Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 20 tháng 9, 2017

Khoa học Việt Nam đang ở đâu trong quá trình phát triển?


Theo lí thuyết về phát triển khoa học, nền khoa học của một quốc gia trải qua 4 giai đoạn phát triển: tiền phát triển, xây dựng, củng cố và mở rộng, và quốc tế hóa. Dựa trên những dữ liệu trắc lượng khoa học trong thời gian qua, có thể nói rằng khoa học Việt Nam vẫn còn đang trong giai đoạn thứ hai, tức xây dựng thực lực khoa học.



Nghiên cứu khoa học ở Việt Nam trong thời gian 20 năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực. Số lượng bài báo khoa học công bố trên những tập san trong danh mục ISI đã tăng nhanh trong thời gian gần đây, đạt khoảng 17% mỗi năm. Vào đầu thập niên 1990, số bài báo khoa học của Việt Nam trên các tập san ISI chỉ khoảng 300; đến đầu thập niên 2000, số bài báo công bố quốc tế cũng chỉ ~400; nhưng đến năm 2015 thì số công bố quốc tế đã xấp xỉ 3000 bài. Những dữ liệu này phản ảnh mức độ hoạt động khoa học đang gia tăng nhanh.

Nhưng một khía cạnh khác của sự tăng trưởng ít khi nào được quan tâm đúng mức là hợp tác quốc tế. Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học là qui luật chung và rất cần thiết cho các nước đang phát triển. Qua hợp tác quốc tế, giới khoa học có thể "gia nhập" mạng nghiên cứu quốc tế, chia sẻ tài nguyên khoa học, và nâng cao chất lượng nghiên cứu. Vào thập niên 1990, đa số (80%) những công bố quốc tế từ Việt Nam có yếu tố hợp tác quốc tế. Đến nay, con số này có phần giảm nhưng vẫn xấp xỉ 77%. Mức độ hợp tác quốc tế cũng phản ảnh quá trình phát triển khoa học của một quốc gia.

Bốn giai đoạn phát triển

Theo cách nhìn của lí thuyết phát triển, nền khoa học của một quốc gia trải qua 4 giai đoạn phát triển (1), và mỗi giai đoạn được định hình bởi một vài chỉ số về trắc lượng khoa học (scientometrics) và hợp tác quốc tế:  

Trong giai đoạn đầu, tiền phát triển, mức độ hoạt động nghiên cứu khoa học còn thấp, vì nghiên cứu chỉ được thực hiện bởi một nhóm nhỏ nhà khoa học. Trong giai đoạn tiền phát triển, cơ chế tài trợ cho nghiên cứu còn nhiều bất cập và chưa định hướng nghiên cứu rõ ràng. Hai đặc điểm chính của giai đoạn tiền phát triển là số lượng bài báo khoa học thấp và dao động nhiều giữa các năm, và rất ít hợp tác quốc tế trong giai đoạn tiền phát triển.

Giai đoạn 2 được xem là thời gian xây dựng. Trong giai đoạn này, số lượng bài báo gia tăng theo thời gia, và hướng nghiên cứu cũng bắt đầu định hình. Các nhà khoa học bắt đầu hội nhập thế giới, qua thiết lập những mối liên hệ với đồng nghiệp nước ngoài, phần lớn là từ các nước đã phát triển. Do đó, mặc dù số lượng bài báo tăng nhanh, nhưng đa số những bài báo này là do hợp tác quốc tế. Trong hợp tác này, vai trò của nhà khoa học địa phương còn khiêm tốn, thường là vai trò thứ phát, vì người chủ trì dự án nghiên cứu thường là người nước ngoài. 

Giai đoạn 3 được xem là giai đoạn củng cố và mở rộng. Trong thời gian này, quốc gia đã có được cơ sở vật chất cho nghiên cứu khoa học, và năng lực khoa học đã tạm vững vàng. Tài trợ cho nghiên cứu khoa học bắt đầu tăng nhanh và có chương trình rõ ràng hơn. Các tập san khoa học nội địa cũng bắt đầu quốc tế hóa và có xác suất cao được chấp nhận trong danh mục ISI hay Scopus. Số bài báo khoa học tiếp tục tăng nhanh, số bài báo hợp tác quốc tế cũng tăng, nhưng tỉ trọng bài báo hợp tác quốc tế bắt đầu giảm dần

Giai đoạn sau cùng là quốc tế hóaTrong giai đoạn này, năng lực nghiên cứu khoa học được mở rộng, các trung tâm nghiên cứu bắt đầu "trưởng thành" và có thể đóng vai trò lãnh đạo trong các chương trình hợp tác quốc tế. Số bài báo khoa học vẫn tăng, nhưng chất lượng khoa học cũng cải tiến, và nghiên cứu bắt đầu có tác động trên trường quốc tế. Hợp tác quốc tế trong giai đoạn này không cao như giai đoạn xây dựng, và các nhà khoa học nội địa là những người đứng đầu trong các dự án hợp tác khoa học.

Những chuyển biến về công bố quốc tế trong vùng

Trong thời gian 15 năm (2001 - 2015), các nhà khoa học Việt Nam đã công bố được 18,076 bài báo khoa học trên các tập san trong danh mục ISI (2). So sánh với các nước trong vùng trong cùng thời kì, số bài báo khoa học của Việt Nam đã vượt qua Indonesia và Philippines, nhưng vẫn còn thấp hơn so với Thái Lan, Malaysia và Singapore. Thật vậy, số bài báo khoa học của Việt Nam chỉ mới bằng 28% của Thái Lan, 25% của Malaysia, và 15% của Singapore.

Một xu hướng đáng chú ý là Malaysia đã bắt đầu vượt qua Singapore về số lượng bài báo khoa học công bố trên các tập san trong danh mục ISI. Năm 2015, Malaysia công bố được 12,341 bài, thấp hơn Singapore (13,631 bài). Nhưng năm 2016, số công bố quốc tế của Malaysia (14,129) đã bằng, thậm chí cao hơn, Singapore (14,120).

Ở mức độ thấp hơn, Indonesia trước đây có số công bố quốc tế thấp hơn Việt Nam, nhưng trong hai năm qua có xu hướng tăng nhanh và có thể vượt qua Việt Nam. Trong năm 2014, số công bố quốc tế của Indonesia là 1795, thấp hơn Việt Nam (2596). Nhưng đến năm 2016 thì con số công bố quốc tế của Indonesia (3748) đã xấp xỉ bằng Việt Nam (3814).  Những xu hướng này cho thấy nghiên cứu khoa học ở Đông Nam Á đang có chuyển biến tích cực và thú vị, và Malaysia có lẽ sẽ là nước có nhiều công bố quốc tế nhất trong vùng.

Các nước khác như Brunei, Kampuchea, Lào và Myanmar cũng có công bố quốc tế, nhưng số lượng còn thấp. Tổng số công bố quốc tế từ 4 nước này chỉ đóng góp ~2% tổng số bài báo khoa học từ ASEAN. Đa số những công bố quốc tế từ 4 nước vừa kể chủ yếu là do hợp tác quốc tế.

Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học

Một khía cạnh quan trọng trong nghiên cứu khoa học là "nội lực". Một cách để biết được nội lực của khoa học của một quốc gia, người ta hay dùng chỉ số về hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học. Ở những nước mà nền khoa học ở vào giai đoạn III và IV thì tỉ lệ hợp tác quốc tế thường ở mức 50%, và phần lớn họ đóng vai trò chủ đạo trong các dự án nghiên cứu.

Đối chiếu lại tình hình ở Việt Nam trong thời gian qua, có một số xu hướng đáng quan tâm. Trong một nghiên cứu trước đây, chúng tôi chỉ ra rằng trong thời gian 1991 - 2010, trong số 10618 bài báo khoa học từ Việt Nam, thì số bài báo có hợp tác quốc tế chiếm gần 80% (2). Tỉ lệ hợp tác quốc tế trong cùng thời gian ở các nước như Thái Lan và Malaysia dao động trong khoảng 55 đến 65%.

