Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 25 tháng 9, 2017

“Có những người bán rẻ Tổ quốc vì quyền lợi cá nhân”


"Có những người lúc đầu khi chưa có quyền lực thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân".
LTS: Tuần Việt Nam trân trọng giới thiệu bài viết mới nhất của Tiến sĩ Vũ Ngọc Hoàng, nguyên phó trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, xung quanh một vấn đề mà ông luôn trăn trở - quyền lực và kiểm soát quyền lực.
Quyền lực như “con ngựa” bất kham, người không đủ nhân cách mà giao cho họ cầm cương thì nó sẽ tung phá, gây đổ ngã và làm chết cả người ngồi trên yên ngựa. Quyền lực là "con dao" hai lưỡi, có thể phục vụ cho đời và cũng có thể làm hại đất nước nếu rơi vào tay những kẻ bất tài, tham lam.
Năm 2011, Đại hội XI của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề cập, dù là mới thoáng qua, việc kiểm soát quyền lực. Rất tiếc là chủ trương đó chưa được triển khai thực hiện cụ thể. Trước và trong Đại hội XII, Tổng Bí thư của Đảng ít nhất đã hai lần nhấn mạnh phải kiểm soát quyền lực.
Gần hai năm trước, trong bài “Tham vọng quyền lực và sự tha hóa”, tôi có viết ý kiến về kiểm soát quyền lực và trả lời phỏng vấn của báo chí về việc này. Thời gian gần đây một số tờ báo có đặt vấn đề phỏng vấn tôi yêu cầu nói tiếp ý kiến về kiểm soát quyền lực. Đó là lý do khiến tôi viết tiếp bài này trao đổi thêm để bạn đọc tham khảo.
Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm
TS Vũ Ngọc Hoàng. Ảnh: Lê Anh Dũng
Câu hỏi trước tiên cần nói thêm là vì sao phải kiểm soát quyền lực? nếu không kiểm soát quyền lực thì sẽ thế nào?
Mặt tiêu cực của quyền lực
Quyền lực vốn là của cộng đồng nhân dân, khởi đầu là thế, và mãi mãi cũng là thế, không phải của thần linh, không phải của bất kỳ cá nhân ai, của một gia đình trị hoặc một tộc họ nào; cũng không phải của bất kỳ một tổ chức nào khác.
Từ lâu Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhận thức được và đã nhiều lần khẳng định trong các Nghị quyết rằng quyền lực thuộc về nhân dân. Nhân dân không trực tiếp nắm giữ tất cả, mà chỉ nắm giữ một số vấn đề then chốt (sẽ nói sau), còn lại là ủy quyền cho nhà nước quản lý và sử dụng quyền lực để bảo vệ và phục vụ nhân dân, kiến tạo một quốc gia phát triển.
Tuy nhiên, trong lịch sử, đã từng có không ít trường hợp những người (hoặc nhóm người) bằng các thủ đoạn chính trị đã cướp đoạt quyền lực của nhân dân, biến nhân dân thành đối tượng bị cai trị. Nhân dân sau khi ủy quyền thì mất quyền, còn người được ủy quyền thì dần dần bị quyền lực làm tha hóa. Họ sử dụng quyền lực không phải để bảo vệ và phục vụ nhân dân như mục đích ban đầu, mà để phục vụ lợi ích của cá nhân, gia đình, dòng họ, cho một nhóm người, họ quay lại ức hiếp nhân dân, biến nhân dân từ chủ nhân của quyền lực thành đối tượng bị chèn ép, bị ức hiếp, bị tước đoạt.
Ở bất kỳ đâu và bất kỳ lúc nào, quyền lực cũng luôn có hai mặt. Mặt tích cực, nó là công cụ hữu hiệu bậc nhất để tập hợp lực lượng xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng một xã hội tốt đẹp, nếu như quyền lực ấy được trao cho những con người có nhân cách tốt.
Mặt tiêu cực, nó luôn làm tha hóa những con người và bộ máy sử dụng quyền lực nhưng lại yếu kém về nhân cách và không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực. Sự tha hóa như vậy có từ trong bản chất tự nhiên của con người và quyền lực. Có những người lúc đầu (khi chưa có quyền lực) thì tốt, nhưng sau đó, khi đã có quyền lực trong tay thì dần dần trở nên hư hỏng, thành người xấu; thậm chí đến mức có thể phản bội nhân dân, bán rẻ Tổ quốc vì ngai vàng của cá nhân.
Cá biệt có những người thay đổi bản chất rất nhanh, chỉ sau một lần bỏ phiếu, họ gần như trở thành một người khác hẳn, từ dáng đi, cách nói, cách bắt tay. Họ khệnh khạng hơn, có vẻ "oai vệ" hơn, "bề trên" hơn. Khi người ta đến được đỉnh cao của "chiến thắng" trong quyền lực thì đấy là lúc người ta bắt đầu thua, mà trước tiên là thua chính mình.
Trên đỉnh cao của quyền lực ít ai nhìn thấy tai họa ẩn chứa vốn có từ bên trong quyền lực ấy, nếu không phải là người lãnh đạo có nhân cách lớn, minh triết uyên thâm, có khả năng vượt qua chính mình và ma lực cám dỗ của quyền lực, để tịnh tâm nhìn xa trông rộng. Khi đã có trong tay tất cả thì đấy cũng là lúc tự mình bắt đầu đánh mất dần.
Tha hóa quyền lực dẫn đến sụp đổ chế độ  
Việc kiểm soát quyền lực trước tiên là để bảo đảm cho quyền lực luôn thuộc về đúng chủ nhân của nó, tức là thuộc về nhân dân, được sử dụng đúng mục đích, không bị lợi dụng, lạm quyền. Khi quyền lực bị lạm dụng thì tất yếu sẽ tha hóa bộ máy cầm quyền, và cũng là nguyên nhân quan trọng nhất dẫn đến tha hóa đạo đức xã hội.
Sự tha hóa quyền lực tất yếu sẽ dẫn đến sụp đổ chế độ chính trị. Nếu sự tha hóa ấy không dừng lại và lành mạnh hóa thì sụp đổ là không thể khác, chỉ còn là vấn đề thời gian. Sự sụp đổ ấy chính là tự đổ, không phải do ai phá và cũng không ai cản nổi.
Có những suy nghĩ rất ấu trĩ sai lầm khi cho rằng nắm cho chắc lực lượng vũ trang là có thể đẩy lùi sự sụp đổ. Không đâu! Liên Xô ngày trước cả quân đội và lực lượng an ninh KGB còn rất mạnh, bậc nhất thế giới, vậy mà đến một lúc, khi sự tha hóa đã đến ngưỡng, thì cả một chế độ được cho là thành trì ấy bỗng chốc đổ ào, đến mức không tưởng tượng được, không hiểu nổi.
Nhiều người đã giải thích rằng do địch phá bằng “diễn biến hòa bình”... Không phải như thế đâu! Đấy là cách giải thích miễn cưỡng, không có cơ sở khoa học, tự trấn an mình. Địch thì lúc nào mà chả phá ta? Do phá ta nên nó mới là địch. Địch mà không phá ta mới là chuyện lạ.
Phá là việc của địch, còn ngã đổ là chuyện của ta. Nếu cử đổ lỗi cho địch thì rồi chẳng biết cách nào mà sửa. Địch phá Liên Xô ư? Phá sao bằng thời kỳ trước đó, khi 14 nước đế quốc tập trung bao vây nhà nước nhân dân còn non trẻ, rồi nội chiến, rồi chủ nghĩa phát-xít đã tập trung cao độ lực lượng với nửa nghìn sư đoàn thiện chiến trong đại chiến thế giới lần thứ 2 để tiêu diệt Liên Xô, nhưng không tiêu diệt được.
Ngược lại, Liên Xô đã lớn mạnh thành một cường quốc hàng đầu thế giới. Sao bây giờ địch giỏi vậy, tài tình vậy, chẳng tốn một viên đạn mà Liên Xô vẫn đổ ào không cứu vãn được, cứ như một cơn đột quỵ dữ dội và bất ngờ. Địch mà giỏi như vậy thì thật đáng kính phục?
Những nhà tuyên truyền “ngây thơ” đã vô tình tâng bốc địch, vậy mà cứ tưởng thế mới là có lập trường địch - ta. Bản chất của vấn đề Liên Xô đổ là tự đổ, do tha hóa quyền lực mà đổ, do không thể tự đứng được nữa mà đổ, do thối nát mà đổ, chứ chẳng phải ai xô ngã được.
Kiểm soát quyền lực, Vũ Ngọc Hoàng, Liên Xô sụp đổ, Diễn biến hòa bình, Tham nhũng, Lợi ích nhóm
Có những người có quyền lực trong tay trở nên tha hóa. Ảnh minh họa: Shutterstock/Thanh niên
Tham nhũng, lợi ích nhóm lan cả vào chốn thiêng liêng
Đặc điểm chính trị quan trọng nhất của xã hội xã hội chủ nghĩa (XHCN) chân chính là quyền lực thật  sự và luôn luôn thuộc về nhân dân. Chỉ khi ấy mới có một nền chính trị thật sự tốt đẹp và bền vững.
Thực tế lịch sử nhân loại đã cho thấy: nhà nước của chủ nô, của vua và các tập đoàn phong kiến, nhà nước của quan lại tha hóa (như Liên Xô giai đoạn sau chẳng hạn) và nhà nước của tài phiệt (tư bản hoang dã thời kỳ đầu) cuối cùng đều phải ngã đổ và kết thúc. Chỉ có nhà nước của dân, thật sự của dân, thì mới bền vững lâu dài, vì dân là vạn đại.
Vì vậy, việc kiểm soát quyền lực vừa là giá trị nhân văn của một xã hội tiến bộ, phòng chống sự tha hóa của Nhà nước và xã hội, đồng thời là để thực hiện mục tiêu XHCN chân chính, để có được một nhà nước bền vững lâu dài phục vụ nhân dân.
Khi quyền lực không được kiểm soát thì mặt trái của nó chính là tác nhân quan trọng nhất làm tha hóa cán bộ, tha hóa những con người được trao quyền lực, rồi tha hóa cả bộ máy, làm cho bộ máy bị biến chất, không còn là nhà nước của dân, mà dần dần thành nhà nước phản bội nhân dân.
Trong bất kỳ điều kiện nào, sự tha hóa quyền lực ở cán bộ và các cơ quan lãnh đạo quản lý, đều là nguyên nhân lớn nhất làm cho đạo đức xã hội xuống cấp, văn hóa suy đồi, dân tộc bị mất dần sức mạnh nội sinh, xã hội trì trệ và quốc gia không thể hưng thịnh, không có đủ sức mạnh để bảo vệ Tổ quốc, mục tiêu XHCN tốt đẹp mà nhiều người đã từng mong ước cũng trở nên xa vời và mơ hồ.
Lịch sử nước ta đã từng có nhiều lần do tha hóa quyền lực mà dẫn đến mất nước. Hầu hết các triều đại phong kiến Việt Nam đã từng bị sụp đổ vì tha hóa quyền lực. Triều đại sau được dân chúng ủng hộ lên thay, rồi cũng tha hóa tương tự, lặp lại như cũ. Ngay cả những triều đại đã một thời rất huy hoàng, có công lao to lớn bậc nhất với lịch sử dân tộc nhưng sau đó cũng tha hóa và sụp đổ (như nhà Lý, nhà Trần, Hậu Lê và Tây Sơn chẳng hạn).
Nhiều năm qua lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta đã rất nhiều lần đề ra chủ trương và kêu gọi phải chống tham nhũng, chống “lợi ích nhóm” tiêu cực, cũng đã mất nhiều công sức cho công việc khó khăn và vất vả này, nhưng kết quả vẫn còn rất hạn chế. Tình hình tham nhũng, “lợi ích nhóm” chẳng những không dừng lại, mà đang còn khá phổ biến và phức tạp, gây nhức nhối xã hội, đau đầu các cơ quan lãnh đạo đất nước. 
Nó cứ lan rộng dần vào tất cả mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, của công việc quản lý và quản trị quốc gia, vào ngay trong các lĩnh vực mà trước đến nay thường được cho là trong sạch, thiêng liêng (như lĩnh vực dạy người, cứu người, an ninh quốc gia, nắm cán cân công lý để bảo vệ sự nghiêm minh, kể cả cơ quan ở cấp cao, cả nhà thờ, chùa chiền, cả lĩnh vực làm từ thiện, nhân đạo, chính sách đền ơn đáp nghĩa…).
Điều đó có nguyên nhân trực tiếp quan trọng nhất là chưa làm tốt việc kiểm soát quyền lực, nói thẳng và mạnh hơn là quyền lực về cơ bản chưa được kiểm soát, từ đó dẫn đến tha hóa cán bộ và các tổ chức trong bộ máy lãnh đạo quản lý.
Vũ Ngọc Hoàng
*Tiêu đề, các tiêu đề phụ của bài viết do Tuần Việt Nam đặt.
Kiểm soát quyền lực như thế nào, bằng cách nào? Mời độc giả đón đọc trong Phần 2.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

