Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 15 tháng 9, 2017

" Đời là một mớ lầm lẫn thú vị".. (O. Ban Zắc )

Không ai nghèo 3 họ, không ai khó 3 đời
Nếu bạn nợ ngân hàng 1 tỉ thì bạn sợ ngân hàng. Nhưng nếu bạn nợ ngân hàng 10 tỉ thì ngân hàng sẽ phải sợ bạn.
Bán thân 1 đêm vài trăm nghìn, người ta gọi bạn là gái gọi là cave, nhưng bán thân 1 đêm vài nghìn đô, người ta gọi bạn là kiều nữ.

Bạn bán đất được 1-2 nền người ta gọi bạn là cò đất, còn nếu bạn bán hơn trăm lô người ta gọi bạn là doanh nhân,đại gia bất động sản.
Nếu bạn quảng cáo bán hàng online trên facebook thì bị người ta ghét,xem thường và đôi lúc xem bạn là kẻ lừa đảo nhưng khi bạn bán đựợc 100 đơn hàng/ngày thì người ta lại ngưỡng mộ và gọi bạn là nhà phân phối.

Bạn làm mướn 200k/ngày, chơi bài thua vài trăm ngàn thì bị người ta nói là nghèo mà bày đặt cờ bạc, nhưng bạn làm 20 trieu/ngày, chơi thua vài triệu đồng, người ta nói bạn là chơi giải trí cho vui.

Lúc chưa thành công hay không có tiền trong tay, bạn nói cả ngày thì bị xem là chém gió, nghèo mà bày đặt lý lẽ. Đến lúc thành công, có tiền bạc trong tay rồi thì 1 câu nói của bạn cũng là triết lý, dù bạn có nói sai thì người nghe cũng khăng khăng cho là đúng.

Khi bạn giàu có cho dù họ hàng đại bác bắn không tới cũng qua nhận người thân, đi tới đâu cũng được hoan nghênh chào đón. Nhưng khi bạn nghèo khó dù có ruột thịt thế nào họ cũng xem bạn như người xa lạ.

Trong đời phải có nghèo một lần và giàu một lần mới biết ai là bạn ai là bè. Ở đời nhiều cái lắm cái ngược.

-Sưu tầm-

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 14 tháng 9, 2017

Trang trại chó Phú Quốc tiền tỷ của cô gái trẻ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Công bố kết luận thanh tra 'biệt phủ', nếu lòng tin bị mất thì...


>> “Lò nóng lên rồi, không đưa củi vào, lò sẽ tắt”…
>> Đã phát hiện ra người lãnh chịu 1,4 tỷ USD rồi


VŨ HỮU SỰ
NNVN - “Biệt phủ” của ngài Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái Phạm Sỹ Quý lại làm “nóng” dư luận.

Mấy tháng trước, trước sự xôn xao của dư luận về tòa “biệt phủ” của ông này, bao gồm lâu đài, nhà sàn, nhà thờ, vườn hoa, cầu treo, ao cá...Trên diện tích đất hơn 13.000 m2, nằm tại một vị trí đắc địa trên thành phố Yên Bái, tháng 6/2017, Thanh tra Chính phủ (TTCP) đã vào cuộc. Và ông cục trưởng cục chống tham nhũng thuộc TTCP đã tuyên bố như đinh đóng cột rằng cuộc thanh tra sẽ tiến hành trong 15 ngày, đầu tháng 7/2017 sẽ công bố kết luận.

Thế nhưng việc công bố kết luận cứ bị hoãn hết lần này đến lần khác, lúc đầu thì rằng lãnh đạo tỉnh Yên Bái còn bận chỉ đạo khắc phục thiên tai, rồi sau đó thì bận việc khác. Và sau 7 lần hoãn, thì mới đây, ông cục trưởng cục chống tham nhũng giở giọng cùn rằng “không biết đến bao giờ mới công bố”, khiến dư luận lại một lần nữa sôi sục.

Tòa “biệt phủ” của ông Phạm Sỹ Quý phơi bày lồ lộ ra trước mắt thiên hạ. Cuộc thanh tra chỉ giải quyết có mấy vấn đề: Việc một ngày mà có tới 6 quyết định được ký để chuyển 13.000 m2 đất rừng thành đất ở cho ông Quý có hợp pháp không? Ông Quý nói rằng ông đi buôn chít để lấy tiền xây “biệt phủ”, thì buôn bao nhiêu tấn chít, mỗi tấn lãi được bao nhiêu? Ông nói ông vay Ngân hàng 20 tỷ thì vay Ngân hàng nào? Ông có những tài sản thế chấp nào để được Ngân hàng cho vay từng ấy tiền? Tiền lương của ông được bao nhiêu để có thể trả cả gốc lẫn lãi cho Ngân hàng tới trên 300 triệu mỗi tháng?