Trong thời gian 2001 đến 2015, chúng tôi phân tích một lần nữa và tỉ lệ hợp tác quốc tế vẫn chưa thay đổi đáng kể (3). Tính chung, trong số 18076 bài báo khoa học trên các tập san ISI, 77% công trình là có hợp tác quốc tế. Nói cách khác, tỉ trọng nội lực chỉ 23%. Tỉ lệ hợp tác quốc tế trong các bài báo khoa học của Thái Lan và Malaysia  là 56%.

Tuy nhiên, có sự khác biệt về mức độ hợp tác quốc tế giữa các lĩnh vực nghiên cứu (Bảng 1). Các lĩnh vực có tỉ lệ hợp tác quốc tế cao nhất (trên 85%) là y tế công cộng, y học lâm sàng, y sinh học, và khoa học xã hội. Nhưng các lĩnh vực như hoá học và kĩ thuật cũng có tỉ lệ hợp tác quốc tế khá cao.

Bảng 1: Tỉ trọng (%) hợp tác quốc tế trong các bài báo khoa học của Việt Nam (2001 - 2015)

Lĩnh vực nghiên cứu 
2001-2005
2006-2010
2011-2015
Tính chung 2001-2015
Tất cả các lĩnh vực 
79.2
78.7
76.1
77.0
Toán học
40.0
42.5
42.5
41.2
Vật lí
71.7
68.3
68.4
68.8
Hoá học
89.8
83.2
75.5
78.9
Kĩ thuật và công nghệ
76.8
77.2
73.1
74.3
Khoa học trái đất 
88.8
91.3
90.5
90.2
Y học lâm sàng
91.8
90.7
89.6
90.6
Y tế công cộng
95.4
92.5
92.2
93.8
Y sinh học
95.7
94.6
85.3
89.4
Khoa học xã hội
78.9
75.7
78.9
90.4
Kinh tế
63.3
70.7
67.5
67.9

Phân tích chi tiết hơn cho thấy các nhà khoa học Việt Nam hợp tác với đồng nghiệp của hơn 150 quốc gia trên thế giới. Trong nhiều trường hợp, nhiều nhà khoa học của 5 nước cùng hợp tác trong một dự án, và có vài trường hợp nghiên cứu vật lí có hơn 100 quốc gia tham gia (kể cả Việt Nam). Nhìn chung, Việt Nam có xu hướng hợp tác với các nước phương Tây (Hình 1). Mười nước Việt Nam có hợp tác nhiều nhất là Mĩ Nhật, Hàn Quốc, Pháp, Anh, Úc, Đức, China, Hà Lan và Thái Lan.


 
Hình 1: Hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học của Việt Nam trong thời gian 2001 - 2015. Đường nối càng dày thể hiện số bài báo khoa học với tác giả của hai nước càng cao. Mạng lưới phần trên của hình cho thấy Việt Nam chủ yếu hợp tác nghiên cứu khoa học với các nước phương Tây.

Hợp tác quốc tế có vẻ tăng chất lượng nghiên cứu. Hầu hết trong các lĩnh vực nghiên cứu, bài báo có "yếu tố quốc tế" đều có chỉ số trích dẫn cao hơn bài báo thuần Việt. Chẳng hạn như trong lĩnh vực y học lâm sàng, chỉ số trích dẫn của các bài báo thuần Việt là 7.74, nhưng bài báo có hợp tác quốc tế có chỉ số trích dẫn cao hơn 3 lần. Cần nhắc lại rằng 91% bài báo y học lâm sàng là có hợp tác quốc tế. Ngay cả trong lĩnh vực toán học, bài báo có hợp tác quốc tế vẫn có chỉ số trích dẫn cao gấp 2.4 lần so với bài báo thuần Việt. Đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế, các bài báo có hợp tác quốc tế (chiếm 68% tổng số) có chỉ số trích dẫn cao gấp 4.5 lần so với bài báo thuần Việt.

Một xu hướng thú vị là các công trình có hợp tác quốc tế có chỉ số trích dẫn cao và được công bố trên các tập san có chỉ số tác động cao. Xu hướng này thật ra cũng phù hợp với và từng được ghi nhận ở các nước đang phát triển. Khi phân tích chỉ số trích dẫn theo hợp tác quốc tế và vai trò của tác giả, một xu hướng rất thú vị khác xuất hiện. Những công trình có hợp tác quốc tế và tác giả chính là người nước ngoài có chỉ số trích dẫn cao nhất. Kế đến là những công trình hợp tác quốc tế nhưng tác giả chính là người Việt Nam. Những công trình không có hợp tác quốc tế (tức "thuần Việt") có chỉ số trích dẫn thấp nhất. Xu hướng này hiện hữu gần như trong tất cả các lĩnh vực nghiên cứu.

Tuy nhiên, hợp tác khoa học cũng có khi phải trả một cái giá về tự chủ. Các chuyên gia quản lí khoa học thường xem một tỉ lệ hợp tác cỡ 80% hay cao hơn là "lệ thuộc". Nếu dùng tiêu chuẩn này, kết quả phân tích trong bài này cho thấy đa số các lĩnh vực nghiên cứu của Việt Nam (như hoá học, Khoa học Trái Đất, Y học lâm sàng, Y sinh học, Y tế công cộng) có thể xem là đang trong tình trạng lệ thuộc.

Việt Nam đang ở đâu trong quá trình phát triển khoa học?

Những dữ liệu về công bố quốc tế và xu hướng hợp tác quốc tế cung cấp một bức tranh chung về quá trình phát triển khoa học. Các nước như Kampuchea, Lào, Brunei và Miến Điện đang còn trong giai đoạn tiền phát triển, vì số công bố quốc tế còn thấp và chủ yếu là do hợp tác quốc tế.



Hình 2: Bốn giai đọan phát triển khoa học của các nước trong vùng Đông Nam Á dựa trên phân tích trắc lượng khoa học.


Việt Nam, Philippines và Indonesia đã bước ra khỏi giai đoạn tiền phát triển và đang ở trong giai đoạn II, tức giai đoạn xây dựng. Đó là giai đoạn với đặc điểm chính là nghiên cứu khoa học tăng nhanh phản ảnh qua số công bố quốc tế, và tỉ trọng hợp tác quốc tế rất cao (trên 70%) và các nhà khoa học nước ngoài đóng vai trò chủ trì.

Dữ liệu trắc lượng khoa học cho thấy Thái Lan và Malaysia đang ở trong giai đoạn củng cố và mở rộng (giai đoạn III). Số bài báo khoa học của hai nước này cao gấp 3-4 lần số bài báo của Việt Nam. Tỉ trọng hợp tác quốc tế của Thái Lan và Mã Lai trong 20 năm qua dao động trong khoảng 50 đến 60%, và đa số công trình là do giới khoa học nội địa chủ trì. Ngoài ra, các đại học của Thái Lan và Malaysia đang thu hút nghiên cứu sinh từ nước ngoài (kể cả từ Việt Nam) và họ mở rộng hợp tác nghiên cứu khoa học sang các nước lân cận như Lào, Kampuchea và Miến Điện.

Trong vùng ASEAN, chỉ có Singapore là ở trong giai đoạn IV, tức quốc tế hóa. Mặc dù số bài báo khoa học năm 2016 của Singapore xấp xỉ con số của Malaysia, nhưng chất lượng nghiên cứu của Singapore cao hơn Malaysia. Khoảng 60% các nghiên cứu khoa học từ Singapore có yếu tố hợp tác quốc tế, nhưng các nhà khoa học Singapore chủ trì trong các dự án này. Singapore không chỉ thu hút nghiên cứu sinh từ nước ngoài, mà còn tích cực tài trợ cho một số dự án quốc tế. Do đó, nền khoa học Singapore đã ở mức độ quốc tế hóa.

Quay lại tình trạng của Việt Nam, một điều đáng quan tâm là là thời gian xây dựng đã diễn ra hơn 25 năm. Hơn 25 năm qua, tỉ trọng hợp tác quốc tế của Việt Nam vẫn còn trong mức 'lệ thuộc', tức 75-80%. Trong khi đó, ở các nước như Thái Lan, thời gian xây dựng chỉ khoảng 20 năm, hay như Malaysia thời gian thậm chí còn ngắn hơn (~15 năm). Hơn 25 năm, nội lực khoa học Việt Nam vẫn chưa phát triển theo nhịp độ các nước trong vùng. Những kết quả này cũng có thể làm nền tảng để chúng ta phải suy nghĩ lại về chiến lược nghiên cứu khoa học và tổ chức hoạt động khoa học cấp vi mô và vĩ mô để đạt được một sự tăng trưởng tốt hơn và bền vững hơn trong tương lai.