5 Thí Nghiệm Đã Có Thể Hủy Diệt Trái Đất

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Lấy của người giàu chia cho người nghèo” là tốt hay là xấu?


Rất nhiều người luôn lấy làm yêu thích nhân vật nổi tiếng trong truyện cổ Anh Quốc là Robin Hood, một anh chàng với bộ áo xanh, giỏi bắn cung, đánh kiếm, chống lại kẻ ác, chuyên lấy của người giàu chia cho người nghèo. Và cái quan niệm “lấy của người giàu chia cho người nghèo” đã theo chúng ta suốt bao nhiều năm tháng, cho đến một ngày chúng ta tự hỏi rằng: “Lấy của người giàu chia cho người nghèo” là tốt hay là xấu?
Giật mình, chúng ta chợt nghĩ: Ăn cướp chưa bao giờ là một hành động tốt đẹp cả…
"Lấy của người giàu chia cho người nghèo" là tốt hay là xấu?
Nhân vật Robin Hood của Disney được tạo hình là một chú cáo. Nhưng mà trong văn hóa phương Tây thời xưa thì cáo không phải là loài vật tốt đẹp nào cả…
Về mặt luật pháp, tự ý lấy đi tài sản của người khác chính là vi phạm quyền tư hữu tài sản. Nếu bởi vì nguyên nhân người giàu đó độc ác mà tự ý lấy đi tài sản của họ thì vẫn là sai. Kẻ độc ác vẫn nên bị trừng trị tương ứng với hành vi phạm pháp của họ, chứ không phải là theo cảm tính. Đơn cử như một kẻ trộm đồ sẽ không đáng bị người dân hùa vào đánh chết, bởi vì dù là về pháp luật hay là về nhân tính thì họ cũng không đáng phải chết. Kẻ trộm cũng là con người, chưa kể là ai biết được xem hoàn cảnh của họ ra sao, họ vì cớ gì mà đi ăn trộm? Tương tự như vậy, người giàu bị trộm là ai? Họ là người tốt hay người xấu? Tài sản đó của họ là do lừa lọc mà có, hay là do đổ mồ hôi sôi nước mắt mà có? Lấy đi số tài sản đó sẽ phương hại gì tới họ và gia đình?
Không chỉ như vậy, quan niệm “lấy của người giàu chia cho người nghèo” còn tồn tại nhiều dấu hỏi: Người nghèo đó là ai? Vì sao mà họ nghèo? Họ nghèo là vì lười biếng không chịu làm việc, hay là bị bóc lột tàn nhẫn? Có tốt không khi trao cho người nghèo số tài sản đó? Họ sẽ làm gì hay là phung phí nó? Liệu có cách nào đó khiến người nghèo giàu lên mà không phải đi “cướp” để “cho” không? Liệu đạo đức của họ có xuống dốc vì chuyện này không? Liệu họ có hưởng ứng hành vi ăn cướp phạm pháp đó vì món lợi trước mắt không?
Hơn thế nữa, “lấy của người giàu chia cho người nghèo” thì chia như thế nào? Hình thức phân chia ra sao? Ai sẽ đảm bảo về số tài sản ấy? Liệu số tài sản ấy có thể bị lợi dụng vì mục đích khác không? Bản thân hành vi này là hành vi ăn cướp, vậy ai dám bảo chứng là kẻ cướp sẽ có một đạo đức cao thượng, không tơ hào một đồng? Ai dám bảo chứng là những người nghèo kia không vì món lợi chia chác mà trở thành kẻ cướp?
Hãy lấy việc cải cách ruộng đất ở Trung Quốc Đại Lục do Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) thực hiện và cải cách ruộng đất ở Đài Loan do Chính phủ Quốc dân thực hiện làm ví dụ. Đây là hai cuộc cải cách cực kỳ khác biệt, không chỉ ở cách làm mà còn ở sự nhân văn. Nếu như cải cách ruộng đất ở Trung Quốc Đại Lục là một biển máu, thì cuộc cải cách ở Đài Loan lại diễn ra vô cùng hòa bình.
Với khẩu hiệu “cải cách ruộng đất” và trấn áp những phần tử “phản động”, chỉ trong vẻn vẹn hai năm ngắn ngủi, giới chức của ĐCSTQ đã giết hại 2,4 triệu người trong quá trình quốc hữu hóa ruộng đất. Đó là con số do bản thân ĐCSTQ công bố, còn có những nghiên cứu khác đặt con số ở mức 5 triệu người. Và cái cớ của hàng triệu nhân mạng đó chính là “lấy của người giàu chia cho người nghèo”.
Cách giết người phổ biến nhất được biết đến trong thời kỳ cải cách ruộng đất là “đấu tố”. ĐCSTQ làm giả tội danh và đổ tội cho những người chủ sở hữu đất đai (địa chủ) hoặc những người nông dân giàu có. Mọi người sau đó sẽ được hỏi xem là họ nên bị trừng phạt như thế nào. Một số đảng viên hoặc những người hoạt động cho ĐCSTQ đã được gài trong những đám đông để hô “Chúng ta nên giết họ!” và những người chủ sở hữu đất đai và những nông dân giàu có sau đó bị xử tử ngay tại chỗ. Vào thời kỳ đó, bất kể người nào sở hữu đất đai ở trong làng cũng đều bị coi là “cường hào”. Những người thường lợi dụng nông dân bị gọi là “cường hào bủn xỉn”; những người thường giúp sửa chữa những tiện nghi công cộng và tặng tiền cho các trường học và giúp đỡ trong việc giảm nhẹ thiên tai được gọi là “cường hào tốt bụng”; những người không làm gì cả bị gọi là “cường hào im lặng”. Việc phân loại như thế này không có ý nghĩa gì cả, bởi vì tất cả các loại “cường hào” cuối cùng đều bị xử tử ngay lập tức bất kể là họ thuộc vào loại “cường hào” nào.
Đấu tố trong thời Cải cách Ruộng đất ở Trung Quốc.
Cải cách ruộng đất đã có thể được thực hiện mà không cần phải chém giết, giống như cách mà Chính phủ Quốc dân đã thực hiện ở Đài Loan. Bắt đầu từ năm 1946, các ruộng của chính phủ được cho người nông dân thuê lại với giá rẻ, từ đó góp phần cải thiện cuộc sống của họ. Do giá thuê rẻ, người nông dân được lợi nên chăm chỉ làm việc, khiến sản lượng thu hoạch tăng cao (tăng 46% trong 4 năm). Trong khi đó, nguồn lợi từ việc sở hữu ruộng đất của các chủ đất giảm xuống (do các ruộng của chính phủ), khiến những chủ đất mong muốn bán đất đai của mình để đầu tư sang khu vực kinh tế khác. Lượng đất này được chính phủ hoặc những người nông dân có điều kiện mua lại. Cuối cùng, chính phủ tiếp tục bán ra số đất mà mình sở hữu. Tới năm 1953, số lượng ruộng đất được người nông dân Đài Loan sở hữu cuối cùng đã tăng lên tới 90%.
So sánh trên đã chỉ ra cho chúng ta một thực tế về sự cực đoan của câu khẩu hiệu “lấy của người giàu chia cho người nghèo”.
Hãy thử lấy một ví dụ khác về quan niệm “lấy của người giàu chia cho người nghèo” dưới hình thức văn minh hơn. Với logic là, người nghèo cần sự trợ giúp, và điều này trở thành một “quyền”, ví dụ như quyền có nhà ở và quyền được chăm sóc sức khỏe. Vậy thì đi kèm với quyền đó là việc những người khác phải có nghĩa vụ. Khi một người nghèo cần cấp cứu trong bệnh viện, họ có quyền nhận được sự trợ giúp. Tuy nhiên, những bác sĩ và y tá đã học tập bao nhiêu năm cũng có quyền được hưởng lương vì bất cứ một ca cấp cứu nào. Vậy thì ai sẽ trả cho họ? Xã hội hiện đại trả lời rằng: tất cả mọi người. Vậy là tất cả mọi người sẽ phải trả cho ca cấp cứu đó qua hình thức thuế. Và nếu như chi phí đó bị chia đều, thì có thể một số người nghèo sẽ không chịu nổi, vì thế phương án đánh thuế theo % thu nhập và theo mức thu nhập ra đời để đáp ứng cho hoàn cảnh xã hội của người nộp thuế.
Nhìn một cách tổng thể, thuế là một hình thức phân phối lý trí hơn quan niệm “lấy của người giàu chia cho người nghèo”. Tuy nhiên, hệ thống luật pháp phương Tây cũng thừa nhận rằng: Thuế là hình thức sung công (mà không phải quốc hữu hóa) các tài sản tư nhân; và không có sự vô tư (không thiên vị) trong vấn đề thuế. Chính vì vậy, một hệ thống thuế tốt vẫn cần nền tảng lý trí và đạo đức từ chính phủ của một quốc gia.
Và tất nhiên, vẫn còn tồn tại rất nhiều hình thức giúp đỡ người nghèo khác không nhờ “lấy của người giàu chia cho người nghèo”, như quyên góp, làm từ thiện, tạo công ăn việc làm, v.v. Tất cả đều xuất phát từ thiện nguyện tốt đẹp của con người chứ không phải là từ một câu khẩu hiệu…
Blogger Thuận Nhân

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nội tình TQ trong tiểu thuyết Hồ Cẩm Đào (Phần cuối): Kết thúc cuộc chiến Hồ – Giang

Hồ Cẩm Đào đã khóc ngay tại hội nghị. Hồ nghĩ lại thời mình nắm chính quyền trong 10 năm thật không dễ dàng; nghĩ lại còn có nhiều việc không dám làm hoặc làm không tốt, xấu hổ với lịch sử với nhân dân; nghĩ lại việc không dám ra lệnh dừng bức hại Pháp Luân Công, nghĩ lại việc hoàn cảnh chính trị và nhân quyền ở Trung Quốc lúc mình nắm quyền lại không cải biến được gì, Hồ khóc là vì thế.

