
Sau bữa ăn, Tuân còn cao hứng dẫn Thảo đi hát “cô đầu”! Dĩ nhiên cũng là hát chui, hát lậu. Địa điểm là một căn nhà chòi có cót che kín mít, dùng để chứa nông cụ thúng, mẹt, cày bừa… ở ngay giữa một cánh đồng lớn mới gặt xong. Thảo được đưa tới chờ ở đó, nên rất lấy làm lạ. Ngồi một mình ngắm trăng mười sáu sáng ngời, chung quanh là một cánh ruộng bàng bạc màu vàng khô khốc của những gốc rạ mới gặt xong, xa xa là những luỹ tre xanh vi vu gió thổi. Cảnh thật đẹp và buồn.
Mãi sau, Tuân trở lại lố nhố với năm, sáu người lạ mặt, trong đó có một phụ nữ khoảng ngoài ba mươi tuổi, mỗi người ôm một cái túi khá lớn. Họ vào trong căn chòi rồi cài cài mấy tấm cót cho kín đáo. Một ngọn đèn dầu hoả được thắp lên cho vừa đủ sáng để thấy tỏ mặt nhau. Họ mở túi lấy ra, người thì một cái trống cơm nhỏ, người thì một cây đàn đáy. Chị phụ nữ cung lấy ra hai que gỗ và một cái phách. Tuân nói thật trịnh trọng:
- Hôm nay tôi lén tổ chức chầu hát này là để đãi ông bạn trí thức ở tận bên tây mới về. Yêu cấu em Đức hát cho thật đạt chỉ tiêu đấy nhé!
Cô ca nương nhìn Thảo rồi đáp:
- Anh Tuân ơi! Anh ép, thì vì nể anh em cũng cố mà ra đây hát thôi. Bởi em đã giải nghệ từ mấy năm nay rồi. Nêu cồng an mà biết thì em sẽ bị đi tù mất. Hát ả đào bây giờ bị coi là thứ nhạc sa đoạ của thời phong kiến, nó đã bị khai tử từ lâu rồi!
- Không sao đâu, anh đã lo lót hết rồi. Tuân này bảo đảm mà!
- Cứ hát đi, đã có ông chủ tịch xã kiêm trưởng công an ngồi nghe đây thì còn sợ gì!
- Thôi đừng khách sáo nữa! Ta bắt đầu đi, kẻo đã quá canh khuya rồi. Đàn lên! Xin mời quan viên giữ trống ra tay! Bắt đầu “Hồng, Hống, Tuyết Tuyết” đi em!
Vài tiếng đàn chậm rãi vẳng lên, trầm bổng, thánh thót day dứt trong đêm khuya thanh vắng. Rồi một giọng ca trong vắt, ngân nga, luyến láy vang lên giữa cánh đồng vằng vặc ánh trăng.
Rồi tiếng trống vào nhịp:
- Tom! Chát! Chát! Tom!
- Hồng, hồng, tuyết, tuyết ứ ư ừ mới ư ừ ngày nào chửa… ư biết cái chi chi…
- Tom, tom, chát…
Tiếng hát, tiếng đàn nhịp trống bỗng đưa mọi người nhập vào một thứ nghi lễ tôn giáo linh thiêng… gợi cảm, trữ tình của nghệ thuật!
Bác Thảo vui vẻ, thích thú kể lại thật chi tiết về một chầu hát ca trù lén lút vô cùng cảm xúc, trong đêm khuya ấy, giữa một cánh đồng khô, trong lúc tình hình chiến tranh sôi động, mọi người lo âu, bồn chồn không biết ngày mai sẽ ra sao!
Bởi đấy là lần đầu tiên trong đời bác Thảo được nghe tiếng hát “trong như pha-lê, luyến láy ngân nga, thấm nhập tâm can, làm rung động toàn thân xác.,.”. Bác say sưa khen:
- Ôi! Lúc ấy, tiếng đàn, tiếng hát, sao có thể thuần khiết, âm vang sâu thẳm đến thế! Tiếng trống bắt nhịp thật lịch duyệt, như thúc dục, như khuyến khích ca nương!
Bài ca vừa chấm đứt, Thảo không nhịn được phản ứng ngạc nhiên, nên hỏi:
- Sao thứ ca dân gian này có thể nghệ thuật đến thế! Hay như vậy sao lại cấm? Trong đời tôi, tuy đã từng biết thưởng thức những tiếng đào, lời ca cổ điển vô cùng nghệ thuật của lối hát đại nhạc (opéra) phương Tây, nhưng đây là lần đầu tiên tôi khám phá ra một lối ca nghệ thuật tuyệt kỹ, vừa trữ tình, vừa huyền bí, thiêng liêng như của một tôn giáo, nghe mà rợn cả người, cứ y như bỗng mình được lạc vào cõi thiên thai. Một thứ nghệ thuật truyền thống quý như vậy, sao lại bắt nó phải chết?
- Tại vì xưa kia nó phục vụ giới quan lại, phú hộ thời phong kiến! - Tuân giải thích - Thôi bây giờ thì ca tiếp đi chứ!
Người nghệ sĩ chơi đàn, người “quan viên” giữ nhịp trống điều khiển, rồi ca nương, tất cả đều đắm say diễn tả, như hoà tâm hồn vào mấy bài hát nói danh tiếng của mấy nhà thơ trứ danh thời trước. Tay đàn, tay trống và ca nương, tất cả đều biểu diễn, với tất cả sở trường, y như đang làm sống dậy giây phút thanh bình của đất Hà thành thanh lịch xa xưa!
Thảo giải thích thêm với chúng tôi:
- Tiếng hát ả đào đúng là hợp với tâm tư, hoàn cảnh của từng người lúc ấy. Ai ai cũng đang mang nặng một tâm tư u buồn, nên mới hát được như thế, mời nghe thấu được nỗi niềm của giọng hát, lời ca. Tôi đã từng biết lối hát đại nhạc (opéra) của phương Tây. Lối hát ấy là dùng sức buồng phổi đẩy làn hơi qua thanh quản để đưa nốt nhạc vọt lên chói vót như thi tài với tiếng đàn. Nhưng lối hát ả đào thì tế nhị hơn, vì ca nương phải kiềm chế làn hơi, rồi từ từ vừa đẩy, vừa níu lại làn hơi qua họng, để uốn nắn âm thanh qua thanh quản, làm nó uyển chuyển, luyến láy, nghẹn ngào; như than van, nức nở, để bầy tỏ nỗi niềm… Nghệ thuật hát ả đào, do đó tinh vi, truyền cảm tình tiết cao siêu, sâu sắc, huyền bí hơn hẳn đại nhạc phương Tây, Tôi không hiểu sao một nghệ thuật tuyệt vời như thế mà lại nỡ lòng mang vứt bỏ nó đi! Một dân tộc có một nền văn minh cao độ mới có thể có một lối hát nghệ thuật đậm tính văn hoá dân tộc đến thế, sao lại chê bai, kết tội nó!
- Ôi dào! Bây giờ thì cái gì của thời cũ đều bị phá đi, vứt bỏ hết! Bây giờ người ta tính áp dụng lối tiêu thổ kháng chiến ở Liên Xô, phá sập, dẹp hết, đốt hết, san thành bình địa ráo, để địch không thể xâm chiếm được. Nơi nào có tinh thần kháng chiến cao như vùng Vinh, Thanh Hoá, Nghệ An thì đã bắt đầu có lệnh thi hành chính sách “tiêu thổ”. Với hô hào “tất cả cho kháng chiến”. Tiếc gì cái lối đa truyền cảm, trữ tình, nay bị coi là truỵ lạc, là sa đoạ này!
Chầu hát ả đào dần tới hồi kết thúc. Quan viên cầm trống bỗng đứng dậy, bước tới trước mặt nhà văn Nguyên Tuân, nghiêm chỉnh cúi đầu nói:
- Xin kính mời quan bác! Quan bác là người đã nổi tiếng là tài danh cầm chầu là tài tử lịch duyệt của ca trù, đệ xin trả lại ngôi quan viên cho quan bác, để quan bác giữ nhịp cho bài ca cuối cùng của chầu hát chui này. Đệ chọn bài “Tỳ bà hành” để kết thúc, y như trong các buổi ca trù của các nhà hát trứ danh của Hà thành thanh lịch thủa xa xưa.
Nguyễn Tuân nghiêm nghị đón nhận chiếc trống nhỏ, sửa lại thế ngồi cho ngay ngắn, đặt trống xuống đúng tầm tay, đưa roi trống lên cao, rồi nhìn tay đàn và ca nương, đúng cách quan viên sành điệu, như vị nhạc trưởng của ban đại hợp tấu, chuẩn bị phát lệnh trên một chiếu hát. Mọi người chờ tiếng trống phát ra. Nhưng Nguyễn Tuân lại đặt nhẹ rồi trống xuống và nói với giọng trầm buồn:
- Này em Đức ơi! Anh biết em từng là ngôi sao ca nương sáng chói của lò hát bà Đốc Sao ở Hà Nội. Xưa kia thì phải là cỡ tuần phủ tri huyện trở lên tới tống đốc mới được nghe tiếng em ca. Thế rồi cách mạng về thì nhà bà Đốc Sao biến đâu mất tích. Nay được tin em trôi dạt về đây, anh đã phải bịa chuyện xin đi công tác phương này, cốt là để tìm em, để được nghe em hát thêm một lần, cho dù mai sau có chết vì bom đạn thì anh cũng mãn nguyện là đã tận hưởng cuộc đời. Bởi hôm nay đây, cái cánh đồng khô giữa vùng đất núi rừng Tuyên Quang nảy bỗng trở thành một bến Tầm Dương! Và em Đức sẽ là người đưa tiễn anh với anh Thảo đây, đều là những tư mã của thời đại, đang bị thời thế lưu đày về cái đất Giang Châu của Tuyên Quang này… Em hãy ca thật hay lên, để tiễn đưa chúng anh ngày mai lại lên ứ… ư đường! Chỉ tiếc ở đây không có rượu ngon để anh ngâm mấy câu thơ cổ:
Bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi
Dục ẩm tỳ bà mã thượng thôi
Tuý ngoạ sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi!
(Thơ Vương Hàn, Lương Châu Từ, Trung Quốc)
Rồi Nguyễn Tuân cao hứng, đằng hắng, lấy giọng ngâm thật thống thiết tiếp:
Rượu ngon thơm ngát chén ngà
Chén chưa kịp cạn, tỳ bà thúc đi
Sa trường say, cười mà chi
Xưa nay chinh chiến, mấy ai trở về!
(Người dịch khuyết danh)
Cây roi giơ lên phát lệnh bắt đầu bài hát:
- Tom! Tom! Chát!
Nhưng tất cả ngạc nhiên vì ca nương không cất tiếng hát mà lại ôm mặt khóc nức nở! Thảo ngồi đấy cũng long lanh nước mắt. Vì trong lòng cũng cảm thấy một nỗi u buồn thấm thìa khó tả, chẳng rõ vì sao. Nức nở, sụt sùi mọt hồi, ca nương lấy lại bình tĩnh nói:
- Em xin lỗi! Em xin lỗi! Vì nhìn mấy anh ăn mặc nâu sồng vất vả, mặt mày hốc hác, em thấy thương mấy anh quá! Mà em cũng khóc cả cho thân phận em! Thôi để em hát, để tiễn đưa các anh, và cũng là đưa em nữa, vì mai đây gia đình em sẽ tìm đường về xuôi, vì cái bến Tầm Dương của em là bên quê ngoại ở mãi vùng Thái Bình cơ!
- Thôi nín đi em! Hát đi em!
Nguyên Tuân lại nổi trống giục:
- Tom! Tom! Tom! Chát!
Ca nương bắt đầu lên giọng ngân nga, luyến láy não lòng:
Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách
Quạnh hơi thu lau lạch đìu hiu
Dời thuyền ghé lại thăm tình
Chong đèn, thêm rượu, còn dành tiệc vui
Nghe não nuột mấy dây buồn bực
Dường than niềm tẩm tức bấy lâu
Mày chau tay gẩy khúc sầu
Dãi bầy hết nỗi trước sau muôn vàn
Thuyền không, đậu bến mặc ai
Quanh thuyền trăng dãi, nước trôi, lạnh lùng
Nghe não ruột khác tay đàn trước
Khắp tiệc hoa sướt mướt lệ rơi
Lệ ai chan chứa hơn người
Giang Châu tư mã đượm mùi áo xanh…
(Trích thơ Bạch Cư Dị, Phan Huy Vịnh dịch)
- Tom! Chát! Chát! Tom!
Tiếng trống vang lên như để khen “Thật tuyệt vời!”, tiếng đàn cùng tiếng hát ngưng bặt. Cả cái chòi cót giữa cánh đồng không ấy bỗng im lặng hoàn toàn. Chỉ cỏn tiếng gió, xào xạc, qua một bụi tre, vọng lại từ xa.
Trong chòi, mọi người, như chết lặng vì quá cảm xúc. Tất cả êm thấm đứng dậy, chậm rãi thu xếp trống, đàn, từ từ rút lui. Tất cả họ bùi ngùi, câm nín, ra về trong sợ sệt, nhìn trước, ngó sau, lắng tai, phóng mắt ra khắp phía xa chung quanh, không ai nói với ai nửa lời. Mỗi người mỗi nặng một tâm tư luyến tiếc, lo âu, sợ hãi…
Nguyên Tuân ghé tai Thảo:
- Này ông bạn trí thức của tôi ơi, nhớ cho kỹ là đừng cho ai biết là tôi đãi ông chầu hát ca trù này đấy nhé! Phải “bem” (giữ bí mật) kẻo lại bị ngồi viết kiểm điểm thì mệt lắm đấy!
- Thú thật là ngồi nghe, tuy không hiểu hết ca từ, nhưng tôi cảm thấy lòng mình chùng xuống y như mình cũng đang khóc cho nỗi niềm u uất của chính mình. Không thể ngờ là lối ca này nó thấm thía vào tim gan đến thế!
- Anh có biết tại sao ca trù nó thấm thía vào tâm hồn mọi người không? Tại vì đây là một lối ca trữ tình. Bởi lời ca toàn là những bài thơ, bài hát nói của một nền vãn chương quý phái đã lâu đời. Cách diễn tả lại càng trữ tình hơn. Vì làn hơi bị ức chế trong lồng ngực để rồi được đẩy ra thành tiếng luyến láy nghẹn ngào, nức nở, để bầy tỏ những tình cảm uất ức khó diễn tả, nên ca mà cứ như nấc nghẹn, muốn than van, nuối tiếc, khóc thương một thời hạnh phúc đã mất… Ai mà có nỗi niềm trong lòng thì mới thưởng thức hết được cảm xúc sâu thẳm của ca trù. Tôi biết anh cũng đang có nhiều nỗi niềm bị ức chế ở trong lòng nên tôi mới mời anh đi hát hôm nay. Có đúng như vậy không nào?
Thảo nhìn Tuân chằm chăm, rồi ngần ngừ nói:
- Anh hỏi tôi câu ấy làm tôi chột dạ. Cố phải anh là môn đệ của Freud đã nhìn thấy tâm can tôi không? Hay anh là cán bộ của “cụ Hồ” đang gài bẫy để bắt quả tang lập trường chao đảo của tôi đây?
- Tôi chưa hề đọc Freud. Và anh cũng đã mắc cái bệnh cảnh giác nặng rồi đấy. Nhưng cứ yên tâm, vì thằng Nguyễn Tuân này dù thế nào thì cũng không thể hèn mạt đến nỗi bán rẻ tình bạn cho cách mạng đâu. Anh cứ bình tĩnh mà chịu đựng và chờ đợi, chờ thời… Tôi hỏi thật, anh có hiểu tại sao ca trù nó lại thấm thấu tâm can chúng ta như vậy không?
- Tại sao vậy anh?
- Tại vì ca trù toàn chuyên chở âm điệu những nuối tiếc, những tình hận, những chí cả sinh bất phùng thời của những kẻ bất mãn, bất đắc chí như anh đấy!
- Sao anh thấy được tận đáy lòng tôi như thế? Xin cảm ơn anh! Nhưng cũng xin anh đừng làm tôi sợ vì đúng là anh đã bắt quả tang tôi đang chao đảo lập trường đối với cách mạng!
- Anh đừng lo. Tôi hiểu anh vì tôi hiểu tôi. Bởi chúng ta chỉ là bọn Giang Châu tư mã đang bị giông bão thời cuộc đánh trôi dạt về cái bên Tầm Dương rừng rú này. Buồn lắm! Thảm lắm anh ơi! Với anh tôi mới dám thổ lộ tâm sự u buồn của tôi. Bởi tôi biết sợ cũng như anh biết sợ…
Rồi bác Thảo còn cho biết sau khi về tiếp thu Hà Nội, Nguyễn Tuân còn mời bác đi nghe hát ca trù chui lậu thêm hai lần nữa, nhưng những lần sau này thì không còn xúc động mạnh như lần đầu, trong cái chòi tranh thô kệch nghèo nản ở giữa cái cánh ruộng khô, đêm trăng ấy nữa.