Chú thích:

(1) Moed HF and Halevi G. Tracking scientific development and collaborations – The case of 25 Asian countries. Research Trends (2014), September 2014.

(2) Nguyen TV, Pham LT. Scientific output and its relationship to knowledge
economy: an analysis of ASEAN countries. Scientometrics (2011) 89:107–117

(3) Nguyen TV, Ho-Le TP, Le UV. International collaboration in scientific research in Vietnam: an analysis of patterns and impact. Scientometrics (2017) 110:1035–1051

Bài đã đăng 2 kì trên VNexpress 




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhật ký Lý Bằng viết về Hội nghị Thành Đô ( một phần ngoại vi ):


Tác giả: Lý Bằng | Biên dịch : Nguyên Hải
 [Năm 1986]
Ngày 26 tháng 12, Thứ Sáu, trời âm u, có mưa
Tại Đại hội VI Đảng Cộng Sản Việt Nam [ĐCSVN], Nguyễn Văn Linh được bầu làm Tổng Bí thư Đảng, thay cho nguyên Tổng Bí thư Lê Duẩn qua đời hồi tháng 7.
[Năm 1989]
Ngày 26 tháng 8, Thứ Bảy, trời âm u, có mưa
Hôm nay Việt Nam tuyên bố đã “rút toàn bộ quân đội” từ Campuchia. Điều đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giải quyết vấn đề Campuchia, cũng quét sạch trở ngại cho việc bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam.
Bước ngoặt trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam —Hội nghị Thành Đô
[Năm 1990]
Ngày 6 tháng 6, Thứ Tư, trời hửng.
Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh hội kiến Đại sứ Trương Đức Duy tại Bộ Quốc phòng Việt Nam. Nguyễn hy vọng thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước, hai đảng và mong muốn sớm đi thăm Trung Quốc.
Ngày 26 tháng 8, Chủ Nhật, trời âm u có mưa.
Tôi nói với đồng chí Giang Trạch Dân về việc Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam [ĐCSVN] Nguyễn Văn Linh và những người lãnh đạo chủ yếu phía Việt Nam đến thăm Trung Quốc với tính chất nội bộ, đồng chí Giang Trạch Dân tỏ ý hoàn toàn tán thành.
Ngày 27 tháng 8, Thứ Hai, trời mưa.
Tôi đã báo cáo đồng chí Đặng Tiểu Bình về việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi sẽ hội kiến Nguyễn Văn Linh. Xét thấy Á Vận Hội sắp cử hành tại Bắc Kinh, mà lần gặp gỡ này bàn đến việc bình thường hóa quan hệ hai nước Trung-Việt, là chuyện trọng đại, để tiện giữ bí mật, địa điểm hội đàm thu xếp tại Thành Đô.
Ngày 30 tháng 8, Thứ Năm, trời hửng.
Việc đồng chí Giang Trạch Dân và tôi đi Thành Đô hội đàm với Tổng Bí thư ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười, đã gửi lời mời cho phía Việt Nam. Giờ đây hãy xem Việt Nam trả lời thế nào.
Ngày 2 tháng 9, Chủ Nhật, trời hửng.
Ba giờ rưỡi chiều, tôi đáp chuyên cơ cất cánh từ sân bay Tây Giao Bắc Kinh, khoảng 6 giờ đến sân bay Thành Đô. Chúng tôi đi ô tô, sau 20 phút đến Nhà khách Kim Ngưu, Bí thư Tỉnh ủy Dương Nhữ Đại đang chờ. Đồng chí Giang Trạch Dân đáp một chuyên cơ khác đến Thành Đô sau tôi nửa giờ. Buổi tối từ 8 giờ rưỡi đến 11 giờ, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân trao đổi ý kiến về phương châm hội đàm với phía Việt Nam ngày mai.
Ngày 3 tháng 9, Thứ Hai, Thành Đô, trời hửng.
Buổi sáng, tôi đến chỗ đồng chí Giang Trạch Dân cùng đồng chí tiếp tục nghiên cứu phương châm hội đàm với phía Việt Nam chiều nay.
Buổi chiều khoảng 2 giờ, Tổng Bí thư Trung ương ĐCSVN Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười và Cố vấn TƯ ĐCSVN Phạm Văn Đồng đến Nhà khách Kim Ngưu. Giang Trạch Dân và tôi đón họ tại nhà trệt số 1. Nguyễn Văn Linh mặc âu phục màu cà phê, có phong thái học giả. Đỗ Mười còn khỏe mạnh, tóc bạc phơ, mặc âu phục màu lam. Hai người này đều ở độ tuổi 73-74, còn Phạm Văn Đồng hai mắt bị đục thủy tinh thể, thị lực rất kém, mặc bộ đại cán màu lam, giống cán bộ lão thành Trung Quốc.
Buổi chiều, hội đàm bắt đầu, trước tiên Nguyễn Văn Linh phát biểu một bài dài. Tuy đã tỏ ý muốn giải quyết thật nhanh vấn đề Campuchia và nói thành lập Hội đồng Tối cao Campuchia là nhiệm vụ cấp bách trước mắt, không nên loại bỏ bất cứ bên nào, nhưng lại tỏ ý không muốn can thiệp vào việc nội bộ của Campuchia. Xem ra trên vấn đề Campuchia, Nguyễn Văn Linh chỉ muốn tỏ thái độ về nguyên tắc, mà đặt trọng điểm vào mặt bình thường hóa quan hệ Trung-Việt.
Hội đàm kéo dài một mạch đến 8 giờ tối. 8 giờ rưỡi mới bắt đầu tiệc chiêu đãi tối. Trên bàn ăn, tôi và đồng chí Giang Trạch Dân từng người làm việc với Nguyễn Văn Linh và Đỗ Mười.
Ngày 4 tháng 9, Thứ Ba, trời âm u.
Buổi sáng, chúng tôi tiếp tục họp với các đồng chí lãnh đạo Việt Nam. Đến giờ này, nên nói là các vấn đề hội nghị nêu ra đã đạt được sự đồng thuận tương đối trọn vẹn, quyết định dự thảo biên bản hội nghị.
Hai giờ rưỡi chiều, hai bên Trung Quốc-Việt Nam làm lễ ký biên bản ở nhà trệt số Một nhà khách Kim Ngưu, Tổng Bí thư và Thủ tướng mỗi bên đều ký. Đây là bước ngoặt có tính lịch sử trong mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam. Ngay tại lễ ký, đồng chí Giang Trạch Dân tặng các đồng chí Việt Nam câu thơ “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại, tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu[Tạm dịch : Qua hoạn nạn, anh em còn đó. Gặp nhau cười, hết sạch ơn thù] ”. Đây là câu thơ của Lỗ Tấn.[1] Các đồng chí Việt Nam tỏ ý vui mừng với việc tặng thơ này.
4 giờ chiều, chuyên cơ cất cánh về Bắc Kinh, Khoảng 6 giờ 10 đến nơi.
Đảng Cộng sản Việt Nam họp Đại hội VII
[Năm 1991]
Ngày 29 tháng 6, Thứ Bảy.
Đại hội VII ĐCSVN bế mạc, Đỗ Mười được bầu làm Tổng Bí thư, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng là Cố vấn. Tinh thần cơ bản của Đại hội VII ĐCSVN là kiên trì chủ nghĩa xã hội, cải cách kinh tế, chủ trương hữu nghị Việt Nam-Liên Xô, Việt Nam-Trung Quốc. Tinh thần này có lợi cho việc cải thiện quan hệ Trung-Việt.
Ngày 30 tháng 7, Thứ Ba, Bắc Kinh, trời hửng.
Buổi chiều tôi hội kiến với Đại biểu đặc biệt Trung ương ĐCSVN Lê Đức Anh và Hồng Hà. Họ yêu cầu tổ chức cuộc gặp cấp cao Trung-Việt. Tôi nói là để cho nhân dân hai nước có chuẩn bị, để các nước khác trong ASEAN không đến nỗi có lo ngại, Trung Quốc-Việt Nam trước tiên nên tiến hành gặp gỡ cấp Thứ trưởng và Bộ trưởng Ngoại giao. Còn nói về  gặp gỡ cấp cao, phía Trung Quốc cho rằng trên nguyên tắc không có vấn đề gì. Ngày mai Tổng Bí thư Giang Trạch Dân sẽ chính thức trả lời họ. Về việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Trung-Việt, có thể trên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, các đơn vị đối tác của hai bên sẽ bàn bạc giải quyết, Trung Quốc đều có thái độ tích cực đối với các vấn đề nối lại thương mại, bưu chính, hàng không, quyết toán ngân hàng, khôi phục giao thông trên bộ.
Thực hiện bình thường hóa mối quan hệ Trung Quốc-Việt Nam
Ngày 5 tháng 11, Thứ Ba, trời hửng.
5 giờ chiều, đồng chí Giang Trạch Dân và tôi làm nghi thức đón Tổng Bí thư ĐCSVN Đỗ Mười và Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt thăm Trung Quốc tại quảng trường Đông Môn bên ngoài Đại lễ đường Nhân dân. Tiếp đó chúng tôi hội đàm. Trên vấn đề Đài Loan, Đỗ Mười có thái độ rõ ràng. Đồng chí Giang Trạch Dân nói, sau khi mối quan hệ hai nước trải qua một khúc quanh co, hôm nay người lãnh đạo hai nước Trung-Việt có thể ngồi với nhau làm cuộc gặp gỡ cấp cao, điều này có ý nghĩa quan trọng. Đây là cuộc gặp kết thúc quá khứ, mở ra tương lai, đánh dấu sự bình thường hóa mối quan hệ hai nước, nó ắt sẽ có ảnh hưởng sâu xa đối với sự phát triển mối quan hệ giữa hai nước. Đỗ Mười nói, việc bình thường hóa mối quan hệ Việt-Trung phù hợp nguyện vọng và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước, cũng có lợi cho hòa bình và ổn định khu vực này và thế giới. Tiếp đó vào tiệc chiêu đãi.
Ngày 6 tháng 11, Thứ Tư, trời hửng.
Buổi chiều, tôi hội đàm với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt, không khí hội đàm rất tốt. Trước hết tôi nói, sáng nay Tổng Bí thư Giang Trạch Dân và Tổng Bí thư Đỗ Mười đã tiến hành cuộc hội đàm rất tốt, hai bên đã gắng sức trao đổi mọi ý kiến. Võ Văn Kiệt có thái độ đúng trên vấn đề Đài Loan. Trong hội đàm, tôi đã nêu ra các vấn đề nợ, biên giới, nạn dân v.v… Hai bên đồng ý sau này sẽ bàn lại. Về việc Việt Nam đề xuất vay tiền cho các dự án mới, tôi nhận lời trước hết sẽ khảo sát các dự án của Việt Nam. Về vấn đề Campuchia, tôi nói hiệp định giải quyết chính trị toàn diện vấn đề Campuchia đã ký tại Paris, việc thi hành hiệp định này còn cần tới sự tiếp tục cố gắng của các bên.
Ngày 7 tháng 11, Thứ Năm, trời hửng.
Buổi chiều, hiệp định thương mại Trung-Việt và hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc ở biên giới hai nước được ký tại Nhà khách quốc tế ở Điếu Ngư Đài. Lãnh đạo Đảng và Chính phủ hai nước dự lễ ký kết. Sau đó tôi và đồng chí Giang Trạch Dân nói lời tạm biệt với Đỗ Mười và Võ Văn Kiệt. Họ sẽ đi thăm Quảng Châu, Thâm Quyến.
—————
Bài viết trích từ nhật ký của cựu Thủ tướng Trung Quốc Lý Bằng. Nhật ký của Lý Bằng được in thành sách dưới tên “Hòa bình Phát triển Hợp tác  Lý Bằng ngoại sự nhật ký”, Tân Hoa xuất bản xã.
Nguồn:   李鹏日记披露1990年代中越关系正常化始末   2012年05月03日   人民网   李鹏
Đọc thêm:
————————
[1] Giang Trạch Dân nói câu thơ này là của Giang Vĩnh (1681-1762), nhà thơ đời Thanh. Giang Trạch Dân quê ở Giang Loan, Vụ Nguyên (nay thuộc Giang Tây), mà Giang Vĩnh là danh nhân lịch sử vùng này, chắc hẳn ông biết rõ về Giang Vĩnh. Như vậy có thể Lỗ Tấn đã mượn câu thơ ấy của Giang Vĩnh đưa vào bài thơ “Đề Tam Nghĩa Tháp ” Lỗ Tấn làm năm 1933. Ông Cổ Tiểu Tùng Phó Viện trưởng Viện Khoa học xã hội Quảng Tây cũng nói như Giang Trạch Dân (ND).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhận thức chính là khởi đầu của hy vọng