tieu thuyet, Phap Luan Cong, hồ cẩm đào, Giang Trạch Dân,
(Ảnh: Internet)
Tiếp theo phần 2: Mưu sát tổng bí thư
Hồ quyết định, lần đại hội Đảng thứ 17, ông sẽ loại bỏ Giang khỏi cuộc chơi. Không ngờ Giang cũng đã sớm chuẩn bị, đưa một số người tích cực bức hại Pháp Luân Công như Chu Vĩnh Khang, Bạc Hy Lai… vào danh sách các thường ủy viên, nên bây giờ là 9 thường ủy, lại quy định mỗi thường ủy trông coi một việc, không can thiệp vào nhau, việc lớn việc nhỏ đều báo cho Giang, để ông ta quyết định.
Trong tổng số các thường ủy, bởi phe của Giang đông người, thiểu số phục tùng đa số, các người như Ôn Gia Bảo… đành im lặng chịu đựng. Lúc đưa tên Bạc Hy Lai vào danh sách thường ủy, Hồ chịu đựng hết nổi, nói, nếu đưa Bạc vào, Hồ sẽ từ chức tổng bí thư ngay.
Tăng Khánh Hồng và Giả Khánh Lâm đành nhượng bộ, nên Hồ điều Bạc đến Trùng Khánh. Kết cuộc số người hai phe Giang, Hồ ngang nhau.
Giang Trạch Dân vẫn chưa chịu thôi, chưa mưu sát được Hồ thì Giang vẫn chưa ngủ yên, nên thành tâm bệnh. Do vậy trong buổi hội nghị quốc tế tại Thượng Hải lại tìm cách mưu sát Hồ. Nhưng Hồ đã cho kiểm tra trước, tìm ra một trái bom gài nơi đó, một lần nữa Giang đã thất bại.
Khi biết Hồ lại thoát chết, mặt Giang tím lại, vỗ mạnh tay lên bàn làm sách vở, ly tách đổ ngổn ngang, đưa ánh mắt tóe lửa nhìn Tăng Khánh Hồng, nói: “Ai để lộ việc này, đem đầu nó về đây cho tôi”. Tăng tự nhận lỗi và an ủi Giang, hứa hẹn lần sau sẽ không để thất bại nữa.
Sau mấy lần bị mưu sát, Hồ vô cùng hoảng sợ, ông lập tức tổ chức một ban tham mưu thân tín tìm kế đối sách, nhưng tất cả đều bó tay. Sau cùng, vị cao nhân bên Đạo gia nói: “Xã hội và bản thân anh có được yên ổn hay không, hãy tìm một vị có mở thiên mục ở tầng thứ cao xem xét mới biết rõ, anh hãy tìm học viên Pháp Luân Công”.
Hồ liền tìm cách mời học viên Pháp Luân Công tham gia vào ban tham mưu của mình, nhưng học viên Pháp Luân Công không tham gia chính trị nên đã từ chối, và giới thiệu Hồ một vị phương trượng chùa Tu Di nơi có hoa Ưu Đàm nở bên Hàn Quốc. Vị phương trượng nói với Hồ: Hoa Ưu Đàm đã nở, Pháp Luân Thánh Vương đã giáng hạ cứu người, nên ông cần đi vân du tìm Pháp Luân Công để luyện; nếu Hồ muốn xã hội phát triển, dân chúng sống thái bình an lạc, phải thả ngay tất cả học viên Pháp Luân Công đang bị giam giữ, đồng thời phải đưa Giang Trạch Dân, La Cán, Tăng Khánh Hồng tạ tội cùng thế giới.
Hồ biết rõ, nếu làm vậy chẳng khác nào làm cho đảng cộng sản tan rã, đồng thời bản thân ông sẽ ra sao đây? Hồ không dám làm vậy nên im lặng không nói gì.
Năm 2008, tại Trung Quốc phát sinh địa chấn lớn ở Vấn Xuyên, Thiên Thượng một lần nữa giáng tội những kẻ tư dục cường bạo. Giang lệnh cho Quách Bá Hùng không được đưa quân đội đi cứu giúp.
Cuối cùng, đang lúc Hồ Cẩm Đào đi thực tế vùng tai nạn tại Vấn Xuyên, ngoài việc nhà cửa đổ nát hoang tàn, còn lại là thảm cảnh dân chết hoặc thương tích nằm lăn lóc đầy đất, không có một quân nhân nào cứu viện, chỉ có vài người tự nguyện hợp sức cùng dân sở tại đang thu dọn phế vật, săn sóc giúp đỡ cứu trị các nạn nhân bị thương và chôn cất người chết. Hồ Cẩm Đào hỏi thăm vài người đang làm công tác cứu trợ: “Vùng này không có người cứu trợ, các anh từ đâu đến giúp vậy? Các anh là đảng viên hả?”.
Không ngờ họ trả lời: “Chúng tôi từ thành thị xuống đây cứu trợ, chúng tôi không phải là đảng viên mà là học viên Pháp Luân Công”.
Hồ Cẩm Đào thấy sững sờ, tựa hồ không nghe rõ, hỏi thêm: “Có người phái các anh đi cứu trợ phải không?”.
Nhưng những người cứu trợ nói: “Không, chúng tội tự ý tình nguyện, thấy nơi nào tai nạn nghiêm trọng, nạn nhân nhiều mà không ai cứu giúp thì chúng tôi giúp đỡ. Sư Phụ chúng tôi nói rằng, làm người cần phải trọng đức, coi trọng tâm tính, phải làm người tốt và người tốt hơn nữa, giúp đỡ người gặp khổ nạn, do vậy chúng tôi đi cứu trợ một cách tự nguyện”. Nói xong họ lại tiếp tục lo cứu trợ, thu dọn…
Sau khi xuất hiện ngụy án tự thiêu giả mạo lớn nhất thế kỷ tại Thiên An Môn, trong xã hội không một ai dám đứng trước mặt một người lãnh đạo đảng mà đàm luận về Pháp Luân Công, huống chi là nói với tổng bí thư. Vì thế Lệnh Kế Hoạch giận dữ ton hót: “Thật lớn gan, dám tự xưng như vậy với tổng bí thư, phải thủ tiêu chúng ngay”. Nói xong định phái người đi bắt họ, nhưng Hồ khoát tay: “Không được, để họ đi cứu người thôi”.
Do vậy lúc khai mạc Thế vận hội Olympic 2008, Giang Trạch Dân cố tình đến trước mặt Ôn Gia Bảo, sai người của Giang khiêu khích, còn có người của Giang trực tiếp khiêu chiến với Hồ. Trong giới truyền thông lại đăng tải: “Không có lý lịch quân nhân, không có kinh nghiệm chiến đấu, không có năng lực quản lý kinh tế, làm sao có tư cách quản lý chính trị trên trường quốc tế? Trong lịch sử, kỷ luật của đảng quy định: bí thư đảng có thể bị đa số đảng viên phế trừ”. Lời đăng tải này cũng bằng như mạ lị Hồ Cẩm Đào không xứng đáng, cần bị loại bỏ.
Giang Trạch Dân trực tiếp nói với Bạc Hy Lai: “Anh đến Trùng Khánh, học vài kinh nghiệm quản lý, sao cho có năng lực trấn áp được học viên Pháp Luân Công và Chân Thiện Nhẫn; lấy lý do tư bản chính trị, loại Trần Lương Vũ khỏi ghế bí thư, rồi anh ngồi vào đó”.
Do vậy tại Trùng Khánh, Bạc Hy Lai mặc sức ngang ngược, vận dụng các phương pháp kỳ quái, bắt chước “Cách mạng Văn hóa” tạo hình tượng sùng bái cá nhân, để tích lũy kinh nghiệm chính trị. Ông ta ra lệnh dùng mọi thủ đoạn để lùng bắt học viên Pháp Luân Công, đem họ nhốt vào các khu quân sự bỏ hoang, rồi kiểm tra máu của họ, nếu như ở bệnh viện có bệnh nhân có tiền muốn cấy ghép nội tạng thì liên lạc với ông, ông sẽ cho mổ sống cướp lấy nội tạng của học viên Pháp Luân Công đem bán cho việc cấy ghép mà kiếm tiền.