Trích "Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối",  Phan Ngọc Khuê ghi.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người xưa từng nói:"Cha làm thầy, con đốt sách", ít khi con nối được nghiệp nhà..Trông mong gì chớ?

Chuyện “Thái tử đỏ”

>> Tổng thống Trump: Bắc Hàn là quốc gia lưu manh
>> Uống ly cà phê 2.500 đồng phải... nộp thuế đặc biệt
>> Đại gia mua dâm hoa khôi thì được “ngoại lệ”?
>> Tranh giả tiền tỷ, chỉ báo đăng xong rồi thôi

Quốc Phong
(Dân Việt) Thực tế vài nhiệm kỳ gần đây cho thấy rất nhiều những “Thái tử đỏ” ở mọi cấp đã không nhiều người toả sáng. Thậm chí, khi giữ chức vụ cao còn lu mờ, nhạt nhoà dần theo bóng người cha của họ lui vào hậu trường.

Nhân chuyện Uỷ ban kiểm tra Trung ương đã vào công bố cụ thể vi phạm ở Đà Nẵng, tôi chợt nhớ thời điểm tháng 10.2012, khi đọc bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 6, khoá 11, thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận lỗi trước toàn Đảng, toàn dân về “một số khuyết điểm lớn” cả hiện tại lẫn các nhiệm kỳ trước, giọng ông bỗng nghẹn ngào khiến ai coi truyền hình cũng rất bất ngờ xen lẫn nhiều cảm xúc.

Nhưng cũng qua hội nghị lần đó, từ chuyện bỏ phiếu để xử lý trách nhiệm của một vị đứng đầu Chính phủ và kết quả không như ý muốn của cả tập thể đã cho chúng ta hiểu một điều: Thật không đơn giản như nhiều người nghĩ khi mà trong Đảng có không ít những vị trong Trung ương chưa nghĩ đến sinh mệnh của Đảng cầm quyền, của gần 90 triệu dân bởi phía sau hiện tượng này họ là những phe cánh và lợi ích nhóm. 

3 năm sau đó, Đại biểu Quốc hội Lê Nam (Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Thanh Hoá) đã nhắc lại chuyện cũ này trên nghị trường Quốc hội khi ông dùng một hình ảnh khiến ai cũng phải  nhớ mãi: “Nhiệm kỳ này chúng ta đã chứng kiến nước mắt của đồng chí Tổng Bí thư rơi vào lịch sử”.

Đúng như một nhà báo từng nói: “Tổng Bí thư không nghẹn ngào sao được khi một số đồng chí của ông là cán bộ cao cấp cả đương chức và nguyên chức có những việc làm chưa gương mẫu, nói không đi đôi với làm, ảnh hưởng đến uy tín, đến hình ảnh của Đảng. Tổng Bí thư không nghẹn ngào sao được bởi tình trạng tham nhũng, tiêu cực ngày càng trầm trọng và tinh vi trong khi công cuộc phòng chống lại ít hiệu quả, nhất là sự xuất hiện của các “lợi ích nhóm”. Và Tổng Bí thư không nghẹn ngào sao được khi để xảy ra những vụ việc gây tổn thất lớn, để lại những hậu quả nghiêm trọng không chỉ cho nền kinh tế mà còn suy giảm niềm tin của nhân dân cũng như của các tổ chức kinh tế thế giới…”

Để diễn ra thực trạng này, tôi nghĩ trong đó có một phần rất quan trọng thuộc về tập thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá 10 về góc độ trách nhiệm của mình trước Đảng, trước toàn dân.

Tư tưởng hữu khuynh, đấu tranh thiếu tích cực nhằm bảo vệ uy tín cho Đảng và cũng là để bảo vệ sự tồn vong của chế độ có lúc đã bị một nhóm lợi ích, phe phái bảo vệ nhau, đưa người thân của mình vào bộ máy của Đảng ở nhiều cấp từ thấp đến cấp cao, khiến những lá phiếu tiêu cực thêm sức nặng, làm chòng chành cả con thuyền lớn.

Ở cấp Trung ương, nhiều đảng viên không khỏi bức xúc khi có những đại biểu cơ sở trượt cấp uỷ địa phương với số phiếu quá thấp nhưng lại được đặc cách để bầu vào Trung ương một cách rất trớ trêu, khó hiểu.

Người ta bảo rằng tình trạng “con ông cháu cha” được các bậc cha chú mình nể nang nhau rồi cho qua, chấp nhận đưa họ vào cấp uỷ dù họ chưa hề được thử thách đã khiến chất lượng cán bộ lãnh đạo bị giảm sút rõ rệt.

Họ đã thoả hiệp quyền lực với nhau như thế trước khi chấp nhận “hạ cánh”, còn chúng ta thì hữu khuynh, không dám đấu tranh.

Trước hết, cũng phải nói rõ, tôi không hề quá khắt khe trong cách nhìn về chuyện đào tạo, bồi dưỡng con em lãnh đạo kế thừa sự nghiệp của cha, anh mình. Để duy trì và bảo vệ chế độ, điều đó theo tôi không có gì bằng.

Có những trường hợp Đảng chọn được cán bộ trẻ khá ổn. Tuy cũng thuộc diện “con ông cháu cha” và đương nhiên cũng có phần ưu ái nào đó nhưng thực tế đã cho thấy việc chọn lựa không sai.

Song, chắc khó một ai có thể chấp nhận nổi hiện tượng bổ nhiệm nhồi nhét, gượng gạo “ép non” con em mình theo kiểu đến kỳ Đại hội thì đưa nhanh vào cấp uỷ, vào làm chức này, chức nọ lấy được. Rồi cả hiện tượng “nhảy cóc” các cương vị rất lộ liễu khi họ đâu có gì nổi trội cho cam. 

Thực tế vài nhiệm kỳ gần đây đã cho thấy rất nhiều những “Thái tử đỏ”" ở mọi cấp đã không mấy ai toả sáng mà khi giữ chức vụ cao còn lu mờ, nhạt nhoà dần theo bóng người cha của họ lui vào hậu trường. Âu cũng vì “cái áo” khoác lên họ quá rộng so với sức vóc, tài năng và trí tuệ thực sự.

Việc con em cán bộ lãnh đạo cao cấp thăng tiến với tốc độ phi mã là điều đáng suy nghĩ. Sự nể nang trong công tác nhân sự nói trên sẽ vô tình triệt tiêu người có tài, đức thực thụ nhưng lại thiếu mối “quan hệ, tiền tệ, hậu duệ...” khiến họ bị lãng quên.