 Chấp nhận cuộc sống là một triết lý thường đến với con người trong những giai đoạn lịch sử rối ren, khi cá nhân bắt đầu trưởng thành và nhận ra rằng cuộc sống không như mong muốn. 
     Chủ đề này thường được nhiều nhà văn ở nước Nga xô viết khai thác. 
Thiên truyện dưới đây, viết khoảng những năm 70 của thế kỷ XX,  tức là khi mà xã hội  xô viết trải qua một giai đoạn khó khăn, cái lạc quan có thể cải tạo chế độ -- cái lạc quan sau biến động năm 1956 – dần dần phai nhạt.
Trong khi những người bình thường còn hy vọng ở những sự cải tổ được khởi động chậm chạp vào những năm 80, thì một số đầu óc xuất sắc đã biết rằng  rồi cuối cùng thể chế mà họ xây dựng sẽ không thể thoát khỏi  quy luật chung của mọi xã hội, nghĩa là sẽ bị đào thải. 
Chưa thể hiểu quy mô những đổ vỡ tan nát sẽ tới, tuy  nhiên  họ đã hiểu ra cả một khái quát   --  nói như nhân vật chính --  “cuộc đời – đó là sự mai một dần dà của những điều choáng ngợp”.
Và họ tự nhủ dẫu sao chúng ta vẫn phải sống khi khi nhận ra cái giả dối đã và sẽ còn ngự trị dài dài trên thế gian. 
Ý nghĩa của cuộc sống mỗi cá nhân lúc này là tìm cách cảm nhận hết  cái quy mô của xu thế giả dối  đó và lấy việc nhận thức ra nó làm sự khởi đầu cho hy vọng. 
Trong những phút bi quan nhất, họ vẫn không  chịu rơi vào phá phách cuồng bạo – kể cả đi vào tàn phá chính mình - như thường thấy ở những con người thấp kém.
Đặt bên cạnh cái lạc quan trong sáng  thường thấy ở văn phẩm nhiều cây bút chính thống, các tác phẩm của các nhà văn ngược dòng thường mang nặng những lo âu và dự cảm  bi đát. Giọng văn Juri Trifonov (1925-1981) - được coi là người chịu ảnh hưởng rõ rệt của F. Dostoievski  -- với những câu rất dài, nặng nề trầm đục,  hơi khó theo dõi, nhưng chính vì vậy, nó mới chuyển tải hết cái ám ảnh của chủ đề tác giả cùng ta hướng tới. Đương thời, Trifonov đã  được bạn đọc phương Tây chào đón như một nhà văn cổ điển, sách của ông như tiểu thuyết Ông già các tập truyện vừa Trao đổi, Tính sổ sơ bộ, Cuộc chia ly kéo dài, Cuộc đời khác, Nhà bên bờ sông..., được nhiều nhà xuất bản  Anh Pháp Mỹ, trong đó có nhà Gallimard ở Paris cho dịch. Tôi đã từng nhắc tới ông trong một bàì viết về  Nguyễn Khải khi so sánh hai trường hợp: nhà văn Việt Nam vừa muốn đổi mới, vừa muốn giữ nguyên mọi tác phẩm thời trẻ của mình, còn nhà văn xô viết thì khi đã trưởng thành,  nhất quyết từ bỏ tác phẩm Những sinh viên từng được giải thưởng Stalin năm mới 25 tuổi( xem bài Một cách nghĩ khác về Nguyễn Khải
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2008/08/mt-cch-ngh-khc-v-nguyn-khi.html). 
Lần này xin giới thiệu với các bạn một truyện ngắn của Trifonov từng dịch ra tiếng Việt và in ở báo Văn nghệ Hà Nội khoảng 1985 , bản dịch là của bạn Đăng Bảy, hồi đó là biên tập viên phần văn học nước ngoài của báo.
                           