Mấy kẻ tay sai ác độc, đem 3 học viên Pháp Luân Công đã bị tra tấn đến suy yếu, rồi đưa vào tầng hầm dưới đất; một tên hung dữ cầm cây gậy to, đánh một vị học viên Pháp Luân Công đến bất tỉnh, sau đó cầm dao mổ bụng vị này và hỏi tên kia: “Mày muốn ăn phần nào?”. Rồi hắn cắt lấy phần ấy đưa cho tên kia, thân thể người học viên đã chết bị các tên ác ôn cắt ra từng phần đem xào nấu làm món ăn. Hai vị học viên còn lại vẫn không nói một lời, một người rơi nước mắt, một tên ác ôn liền chỉ vào vị ấy cười man rợ, nói: “Ngày mai mi sẽ bị làm thịt’. Một tên ác nhân ăn no xong còn đem về cho vợ ăn, người vợ không biết gì nên cùng ăn với hắn, ăn xong hắn nói: “Ngày mai ta sẽ làm món chưng ăn”.
Có học viên Pháp Luân Công sau khi bị giết để cướp nội tạng đem bán, còn bị mấy tên cắt lấy bao tử, đem tẩm gia vị mà nướng ăn, lấy phổi đem nấu canh.  Tại Sơn Đông có rất nhiều các loại động vật như: nhện, muỗi, kiến, rết… cảnh sát để bắt các học viên Pháp Luân Công viết hối quá thư (giấy cam kết từ bỏ tu luyện)… chúng đánh đập khảo tra khiến họ máu me thương tích đầy mình, chúng trói tay chân học viên vào các cột sắt, côn trùng ngửi thấy mùi máu từ các vết thương, bò lại cắn hút khiến họ càng đau đớn khó chịu muôn phần…
Có nữ học viên nhìn thấy con nhện to, sợ hãi co rút người lại, bọn cảnh sát thấy vậy, bèn cởi hết đồ cô ấy ra, cột tay chân lại cho nhện bò lên người, cô sợ quá nên viết giấy cam kết từ bỏ tu luyện và được thả ra, chúng liền liền dụ dỗ cô đi thuyết phục để chuyển hóa các học viên khác từ bỏ tu luyện.
Một tên đứng đầu phòng 610, bắt hai con rắn độc bỏ đói nhốt vào lồng, một nam học viên bị nhốt một mình trong phòng nhỏ, chúng đem rắn vào để cho rắn cắn vào cổ vị này, hôm sau chúng trở lại, mở to mắt kinh ngạc, thấy học viên này vẫn sống, chúng lấy từ chỗ cổ của vị học viên bị rắn cắn ra một cái nanh rắn.
Sau một thời gian, cảnh sát thấy các học viên bị côn trùng cắn chích mà vẫn không hề hấn gì, giống như có thần thông bảo hộ, khiến chúng rất sợ hãi, vài tên không dám quá tàn nhẫn nữa. Cũng có tên không tin, đem chó săn đến cho cắn những học viên không chịu viết thư bảo chứng từ bỏ tu luyện, chó cắn đến thương tích đầy mình, rồi chúng còn dội nước lạnh lên mình vị này, rồi nói với nhau đem vị học viên này chôn sống… người học viên này liền bị khuất phục, viết hối quá thư; vị này được thả ra, nhưng cuối cùng cũng chết tại nhà.
Có cảnh sát còn bắt học viên Pháp Luân Công ăn phân uống nước tiểu. Chúng nói họ luyện công bị điên rồi, nên ăn phân uống nước tiểu.
Sau đó Bạc Hy Lai trở lại báo cáo cho Giang rằng, hắn đã học đủ kinh nghiệm chính trị tư bản “xướng hồng đả hắc” và kinh nghiệm bức hại Pháp Luân Công. Nghe xong, Giang vô cùng thích chí, nói: “Bây giờ là lúc cho tên Hồ hạ đài, rồi anh lên làm tổng bí thư, đem các kinh nghiệm trên nhân rộng ra toàn quốc, tôi mới yên tâm”.
Năm đó một cuộc diễn tập quân đội quốc tế được tổ chức tại vùng biển Thanh Đảo. Giang dự định lấy mạng của Hồ trong buổi diễn tập này. Hồ Cẩm Đào cũng cảnh giác, sợ bị mưu sát như lần trước, nên ngay lúc diễn tập, Hồ cho thay đổi đảo lộn vài chương trình và còn cho vài tên thân tín của Giang luôn theo mình, trong lúc theo dõi buổi diễn tập, đề phòng nếu Giang có cho bắn cũng phải kiêng dè.
Tăng Khánh Hồng thấy cuộc mưu sát Hồ bị trở ngại, liền báo cho Giang; Giang giận dữ la lớn: “Không cần quái gì hết, mấy tay thân tín của ta có chết theo Hồ cũng chẳng sao, cứ thấy Hồ ở tàu nào là bắn vào đó, tôi muốn Hồ phải chết”.
Pháo thủ được lệnh liền chuẩn bị, ngay lúc buổi diễn tập vừa kết thúc, nhân lúc quân hạm Hồ quay về, chúng định cho súng bắn vào quân hạm đó, nhưng thật kỳ quái, ngay lúc ấy trên mặt biển xuất hiện một đám sương mù che mắt tất cả, khiến các pháo thủ không xác định được vị trí các quân hạm; đến lúc sương mù tan đi thì quân hạm chở Hồ đã không còn dấu tích.
Nghe tin Hồ lại thoát chết, như có thần phù hộ, Giang bật ngửa người trên ghế, mặt tím ngắt, vừa sợ vừa tức, không nói được một lời.
Hồ được mật báo: âm mưu ám sát tại buổi diễn luyện quân không thành, Giang, Tăng, Chu, Bạc bốn người đang ‘mật nghị’ tại nhà Chu, chuẩn bị  bắt chước phương thức Đặng Tiểu Bình đã dùng phế truất Hoa Quốc Phong, để phế truất Hồ, rồi đưa Bạc lên thay thế. Hồ Cẩm Đào vội vã triệu tập ban tham mưu của mình để bàn thảo kế sách; có người đề nghị cho Hạ (Hạ Quốc Cường) đi bắt Bạc trước để Giang mất đi vây cánh tương lai, có người nói: tuy Hạ có cừu hận với Bạc, vì Bạc trong lúc ở Trùng Khánh tích lũy tài phú chính biến đã phế trừ nhiều tay chân cũ của Hạ, nhưng Hạ là kẻ hai lòng, không thể tin tưởng.
Hồ nghĩ một hồi rồi nói: “Bắt Bạc để thị uy với Giang, tôi đã có cách”.
Hồ bí mật triệu Hạ đến nhà mình, đưa ra một tập hồ sơ, rồi nói, trung ương có người đưa cho Hồ danh sách báo cáo việc tham ô của gia đình Hạ, cấp trên đã bí mật ghi lại thời gian, địa điểm, phương thức và số loại tham ô của người nhà Hạ.
Hạ sợ hãi toát mồ hôi, hai tay đan vào nhau, đầu óc quay cuồng, cầu xin Hồ đứng ra giải quyết giùm. Bấy giờ Hồ mới thủng thẳng nói: “Tôi mời anh đến nhà riêng của tôi, đây không phải chỗ làm việc. Việc nhà anh có nhiều người tham ô, có việc còn hơn thế nữa, anh cũng không nên quá căng thẳng”.