Với lực lượng hùng hậu của mình, TTCP chỉ mất vài ngày là có thể làm sáng tỏ được những câu hỏi đó. Nếu tòa “biệt phủ” của ông Phạm Sỹ Quý là những tài sản hợp pháp, có được từ những nỗ lực chính đáng của ông, thì hoan hô ! Hãy vinh danh ông như một tấm gương sáng, vừa giỏi việc nước lại vừa giỏi việc nhà, để toàn dân noi theo. Còn ngược lại, thì “việc công, hãy cứ phép công mà làm”. Đã sai, thì dù người đó là ai, cũng bị xử lý theo quy định của pháp luật. Các vị lãnh đạo cao cấp của đảng và Nhà nước đã nhiều lần khẳng định không có vùng cấm trong chống tham nhũng. Hãy hành xử một cách thật công tâm, để xứng đáng là thanh tra, là thanh bảo kiếm của chế độ. Xã hội chỉ đòi hỏi có chừng đó.

Thế thì nguyên nhân gì khiến TTCP cứ phải lúng ta lúng túng, cứ phải giấu giếm bản kết luận thanh tra như vậy? Vì thế lực của ông Quý quá lớn, đến mức TTCP cũng phải kiềng? Hay vì...

Người xưa có câu “một sự thất tín, vạn sự bất tin”. Chỉ có một việc con con như vậy, mà thất tín đến 7 lần. Thử hỏi xã hội còn có lòng tin vào TTCP nữa không? Mà nói như Hoàng đế nước Pháp Napôlêông, thì “mất tiền bạc là mất nhỏ. Mất danh dự là mất lớn. Mất lòng tin là mất tất cả”.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Báo Việt Nam và blogger ‘dọn đường’ cho việc bắt ông Đinh La Thăng


>> ‘Kinh tế internet’ ở Việt Nam – mâm nào cũng có
>> Trung Quốc lên kế hoạch 'nghiền nát' ngành công nghiệp chế tạo robot Mỹ
>> Khởi tố nguyên Phó Thống đốc ngân hàng Nhà nước Đặng Thanh Bình
>> 160 tấn vàng 'bốc hơi' khỏi ngân hàng 5 năm qua trốn đi đâu?

NV – Báo Việt Nam và blogger, nhà báo Huy Đức, dồn dập đăng bài được cho là có mục tiêu “dọn đường” cho việc bắt ông Đinh La Thăng, cựu chủ tịch Tập Đoàn Dầu Khí Việt Nam (PetroVietnam), cựu ủy viên Bộ Chính Trị đảng CSVN, cựu bí thư Thành Ủy Sài Gòn.

Báo Tuổi Trẻ hôm 13 Tháng Chín đăng bài “800 tỷ đồng (hơn $35 triệu) của dầu khí ‘bốc hơi’ thế nào?” không nêu đích danh tên ông Thăng như ghi chú “Chủ Tịch Hội Đồng Thành Viên PetroVietnam ký văn bản trình thủ tướng cho phép PetroVietnam góp vốn vào OceanBank hôm 30 Tháng Chín, 2008.”

Trong phiên tòa “đại án” OceanBank, PetroVietnam tham gia với tư cách nguyên đơn dân sự, được xác định mất 800 tỷ đồng trong vụ án này.

Trên trang Facebook cá nhân, nhà báo Huy Đức viết rõ hơn: “Đinh La Thăng cho phép góp 800 tỷ đồng triệu, tương đương 20% vốn điều lệ vào OceanBank. Ông Thăng đã biến ngân hàng này trở thành ‘dịch vụ nội bộ’ của PetroVietnam, các đơn vị thành viên đều phải mở tài khoản tại đây. Bản chất của vụ án này là ‘tham ô’ chứ không phải là ‘cố ý làm trái.’”

“…Chỉ vì xác định không chính xác tội danh, cơ quan điều tra đã mất rất nhiều thời gian với 35 cán bộ chi nhánh ngân hàng thay vì tập trung điều tra các quan tham ở PetroVietnam, đặc biệt là ông Đinh La Thăng. Nếu chỉ xử những người làm công ăn lương ở OceanBank mà không xử các quan chức PetroVietnam ăn chia tiền lãi suất ngoài sổ sách thì vụ án rất dễ bị đi lạc hướng,” ông viết tiếp.

“Nếu không truy cứu trách nhiệm hình sự ông Đinh La Thăng thì trong vụ PetroVietnam, coi như các cơ quan chống tham nhũng chỉ ‘lượm củi khô,’ chỉ bắt đám thừa hành mà để lọt thủ phạm, để lọt kẻ cầm đầu; những đồng phạm như Nguyễn Xuân Sơn, Ninh Văn Quỳnh… ai hiểu nội tình PetroVietnam đều biết, họ không oan, nhưng ở một mức độ nào đó họ đều là nạn nhân của Thăng,” ông viết thêm.

Ông Huy Đức khiến người ta ngạc nhiên khi liên tiếp đăng các post về Đinh La Thăng trên mạng xã hội với những lời lẽ ngày càng gay gắt.

Một bài của ông Huy Đức gần đây viết: “Vô [tù] sớm đỡ đau tim, ông Thăng. ‘Một ngày tù, nghìn thu ở ngoài’ nhưng một ngày thấp thỏm nằm chờ lại cũng bằng nghìn thu ở tù.”

“Coi kỹ hồ sơ, từ vụ 800 tỷ tới vụ Junin II, công nhận ông Thăng quả là rất gian manh. Từ gần chục năm trước mà ông đã toan tính, cài thế, đẩy tội cho đàn em. Nếu C46 làm tới nơi thì đối tượng bị khởi tố phải lên đến hàng trăm…,” ông viết.