MÈO HAY LÀ THỎ?
Tôi đến thành phố này, sau mười tám năm, kể từ dạo đến đây lần đầu tiên. Khi đó tôi ba mươi nhăm tuổi, tôi chạy, nhảy, chơi cầu lông, hút thuốc một cách say sưa, có thể làm việc nhiều đêm liền. Bây giờ tôi đã năm mươi ba, chẳng còn chạy, nhảy, chẳng chơi cầu lông, không hút thuốc và không làm việc ban đêm được nữa. Hồi đó tôi đến Rome với một nhóm các nhà du lịch, giờ tôi ở đây một mình. Hồi đó,  chung quanh là bạn bè, giờ đây, chung quanh là những người Italia ít quen biết, họ bận bịu những công việc của mình, và tôi hiểu họ. Tiện đây cũng xin kể thêm rằng họ khá là tắc trách, quen chậm trễ hàng nửa giờ, có khi cả giờ. Tôi chờ ở tiền sảnh của khách sạn. Họ là những người đáng yêu. Tôi đã quen với sự trễ hẹn của họ. Họ không thể tự làm lại mình được. Ở đây Roma, nghìn năm trộn lẫn với nhau, những thời đại ăn chung ở  lộn với nhau, và khó mà xác định thời gian một cách chuẩn xác. Ở đây không cần thời gian. Bởi vì đó là Thành Phố Vĩnh Cửu, và đối với vĩnh cửu thì sự chậm trễ nào có nghĩa lý gì. Anh sống trong ngôi nhà của thế kỷ XIX, chân bước theo cầu thang của thế kỷ XVIII, ra với đường phố của thế kỷ XV, và ngồi vào xe hơi của thế kỷ XXI. Tôi đã nghiên cứu tất cả các họa báo bày la liệt trên bàn tròn tiền sảnh khách sạn “St. Rapheal” mà mặt trước của nó chìm ngập vào một dòng thác bằng nho dại hoặc có thể là vạn niên thanh vàng xám sột soạt trong gió. Nếu không thì đó cũng là một loại dây leo gì đó, xác xơ sau một mùa hè nóng bỏng.
Vốn là thế này: hồi đó tôi vốn nghèo khó, tằn tiện, tôi đi bộ khắp phố vì tiếc rẻ vài lia mua vé xe buýt, chiều chiều mệt đến rã chân ra, rồi sáng sau lại bật dậy, sảng khoái như một cậu bé, nhìn tất cả những tủ kính hiệu sách với nỗi bứt rứt, còn giờ tôi có thể mua bất kỳ một cuốn sách nào, đi bộ tôi thấy buồn tẻ và nhọc nhằn, ngoài ra tôi luôn luôn vội đi đâu đó và sẵn sàng lên xe tắc – xi. Hồi đó tôi sống ở “Cairô”, vốn là một nhà chứa, và những ả ở đây đã bị di khỏi những căn phòng chật hẹp trong thời gian Thế Vận hội, và họ đưa chúng tôi, khách du lịch đến ở cho khỏi xa nhà ga gần chợ và rạp chiếu bóng “Lux”; chúng tôi trèo bộ lên tầng năm; bây giờ tôi sống ở “ St. Raphael”, cạnh quảng trường Navôn, và nơi đó hoàn toàn không giống với cái nhà trọ “Cairô”. Hồi đó, mọi thứ đều làm chúng tôi choáng ngợp, tôi nhận xét, ghi nhớ tất thảy, tôi khắc khoải bởi ước muốn viết được một cái gì đầy trữ tình về những chuyện đó, bây giờ thì chẳng có gì choáng ngợp nữa và cũng không muốn viết cho lắm. Ở đây có nhiều nguyên nhân. Tôi sẽ không đi lan man về chúng. Chỉ nói một điều: cuộc đời – đó là sự mai một dần dà của những điều choáng ngợp.
Ngày chủ nhật, một trong những người Italia ít quen biết đã đến, cố chậm chỉ có bốn mươi phút, một người dễ thương có tên là Gieni, và anh ta đề xướng đi đâu đó ra ngoài thành phố. Ví dụ, đi Giesano. Tôi cười, thành phố Giesano là nơi duy nhất ở vùng ngoại vi Roma mà tôi đã từng đến mười tám năm về trước. Tôi đã viết một truyện ngắn về Giesano. Không thể chọn chỗ khác được ư? Nhưng Gieni ngần ngại, rõ ràng là không muốn đi nơi khác, chỉ lát sau mới vỡ lẽ là anh ta nhất thiết phải về nhà. Chúng tôi lên đường. Dọc đường, tôi nhớ ra, thành phố nhỏ bé đó sống bằng nghề trồng hoa. Ở đó thường diễn ra những dạ hội hóa trang và có thi pháo hoa. Hồi đó, trong đám bạn bè dễ choáng ngợp và dở say dở tỉnh, tôi ngồi trong quán ăn đặc sản Pistamentuchia, uốngkianti, chén món thỏ rán (đó là một quán thịt thú đặc sản, thỏ ở đây là thỏ rừng hẳn hoi và tất cả cách bày biện bên trong đều nhấn mạnh đặc điểm đó: sừng hươu, những con thú nhồi, những súng săn treo khắp tường), hát những bài hát, lắc lư trên ghế và ôm những người bên cạnh. Sau đó chủ quán tặng chúng tôi những bức ảnh quán ăn của mình với những người bồi bàn và đầu bếp đội mũ đứng thành hàng trước cửa, chủ quán Pistamentuchia ria rậm đích thân đứng giữa đám bồi bàn, sau đó chúng tôi ra ngồi bên dãy bàn ngoài quảng trường, chếnh choáng hơi men, khí trời dạo đó ấm áp và nồng nực khác thường, trộn lẫn mùi hoa và mùi thuốc súng, các nhà kỹ thuật làm pháo hoa đua nhau trổ tài, trên trời có cái gì đó xoáy tít và lấp lóe, sau đó người ta dẫn đến chỗ chúng tôi một người tên là Russôo, đã từng ở hai năm trong trại tù binh của ta, có bộ mặt trơn bóng, anh ta lấy tay làm bộ như cưa củi và nói “Giất tốt”. Có dạo tôi đã viết về tất cả những việc đó theo phong cách một loại văn trữ tình đang thành mốt của những năm sáu mươi. Truyện ngắn có tên là Hồi tưởng về Giêsanô. Và đó là bài ký mang chất hồi tưởng quả thật là quý nhất và khá nhất của tôi về chuyến đi đó. Nó có một cái gì đó phóng túng, trẻ trung, cởi mở, đậm tình người, và chất men! Tôi không thể giải thích hết đêm quảng trường ở Giênsanô đối với tôi là thế nào. Và quán ăn đặc sản Pistamentuchia nữa. Nhưng tất cả những cái đó lưu lại trong tôi như âm nhạc của những năm ấy, với tất cả những niềm vui, hy vọng, dự cảm của nó. Và bây giờ, thành Roma ngày chủ nhật trống trải. Tibrơ héo úa vàng hươm trên đá, Giêni về nhà với những công việc của mình, vậy thì tôi bám lấy anh ta để làm gì khi đã hiểu rằng chuyện đó là vô tích sự, rằng không có thể có sự lặp lại. Âm nhạc đã tắt lặng. Có hai người trong đám cùng chơi với tôi ở Giesano  đã chết, hai người khác thì đang ở cách tôi rất xa.
Thành phố không thay đổi gì sau mười tám năm. Đó cũng là một Thành Phố Vĩnh Cửu nho nhỏ. Ngoài hè khách sạn, nơi bầu không khí run rẩy bởi nóng bức, nơi ngả bóng những cây ngô đồng tây, có vô số những đứa trẻ chạy quanh những chiếc bàn, trên những phiến đá xếp trong các góc, nơi mát mẻ hơn, có những con chó thiểu não đang ngủ, chúng đại loại như những con chó mà họa sĩ Kaspatchiô thích vẽ và đã vô tình nhét cả vào những bức tranh đồ sộ khó hiểu của mình; tôi hỏi Gieni xem quán ăn đặc sản Pistamentuchia có còn không. Hỏi để làm gì, tôi không biết nữa. Thật ra quán ăn đó đâu có hấp dẫn gì tôi. Nó chỉ vừa vặn là một kỷ niệm. Tôi không hề định đi tìm nó. Gieni đáp quán ăn vẫn còn nhưng bây giờ đã có chủ khác. Hai năm trước ông chủ quán cũ gặp những chuyện phiền phức khá lớn. Ông ta bị ra tòa. Họ đã tố giác ông về chuyện treo đầu thỏ bán thịt mèo.
Suýt nữa tôi đã kêu lên: “Món ăn ở đấy rất ngon! Tôi nhớ chứ!”. Tôi lại muốn hô to: “Thế còn truyện ngắn Hồi tưởng về Giesanô thì sao? Nghĩa là chuyện lừa dối phải không? Nghĩa là, không phải những buổi hoàng hôn ấm áp, không phải những biển hoa, không phải những bài ca lắc lư cùng những người chung quanh, những con người lao động của Italia với những gương mặt rám nắng và can đảm của họ, không phải chất rượu Kianti tuyệt diệu, không phải mùi thịt thỏ hoang dã nữa, mà lại là những miếng thịt mèo rán hay sao??”. Và một ý nghĩ khác liền đến: “Phải kết thúc thiên truyện như thế! Phải viết nốt!”. Nhưng tôi cũng chẳng bật ra nổi câu đầu, câu tiếp sau và câu thứ ba. Im lặng nặng nề. Bởi vì bỗng nhiên cảm giác về một sự khác biệt loang ra khắp làn da, khắp cái quả tim đang đập thon thót của tôi: sự khác biệt giữa tôi hối ấy và hôm nay. Không cần viết nốt gì nữa. Không thể đính chính cái điều bất cần đính chính, cái không thể đụng chạm tới được, đó là cái đang trôi qua ta. Thiết nghĩ cũng chẳng vui vẻ gì khi biết rằng cái đã có lần làm mình ngạc nhiên và hạnh phúc, té ra lại là điều nhảm nhí và tầm thường. Trời ơi, nhưng đã từng có cảm giác hạnh phúc cơ mà! Và vĩnh viễn rớt lại những lời ca, tiếng reo trong đầu, những tràng pháo, và Russo. Thật ra, tôi cũng chưa nói hết toàn bộ cái thú vị của những miếng thịt thỏ rán. Tôi chưa thấu được chân lý. Những miếng thịt mèo rán thảm hại kia có ở khắp nơi, và nhà văn không có quyền làm bộ rằng chúng không có. Nhà văn bắt buộc phải phát hiện ra, dù cho chúng có trà trộn khôn ngoan và chui vào những chỗ sâu kín đến đâu chăng nữa. Mọi chuyện là như thế, nhưng hồi đó tôi mới có ba mươi nhăm tuổi, tôi chạy, tôi nhảy, tôi chơi cầu lông, tôi hút thuốc một cách say sưa, tôi có thể làm việc trong nhiều đêm liền.
Tôi hỏi Gieni:
- Sau đó, ngài Pistamentuchia ra sao?
- Người ta đã bào chữa cho ông ấy, - Gieni nói – Nhưng ông ấy không muốn sống ở Giensano nữa và đã bán quán cho người khác. Bây giờ quán ăn đó gọi là quán “Thỏ chính cống”.