Hạ tỏ vẻ không hiểu, đưa mắt nhìn Hồ, Hồ ngừng một chút, rồi nói: “Còn có người muốn làm hủ bại đảng, làm tan rã đảng. Đảng mà bị hạ đài, mọi người sống không yên đâu. Ví như Bạc ở Trùng Khánh, là một tay âm mưu nham hiểm, là phần tử đại tham ô. Tôi cho anh phụ trách một đoàn đội đi thực tế về việc tham ô của Bạc, anh nhận không?”.
Hạ đứng dậy, chắp hai tay nói: “Hạ tôi đáng muôn lần chết, xin lãnh lệnh đi thực tra kỹ lưỡng”.
Do vậy mới có việc Bạc Hy Lai bị kỷ luật đảng. Hạ cũng nghĩ ra cách ly gián Bạc với Vương Lập Quân –  một tâm phúc chuyên bức hại Pháp Luân Công của Bạc. Hạ Quốc Cường đã ba lần nói với Bạc về vấn đề Vương Lập Quân phạm tội, khiến Bạc vô cùng hoang mang.
Lần thứ nhất, Hạ đôn đốc đảng ủy Trùng Khánh, xét xử án Vương Lập Quân trước kỳ điều tra. Hạ cường điệu nói với Bạc: đây là chỉ thị quan trọng, nhiệm vụ cốt lõi của trung ương đưa xuống lần đầu để kiểm tra tư cách chính trị, tư tưởng, tác phong của anh.
Lần thứ hai, tại buổi sinh hoạt chính trị của trung ương cục, Hạ nói với Bạc, trong nội bộ có báo cáo về Vương Lập Quân lúc làm cục trưởng công an tại thị trấn Thiết Lĩnh và lúc làm cục trưởng công an tại thị trấn Cẩm Châu ở Liêu Ninh, khi thu quét phần tử hủ bại hắn đã làm nhiều án giả, án oan khiến nhiều người bị tán gia bại sản và mất mạng. Làm sao giải quyết vấn đề này đây? Hạ nói thêm, cần phải cách chức rồi mới thanh trừ được, nếu không sẽ là áp lực rất lớn cho trung ương, với anh áp lực cũng không nhỏ đâu.
Bạc hỏi: “Đây là ý kiến của cục chính trị thường ủy trung ương, của trung kỷ ủy hay của Hạ thư ký vậy?”. Hạ không đáp thẳng, chỉ nói: “Vì để duy hộ việc thanh lý Trùng Khánh, duy hộ danh dự của đảng ủy và chính phủ”.
Sau đó Hạ lại kêu riêng Vương Lập Quân lại, lấy tội tham ô hủ bại và việc thăng chức công an bộ để vừa uy hiếp vừa dụ dỗ Vương, yêu cầu Vương bí mật thu thập lời nói, ý kiến của Bạc lúc riêng tư cũng như trong hội nghị, yêu cầu Vương giám sát lời nói của Bạc. Ngay lần đầu tiên lúc Vương báo cáo với Hạ các tin tức về nội bộ của Bạc, Hạ lại cho người báo cho Bạc biết là Vương đang bán đứng Bạc.
Lần thứ ba, Hạ lại yêu cầu Bạc điều tra Vương cho kỹ. Bạc hiểu rõ quan trường hiểm ác, biết rõ cuộc đấu tranh chính trị sắp phát khởi, không thể tránh được. Bạc đành phải “đoạn vĩ cầu sinh” (cắt đuôi để giữ mạng sống) quyết định “tiên hạ thủ vi cường”.
Trước nhất Bạc cần xử lý Vương Lập Quân, không để Vương rơi vào tay trung ương ở Bắc Kinh. Bạc bắt đầu giám sát Vương, đợi đến thời cơ sẽ bắt Vương.
Trước tiên Bạc Hy Lai lo thanh lý vây cánh của Vương Lập Quân. Các người của Vương như: bảo mẫu, đầu bếp, tài xế… tất cả 11 người đều bị bắt. Bạc còn bức Vương “thoát cảnh” (rời ngành công an) bằng cách điều Vương vào chức vị phó thị trưởng về văn hóa.
Vương đến chỗ Bạc khóc lóc kể khổ, bị Bạc tát tai chảy máu mũi, nổ đom đóm mắt. Vương nghĩ đến Liễu Văn Cường, nguyên là cục trưởng cục công an kiêm cục tư pháp, trước khi bị Vương giết, từng nói với Vương:“Vương à! Mày vì tên Bạc mà bán mình, số phận tao hôm nay sẽ là số phận mày trong tương lai đó”.
Vương bị quản thúc tại gia, Bạc nói với mọi người là Vương không làm tròn công tác, tâm lý bị ức chế (người đời gọi là bệnh tâm thần), cần an dưỡng một thời gian. Vương biết rõ Bạc muốn lấy mạng mình, không những thế cả Chu Vĩnh Khang và người của bộ công an bên trung ương cũng muốn lấy mạng mình. Muốn giữ mạng sống, chỉ còn cách duy nhất là trốn vào đại sứ quán Mỹ.
Vì thế, nhân lúc tối trời, khi lính canh gác không đề phòng, Vương giả bộ đứng bên cửa sổ uống rượu say cho lính canh thấy, rồi vào phòng nghỉ, giả trang thành phụ nữ má phấn môi son độn ngực, nhân trời chưa sáng lái xe đi thẳng đến đại sứ quán Mỹ.
Bên phía Mỹ báo cho Hồ Cẩm Đào. Hồ thất kinh, lập tức lệnh cho nhân viên của bộ công an và bộ an ninh quốc gia đến thành đô, lệnh cho quân đội Tứ Xuyên cô lập quân đội Trùng Khánh. Khi nhân viên an ninh đến sứ quán Mỹ, thì thấy quân của Bạc Hy Lai đã bao vây sứ quán Mỹ, lúc ấy quân đội Tứ Xuyên và quân đội Trùng Khánh cũng đang bắn nhau. Giải quyết mọi việc xong, Vương được về Bắc Kinh.
Vương đưa ra chứng cớ các việc: Bạc Hy lai nghe lén điện thoại của Hồ, Ôn, việc tổ chức chính biến, việc mổ sống cướp nội tạng của học viên Pháp Luân Công, và của người nước ngoài nhập cư làm thuê không giấy tờ, của người lang thang, ăn xin, cướp lấy nội tạng của họ đem bán, thân thể đem nấu ăn, đặc biệt rút lấy não tủy của nạn nhân cung cấp cho Giang Trạch Dân, và âm mưu giết Tập Cận Bình để đoạt chính quyền. Hồ và Ôn quyết định bắt Bạc Hy Lai.
Vì Giang Trạch Dân sắp xếp việc nghe lén điện thoại của Hồ, Ôn, nên hắn lập tức triệu tập hội nghị lâm thời đặc biệt để giải quyết việc Trùng Khánh. Giang nói: “Cần phải xét đến ảnh hưởng quốc tế và sự đoàn kết trong nội bộ đảng, cần xem lại hình tượng của đảng, kết tội Vương, còn đối với Bạc chỉ cần giáo dục là đủ”.
Giang bao che cho Bạc vì có ý phế bỏ Tập Cận Bình, cho Bạc giữ chức tổng bí thư, để làm cái máy cho Giang điều khiển, tiếp tục thao túng chính trường.
Lần đầu tiên Hồ dám cả gan lên tiếng phản đối Giang: “Không bắt Bạc thì làm sao còn có luật pháp quốc gia, làm sao còn có kỷ luật của đảng? Làm sao ăn nói với nhân dân, với lịch sử?”.