Tôi thấy rất thấm câu nói của ai đó rằng: Đạo đức và uy tín của người cha là tài sản lớn nhất của người con .

Tiếc rằng, bây giờ người ta đang dần quên đi điều này mà chủ quan cho rằng chức vị và tiền bạc của cha mẹ để lại cho con mới là điều cần nhất và trên hết?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quan thanh tra mất 385 triệu: Đâu chỉ là 1 vụ trộm!


>> Bữa tiệc sinh nhật tiền tỷ của bà chủ lò mổ
>> Thảm sát như thời Hitler đang diễn ra tại Trung Quốc
>> Đừng để người Trung Quốc "cười" chúng ta
>> Phát hiện thẩm phán TAND thành phố Thái Nguyên dùng bằng giả


Lương Duy Cường 
NLĐO - Nếu 385 triệu đồng ông phó cục trưởng Nguyễn Xuân Quang bị mất trộm là tiền nhận hối lộ đúng như dư luận đồn đoán thì phải mở rộng điều tra, tránh lọt người lọt tội.

Cộng đồng mạng xuất hiện làn sóng bình phẩm nhiều chiều về khoản tiền gần 400 triệu đồng mà ông Phó Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường (Tổng cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường) Nguyễn Xuân Quang báo mất tại một khách sạn ở tỉnh Long An, nơi ông và đoàn thanh tra (do ông làm trưởng đoàn) ở trong suốt quá trình đi thanh tra doanh nghiệp.

Chính ông Quang đã trả lời với báo chí rằng đấy là tiền cá nhân, ông mang vào Long An để tiện thể giải quyết việc gia đình khi ghé qua TP HCM. Dù vậy, với những dấu hiệu rất khả nghi từ phong bao, bì thư ở hiện trường cùng với cách mang tiền và giữ tiền của chính ông, dư luận cũng không phải quá vô lý khi có những suy diễn bất lợi cho thanh danh vị phó cục trưởng.

Nhất là khi dư luận lâu nay vốn đã có những xì xầm không hay về những cuộc thanh tra. Với việc cuối ngày 27-9, lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường yêu cầu ông Quang báo cáo sự việc, cho thấy lãnh đạo Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng nhìn ra sự nhạy cảm trong việc này.

Mà đúng là nhạy cảm, bởi nếu cán bộ của mình mất một khoản tiền lớn như vậy thì tội nghiệp quá, nhất là khi đồng lương còn eo hẹp, rất cần chia sẻ, động viên.

Ông Quang bận rộn và chăm chỉ với việc thanh tra cơ sở như thế, đã mất tiền lại còn phải viết tường trình với tổ chức nữa thì mệt mỏi thật. Thấy tội nghiệp quá đi...!

Nhưng nếu số tiền đã mất ấy là tiền hối lộ thì xem như bộ đã vô tình trao "thượng phương bảo kiếm" vào tay những cán bộ thoái hóa biến chất, mất cán bộ và còn sứt mẻ cả danh dự của chính Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Vì thế, phải làm rõ để nếu dư luận suy diễn oan thì Bộ Tài nguyên và Môi trường còn bảo vệ được cán bộ, cũng chính là giữ thanh danh của ngành; nếu dư luận phán đoán đúng thì chí ít cũng chứng minh được là chỉ cá nhân hoặc một nhóm cá nhân tha hóa và tập thể ấy cũng đang tuyên chiến với sự tha hóa (!).

Nhưng việc phó cục trưởng Nguyễn Xuân Quang mất tiền thật hay tiền nhận hối lộ rồi bị trộm sẽ khó tường minh nếu cứ trông chờ vào báo cáo của chính nạn nhân với cơ quan nơi ông công tác. Điều mà dư luận cần là kết luận từ phía cơ quan công an, kể cả khi thực sự không có việc mất trộm như ông Quang đã báo.

Có người nói ông Quang mất tiền, công an nhận được tin báo thì phải có trách nhiệm truy tìm thủ phạm để bảo vệ tài sản công dân, đảm bảo an ninh trật tự xã hội. Nói vậy cũng không sai nhưng sẽ không bao giờ thuyết phục được dư luận. Bởi lẽ, nếu có việc mất tiền thật thì đây sẽ là một vụ mất tiền không hề bình thường do xảy ra ở một khách sạn ngay giữa trung tâm tỉnh lỵ và khách sạn này cũng chưa từng có việc tài sản của khách bị mất trộm; nạn nhân lại là đối tượng nhạy cảm khi đang thi hành công vụ ở một lĩnh vực rất nhạy cảm với tiền bạc.

Để một cán bộ như ông phó cục trưởng mất một khoản tiền lớn như thế, dù với lý do gì, hẳn không chỉ quản lý và nhân viên khách sạn nơi ông ở mà cả chính quyền, người dân và lực lượng công an địa phương cũng cảm thấy tổn thương.

Nhưng cũng chính vì cái sự nhạy cảm ấy mà nếu việc mất tiền này chỉ được xem như một vụ mất trộm thuần túy thì rất có thể sẽ chưa đánh giá đúng bản chất vấn đề. Còn giả sử đấy là tiền nhận hối lộ khi thi hành công vụ đúng như dư luận đồn đoán thì việc xem đó như một vụ mất trộm bình thường có khi sẽ bỏ lọt tội phạm.

Trong lúc chờ câu trả lời từ cơ quan điều tra thì người viết có chút thắc mắc: Giữa cái thời của thanh toán qua thẻ, TP HCM hay Long An đều có cả khối ngân hàng, lại đi công vụ từ Bắc vô Nam cả ngàn cây số và bận bịu tối ngày với sự nghiệp môi trường như thế mà sao ông phó cục trưởng lại ôm theo nhiều tiền mặt đến vậy?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mao Trạch Đông và Biến cố Thiên An Môn 1976