Đăng Bẩy (dịch)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nghệ thuật kêu than


Theo tôi biết, nước Mỹ không hề chi một xu ngân sách cho các hãng phim Hollywood nhưng phim Mỹ thì gần như thống trị thế giới.

Một nền kinh tế thị trường thực sự có nghĩa là ngay cả làm nghệ thuật cũng phải kinh doanh, tự lo lấy thân, giỏi được nhờ, dở ráng chịu. Không có la oai oái sao lương tôi thấp, thu nhập tôi chỉ đủ khỏi chết đói.

Có tài thì ngồi vào ghế lãnh đạo, bất tài thì chả ai tín nhiệm, dù thủ đoạn nọ kia, không phải tranh giành, tố cáo kèn cựa nhau. Xuân Bắc hay Anh Tú, hoặc bất cứ anh nào, nếu có tài chèo lái nhà hát kịch cho nó sáng đèn kéo người xem tới thì nghệ sĩ sẽ bầu, quái gì mà tranh nhau.

Tôi nói vậy bởi mấy đơn vị nghệ thuật nhà nước được bao cấp lâu nay đang vỡ ra cái nhọt thực chất ăn bám dân, dựa hơi ngân sách. Hãng phim truyện VN hay Nhà hát kịch VN cần được cổ phần hóa triệt để, ngay lập tức, trụ sở của nó dù đất vàng bạc kim cương gì đi nữa cũng phải quy ra tiền, anh nào muốn hoạt động nghệ thuật phải bỏ tiền ra mà mua, nộp tiền đó vào ngân sách. Lời ăn lỗ chịu, dở quá thì phá sản, đi ăn mày, ở đó mà than lương thấp lương cao.

Nhà nước cũng đừng bắt nó phải làm những bộ phim, vở kịch phục vụ chính trị chả ai thèm xem. Nó đừng vi phạm pháp luật là được. Các hãng phim, đoàn kịch cũng không được lấy cớ không xài ngân sách để làm tầm bậy tầm bạ. Cứ làm ra thứ hay, dân khen ngợi kéo nhau đi xem thì nhà nước chả bắt bẻ gì.

Kêu mí chả la. Chết giờ.

Nguyễn Thông


Phần nhận xét hiển thị trên trang

HỒI KÝ CỦA TRƯƠNG ĐỨC DUY


(Trích, người dịch Quốc Thanh)

“….Vào 1 giờ chiều, chiếc chuyên cơ hạ cánh đúng giờ xuống Sân bay Thành Đô. Khi đoàn đại biểu tới Nhà khách Tỉnh ủy Tứ Xuyên, Tổng bí thư Giang [Trạch Dân] và Thủ tướng Lý [Bằng] đứng trước cửa nhà khách đón khách. Sau khi chủ và khách đã ngồi cả trong nhà khách, hai bên hỏi han lẫn nhau đồng thời tiến hành trao đổi đơn giản.



Tổng bí thư Giang [Trạch Dân] giải thích: “Đồng chí Đặng Tiểu Bình đi nghỉ ở xa, nên lần này không gặp các vị được”. Cuộc gặp mặt đơn giản kết thúc xong thì nghỉ ngơi một lúc, đến 3 giờ chiều, hai bên bắt đầu tiến hành hội đàm chính thức vòng đầu. Tổng bí thư Giang [Trạch Dân] bắt đầu bằng một phát biểu ngắn, tiếp theo Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đọc lời mở đầu theo một bản đã chuẩn bị sẵn. Sau đó, Tổng bí thư Giang [Trạch Dân] trình bày một cách có hệ thống về giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia và mối quan hệ Trung-Việt.



Thủ tướng Lý [Bằng] phát biểu kĩ hơn về giải pháp chính trị cho vấn đề Campuchia. Sau khi nghỉ 15 phút, Nguyễn Văn Linh làm một bài phát biểu dài, nhấn mạnh trước đây Trung Quốc đã dành sự ủng hộ và giúp đỡ hết sức to lớn cho cách mạng Việt Nam và các cuộc chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, Đảng, chính phủ và nhân dân Việt Nam mãi mãi không bao giờ quên; ông bày tỏ bây giờ nguyện sẽ cùng với phía Trung Quốc nỗ lực giải quyết tốt vấn đề Campuchia, sớm thực hiện bình thường hóa quan hệ hai nước, khôi phục lại mối quan hệ truyền thống tốt đẹp Việt-Trung.