“Chính sách một lựa chọn của ông Thăng, ‘tiền hoặc là một tờ A4,’ đã tha hóa nhiều thế hệ cán bộ. Có thể ông biết rõ, sắp sửa có những ‘tờ A4’ xướng tên mình. Đừng loay hoay ở ngoài để rồi nghe một tiếng còi xe cũng giật thót mình. Hãy nộp lại tiền và nhận tội để tìm một giấc ngủ không cần Macallan30, cho dù là trên sàn bê tông lạnh,” theo Facebook nhà báo Huy Đức.

Cũng trong hôm 13 Tháng Chín, hãng Reuters đăng bài nói họ tiếp cận được tài liệu cho thấy chính phủ thời ông Nguyễn Tấn Dũng “xóa tội” cho ông Trịnh Xuân Thanh, người được cho là nhân vật thân tín với ông Đinh La Thăng.

Theo một lá thư đề ngày 18 Tháng Năm, 2015, được cho là của Bộ Trưởng Thương Mại Vũ Huy Hoàng (thời điểm đó) gửi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng, ông Thanh “nhận trách nhiệm” nhưng chính phủ “không thấy có dấu hiệu tiêu cực” liên quan đến ông ta.

“Do vậy, các cơ quan đồng ý không áp dụng biện pháp kỷ luật đối với ông Thanh,” bức thư viết.

Bài báo của Reuters cũng đề cập về những người đang bị điều tra liên quan đến hoạt động của PetroVietnam và nói rằng ông Đinh La Thăng là nhân vật chính trị cao cấp nhất “bị ngã ngựa” khi mất chức bí thư Thành Ủy Sài Gòn và bị loại khỏi Bộ Chính Trị.

“Các cuộc điều tra đang tiếp tục nhắm vào PetroVietnam và Bộ Thương Mại, cũng như Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam.”

“Có trông đợi rằng có thêm nhiều thành viên của chính quyền thời ông Dũng sẽ bị truy tố,” theo Reuters. (T.K.)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bóng ma Trung Quốc lởn vởn trên cuộc tập trận Zapad 2017


Các xe quân sự tham gia cuộc tập trận Zapad 2017 tại một địa điểm ở Belarus, ngày 14/09/2017.

Nga tung ra cuộc tập trận với Belarus bắt đầu từ hôm nay 14/09/2017, và điều dễ hiểu là nhiều nhà quan sát tỏ ra lo ngại, trước một sự biểu dương sức mạnh quân sự lớn nhất kể từ thời chiến tranh lạnh. Nhưng theo tác giả Nicholas Trickett trênThe Economist, ít ai để ý đến những hậu quả không lường trước, một khi các hành động của Nga gây bất ổn cho Belarus, Ukraina hay các nhân tố khác trong khu vực.
Đa số không hình dung ra sự hiện diện của một tay chơi mới tại Đông Âu, đó là Trung Quốc. Những hành động khiêu khích của Matxcơva có thể làm phương hại đến lợi ích Trung Quốc trong khu vực, và mối liên hệ với Bắc Kinh, đối tác được coi là « chiến lược ».
Trung Quốc và Crimée

Ukraina chính là cửa ngõ vào châu Âu trước tiên của Trung Quốc, khi dự án « Một vành đai, một con đường » (Con đường tơ lụa mới) được công bố năm 2013. Tổng thống lúc đó là Viktor Yanukovych đến Bắc Kinh với hy vọng vay tiền, sau khi thỏa thuận liên kết với châu Âu bị bác bỏ. Bên cạnh món tín dụng chưa bao giờ thành sự thực này, đại gia ngành viễn thông Trung Quốc là Vương Tĩnh (Wang Jing) còn đề nghị xây dựng một cảng nước sâu trị giá 3 tỉ đô la tại Sevastopol – cảng nhà của Hạm đội Hắc Hải tại Crimée – cùng với 7 tỉ đô la đầu tư vào cơ sở hạ tầng.

Thêm vào đó, là thỏa thuận cho thuê 3 triệu hecta đất nông nghiệp Ukraina, và thương lượng mở cửa thị trường Trung Quốc cho một số nông sản xuất khẩu của Ukraina. Bắp đặc biệt được ưa thích, vì lâu nay Trung Quốc vẫn lệ thuộc vào bắp Mỹ. Ukraina nhanh chóng trở thành một đối tác quan trọng về an ninh lương thực, lượng bắp xuất đi khoảng 1,4 triệu tấn trong năm nay, chiếm gần phân nửa nhu cầu nhập khẩu của Trung Quốc, theo ước tính của bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ năm 2017. 

Từ đó đến nay, Bắc Kinh đã mở dần thị trường cho các sản phẩm sữa của Ukraina và một số mặt hàng thực phẩm khác. Nỗi lo sâu sắc về an ninh thực phẩm của Trung Quốc đã biến Ukraina với tiềm năng nông nghiệp thành đối tác quan trọng, một cách lôgic.