Giang khóc, nói: “Tôi có thoải mái được gì đâu? Vì để thúc đẩy cải cách mở cửa, tôi hứa cho các nhà tư bản gia nhập đảng, cải sửa tư tưởng Mác – Lê; vì để giữ gìn quyền lực của đảng, tôi đã chịu toàn thế giới lăng mạ khi tranh đấu với Pháp Luân Công; vì để ổn định chính trị xã hội, tôi đã bị thế giới lên án; vì để có dân chủ trong nội bộ đảng, lập ra cửu quyền phân vị (9 người thường ủy), mỗi người trông một việc, phá đi quy củ lịch sử. Còn nói tôi đã cải cách được Trung Quốc, tôi vì sự phát triển của đảng mà hao tổn tâm huyết, có ai biết được cái khổ của tôi, có ai hiểu được lòng tôi? Có ai chịu tội cùng với tôi? Đặng Tiểu Bình có thể cải cách, có thể chỉ định người tiếp ban, tại sao tôi không thể làm như vậy?”.
Nói xong, Giang cho tay vào túi lấy vật gì đó, mọi người tưởng hắn lấy lược ra chải đầu, không ngờ hắn lấy ra khăn tay lau nước mắt. Đây là lần thứ hai, Giang lấy khăn lau nước mắt trước mặt mọi người.
tieu thuyet, Phap Luan Cong, hồ cẩm đào, Giang Trạch Dân,
Hồ không biết làm thế nào, bèn nói: “Xin các lão thường ủy quyết định cho”.
Giang Trạch Dân đổi khóc thành cười, cho là sẽ dựa vào các người của Giang như Tăng Khánh Hồng, Giả Khánh Lâm mà tăng số phiếu quyết định để thủ thắng.
Không ngờ ngoài các tay chân của Giang trong các lão thường ủy, thì tất cả các lão thường ủy còn lại đều quyết định bắt Bạc.
Tranh luận tới lui, cuối cùng Tập Cận Bình quyết định. Tập là người do Hồ, Ôn và tay chân của Giang thỏa thuận cho tiếp nhận chức tổng bí thư kế tiếp, Giang muốn nhân lúc Tập trong thời kỳ quá độ vào đại hội thứ 19, Chu Vĩnh Khang và Quách Bá Hùng sẽ sử dụng lực lượng quân đội mà hạ bệ Tập, đưa Bạc lên thay thế.
Tập Cận Bình suy nghĩ rất lâu, lý trí bảo Tập viết hai chữ “đồng ý”. Kỳ thực Tập Cận Bình là người vô tình mà ngồi vào ghế tổng bí thư. Tập biết rõ, trong lịch sử ĐCSTQ, những người lãnh đạo đảng, bao gồm cả những người bị bức hại chết trước và sau lúc Cách mạng văn hóa như Bành Đức Hoàn, Lý Lập Tam, Lưu Thiếu Kỳ… không ai có kết cục tốt đẹp cả. Đối với việc Giang Trạch Dân, La Cán dàn dựng ngụy án tự thiêu dối trá nhất thế kỷ, cùng những lời hoang ngôn xảo trá bôi nhọ vu cáo Pháp Luân Công với mục đích bức hại Pháp Luân Công trên phạm vi toàn cầu, Tập Cận Bình không muốn làm việc dối trá lịch sử, cũng không muốn bị liên can. Đây là lý do chính khiến Tập không muốn nhận chức tổng bí thư. Sau này Hồ, Ôn bắt Chu Vĩnh Khang giao cho Tập xử lý.
Sau khi Bạc bị bắt, Chu Vĩnh Khang phản kháng quyết liệt, đem lực lượng vũ trang và cảnh sát xung kích Trung Nam Hải, cũng lại ám sát Tập Cận Bình. Do Tập yêu cầu, nên Hồ, Ôn cùng lệnh bắt Chu Vĩnh Khang. Tăng Khánh Hồng vì muốn chiếm lấy quyền lực nên đảo loạn liên tục. Chuyển kế sách từ bạo lực khủng bố quốc gia sang khủng bố giới bình dân, tại xã hội liên tục xảy ra các hoạt động sát hại người dân bình thường, bao gồm các việc: chém chết người ở nhà ga Quảng Đông, Vân Nam; kho hóa dược phát nổ tại Thiên Tân, Hồ Bắc, Tứ Xuyên; tàu đắm chìm ở Trường Giang… Thậm chí hắn còn phái người ở 610 đi Malaysia dự hội nghị Phật giáo, trên đường về, phi cơ MH30 đang bay qua biển Nam Hải của Trung Quốc, thì lệnh cho quân đội bắn rơi, phi cơ bị vỡ tan rơi xuống biển cách đảo Hải Nam 300 dặm về phía đông nam. Cũng tại Hồng Kông, hắn cho phát hành “sách trắng” yêu cầu đảng cộng sản lãnh đạo, khiến dân chúng kháng nghị, để cho quân đội trấn áp, mục đích của hắn là làm loạn xã hội; lấy cớ xã hội đảo loạn để cho Giang Trạch Dân xuất hiện đổ trách nhiệm cho Tập Cận Bình mà phế truất Tập.
Sau này cuộc trấn áp tại Hồng Kông bị Tập ra lệnh đình chỉ. Còn các loại hoạt động khủng bố tại Trung Quốc, vì dân chúng trải qua các năm tháng bị đảng cộng sản đe dọa làm cho sợ hãi nên cũng không dám biểu tình phản đối, gây loạn xã hội… các âm mưu của Giang, Tăng đều thất bại.
Trước lúc thoái hưu, Hồ Cẩm Đào đã sực tỉnh, biết được vì sao các tai nạn luôn xảy ra tại Trung Quốc. Sau này Hồ lại phát hiện ra tên Lệnh Kế Hoạch –  bí thư thân tín của Hồ là kẻ hai mặt, là kẻ do Giang Trạch Dân phái đến, để đôn đốc việc bức hại Pháp Luân Công, kết hợp với Tăng, Chu làm loạn. Do đó sau này khi Tập ra lệnh bắt Lệnh Kế Hoạch, có hỏi ý Hồ. Hồ nói:“Lệnh là đứa vô nhân tính, hắn không phải người của tôi”.
Tại đại hội thứ 18, Hồ thoái hưu, mọi người muốn Hồ trông coi quân quyền, nhưng Hồ đề nghị tất cả quyền lực giao cho Tập Cận Bình, Hồ lại quy định là tất cả lãnh đạo thoái hưu không được can thiệp vào cách làm việc của Tập. Đây chính là giữa đại chúng mà Hồ đánh vào mặt Giang Trạch Dân, từ đây Giang không có quyền ra ý kiến, chỉ thị hay kiến nghị gì đối với Tập trong việc chính trị, đồng thời Hồ cũng triệt tiêu phòng làm việc của Giang tại lầu 81.
Sắp xếp đâu đó xong xuôi, Hồ đã khóc ngay tại hội nghị. Hồ nghĩ lại thời mình nắm chính quyền trong mười năm thật không dễ dàng, nghĩ lại còn có nhiều việc không dám làm hoặc làm không tốt, xấu hổ với lịch sử với nhân dân, nghĩ lại việc đã không dám ra lệnh ngưng việc bức hại Pháp Luân Công, nghĩ lại việc hoàn cảnh chính trị và nhân quyền ở Trung Quốc lúc mình nắm quyền lại không cải biến được gì, Hồ khóc là vì thế.
Do vậy, sau này khi Tập Cận Bình “đả hổ diệt ruồi”, Hồ đã thoái hưu không can thiệp, nhưng cũng biểu thị đồng tình, ủng hộ.
Về sau Trung Quốc có một trận động đất lớn, do áp lực của các quốc gia chính nghĩa trên toàn thế giới và do trước cảnh thiên tai nhân họa, đảng cộng sản phải giải thể. Giang Trạch Dân bị các đoàn thể chính nghĩa trên thế giới treo cổ tại Thiên An Môn, Hồ Cẩm Đào trầm mặc không nói một lời, công và tội của Hồ sẽ ghi lại trên thiên thượng, ghi lại trong nhân dân và lịch sử.
(Hết)
Lưu ý: Bài viết không phải là tác phẩm văn học kỷ thực, mà chỉ là tiểu thuyết, vậy nên mời quý độc giả đọc tham khảo.
Chánh Bình, dịch từ Epoch Times