tiananmen1976
Tác giả: Lưu Á Châu | Biên dịch: Nguyễn Hải Hoành
Mao Trạch Đông phát động cuộc Đại Cách mạng Văn hóa, thả lũ ma quỷ ra khỏi chiếc bình của ông nhưng sau đấy không thể nào thu hồi lại chúng. Dân tộc [Trung Hoa] cổ xưa này nhiễm phải một cơn sốt điên cuồng chẳng khác ông già rơi vào lưới tình. Hỡi các bạn trẻ, hãy nghĩ tới tình cảnh bạn bị một bà lão điên cuồng theo đuổi mình. Hãy nhớ lấy đôi mắt cháy bỏng và cặp vú khô đét ấy. Đó là cuộc Đại Cách mạng Văn hóa.
Thời gian biểu ban đầu của Mao Trạch Đông là: sau một đến hai năm thì Đại Cách mạng Văn hóa kết thúc thắng lợi, Lưu Thiếu Kỳ trở thành tù binh, Mao Trạch Đông dẫn toàn Đảng tiếp tục lên đường. Ông tuyệt nhiên không ngờ rằng cuộc cách mạng ấy như con ngựa hoang phi nước đại, ông hoàn toàn chẳng thể điều khiển được nó. Sự phản bội của Lâm Bưu là một cú đánh đẹp giáng vào ông. Mao Trạch Đông tín nhiệm Lâm Bưu đến mức cái gì có thể cho hắn thì đã cho hết, nhưng Lâm Bưu vẫn chưa thỏa mãn. Hiển nhiên hắn còn muốn một thứ quý giá hơn: tính mạng Mao Trạch Đông.
Đúng là cuối cùng Lâm Bưu hoảng hốt bỏ trốn. Nhưng trước khi hắn trốn đi, chẳng phải Mao Trạch Đông cũng hốt hoảng lo hết hồn đấy ư? Trên đường đi thị sát miền Nam trở về, để tránh bị Lâm Bưu phục kích, Mao Trạch Đông thoắt đi thoắt dừng, mỗi ngày mấy lần thay đổi kế hoạch đi đường, khiến mọi người chẳng biết thế nào. Sau khi đến địa phận Bắc Kinh, ông lặng lẽ xuống tàu tại ga Phong Đài. Nhà thống trị mà lại hành động lén lút như vậy trên địa bàn mình thống trị thì quả thật là bi đát.
Sau vụ Lâm Bưu, nhân dân cả nước kinh ngạc chú ý tới một hiện tượng: Mao Trạch Đông già sọm đi một cách không thể nào cưỡng lại. Đem so sánh ảnh chụp tuần này tiếp khách nước ngoài với ảnh chụp tiếp khách tuần trước, nhất định thấy khác nhau. Trên ý nghĩa ấy mà nói thì Lâm Bưu không hoàn toàn thua: rốt cuộc hắn đã làm Chủ tịch Mao tổn thọ. Cú đánh này quả là nặng nề nhưng chưa phải nặng nhất.
Cú đánh nặng nhất đến từ QUẢNG TRƯỜNG THIÊN AN MÔN. Tôi muốn nói về SỰ KIỆN THIÊN AN MÔN NGÀY 5 THÁNG TƯ (năm 1976).
Trung Quốc năm 1976 là Trung Quốc chơi trò thâm trầm.[1] Nhân dân đang suy nghĩ. Mấy chục năm sau phong trào Ngũ Tứ [cuộc nổi dậy ngày 4 tháng 5 năm 1919 của học sinh Bắc Kinh tại Quảng trường Thiên An Môn chống chính phủ phản động và bị chúng đàn áp đẫm máu], dân Trung Quốc không được phép suy nghĩ. Lãnh tụ thay họ nghĩ xong cả rồi.
Nô lệ có suy nghĩ là nô lệ nguy hiểm. Nhìn tổng thể, họ không thích suy nghĩ. Năm 1976, một bộ phận nhân dân hơi động não suy nghĩ một chút, thế là tòi ra “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Sau đấy, khi Hoa Quốc Phong đập tan “Bè Lũ Bốn Tên” thì nhân dân lại không suy nghĩ nữa.
Cách mạng Văn hóa là con hổ giấy, chưa cần nói nó không chịu nổi một cú chọc phá mà nó thậm chí không chịu nổi sự suy nghĩ. Khi [nhân dân] vừa bắt đầu suy nghĩ thì nó đã tan vỡ. Mọi người phát hiện thấy Cách mạng Văn hóa là trò không tưởng. Ê kíp nhà thiết kế đầu tiên trò không tưởng này là những người có tâm. Nhưng hiện nay những người chống không tưởng mới là người có tâm. Tiếp tục tiến hành Cách mạng Văn hóa là điều không thể được – rốt cuộc trò diễn thì vẫn là trò diễn. Nhân dân phản đối Cách mạng Văn hóa, mà phản đối Cách mạng Văn hóa tức là phản đối Mao Trạch Đông.
Đây là linh hồn của “Sự kiện Thiên An Môn ngày 5 tháng Tư”. Thương tiếc Chu Ân Lai là một phát súng giả vờ tấn công, thực ra là để rút lui….. Mọi người đang tìm điểm bùng nổ. Sự qua đời của Chu Ân Lai đến vừa đúng lúc, cuối cùng ông đã đem lại cơ hội cho nhân dân.
Con người ấy chết có chút bi thảm. Chu Ân Lai phối hợp cực kỳ hoàn hảo với Mao Trạch Đông. Đó là do Chu vô cùng thận trọng. Ông thận trọng đến mức thế này: trong lần dự tiệc chiêu đãi Khrushchev thăm Trung Quốc, khi vị khách ấy nâng cốc muốn chạm cốc với Chu Ân Lai, nhưng vì thấy Mao Trạch Đông không nâng cốc nên Chu cũng nhất quyết không nâng cốc.
Nếu Nhà nước làm quốc tang cho Chu Ân Lai, nếu Mao Trạch Đông đến viếng hoặc dự lễ truy điệu Chu Ân Lai thì sẽ chẳng xảy ra chuyện gì sất. Sau khi Chu Ân Lai qua đời, Uông Đông Hưng, Trương Diệu Từ đã điều tra thăm dò xong tuyến đường từ Trung Nam Hải đến Bệnh viện Bắc Kinh, tưởng rằng Mao Trạch Đông sẽ đi [viếng Chu Ân Lai], nhưng rốt cuộc ông không đi. Vì thế mà Uông Đông Hưng có cằn nhằn hai câu. Trương Ngọc Phượng cũng ứa nước mắt khuyên Mao đi, nhưng ông từ chối.
Nói cho công bằng thì Mao Trạch Đông chẳng còn hơi sức đâu mà đi, ông đang ốm sắp chết. Nên phải nói là trong mấy hôm ấy ông chẳng làm sai điều gì. Trừ chuyện đốt pháo khiến người ta có chút khó hiểu ra thì về cơ bản Mao Trạch Đông không có gì phải hổ thẹn.
Chu Ân Lai chết [ngày 8/1/1976] được mấy hôm thì đến Tết Nguyên đán. Đêm giao thừa, cả nước không có một tiếng pháo nào. Tôi dám đánh cuộc là không. Nhưng Mao Trạch Đông lại dặn bọn Trương Ngọc Phượng đi kiếm pháo về rồi đem đốt thả cửa trước cổng bể bơi [về cuối đời, Mao sống ở khu nhà có bể bơi trong Trung Nam Hải]. Lúc ấy Mao đã yếu lắm, phải có người dìu để ông chơi trò đốt pháo nổ hai lần [lần nổ đầu, quả pháo phọt lên cao chừng mươi mét rồi lại nổ lần nữa]. Trước đây ông chưa bao giờ tự mình đốt pháo, thế mà hôm nay ông đã châm lửa đốt pháo. Khuôn mặt sắp chết của ông nở nụ cười thanh thản. Tối hôm ấy Chủ tịch Mao và tốp nhân viên phục vụ ông đốt rất nhiều pháo. Sáng hôm sau, người ta dùng xe tải 301 chở xác pháo đi.