Việc Nga sáp nhập Crimée và can thiệp quân sự vào vùng Donbass là một thử thách cho chính sách « không can thiệp vào chuyện nội bộ nước khác » của Trung Quốc. Liên hiệp Châu Âu (EU) vốn là đối tác lớn nhất của Bắc Kinh. Trao đổi thương mại lên đến 1,4 tỉ euro một ngày trong năm 2016, và từ tháng 11/2013 đôi bên bắt đầu thương thảo một hiệp định đầu tư. Vì vậy lúc đó Trung Quốc không thể công nhận vụ sáp nhập Crimée, mà chọn cách vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu tại Liên Hiệp Quốc. Bắc Kinh ủng hộ « giải pháp hòa bình mang lại lợi ích cho tất cả các bên », trong lúc thừa biết là một giải pháp như thế không thể có được trong tương lai gần.

Tuyến đường sắt Baku-Tbilisi-Kars.
Ukraina, trung tâm trung chuyển hàng Trung Quốc

Kế hoạch đầu tư vào Crimée nhanh chóng rơi rụng. Làm như thế chẳng khác nào công nhận việc sáp nhập của Nga, gây giận dữ cho các đối tác phương Tây và chắc chắn là quan hệ với Kiev sẽ chẳng êm ái chút nào. Việc thương lượng đầu tư cảng nước sâu ở bán đảo Crimée bị chìm nghỉm, thương mại và đầu tư Trung Quốc nay hướng về nội địa Ukraina.

Ukraina đạt được thỏa thuận về Hiệp định tự do mậu dịch toàn diện (DCFTA) với EU năm 2015, được giảm đến 98,1% thuế hải quan cho hàng hóa và dịch vụ của Ukraina. Để trả đũa, Nga ra một loạt lệnh cấm sử dụng các tuyến đường bộ và đường sắt từ các nước khác đi ngang qua lãnh thổ mình, và Ukraina cũng đáp trả tương tự.

Những lệnh cấm này tạo đà cho hành lang thương mại xuyên Biển Caspi, được hỗ trợ bởi tuyến đường sắt Baku-Tbilisi-Kars (BTK) ở Nam Kapkaz. Chuyến tàu đầu tiên dự kiến sẽ khởi hành vào tháng tới, tạo điều kiện cho việc vận chuyển hàng hóa Trung Quốc qua khu vực này. Việc chuyển tải thông qua cảng Alat của Azerbaijan, vốn lệ thuộc vào BTK, đã tăng 43,5% trong năm nay, và các cảng ở Hắc Hải như Constanta của Rumani nối liền với tuyến đường xuyên Caspi. Tất cả các nước thành viên của hành lang này thương mại này đã bắt đầu công việc đồng bộ hóa thuế quan và thủ tục ở biên giới.

Nhờ xâm nhập được thị trường, đầu tư vào việc dịch chuyển sản xuất sang Ukraina trong tương lai, cũng như việc làm đường, xây cảng trở nên hấp dẫn hơn đối với Trung Quốc. Công ty Công trình Cảng Trung Quốc (CHEC) đã giành được một hợp đồng nạo vét và nâng cấp cảng Yuzhny ở phía bắc Odessa. Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc sắp sửa tài trợ cho một dự án cầu ở Kremenchuk. Ukraina hy vọng sang năm xây dựng được 2 tỉ đô la đường sá, dường như đang thương lượng với tập đoàn Cầu Đường Trung Quốc (CRBC) để xây xa lộ bê tông đầu tiên nối Odessa với Kherson. 

Ukraina nới lỏng việc cấp visa cho các doanh nhân Trung Quốc, doanh số buôn bán tăng 5,3% trong năm 2016, đạt 6,51 tỉ đô la, và hai nước có ý định hợp tác an ninh ở cấp thấp. Con số này là nhỏ đối với Trung Quốc, nhưng những dự án trên giúp gắn chặt lợi ích và luồng vốn vào đây. DCFTA khiến Ukraina trở thành thị trường hấp dẫn hơn so với Nga. Khác với các đối tác phương Tây, Trung Quốc không quan tâm đến vấn đề cải cách, khiến Ukraina cảm thấy thoải mái, một khi thương mại xuyên Caspi tăng lên và các dự án cảng thành hiện thực trong tương lai.

Có đến 11/15 công ty tại khu công nghiệp Great Stone, Belarus là của Trung Quốc.
Bệ phóng Belarus

Tầm quan trọng của Belarus cũng tăng lên, trong lúc Trung Quốc đang nhắm đến Đông Âu với sự gia tăng đầu tư, thương mại và quan trọng nhất là việc vận chuyển hàng hóa Trung Quốc đến châu Âu bằng đường sắt. Lượng hàng Trung Quốc quá cảnh thông qua hệ thống đường sắt Belarus đã tăng 30,4% trong 7 tháng đầu năm 2017, gần như tương đương với lượng xuất khẩu qua đường hỏa xa của Belarus.

Sau khi bị giảm sút mạnh do cuộc khủng hoảng chính trị Ukraina, doanh số thương mại giữa Belarus với Kiev đã tăng 26% năm nay. Trung Quốc có thể sử dụng cả hai nước này làm bàn đạp cho các chuỗi cung ứng ở Baltic và Ba Lan, mà không bị giám sát cao độ theo đòi hỏi của các nước thành viên EU.