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thông điệp bất ngờ của vệ tinh “Hiệp Sĩ Đen” thăm dò Trái đất suốt 13.000 năm qua

Trong hơn một thế kỷ qua, đã có những tín hiệu từ một vệ tinh 13.000 năm tuổi của “người ngoài hành tinh” luôn thăm dò xung quanh Trái đất chúng ta. Nó nổi tiếng với tên “Hiệp Sĩ Đen”. Vậy mục đích của những người gửi vệ tinh thăm dò này là gì?

Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
Vên tinh “Hiệp Sĩ Đen”. (Ảnh: Epoch Times France)
“Hiệp Sĩ Đen” này rốt cuộc là ai?
Lần đầu tiên vào năm 1998, các hình ảnh có độ phân giải cao của vệ tinh “không phải của Trái đất” này đã được chụp bởi các phi hành gia của phi thuyền không gian Endeavour từ trong vũ trụ.
Vệ tinh này trông giống như một hiệp sĩ mặc áo đen cưỡi ngựa màu đen, nên được đặt tên là “Hiệp Sĩ Đen”.
Kể từ khi nhà sáng chế nổi tiếng Nikola Tesla phát hiện ra những tín hiệu kỳ lạ từ không gian vũ trụ, với số lần quan sát các vệ tinh nhân tạo lạ bí ẩn trong suốt những năm 1950 và 1960, có một số bằng chứng cho thấy có một hoặc nhiều vệ tinh “ngoại lai” ở quỹ đạo của Trái đất.
Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
(Ảnh: Epoch Times France)
Sau khi Lầu năm góc xếp loại vật thể này là “tiểu hành tinh bình thường”, mọi người cuối cùng đã trở nên tin tưởng vào lời giải thích này… cho đến khi nó được quay phim rõ nét vào cuối những năm 1990.
Khi bằng chứng hình ảnh nhìn thấy được rõ ràng của tàu con thoi Endeavor cuối cùng cũng đã xuất hiện, cho thấy đầy đủ về Hiệp Sĩ đen vào năm 1998, sự quan tâm của công chúng vào chủ đề này đã được hồi sinh: khám phá của Tesla, những tín hiệu vũ trụ kỳ lạ, những quan sát hằng hà sa số, và các thông điệp đã được giải mã đã nâng mối quan tâm về huyền thoại này lên cao trong thế kỷ XX.
Vệ tinh đen bí ẩn này đang làm gì và từ đâu đến?
Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
Nikola Tesla (Ảnh: Epoch Times France)
Một số người nói rằng Nikola Tesla phát hiện ra nó khi ông bắt đầu nhận được tín hiệu “hẹn giờ” kỳ lạ trong khi thử nghiệm một máy phát điện áp cao vào năm 1899.
Tesla đã bị sốc bởi khám phá này và suy luận rằng họ đến từ người ngoài hành tinh, hoặc từ sao Hỏa hoặc bất cứ nơi nào khác ngoài vũ trụ.
Một số người cho rằng Tesla có thể đã tiếp xúc với người ngoài hành tinh, những người đã giúp ông tạo ra những phát minh điện của mình và nhận được ý tưởng thông qua truyền thông thần giao cách cảm, những ý tưởng đã giúp ông thực hiện một công nghệ mới mang tính cách mạng.
Họ phát hiện ra rằng các tín hiệu mã Morse được gửi từ máy phát của họ đã được gửi lại cho họ từ một nguồn không rõ sau một sự chậm trễ bất thường là vài giây. Các tín hiệu trở lại được gọi là “tiếng vang vọng dài chậm trễ” (viết tắt LDE – long delayed echos), trong khi một số người cho rằng chúng có nguồn gốc ngoài Trái đất.
Việc phát hiện ra những tín hiệu không giải thích được này đã gây ra một cảm xúc mạnh mẽ trên báo chí, và nhiều thí nghiệm đã được thực hiện từ năm 1928 đến những năm 1930, đã cho thấy sự tồn tại của LDEs mặc dù họ không thể giải thích được.
Các nhà khoa học cho đến nay vẫn không thể có được giải thích chính xác về sự tồn tại của chúng.
Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
Các bài báo trên St. Louis Dispatch và San Francisco Examiner (Ảnh: Epoch Times France)
Sau những thí nghiệm này, chủ đề trở nên quan trọng hơn trong các phương tiện truyền thông … Sau đó tiếp tục là các quan sát không gian.
Câu chuyện khởi động lại vào năm 1954 khi các tờ báo St. Louis Dispatch và San Francisco Examiner báo cáo rằng các vệ tinh nhân tạo và bí ẩn đã được phát hiện.
Sau bài báo thứ ba trong Tuần lễ Hàng không và Công nghệ Vũ trụ, Lầu Năm Góc đã lại lên tiếng và cho rằng đó là các tiểu hành tinh đơn giản, một lời giải thích rất có ảnh hưởng với công chúng. Tuy nhiên, nhiều người đã không còn tin nữa.
Hiệp sĩ đen nặng tới 15 tấn
Tuy nhiên, một hình ảnh khác đã thu được vào tháng 3/1960, khác với những gì trước đây. Vào thời điểm đó, một vật thể lớn màu đen được cho là nặng gần 15 tấn nằm trong “quỹ đạo cực” xung quanh Trái đất,  nghĩa là nó nằm trên các trục cực, đi với tốc độ gấp đôi các vệ tinh thông thường. Tuy nhiên, người Nga cũng như người Mỹ vào thời điểm đó không có khả năng đưa một vệ tinh vào quỹ đạo cực và họ cũng không thể phóng một vệ tinh nặng như vậy.
Sau sự xuất hiện này, đối tượng đã mang tên “Hiệp Sĩ đen”, và đã trở thành tiêu đề lớn của nhiều tờ báo.
Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
Hiệp sĩ đen (Ảnh: Epoch Times France)
Nhiều nhà thiên văn học và đài quan sát bắt đầu theo dõi các vệ tinh này (các báo cáo cho thấy có nhiều), được cho là đã liên tục xuất hiện và biến mất, đôi khi trong nhiều năm, rồi lại xuất hiện trở lại. Các vật thể cũng được chỉ ra là có thể đổi hướng, có thể đổi hướng từ 90-180 ° khi bay.
Giám đốc của bảo tàng Mô hình Vũ trụ Adler, Robert L. Johnson, nói: “Vật thể này dường như không duy trì một lập trình thông thường, giống như bất kỳ đối tượng thiên thể nào khác hoặc vệ tinh mà con người tạo ra… Chúng ta không biết được khi nào phải quan sát nó”
Cho đến năm 1972, Duncan Lunan, một nhà khoa học và nhà thiên văn học đã giải mã được các LDE được ghi chép hàng thập kỷ trước dựa trên các phép đo thời gian của “tiếng vọng dài chậm trễ”, cho thấy một thông điệp đáng ngạc nhiên và dường như đến từ người ngoài Trái đất.
Thông điệp của “người ngoài hành tinh” đã được giải mã, các nhà khoa học sốc
“Bắt đầu ở đây. Nhà của chúng tôi là Epsilon Bootis. Đó là một chòm sao đôi. Chúng tôi sống trên hành tinh thứ 6 trên 7 – Các vị hãy kiểm tra, hành tinh thứ 6 trên 7 – tính từ mặt trời là hành tinh lớn hơn trong 2 hành tinh đó.
Hành tinh của chúng tôi có một mặt trăng, hành tinh thứ 4 của chúng tôi có ba mặt trăng, hành tinh thứ nhất và thứ ba của chúng tôi mỗi hành tinh có một mặt trăng. Cuộc thăm dò của chúng tôi nằm trong quỹ đạo của mặt trăng của các bạn. Điều này cập nhật vị trí của Arcturus được nhìn thấy trên bản đồ của chúng tôi”.
Vì điều đó có vẻ chưa đủ để gây sốc, Lunan cũng đã vẽ ra các tín hiệu và phát hiện ra chúng đã tạo thành một hình mẫu tương ứng với chòm sao Epsilon Bootis.
Vệ tinh, người ngoài hành tinh, Hiệp sĩ đen,
Điều này cập nhật vị trí của Arcturus được nhìn thấy trên bản đồ của chúng tôi…(Ảnh: Epoch Times France)
Dựa vào điều này, Lunan đã nhận định rằng tàu thăm dò Hiệp Sĩ đen đã được gửi tới Trái đất trong thời tiền sử, và rằng nó đã có ít nhất 13.000 năm tuổi.
Với những bằng chứng hiện giờ quá nhiều về các UFO, việc Hiệp Sĩ Đen là một vệ tinh do người ngoài hành tinh được gửi đến trái đất từ 13.000 năm trước cũng hoàn toàn không có gì là khó hiểu, nhưng vẫn gây sốc cho các nhà khoa học.
Cho đến giờ, chúng ta, vẫn liễu giải được họ ít hơn nhiều so với họ liễu giải được Trái đất chúng ta. Nói cách khác, họ đã sở hữu một công nghệ siêu việt hơn nhiều loài người chúng ta từ rất lâu rồi.
Họ có thể xuyên qua các không gian, xuất hiện rồi biến mất ngay trước mắt chúng ta trên không trung mà chúng ta không thể lý giải. Họ có thể bắt cóc người Trái đất. Chúng ta không tìm ra một nơi có sự sống nào ngoài Trái đất, vậy mà họ xuất hiện nhiều nơi trên Trái đất chúng ta,…
Theo Đại Kỷ Nguyên VN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tin NÓNG: CẢNH SÁT BIỂN PHILIPPINES BẮN CHẾT 2 NGƯ DÂN VIỆT