Tóm lại, nhân dân không thể nào chịu đựng được nữa, dù là người biết sự thật hay không biết. Tháng Tư, cuộc chiến đấu quyết tử bắt đầu. Một lần nữa, quảng trường Thiên An Môn lại trở thành ngôi sao sáng. Dường như người dân toàn Trung Quốc đều đã kéo tới quảng trường này. Tại đây, những người ông của họ từng kịch chiến chặn đoàn ngựa của bọn quân phiệt. Những người cha của họ từng tới đây vui mừng chào đón ngày thành lập nước cộng hòa. Bản thân họ từng đến quảng trường này, khóc sướt mướt thề trung thành với Cách mạng Văn hóa. Nhưng bây giờ họ chống lại cuộc cách mạng ấy.
Mấy hôm đó, Mao Trạch Đông chăm chú theo dõi tình hình Quảng trường Thiên An Môn. Ông cùng nhịp thở, chung số phận với Quảng trường. Cho dù ông đã gần đất xa trời nhưng điều đó không ngăn cản ông nắm tình hình Quảng trường. Sau này Hoa Quốc Phong có nói gì đây, rằng Giang Thanh, Mao Viễn Tân che giấu lừa dối Chủ tịch Mao. Hoa Quốc Phong nói thế là có ý đồ riêng mà thôi. Chẳng ai có thể che giấu lừa dối nổi Chủ tịch, trừ Lâm Bưu.
Hồi ấy Mao Trạch Đông có tâm trạng rất nặng nề. Trước đây Quảng trường thuộc về ông. Bây giờ nó không thuộc về ông nữa. Mao buồn bã hiểu được rằng tuần trăng mật của mình với Quảng trường đã chấm dứt, ông không còn là người trong Quảng trường Thiên An Môn. Ông cố sức ở lại, nhưng Quảng trường không còn thu nhận ông nữa. Nó vứt bỏ ông rồi.
Hôm ấy, khi Mao Viễn Tân đọc cho Mao Trạch Đông nghe bài thơ bị Bộ Công an xác định là bài thơ phản cách mạng số 001, mặt ông tái nhợt.
Dục bi văn quỷ khiếu,
Ngã khóc tài lang tiếu,
Sái lệ tế hùng kiệt,
Dương mi kiếm xuất sáo.
Tạm dịch ý: “Muốn buồn nghe quỷ kêu/ Ta khóc, lang sói cười/ Rơi lệ tế hùng kiệt/ Ngước mắt tuốt gươm ra”.[2]
Mao Viễn Tân vừa đọc vừa liếc nhìn ông chú mình, chỉ sợ ông lên cơn thịnh nộ. Nhưng ông không nổi giận mà nặng nề thở một hơi dài rồi gục đầu xuống. Mấy sợi tóc bạc lơ thơ không che nổi cái đầu đã hói nhẵn. Có đến mấy chục phút ông gục đầu như thế không nói một lời. Mao Viễn Tân tưởng chú mình đã ngủ bèn khẽ quay người định đi ra, ai ngờ ông chú bỗng dưng mở miệng: “Rơi lệ hay là rơi máu?” “Rơi lệ.”
Khi viết “Giản báo” [Báo cáo ngắn], Diêu Văn Nguyên [một thành viên trong Bè Lũ Bốn Tên] lập tức sửa câu đó thành “ Rơi máu tế hùng kiệt”.
Đêm khuya ngày 5 tháng Tư, đại binh xuất quân, một trận quét sạch Quảng trường Thiên An Môn. Lại một lần nữa Quảng trường ngập máu tươi. Vương Hồng Văn ngồi trong Đại lễ đường nhân dân chỉ huy cuộc tàn sát này.
Sau khi dọn dẹp xong chiến trường, Vương hớn hở đến Trung Nam Hải gặp Mao Trạch Đông. Chủ tịch mặc quần áo ngủ đang nằm trên giường đọc “Hồng Lâu Mộng”.
Vương Hồng Văn nói: “Thưa Chủ tịch, chúng ta thắng rồi!”
Trái ngược với thần sắc mừng rỡ của Vương Hồng Văn, khuôn mặt Mao Trạch Đông đầy vẻ sầu muộn. Ông đang đọc đến đoạn Bảo Ngọc thành hôn với Bảo Thoa. Lâm Đại Ngọc một mình nằm trên giường lắng nghe tiếng đàn sáo tưng bừng từ phía xa vẳng lại, chắc hẳn cô cũng tưởng tượng ra cảnh tình nhân của mình giờ này đang làm tình với kẻ khác, nghĩ đến chuyện ấy, lòng cô đau như cắt. Vốn là người mềm yếu thấy hoa rụng cũng khóc, thế mà lúc này mắt Đại Ngọc lại ráo hoảnh, cô nói: “Bảo Ngọc, ní hảo……”. Không có đoạn viết tiếp.
Vương Hồng Văn oang oang kể lại trận kịch chiến trên Quảng trường Thiên An Môn, miệng bắn nước bọt tung tóe. Mao Trạch Đông vẫn nằm như cũ, không ngẩng đầu lên. Vương Hồng Văn báo cáo xong, chờ đợi vị Thầy dẫn đường của mình khen ngợi. Chẳng ngờ Mao Trạch Đông nói: “Đại Ngọc nói: ‘Bảo Ngọc, ní hảo [chào anh]……’, hảo cái gì thế? Đây thật là bí ẩn muôn đời. Ní hảo cái lòng lang dạ thú ư? Ní hảo hao [anh gắng mà] chiều Bảo Thoa ư? Anh không trông nom việc nhà ư?……”
Vương Hồng Văn tiu nghỉu. Mao Trạch Đông hoàn toàn chẳng nhìn Vương Hồng Văn, mà tiếp tục lúng búng trong miệng: “Ní hảo hao [anh gắng mà] ngủ ư? Ní hảo [anh thật] khổ ư? Anh thật khổ…… Anh thật khổ? À, đúng rồi, là câu: Anh thật khổ. ……”
Ngày mồng 6 tháng Tư, Bộ Chính trị họp, xác định sự kiện Thiên An Môn là bạo loạn phản cách mạng. Mao Trạch Đông tay run rẩy viết lời phê duyệt: “Sĩ khí hăng hái lớn, tốt! Tốt! Tốt! Một Thủ đô, hai Thiên An Môn, ba đốt đánh, tính chất đã thay đổi rồi.”[3]
Tối hôm ấy ông ốm. Sốt. Ho, đờm có máu. Ông bảo mọi người sĩ khí hăng hái lớn mà sĩ khí của ông thì không gượng dậy nổi. Hôm ấy do tâm trạng chán chường, ông nói nhiều nhất đến cái chết. Vương Hồng Văn đến thăm ông, ông hỏi người kế vị trẻ tuổi này: “Sau khi tôi chết rồi, Trung Quốc sẽ xảy ra chuyện gì?”
Trước đây một năm, ông từng hỏi Vương Hồng Văn và Đặng Tiểu Bình cùng một vấn đề như vậy. Vương trả lời: “Toàn Đảng sẽ tự giác thi hành đường lối cách mạng của Chủ tịch Mao, tiến hành cách mạng đến cùng.” Đặng ồm ồm nói: “Quân phiệt hỗn chiến.” Mao Trạch Đông tán thưởng câu nói của Đặng.
Lúc này Vương Hồng Văn ngớ người ra một lúc, rồi chớp lấy cái khôn lỏi của Đặng Tiểu Bình, Vương khẽ trả lời: “Quân phiệt hỗn chiến”.