Belarus từ năm 2013 bắt đầu trông cậy vào đầu tư cơ sở hạ tầng của Trung Quốc để giảm lệ thuộc vào Nga, và né tránh những chỉ trích về nhân quyền của châu Âu. Các dự án nổi bật nhất là khu công nghiệp Great Stone ở gần Minsk và trung tâm hậu cần ở Bolbasovo.

Bolbasovo được dự kiến trở thành một trung tâm thương mại để Trung Quốc dịch chuyển sản xuất vào đây, nhưng hiện chỉ mới được khởi động. Great Stone nhằm tận dụng giá lao động rẻ của Belarus, để các công ty Trung Quốc có thể sản xuất xe hơi và các sản phẩm cao cấp hơn, với giá thành rẻ. Nhờ liên minh thuế quan Belarus-Nga, Bắc Kinh vừa tránh phải thương lượng vất vả để xâm nhập thị trường Nga, vừa bán được hàng cho các nước Đông Âu là thành viên EU. 

Trung Quốc và Belarus dự định thành lập một quỹ đầu tư chung 585 triệu đô la để thu hút các công ty vào Great Stone. Trong số 15 công ty hiện diện tại đây, có đến 11 công ty Trung Quốc. Tổng thống Lukashenko còn đi xa hơn, đề nghị các công ty quốc phòng Trung Quốc mở cửa hàng tại khu này – một dấu hiệu nhắm vào Matxcơva.

Cũng như với Ukraina, Trung Quốc muốn nhập nông sản của Belarus. Thị trường thịt bò và thịt gà đã được mở cửa cho Belarus năm nay, và các nhà đầu tư Trung Quốc cho biết sẵn sàng đầu tư đến 1 tỉ đô la vào lãnh vực này. Như vậy Belarus có thể đạt mục tiêu xuất khẩu đến năm 2020, nhưng quan trọng hơn nữa là hai nước đã ký bản ghi nhớ hợp tác biên giới.

Người dân Belarus biểu tình phản đối cuộc tập trận Zapad 2017, ngày 08/09/2017.
Những hậu quả không lường được

Theo tác giả Nicolas Trickett, thật ra những nguy cơ từ Nga trong cuộc tập trận Zapad là không cao. Tuy vậy những động thái khiêu khích có thể làm Nga bị cô lập, vì đang lệ thuộc nhiều vào Trung Quốc.

Trước hết về tài chính, đối với các công ty cũng như nền kinh tế Nga. Hàng tỉ đô la từ các hợp đồng tín dụng Trung-Nga đã lấp được lỗ hổng ngân sách của Matxcơva, như thỏa thuận mới đây tài trợ cho Quỹ đầu tư trực tiếp và Vneshekonombank (VEB), hai định chế bị phương Tây trừng phạt. Tập đoàn dầu lửa Rosneft đang tìm kiếm vốn từ Trung Quốc để bù vào những thua lỗ, và có thể bán cổ phiếu cho các đối tác Trung Quốc. Tiền của Bắc Kinh còn giúp duy trì được dự án LNG của Novatek. Quỹ đầu tư Nga-Trung (RCIF) được hỗ trợ để bơm 500 triệu đô la vào các dự án của Nga trong năm nay. Ngân hàng trung ương Nga mở văn phòng ở Bắc Kinh, và có ý định phát hành trái phiếu bằng nhân dân tệ. 

Tất cả hàng vận chuyển bằng xe lửa đi qua Nga nay phải chuyển sang Belarus vì bị Ukraina cấm vận. Bất kỳ sự cố nào làm ngưng luồng vận chuyển qua Belarus sẽ buộc Trung Quốc phải tập trung hơn vào thương mại xuyên Caspi. Một sự mất ổn định trầm trọng tại Ukraina có thể làm thiệt hại cho ngõ vào thị trường châu Âu từ Hắc Hải của Trung Quốc, và cả một chuỗi đầu tư trải rộng từ Tân Cương đến Gruzia. Nga có thể bị mất các khoản đầu tư vào đường sắt đang hết sức cần đến, nếu các con đường quá cảnh bị ngưng trệ hoặc bị đe dọa nghiêm trọng.

Nhưng vấn đề không chỉ là kinh tế. Trung Quốc có thể rút bớt những đầu tư vào hạ tầng Nga, chuyển qua các nước thành viên EU hoặc các nước châu Âu khác. Trung Quốc đã mua được sự im lặng của châu Âu trên Biển Đông, thông qua việc đầu tư vào Hy Lạp và Hungary, nhưng sẽ phải hành xử thận trọng hơn. Châu Âu đang quan ngại về ảnh hưởng của Trung Quốc, có thể dẫn đến việc xem xét lại các dự án ở Hy Lạp, Balkan và Trung Âu. Bắc Kinh ngày càng bị coi là mối đe dọa cho sự đoàn kết của châu Âu, cũng như Nga - một mối đe dọa ngày càng đè nặng với cuộc tập trận tháng Chín này. 