  Một tàu cá Việt Nam. Ảnh: Nguyễn Đông.

Cảnh sát biển Philippines bắn tàu cá Việt Nam, hai ngư dân thiệt mạng

VNE
 
Thứ hai, 25/9/2017 | 10:29 GMT+7 

Cảnh sát biển Philippines nổ súng vào một tàu cá của tỉnh Phú Yên làm hai ngư dân Việt Nam thiệt mạng và bắt một số người.

Cục Lãnh sự Bộ Ngoại giao ngày 23/9 nhận thông tin cảnh sát biển Philippines bắn tàu cá số hiệu PY 96173 TS của tỉnh Phú Yên làm hai ngư dân thiệt mạng và bắt một số người, theo thông cáo Bộ Ngoại giao ngày 25/9. Bộ Ngoại giao đã chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines liên hệ cơ quan chức năng Philippines xác minh thông tin và có biện pháp bảo hộ công dân cần thiết.

Philippines cho biết tàu cá PY 96173 TS đã đánh bắt cá trái phép tại vùng biển Bolinao, tỉnh Pangasinan, từ 20h30 ngày 22/9 đến 1h ngày 23/9 và có hành vi cố ý ngăn cản, tấn công tàu PS19 của cảnh sát biển Philippines trong lúc bị truy đuổi. Cảnh sát biển Philippines bắn tàu cá Phú Yên khi cho rằng tàu có ý định đâm vào đầu tàu của họ.

Ngày 24/9, bên lề phiên họp Khóa 72 Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc tại New York, Mỹ, Phó thủ tướng Phạm Bình Minh đã trao đổi về vụ việc với Ngoại trưởng Philippines Alan Peter Cayetano. Phó thủ tướng phản đối việc sử dụng vũ lực đối với ngư dân và đề nghị Philippines điều tra, làm rõ vụ việc.

Việt Nam kêu gọi Philippines sớm thông báo kết quả chính thức, đồng thời có hình thức xử lý nghiêm nếu phát hiện lực lượng chức năng Philippines có sai phạm.

Chiều cùng ngày, Đại sứ quán Việt Nam tại Philippines đã cử đại diện đến thăm lãnh sự các ngư dân bị giam và tìm hiểu thêm thông tin liên quan.

 
 Vị trí khu vực Bolinao, tỉnh Pangasinan, Philippines. Đồ họa: Google Maps.

Như Tâm


Phần nhận xét hiển thị trên trang

BÍ THƯ TỈNH HẢI DƯƠNG BỊ TỐ CÁO MƯỢN BẰNG NGƯỜI KHÁC



Đang làm rõ tố cáo về bằng cấp của Bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương 

Dân trí 
Thứ hai, 25/09/2017 - 09:19 
 
Đơn thư tố giác chính danh của công dân về việc Bí thư Tỉnh uỷ Hải Dương Nguyễn Mạnh Hiển sử dụng bằng cấp của người khác vừa được Đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng - Uỷ viên Thường trực Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội chuyển tới Uỷ ban Kiểm tra Trung ương để xác minh, làm rõ. 

Trao đổi với PV Dân trí sáng 25/9, đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng – Uỷ viên thường trực Uỷ ban Các vấn đề xã hội của Quốc hội cho biết đã chuyển đơn tố cáo chính danh của công dân tới Ủy ban Kiểm tra Trung ương đề nghị vào cuộc kiểm tra, xác minh bằng cấp của Bí thư Tỉnh uỷ - Chủ tịch HĐND tỉnh Hải Dương Nguyễn Mạnh Hiển.

Ông Nhưỡng cho biết, đơn thư tố cáo chính danh của người dân Hải Dương cho rằng ông Nguyễn Mạnh Hiển sử dụng bằng cấp của người khác và đã đề bạt, không xử lý người khai man về bằng cấp.

“Sau khi nhận được đơn tố giác của người dân về chuyện này, tôi cũng đã tìm hiểu sơ qua và thấy dư luận trên mạng cũng từng bàn tán về chuyện bằng cấp này nên đã chuyển đơn thư tố cáo đến Uỷ ban Kiểm tra Trung ương để làm rõ theo đúng thẩm quyền”- ông Nhưỡng nói. 

Đại biểu Quốc hội Lưu Bình Nhưỡng.

Trao đổi với phóng viên Dân trí sáng 25/9, Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương Nguyễn Mạnh Hiển cho biết, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đang xác minh thông tin tố cáo nhưng chưa làm việc riêng với cá nhân ông về chuyện này.

Ông Hiển cho biết, trước đây đã có những râm ran, phản ánh nặc danh về chuyện bằng cấp của ông. Ông đã báo lãnh đạo tỉnh Hải Dương và sau đó thấy không có cơ sở nên không cơ quan nào ban hành kết luận chính thức.

Ông Hiển khẳng định mình "học hành đàng hoàng" và bằng được cấp đều đúng quy định.

Được biết, vào tháng 10/2015, ông Nguyễn Mạnh Hiển cũng từng bị ông Phan Ngọc Núi - nguyên Phó Ban Nội chính tỉnh Hải Dương tố cáo về việc sử dụng bằng thạc sĩ không hợp pháp. Đó là bằng thạc sĩ có được theo chương trình đào tạo liên kết giữa Đại học Quốc gia Hà Nội và nước ngoài nhưng không được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận. Sự việc đến nay vẫn gây ra râm ran trong dư luận địa phương này.

Ông Lưu Bình Nhưỡng khẳng định việc ông chuyển đơn thư tố cáo chính danh của công dân tới Uỷ ban Kiểm tra Trung ương được căn cứ theo quy định pháp luật về khiếu nại, tố cáo và chức năng, nhiệm vụ của đại biểu Quốc hội. 
Thế Kha

Phần nhận xét hiển thị trên trang