Mao Trạch Đông lườm Vương một cái: “Nói bậy nào.”
Trương Ngọc Phượng cho ông uống thuốc. Ông vuốt ve tay cô: “Bác kể cho cháu nghe câu chuyện này. Hôm ấy ở Diên An trời mưa có sấm sét. Ông Chủ tịch huyện bị sét đánh chết. Bà con bảo nhau, sét đánh không chết Mao Trạch Đông. Bác rút ra một kết luận: sét đánh bác không chết nhưng bệnh tật thì có thể đánh chết bác.” Trương Ngọc Phượng đưa thìa thuốc vào miệng ông. Miệng ông run lập cập, thuốc rớt ra ngoài.
Tối hôm ấy Mao Trạch Đông muốn xem phim. Trương Ngọc Phượng lấy từ Văn phòng Trung ương về một bộ phim mới “Cuộc chiến đấu khó quên”. Hôm nay Mao Trạch Đông ốm, cho nên người ngồi bên cạnh ông là cô Y tá trưởng của Phòng khám bệnh Trung Nam Hải. Đoạn mở đầu phim có cảnh Giải phóng quân giải phóng được một thành phố, quân đội xếp hàng tiến vào. Dân chúng tay cầm những lá cờ nhỏ đứng hai bên đường chào đón. Bỗng dưng Y tá trưởng cảm thấy có một luồng hơi ẩm thoảng qua. Cô nhìn Mao Trạch Đông và giật mình. Hai dòng nước mắt lóng lánh hiện lên trên khuôn mặt ông. Mao Chủ tịch khóc rồi! Y tá trưởng để ý thấy nước mắt ông tiếp tục trào ra. “Chủ tịch sao thế ạ?” – cô hỏi.
Trên màn ảnh hiện lên cảnh một đám học trò đem những bọc cơm nhỏ tặng các chiến sĩ Giải phóng quân. Mao Trạch Đông chỉ lên màn ảnh hỏi Y tá trưởng: “Cháu có mặt trong đám học trò này không đấy?” Ông biết rằng hồi mới giải phóng, Y tá trưởng là học sinh Thượng Hải. Đúng là năm ấy cô cũng đứng trong đoàn người ra đường hoan nghênh bộ đội ta. Mao Trạch Đông hỏi thế làm Y tá trưởng bỗng dưng chẳng biết vì sao cảm thấy trong lòng xót xa, nước mắt vỡ òa ứa ra. Cô gật gật đầu: “Thưa vâng, cháu có ở đấy ạ.”
Mao Trạch Đông cũng gật gật đầu. Hơi ẩm từ khuôn mặt ông tỏa ra càng nhiều hơn. Xa một chút vẳng lên tiếng thút thít, đó là Trương Ngọc Phượng. Các nhân viên phục vụ khác cùng khóc theo. Những giọt nước mắt của Mao Trạch Đông đã truyền cảm cho mọi người. Ngược lại, tiếng khóc của họ lại truyền cảm cho ông.
Mao Trạch Đông, bàn tay sắt thống trị Trung Quốc mấy chục năm nay, khi vợ con chết ông đều chưa hề nhỏ một giọt nước mắt, thế mà bây giờ lại thút thít khóc thành tiếng. Mỗi lúc càng không thể kiềm chế mình, ông lấy tay bưng mặt, nước mắt chảy qua kẽ tay rơi xuống. Tiếng khóc vang lên khắp gian phòng. Buổi chiếu phim không thể tiếp tục được nữa. Trương Ngọc Phượng và Y tá trưởng dìu Mao Trạch Đông đi ra…..
Thượng Đế dùng một chữ “sinh” để trưng bày tác phẩm của mình, sau đó dùng một chữ “Tử” thu về tất cả. Nửa năm sau sự kiện Thiên An Môn, Mao Trạch Đông từ giã cõi đời.
Lưu Á Châu sinh 1952, hội viên Hội Nhà văn Trung Quốc, Ủy viên Trung ương ĐCSTQ khóa XVIII, Thượng tướng, Chính ủy Đại học Quốc phòng Trung Quốc, con rể cựu chủ tịch nước Trung Quốc Lý Tiên Niệm, có quan điểm phê phán Khổng Tử và Mao Trạch Đông.
Hình: Người dân tưởng niệm Chu Ân Lai trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1976.
Nguồn: Ba bài viết của Thượng tướng Lưu Á Châu làm rúng động lòng người Trung Quốc: Phác họa chân dung Mao, Lưu, Chu. Bài một:  “Chứng nhân của quảng trường”. 刘亚洲上将令人震撼的三篇文章:写意毛刘周 – 《广场的见证》
—————
[1] Từ Hán-Việt là ngoạn thâm trầm; từ này không có trong từ điển. Tạm hiểu là đùa cợt với sự thâm trầm. Người thâm trầm là người sắc sảo, rất hiểu biết nhưng kín đáo. Kẻ chơi trò thâm trầm là kẻ tư tưởng nông cạn nhưng lại tỏ ra sâu sắc, kém hiểu biết nhưng lại tỏ ra rất hiểu biết. Có học giả Trung Quốc nói thâm trầm là một trong 4 đặc trưng lớn của dân tộc Trung Quốc. Năm 1966, Mao Trạch Đông phát động Cách mạng Văn hóa, tưởng rằng đó là hành động có ý nghĩa thâm sâu, nhưng thực ra là nông nổi, ấu trĩ, ngạo mạn khinh đời.
[2] Dịp tiết Thanh minh 1976, mỗi ngày cả triệu dân kéo đến Quảng trường Thiên An Môn dâng hoa, đọc thơ, dán báo chữ lớn tỏ lòng thương tiếc Chu Ân Lai và chửi rủa chính quyền trong tay “Bè Lũ Bốn Tên” chống Chu Ân Lai. Ngày 5/4/1976, thanh niên Vương Lập Sơn đọc rồi dán thơ này lên Đài Liệt sĩ, dân chúng chép truyền tay nhau. Đại ý: Nhân dân đang đau buồn thương tiếc Thủ Tướng, bỗng nghe thấy “lời ma quỷ kêu” (tức tiếng loa phóng thanh yêu cầu giải tán biểu tình). Dân khóc thương, bọn lang sói Bè Lũ Bốn Tên thì hả hê cười. Dân rơi lệ tưởng niệm người anh hùng hào kiệt Chu Ân Lai. Hãy đứng lên đánh đổ chính quyền này. Câu thơ bị Bè Lũ Bốn Tên dựng thành “Vụ án phản cách mạng số 001”, đưa lên báo Nhân Dân và đài phát thanh, ra lệnh truy nã tác giả. Vương Lập Sơn trốn đi. Sau khi Bè Lũ Bốn Tên bị lật đổ, Vường Lập Sơn  được nêu tên là Thanh niên gương mẫu. Năm 2010 báo Trung Quốc có đăng bài phỏng vấn Vương Lập Sơn.
[3] Liên lạc viên Mao Viễn Tân (cháu ruột Mao Trạch Đông) mang Lời phê do Mao viết đưa cho Bộ Chính trị và giải thích: Chủ tịch Mao chỉ thị: Thủ đô, quảng trường Thiên An Môn đã xảy ra tình trạng [dân chúng biểu tình] đốt phá, đánh [đánh lại lực lượng đàn áp], các hoạt động ở đây đã có tính chất phản cách mạng. Trong bài này Lưu Á Châu muốn nói Mao đồng ý vụ đàn áp đẫm máu này, trái với quan điểm chính thống ở Trung Quốc (tránh phê bình Mao, mọi sai lầm của Cách mạng Văn hóa và vụ đàn áp 5/4/1976 đều đổ tội lên đầu Bè Lũ Bốn Tên).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu nv Ng. NG:

Nguyên Ngọc: “Người Việt cũng cần xét lại cuộc chiến Việt Nam”

Thanh Phương thực hiện
Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hóa ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình.
Nguyên Ngọc
Là một trong những người có mặt trong bộ phim tài liệu nhiều tập “The Vietnam War” về chiến tranh Việt Nam của đạo diễn Ken Burns, nhà văn Nguyên Ngọc, nguyên là một sĩ quan trong quân đội miền Bắc, cho rằng Việt Nam cũng nên làm như Mỹ, tức là phải nhìn lại quá khứ, xét lại một cuộc chiến tranh mà theo ông đã dần dần trở thành một cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn do khác biệt ý thức hệ.
RFI: Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, khi xem lại toàn bộ phim “The Vietnam War”, ông có những nhận xét như thế nào về cách thực hiện bộ phim này?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Theo tôi, đây là một phim lớn và rất quan trọng về chiến tranh Việt Nam. Trước đây đã có nhiều phim về chiến tranh Việt Nam, kể cả hư cấu và phim tài liệu, nhưng đây là phim lớn nhất, dài đến 10 tập và 18 giờ. Đáng nói hơn nữa, đây là một phim rất quan trọng. Sau hơn 40 năm, phim này cho thấy nước Mỹ vẫn chưa ra khỏi cái ảm ảnh của cuộc chiến tranh đó.
Khi nói rằng nước Mỹ chưa ra khỏi chiến tranh Việt Nam, nhiều người, kể cả tôi, đã nghĩ rằng đó là một điểm yếu của nước Mỹ. Nhưng xem phim này thì tôi thấy hóa ra đó là cái mạnh của nước Mỹ. Đấy là một quốc gia luôn luôn nhìn trở lại và đặt câu hỏi về quá khứ, về cuộc chiến tranh của mình, về những gì mình đã làm trong suốt cuộc chiến tranh đó. Sức mạnh của nước Mỹ chính là luôn luôn biết tự đặt câu hỏi về quá khứ của mình.
RFI: Thưa nhà văn Nguyên Ngọc, cho tới nay, về phía Việt Nam, chiến tranh Việt Nam vẫn được mô tả như là chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Nhưng nay nhìn lại thì ông có thấy cần đặt lại vấn đề về định nghĩa cuộc chiến tranh này hay không?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Chính là tôi muốn nói về điều đó. Phim này gợi ý rất nhiều điều cho chúng ta. Vì sao mình làm cuộc chiến tranh đó, mình đã làm nó như thế nào, nó để lại những gì cho mình? Những điều đó không được đặt mạnh, đặt một cách đầy đủ.
Đã hơn 40 năm rồi, khi mà nói về chiến tranh này, bởi vì Việt Nam là người thắng cuộc, nên người ta thường nói theo chiều hướng khẳng định và ca ngợi nó. Còn cuộc chiến tranh đó đem lại những gì cho đất nước này, kể cả mặt tốt và mặt tàn phá của nó, tàn phá cả về vật chất lẫn tinh thần, thì chưa bao giờ được đặt ra một cách nghiêm túc.
Riêng tôi là một người làm nghệ thuật, tôi ao ước Việt Nam có thể có một bộ phim tài liệu theo kiểu như vậy. Giá như Việt Nam cũng tự hỏi mình như thế. Theo tôi đó là điều cần thiết.
RFI: Thưa ông Nguyên Ngọc, một trong những điều cần phải được đặt lại đó thiệt hại quá lớn về nhân mạng về phía Việt Nam để đổi lấy chiến thắng đó? Có nên đặt lại vấn đề là lẽ ra chúng ta có thể chọn cách khác để đạt được mục tiêu thống nhất và hòa bình mà không cần phải đổ máu nhiều như vậy?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Để trả lời câu hỏi đó thì tôi xin nói vì sao tôi đã đến với phim này. Người rủ tôi đến với phim này là một người bạn Mỹ Thomas Vallely. Tôi với Vallely có một cái duyên rất kỳ lạ: Hồi sau Mậu Thân, khoảng 1970-1971, tôi hoạt động ở vùng bắc Quảng Nam, trên bờ sông Thu Bồn. Thời kỳ đó vô cùng ác liệt và cả bờ sông đều trắng hết, không còn màu xanh trên mặt đất. Bãi sông Thu Bồn trước đây là một bãi dâu xanh ngắt, thì bây giờ trên đó có mọc lên một loại cây rất lạ, gọi là cây bói, giống như lau sậy. Chúng tôi đào hầm bí mật trong những bãi bói đó.
Sau này, Vallely mới kể rằng chính ông là thủy quân lục chiến đã hoạt động ngay tại khu vực đó. Hàng ngày ông vẫn bắn vào bãi bói vì nghi chúng tôi núp trong bãi bói đó. Có hôm chúng tôi cũng bắn lại. Có lần tôi nói với Vellely rằng: “ May là ông bắn cũng xoàng và tôi thì cũng bắn xoàng!”
Chúng tôi gặp lại nhau và trở nên thân thiết với nhau là vì hai điều. Thứ nhất là chúng tôi gặp nhau trong giáo dục: Vallely là người đã giúp rất nhiều cho giáo dục Việt Nam. Thứ hai là chúng tôi đều hết sức ngưỡng mộ Phan Châu Trinh. Tôi nhắc đến chuyện đó để mà nói như thế này: Phan Châu Trinh đã từng nghĩ đến một con đường khác, mà nếu làm được thì chúng ta đã có thể đạt những điều mà chúng ta tha thiết mong muốn và có thể tránh được hai cuộc chiến tranh bi thảm và tàn phá ghê gớm như thế. Vallely cũng rất ngưỡng mộ Phan Châu Trinh trong ý tưởng đó. Cho nên chính ông đã rủ tôi đến nhóm làm phim của Ken Burns và Lynn Novick.
RFI: Phim nói về nhiều giai đoạn của cuộc chiến, trong đó có một sự kiện mà cho tới nay ở Việt Nam không ai nói đến, đó là vụ thảm sát ở Huế 1968, mà bản thân ông có nhắc đến trong phim. Theo ông biết thì vì sao lại có vụ đó?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Trong chiến dịch Mậu Thân 1968 thì Huế là thành phố mà đánh vào được và chiếm lâu nhất. Do chiếm lâu nhất và tưởng là giải phóng hẳn rồi và đã lập chính quyền, cho nên các cơ sở bí mật trong thành phố đều xuất hiện hết, bộc lộ ra hết.
Sau đó, lực lượng chiếm thành phố bị đối phương vây trở lại và phải mở đường máu mà ra. Trước đó, khi vào chiếm Huế, người ta đã bắt những người bị cho là cộng tác với Mỹ, với chính quyền miền Nam. Trong số đó có thể có những người đúng là có làm cho Mỹ và chính quyền miền Nam, và cũng có thể có những người phạm những tội ác với những cơ cơ sở hoặc là những người theo cách mạng ở Huế. Nhưng cũng có thể có những người bị bắt nhầm và thậm chí cũng có thể có những người bị bắt chỉ vì thù hằn riêng tư.
Cho đến khi bí quá, rút ra không được, nếu thả những người này ra thì tất cả những cơ sở bí mật được chuẩn bị bao nhiêu năm, bây giờ bộc lộ ra hết, nếu thả những người bị bắt ra thì họ sẽ chỉ điểm số người hoạt động bí mật.
Trong tình thế như vậy, người ta đã có chủ trương giết những người đó. Tôi không trực tiếp ở đấy và cũng không biết cái lệnh đó là từ ai. Nhưng trong phim tôi có nói, đấy là một vết nhơ, một vết đen trong cuộc chiến tranh, về phía Việt Nam.
Trong phim không chỉ có chuyện đó, mà còn có những vụ như những vụ thanh trừng từ sau Cách mạng tháng Tám. Theo tôi, phim đã nói chính xác, nói đúng, nói khách quan, công bằng về những điều đó, kể cả về phía Việt Nam, kể cả phía Mỹ và phía chính quyền miền Nam. Đấy cũng là một cái quý của phim này và điều đó làm chúng tôi phải nghĩ lại. Chúng tôi đã đi một con đường như thế nào mà để dẫn đến những hành động như thế, những vết đen như thế.
RFI: Chiến tranh đã chấm dứt từ lâu, Việt Nam và Mỹ đã hòa giải với nhau, vì sao giữa người Việt Nam vẫn chưa có hòa giải?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Trong phim, Bảo Ninh có nói một ý, mà theo tôi ở Việt Nam bây giờ người ta cũng nghĩ như vậy. Cuộc chiến tranh Pháp rồi chiến tranh Mỹ vừa có tính chất chống xâm lược, vừa có tính chất giải phóng dân tộc, nhưng cũng có tính chất nội chiến. Và càng về sau thì tính chất nội chiến càng sâu đậm hơn. Một cuộc tàn sát nhau, huynh đệ tương tàn vì ý thức hệ. Đó là một sự thật. Bảo Ninh đã nói điều đó và ở Việt Nam bây giờ có người đã nói ra, có người chưa nói ra, nhưng ai cũng thấy điều đó.
Ông Lê Xuân Khoa gọi cuộc chiến tranh Việt Nam là cuộc chiến tranh mang tính chất ủy nhiệm, chiến tranh mang tính ý thức hệ. Chính cái đó nó đã phá nát xã hội Việt Nam. Trong phim, tôi có nói rằng cuộc chiến tranh này đã chia rẽ dân tộc một cách kinh khủng. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam bị chia rẽ như bây giờ. Cái tính chất ý thức hệ của cuộc chiến tranh làm cho xã hội Việt Nam bị xé nát, hậu quả đó đến bây giờ vẫn còn.
RFI: Sự chia rẽ đó phải chăng một phần xuất phát từ thời gian sau 1975, khi miền Bắc chiến thắng miền Nam thì họ đã đưa nhiều quân nhân, công chức chế độ cũ đi học tập cải tạo, và đã có những chính sách, những hành động khiến cho rất nhiều người đã vượt biên, bỏ nước ra đi và nhiều người đã bỏ mạng?
Nhà văn Nguyên Ngọc: Sự chia rẽ đó chính là hậu quả của tính chất nội chiến càng ngày càng đậm của cuộc chiến tranh. Lẽ ra là sau năm 75 anh phải hiểu ra điều đó để mà quay trở lại. Anh đã lỡ đi qua con đường đã chọn, con đường dẫn đến một cuộc nội chiến như thế. Nhưng sau năm 1975, không những anh đã không sửa chữa những điều đó, đã không tỉnh táo để chủ động hòa giải, mà một loạt những chính sách đã khiến sự chia rẽ thêm sâu sắc, làm cho tình hình thêm tệ hại.
T.P.

Phần nhận xét hiển thị trên trang