Chủ tịch Đỗ Mười cũng có bài phát biểu tương ứng, bày tỏ phía Việt Nam nguyện cùng với phía Trung Quốc giải quyết thật tốt vấn đề Campuchia, sẽ tiến hành nghiên cứu kĩ lưỡng phương án giải pháp do phía chúng ta đề xuất. Hội đàm vòng đầu chủ yếu xoay quanh việc Việt Nam rút quân triệt để khỏi Campuchia và vấn đề thành lập bộ máy quyền lực lâm thời – Hội đồng tối cao Campuchia (tức phương án phân bổ quyền lực) sau khi rút quân.

Sau tiệc chiêu đãi tối, các ban làm việc của hai bên đã tiến hành bàn bạc căng thẳng từng chi tiết trong Phương án giải pháp cho vấn đề Campuchia, theo chỉ đạo cụ thể của lãnh đạo từng bên, nhằm chuẩn bị tốt cho cuộc hội đàm chính thức vào ngày hôm sau, đồng thời bên phía ta đề nghị soạn thâu đêm luôn một bản dự thảo văn kiện chung.

Sáng ngày hôm sau tổ chức hội đàm vòng hai, trọng điểm là vấn đề Campuchia. Qua nỗ lực suốt cả một đêm của các ban làm việc hai bên, cả hai bên đã dần đi đến nhất trí đối với Phương án giải pháp cho vấn đề Campuchia. Nhưng trong hội đàm vòng hai vẫn còn xuất hiện một điểm bất đồng, đó là việc lập ra Hội đồng tối cao Campuchia gồm 13 đại biểu do phía ta đề xuất, phân bổ cụ thể là: 6+2+2+2+1 (tức phái Hun Sen 6 người, phái Campuchia dân chủ 2 người, phái Sihanouk 2 người và phái Son Sann 2 người + đích danh Sihanouk làm Chủ tịch).

Đỗ Mười bày tỏ tán thành để Sihanouk làm Chủ tịch Hội đồng tối cao Campuchia, nhưng cho rằng nên gộp Sihanouk vào trong danh mục phái Sihanouk, hai bên mỗi bên một nửa đã là thiệt cho Phnom Penh rồi, nếu như bên phái đối lập lại còn nhiều hơn 1 người, thì như vậy là không công bằng. Phía ta trình bày theo lý chủ trương và đòi hỏi rộng rãi của cộng đồng quốc tế, chứng tỏ phương án này là thích hợp nhất. Trong giờ nghỉ, Nguyễn Văn Linh đã có cuộc hội ý lại với Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng.

Trong buổi tiệc, Nguyễn Văn Linh thay mặt phía Việt Nam bày tỏ sự nhất trí toàn bộ với phương án do phía ta đề xuất, đồng thời nói sau khi về nước sẽ làm việc ngay với Phnom Penh, đồng thời cũng mong Trung Quốc thúc đẩy thực hiện việc hòa giải thực sự giữa Khơme Đỏ với Phnom Penh. Đến đây, vấn đề Campuchia đã được bàn bạc ổn thỏa, trở ngại lớn nhất trong quan hệ Trung-Việt đã được loại bỏ.

Tiếp đến, vấn đề khôi phục lại quan hệ giữa hai nước hai Đảng được bàn bạc trao đổi một cách khá thuận lợi, không gợi lại quá nhiều nợ nần cũ. Sau khi hai vấn đề lớn trong cuộc hội đàm lần này đã được trao đổi ổn thỏa, Tổng bí thư Giang Trạch Dân bày tỏ, giữa hai nước chúng ta từ đây có thể “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”, đồng thời dùng hai câu thơ của Lỗ Tấn [2] “Độ tận kiếp ba huynh đệ tại/ Tương phùng nhất tiếu mẫn ân cừu”[3] làm lời kết cho cuộc hội đàm nội bộ lần này.

Phía Việt Nam bày tỏ hết sức mĩ mãn và phấn khởi trước thành quả của cuộc hội đàm lần này. Cuối cùng, Tổng bí thư Giang Trạch Dân đề nghị, hai bên cần kí vào một bản kỷ yếu về thành quả của cuộc hội đàm lần này, Nguyễn Văn Linh vui vẻ đồng ý. Chiều hôm đó, trước khi Đoàn đại biểu Việt Nam rời Thành Đô, Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng và Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Đỗ Mười đã cùng nhau kí vào bản “Kỷ yếu hội đàm Thành Đô” mang ý nghĩa lịch sử.

Sau khi đoàn Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Phạm Văn Đồng nói lời tạm biệt với Tổng bí thư Giang Trạch Dân, Thủ tướng Lý Bằng và các đồng chí Tằng Khánh Hồng, Tề Hoài Viễn, Chu Thiện Khanh…, đã đáp lên chiếc chuyên cơ của phía ta rời Thành Đô bay tới Nam Ninh, dừng ở Nam Ninh rồi đổi ngay sang chuyên cơ của phía Việt Nam bay về Hà Nội. Tôi cũng ngẫu nhiên đi theo Đoàn đại biểu Việt Nam quay về Hà Nội.

Trên đường về, không khí trong khoang máy bay khác hẳn với lúc đến. Các vị lãnh đạo trao đổi bàn bạc nhiều, những người khác cũng nói cười vui vẻ. Chủ nhiệm Văn Phòng Trung ương Đảng Hồng Hà phấn khởi nói với tôi: “Cuộc gặp lần này rất thành công, quá tốt!” Trưởng Ban đối ngoại Trung ương Hoàng Bích Sơn cũng tràn đầy phấn khởi nói, về đến Hà Nội tôi sẽ mở tiệc mời đồng chí Đại sứ thưởng thức toàn những món ăn có tiếng của Việt Nam.

Một lúc sau, Chủ tịch Đỗ Mười đi lại phía tôi hỏi: “Nguyên văn hai câu thơ mà đồng chí Giang Trạch Dân trích dẫn đọc thế nào ấy nhỉ?” Tôi dùng ngay âm đọc Hán Việt (chú thích: Trong Nho học Việt Nam có một phép đọc cố định đối với chữ Hán) đọc lại một lượt cho ông ấy nghe, ông ấy còn bắt tôi viết nguyên văn ra, rồi nhờ tôi dịch ra tiếng Việt.

Đỗ Mười xem cả nguyên văn lẫn phần dịch ra tiếng Việt hai lần rồi bảo: “Đồng chí Giang Trạch Dân dẫn hai câu thơ này vào lúc kết thúc hội đàm là quá xác đáng!”. Về Hà Nội được ít ngày, tôi lại đọc được một bài thơ do Nguyễn Văn Linh viết thể hiện tâm trạng cảm khái cùa mình sau thành công của cuộc “Hội đàm Thành Đô”: “Huynh đệ chi giao sổ đại truyền/ Oán hận khuynh khắc hóa vân yên/ Tái tương phùng thời tiếu nhan triển/ Thiên niên tình nghị hựu trùng kiến” [4]

Nguồn: 中越高层成都会晤的前前后后 – Mạng Báo buổi sáng Liên hợp.

[1] Quảng Đông – Quảng Tây –ND
[2] Chỗ này tác giả nhầm. Đây là hai câu thơ của nhà thơ đời Thanh Giang Vĩnh. – ND
[3] Tạm dịch: Trải qua cơn sóng gió/ tình anh em vẫn còn/ Gặp nhau cười một cái quên hết oán thù . – ND
[4] Tạm dịch: Anh em chơi với nhau đã mấy thế hệ/ Oán hận trong khoảnh khắc đã biến thành mây khói/ Khi gặp lại nhau cười rạng rỡ/ Tình nghĩa ngàn năm xây dựng lại -ND.

Video tham khảo: 中越高层成都秘密会晤 一年后关系正常化 – Cuộc gặp mật cấp cao Trung-Việt ở Thành Đô – Một năm sau, bình thường hóa quan hệ.

Trương Đức Duy“

Nguồn: Facebook Dân Choa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

GIỚI THIỆU CUỐN SÁCH MỚI CỦA HỌC GIẢ NGUYỄN KIẾN GIANG


Học giả Huyền Giang (1931 - 2013). Ảnh TL.
.
Huyền Giang: Đường đến văn hóa
 
Đỗ Lai Thúy
Người đô thị
15:41 | Chủ nhật, 10/09/2017  

  
Đường đời của Huyền Giang (*) (1931- 2013) ga đi là chính trị và ga đến là văn hóa. Trong ngắn ngủi một đời người, quả thực, ít ai làm được như ông: thay đổi hệ hình tư tưởng đến hai lần: lần trước từ giai cấp sang dân tộc, lần sau từ dân tộc sang dân chủ.
 