Tác giả cho rằng Nga sẽ bất lợi nếu làm phương hại đến chiến lược kinh tế của Trung Quốc ở Đông Âu, buộc Bắc Kinh phải giữ thể diện với các đối tác chính châu Âu. Trung Quốc không thể im lặng mãi khi một đối tác chiến lược bị đe dọa về chủ quyền và an ninh, và tốt nhất là các lãnh đạo Nga không nên quên rằng ông Putin có thể mạnh tay chi cho phúc lợi xã hội trong năm bầu cử, là nhờ sự hỗ trợ mạnh mẽ về tài chính của Bắc Kinh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

LÒ NUNG LỊCH SỬ


 - ĐÃ CHÁY !
Cuộc chiến chống tham nhũng , do TBT. Nguyễn Phú Trọng làm Tổng Tư lệnh ,với tuyên bố Lửa : "Lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy " ... và đã cháy thật :
1/ Kho củi Tập đoàn Dầu khí :
- Đinh La Thăng ( nguyên CT. HĐTV - PVN) , đã bị lột mũ cánh chuồn , chờ ngày vào lửa . 
- Nguyễn Xuân Sơn ( CT . HĐTV- PVN ), đang bị nung ( án tử hình )
- Ninh Văn Quỳnh ( PT. GĐ - PVN ), đang bị đốt .
- Trịnh Xuân Thanh ( nguyên CT. HĐQT- PVC ) , đang trong lửa .
Cùng với hàng trăm thuộc cấp khác đã tàn phá 126.000.000 tỉ đồng và hàng tỉ đô la của nhà nước , đã , đang , sắp , sẽ vào lửa ...
2/. Rừng củi Ngân hàng :
- Nguyễn Đức Kiên ( ACB ) sai phạm 2.400 tỉ ,
- Phạm Công Danh ( NH. XD ) , thất thoát 9.000 tỉ ,
- Hà Văn Thắm ( Oceabank ) tiền đi đêm 1.500 tỉ , ( án chung thân )
- Trầm Bê ( Sacombank ) , sai phạm 15.000 tỉ ,
- Đặng Thanh Bình ( nguyên Phó thống đốc NH . NN ) , tiếp tay cho sai phạm ngành NH .
- Và nhiều , rất nhiều cây củi lớn , nhỏ khác ở ngành Ngân hàng , đang lộ dần ...
Rừng củi Ngân hàng ,tính đến vụ án Hà Văn Thắm đang xét xử (có tới 400 cây củi liên quan ) , thì con số đã lên tới hàng ngàn cây củi bị đốt ...
3/ Chùm củi khác :
- Vũ Huy Hoàng đã bị vạch tội , chờ ngày vào lửa ,
-Võ Kim Cự ( nguyên BT tỉnh uỷ HT) , đang bị nung
- Hồ Thị Kim Thoa ( Thứ trưởng B.CT) , đang ở cửa lò nung .
- Nguyễn Phong Quang ( Phó ban chỉ đạo TNB ), đã là củi .
- Phan Thị Mỹ Thanh ( P. BT tỉnh uỷ Đồng Nai ) , đã là củi
- Nguyễn Văn Thiện ( nguyên BT tỉnh Bình Định ) , đã là củi ...
Cùng hàng vạn kẻ khác đang và sẽ là củi lò nung ...
Người đốt lò Nguyễn Phú Trọng , đã điểm huyệt : Dầu khí và Ngân hàng , là nơi các tập trung nhưng kẻ đại cướp , siêu cướp . Chúng biến hoá , cướp phá , tàn phá hàng chục vạn tỉ của Đất nước . Làm lũng đoạn nền kinh tế . Ông Tổng đã ưu tiên đốt trước và lò đã bùng cháy !
Đây là cuộc chiến lấy ít địch nhiều , nên ông Tổng và cộng sự , không thể đốt củi mọi lúc , mọi nơi , như mong muốn , sốt ruột của nhân dân .
Chúng ta , có thể tạm tin rằng : lò đã CHÁY THỰC rồi (theo quy luật cháy lan ) thì hàng triệu cây củi lớn nhỏ , sớm hay muộn , rồi cũng vào vào lửa ...
Giành chiến thắng trong mọi cuộc chiến , đều cần thời gian . Hãy cho ông Tổng thời gian ... Và chúng ta , đừng để ông Tổng độc chiến , mà hãy đứng trong cuộc chiến ... để giành giữ sự yên bình cho Đất nước !
*****
Ảnh : -hàng1 :củi Dầu khí
-hàng 2 : Củi Ngân hàng
- hàng3 : củi bộ , ngành khác .
*Bài viết của Nguyễn Quang Cương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BIG BANG VÀ VŨ TRỤ VÔ THỈ CỦA ĐẠO PHẬT




Nguyên tác: The Big Bang and The Buddhist Beginningless Universe
Tác giả: Đức Đạt Lai Lạt Ma
Chuyển ngữ: Tuệ Uyển



 

Có ai không cảm thấy kinh hải trong khi nhìn vào bầu trời được chiếu sáng với vô số vì sao trong một đêm trời trong không? Ai không từng tự hỏi có một trí thông minh nào đằng sau vũ trụ hay không? Ai không từng tự hỏi có phải trái đất là hành tinh duy nhất nuôi dưỡng sự sống của các tạo vật? Đối với tôi, đây là những sự tò mò tự nhiên trong tâm thứccon người. Suốt lịch sử văn minh của loài người có một sự thôi thúc thật sự để tìm những câu trả lời cho các câu hỏi này. Một trong những thành tựu lớn của khoa học hiện đại là dường như nó đã đưa chúng ta đến gần hơn bao giờ hết một sự thấu hiểu về những điều kiện và những tiến trình phức tạp làm cơ sở cho những nguồn gốc của vũ trụ.