Có thể sự nhạy cảm và tính trung thực trước “những điều trông thấy”, cũng có thể những chuyển biến gấp gáp, “một ngày bằng ba thu” của xã hội Việt Nam thế kỷ XX, cùng với đầu óc thích tìm tòi tư tưởng ở ông đã tạo ra những bước chuyển tư tưởng này.


Giã biệt

Trước hết cần khẳng định, trên phương diện tư tưởng, người ta có quyền được thay đổi. Huống hồ sự thay đổi ở Huyền Giang là sự vận động biện chứng, như những đợt sóng gối tiếp, cái sau bao giờ cũng có những mầm mống ủ sẵn từ cái trước. Ở hệ hình tư tưởng dân chủ, Huyền Giang từ bỏ các hoạt động chính trị chuyển sang hoạt động văn hóa, không phải như một sách lược, ẩn mình hay lảng tránh, mà là một chiến lược. Bởi văn hóa ở cấp độ tổng thể là nền tảng cho mọi tư tưởng, kể cả tư tưởng chính trị. Làm văn hóa tuy không có tác động tức thời, thấy được ngay, nhưng có thể ảnh hưởng đến phần chìm, phần định hướng của tảng băng trôi.

Bởi vậy, Huyền Giang quan tâm đến những tri thức văn hóa cơ bản, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến con người, nhằm giải phóng khỏi cái nhìn chật hẹp, “chính trị là thống soái”, con người chỉ có một bản chất là bản chất giai cấp... Xin kể ra đây một vài tác phẩm ông dịch thuộc nhiều lĩnh vực, với những bút danh khác nhau, thậm chí có cuốn không có tên người dịch: Văn hóa nguyên thủy của E.B.Tylor, Chủng tộc và lịch sử của Lévi-Strauss, Sự phát triển siêu cá nhân của R.Assagioli, Đạo giáo và các tôn giáo cổ Trung Quốc của H.Maspéro, Phê phán tính hiện đại của A.Touraine... Chỉ tính riêng mảng sách dịch, đến mấy chục tác phẩm kinh điển, với người khác đã có thể làm nên một sự nghiệp, nhưng với ông chỉ nhẹ nhàng: “vừa là kiếm ẳn [ăn], vừa là phục vu [vụ]”. Mục tiêu của Huyền Giang là viết, còn dịch chỉ để tạo nền cho viết.

Dưới tên người khác

Mảng sách thứ hai của Huyền Giang là biên soạn với những cuốn như Cách mạng Pháp 1789, Thế giới thứ ba, Từ điển xã hội học... Có điều sách biên soạn của ông không chỉ giới thiệu tư liệu thuần túy, mà là một trình bày có chủ ý với những diễn giải, bình luận của riêng cá nhân ông nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thời cuộc.

Thời ấy với sách dịch thì có thể dùng bút danh, nhưng với sách viết, muốn in được và, quan trọng không kém, lấy được tiền nhuận bút, thì tác giả phải khai báo nhân thân cụ thể, và phải được chấp nhận. Bởi thế, các cuốn sách trên đều mang tên Nguyễn Khắc Viện. Phải nói đó là một nghĩa cử của bác Viện. Dĩ nhiên, bấy giờ với người trong cuộc thì không ai tính toán gì, tất cả chỉ nghĩ đến việc chung. Sau này, trước khi mất, bác Viện có thều thào đọc vào máy ghi âm những sách Huyền Giang viết mà ông phải thế danh, để “những gì của Xê-da trả về cho Xê-da”.

Huyền Giang là người có đầu óc nghiên cứu kể cả khi ông còn làm chính trị. Ngay từ năm 1959 ông đã có sách Phác qua tình hình ruộng đất và đời sống nhân dân trước Cách mạng tháng Tám. Rồi năm 1961 là Việt Nam năm đầu tiên sau Cách mạng tháng Tám: tháng Tám 1945 - tháng Chạp 1946... Những năm 90 thế kỷ trước, khi đã chuyển sang nghiên cứu văn hóa là thời kỳ ông viết hào hứng nhất. Thể loại ông chọn là tiểu luận cho dễ cập nhật vấn đề và cũng dễ “xuất bản chuyền tay”. Do lối viết sâu, có đầu có cuối, nên nhiều tiểu luận của ông có dung lượng không kém một chuyên luận. Tuy nhiên, ông viết thanh thoát, dễ hiểu nên đọc ông không biết chán. Điều đáng lưu ý ở đây là các vấn đề tưởng rất “thời sự chính trị”, như Bức tranh thế giới hôm nay, Con người và chủ nghĩa nhân văn mới, Khái niệm xã hội công dân... được Huyền Giang tiếp cận từ góc độ triết học lịch sử nên đều trở thành những vấn đề văn hóa. Một thứ văn hóa vừa như là phạm trù tối hậu ở cấp độ tổng thể toàn nhân loại, vừa như là một lối tiếp cận rất hiện đại.

Tự đưa mình tới ánh sáng

Từ xưa đến nay, từ thế giới vào Việt Nam là tọa độ nghĩ suy của Huyền Giang về văn hóa Việt Nam hôm nay. Trước hết là vấn đề Nho giáo hay Con người cá nhân phương Đông. Nước ta lúc chống Nho thì vẫn giữ tư duy Nho giáo, khi muốn phục hưng Nho thì vẫn chỉ vớt được cái hình nhi hạ. Nho giáo, vì vậy, sẽ là vật cản cho xã hội hóa và cá nhân hóa, hai quá trình đưa dân tộc vào hiện đại. Nhìn sâu vào Thực trạng văn hóa hôm nay, rồi Hiện đại hóa và Tâm lý xã hội trong tiến trình hiện đại hóa, để cuối cùng đưa ra Bản tính tộc người Việt, một vấn đề căn cốt trong nghiên cứu văn hóa tộc Việt và văn hóa Việt Nam. Với các tiểu luận Đời sống tâm linh và tôn giáo, Con người và cái chếtvà Rồi ai cũng về cõi âm, Huyền Giang khẳng định tâm linh là một chiều kích quan trọng của con người, chiều kích bản thể luận. Điều này lý giải sự tồn tại lâu dài của tôn giáo. Còn cái chết được ông coi là sự tham gia cuối cùng của con người vào đời sống tâm linh, là sự hòa/hóa giải cái bi kịch rất người: một thực thể hữu hạn lại mong muốn hiện hữu vô biên.

Có thể nói, Huyền Giang là một trong những gương mặt trí thức nổi bật của những năm 80, 90 thế kỷ trước. Và, quan trọng hơn, tiếng nói bấy giờ của ông vẫn còn nguyên nhiệt huyết, sâu sắc, mới mẻ đến bây giờ. Cuộc đời ông nhiều khổ đau, khuất lấp, nhưng bằng lao động sáng tạo không mệt mỏi, bằng sự kiếm tìm giá trị và dám trả giá cho các giá trị đó, ông đã tự đưa mình tới ánh sáng. Sự thay đổi tư tưởng, là sự thay đổi triệt để nhất, vô tư nhất, không vì quyền lợi, địa vị, mà bất chấp quyền lợi, địa vị. Bởi vậy, viết về Huyền Giang bàn về văn hóa, mà không nói đến sự vận động tư tưởng của ông, hai lần thay đổi hệ hình tư tưởng của ông, là một thiếu sót lớn.

Huyền Giang là một nhân cách văn hóa. Cuộc đời ông là một giá trị văn hóa.

PGS-TS. Đỗ Lai Thúy
__________________
.
Tựa bài "Đường đến văn hóa": Nhân đọc Huyền Giang bàn về văn hóa, NXB Hội Nhà Văn, 2017, Hà Nội
  (*) Tên thật là Nguyễn Thanh Huyên, thường gọi Nguyễn Kiến Giang, nguyên ủy viên Ban Biên tập NXB Sự Thật, có nhiều bút hiệu như Kiến Giang, Lê Diên, Lương Dân...


Phần nhận xét hiển thị trên trang