Giống như nhiều nền văn hóa cổ truyền, Tây Tạng có một hệ thống chiêm tinh học phức tạp chứa đựng những yếu tốmà văn hóa hiện đại gọi là thiên văn học, vì thế người Tây Tạng đã đặt tên cho hầu hết những vì sao thấy được bằng mắt thường. Trong thực tế, người Tây Tạng và Ấn Độ từ lâu đã có thể tiên đoán được những vụ nhật thực và nguyệt thực với một mức độ chính xác cao trên căn bản của những quán sátthiên văn của họ. Như một cậu bé ở Tây Tạng, tôi đã dành nhiều đêm nhìn chăm chú vào bầu trời với kính viễn vọng của tôi, nghiên cứu những hình dáng và tên của những chòm sao.

Tôi nhớ cho đến ngày nay sự sung sướng mà tôi cảm nhận khi tôi có thể thăm viếng một đài quan sátthiên văn thật sự ở Delhi tại Cung Thiên Văn Birla. Năm 1970, trong chuyến viếng thăm lần đầu tiên của tôi đến phương Tây, tôi được mời bởi Đại học Cambridge ở Anh quốc để nói chuyện tại Thượng Nghị Viện và Khoa Thần Học. Khi vị hiệu phó của trường hỏi rằng tôi có điều gì đó đặc biệt muốn làm ở trường Cambridge không, tôi đã trả lời không do dự là tôi ao ước thăm viếng kính thiên văn quang tuyếnnổi tiếng tại Khoa Thiên Văn Học.

Trong một hội nghị Tâm Thức và Đời Sống tại Dharamsala, nhà vật lý thiên văn Piet Hut, từ Viện Nghiên Cứu Tiên Tiến tại Princeton, trình bày một mô phỏng bằng máy điện toán vấn đề những nhà thiên vănhọc hình dung các sự kiện vũ trụ hiển bày khi các thiên hà va chạm nhau như thế nào. Đó là một cảnh tượng quyến rũ, một quang cảnh sống động. Những máy vi tính hoạt hình như vậy giúp chúng ta hình dung cung cách, ở những điều kiện nào đó một cách lập tức sau vụ bùng nổ vũ trụ, vũ trụ phát triển xuyên qua thời gian theo những quy luật căn bản của vũ trụ học. Sau sự trình bày của Piet Hut, chúng tôi có một cuộc thảo luận mở. Hai trong những người tham dự khác tại cuộc gặp gở, David Finkelstein và George Greenstein, đã cố gắng để chứng minh hiện tượng mở rộng vũ trụ bằng việc sử dụng những dải đàn hồi với các vành đai trên chúng. Tôi nhớ điều này một cách rõ ràng vì hai người thông dịch của tôi và tôi đã có một sự khó khăn nào đó trong việc hình dung sự mở rộng vũ trụ từ sự minh chứng này. Sau này, tất cả những nhà khoa học tại cuộc gặp gở cùng tham dự vào để đơn giản hóa sự giải thích, mà dĩ nhiên lại có hậu quả thậm chí làm chúng tôi rối rắm hơn nữa.

Vũ trụ học hiện đại – giống như nhiều thứ khác trong khoa học vật lý – được thành lập trên thuyết tương đối của Einstein. Trong vũ trụ học, những sự quán sát thiên văn đi cùng với thuyết tương đối tổng quát, là thứ định hình lại trọng lực như đường cong của cả không gian và thời gian, đã cho thấy rằng vũ trụcủa chúng ta không vĩnh cửu và cũng không tĩnh trong hình thể hiện tại của nó. Nó đang tiến hóa và mở rộng một cách liên tục. Sự khám phá này phù hợp với trực giác căn bản của những nhà thiên văn học Phật giáo cổ đại, những người nhận thức rằng bất cứ hệ thống vũ trụ đặc thù nào cũng đi qua những giai đoạn hình thành, phát triển, và cuối cùng tan hoại. Trong thiên văn học hiện đại, vào những năm 1920, cả sự tiên đoán lý thuyết (do Alexander Friedmann) và sự quán sát thực nghiệm chi tiết (do Edwin Hubble) – thí dụ, sự quán sát rằng sự chuyển dịch màu đỏ được đo lường trong ánh sáng phát ra bởi những thiên hà xa thì lớn hơn , so với sự phát ra ánh sáng bởi những thiên hà gần hơn – được chứng minh một cách đáng tin tưởng rằng vũ trụ là cong và đang mở rộng.

Giả định rằng sự mở rộng này sinh khởi từ một vụ nổ vũ trụ lớn – vụ nổ lớn nổi tiếng, big bang, vốn được được cho là đã từng xảy ra khoảng 12 đến 15 tỉ năm trước. Những nhà vũ trụ học ngày nay tin rằng vài giây sau vụ nổ này, nhiệt độ giảm xuống tới một điểm mà những phản ứng đã xảy ra bắt đầu làm hạt nhân của những thành phần nhẹ hơn, mà từ đó đến rất lâuvề sau này tất cả vật chất trong vũ trụđi đến hình thành. Vì vậy, tất cả không gian, thời gian, vật chất, và năng lượng như chúng ta biết và kinh nghiệm chúng đi đến hình thành từ quả cầu lửa của vật chất và bức xạ này. Trong những năm 1960 bức xạ sóng vi ba nền đã được phát hiện trong toàn vũ trụ; nó đi đến được nhìn nhận như một tiếng vang, hay ánh sáng đỏ rực rở còn sót lại từ những sự kiện của big bang. Sự đo lường chính xác quang phổ, sự phân cực và phân bổ không gian của sự bức xạ nền này dường như đã được xác nhận, tối thiểutrong những mô hình phác thảo của lý thuyết hiện tại về nguồn gốc của vũ trụ.

Cho đến khi tình cờ phát hiện tiếng vang của sóng vi ba nền này, thì đã có một sự tranh luận đang tiếp diễn giữa hai trường phái ảnh hưởng lớn trong vũ trụ học hiện đại. Một số thiên về việc thấu hiểu sự dản ra của vũ trụ như một lý thuyết trạng thái ổn định, có nghĩa rằng vũ trụ đang dản ra ở một tốc độ ổn định, với những quy luật bất biến của vật lý được áp dụng trong mọi lúc. Về phía khác đó là những người thấy sự tiến hóa trong dạng thức của một vụ nổ vũ trụ. Tôi nghe nói rằng những người ủng hộ mô hình trạng thái ổn định kể cả một số nhà tư tưởng lớn nhất của vũ trụ học hiện đại, chẳng hạn như Fred Hoyle. Trong thực tế, vào một thời điểm trong trí nhớ, thì lý thuyết này từng là quan điểm khoa học chính thống về nguồn gốc của vũ trụ. Ngày nay, dường như, hầu hết những nhà vũ trụ học tin chắc rằng tiếng vang của sóng vi ba nền này chứng minh một cách thuyết phục giá trị của thuyết big bang. Đây là một thí dụ tuyệt vời về vấn đề trong khoa học, với sự phân tích sau cùng, chính chứng cứ thực nghiệm đã trình bày sự phán xét cuối cùng như thế nào. Ít nhất trong nguyên tắc, điều này cũng đúng trong tư tưởng Phật giáo, như nói rằng thách thức thẩm quyền của chứng cứ thực nghiệm là truất quyền của chính mình như một kẻ nào đó xứng đáng với sự tham gia bình phẩm trong một cuộc thảo luận.



Ở Tây Tạng có những huyền thoại khó hiểu về sự tạo hóa bắt nguồn trong một tôn giáo trước Phật giáolà đạo Bon. Chủ đề trung tâm trong những huyền thoại này là việc thiết lập trật tự từ trong hổn độn, chiếu sáng bóng tối, ngày từ đêm, hiện hữu từ không gì cả. Những hành vi này được tác động bởi một đấng siêu nhiên, đấng tạo ra mọi thứ từ tiềm năng thuần khiết. Một loạt những huyền thoại khác miêu tảvũ trụ như một tạo vật sống được sinh ra từ một trứng vũ trụ. Trong những truyền thống tâm linh và triết lý phong phú của Ấn Độ cổ đại, nhiều quan điểm vũ trụ đối lập được phát triển. Những thứ này kể cả những phát biểu đa dạng có hệ thống của giáo lý Số Luận ban đầu về tính vật chất nguyên sơ, vốn diễn tả về nguồn gốc của vũ trụ và sự sống trong nó như sự biểu hiện một thể nền cơ bản tuyệt đối. Thuyết nguyên tử của phái Thắng Luận (Vaiśeṣika), thay thế một đa nguyên của những “nguyên tử” không thể phân chia như những đơn vị căn bản của thực tại cho một thể nền cơ bản độc nhất; những giáo thuyết khác nhau củaBrahman (Phạm Thiên) hay Ishvara (Tự Tại Thiên) như nguồn gốc của sự tạo hóa thần thánh; thuyết của những nhà duy vật cực đoan Charvaka[1] về sự tiến hóa của vũ trụ qua một sự phát triển vật chất không mục đích, ngẫu nhiên; với tất cả những tiến trình tinh thần được xem như khởi nguồn của những hình thể phức tạp của hiện tượng vật chất. Lập trường cuối cùng này thì không khác với sự tin tưởng của chủ nghĩa duy vật khoa học rằng tâm thức có thể quy thành thực tại thần kinh và sinh hóa và những thứ này lần lượt là những sự kiện của vật lý. Phật giáo trái lại, giải thích sự tiến hóacủa vũ trụ trong dạng thức của nguyên lý nguồn gốc lệ thuộc hay lý duyên khởi, trong đó nguồn gốc và sự tồn tại của mọi thứ phải được thấu hiểu trong dạng thức của một mạng lưới phức tạp của những nguyên nhân và điều kiện có liên hệ với nhau. Điều này áp dụng cho tâm thức cũng như vật chất.



Theo những kinh điển ban sơ, chính Đức Phật không bao giờ trả lời trực tiếp những câu hỏi đặt ra cho Ngài về nguồn gốc của vũ trụ. Trong sự so sánh nổi tiếng, Đức Phật liên hệ với người hỏi những câu hỏi kiều này cũng như một người bị bắn bởi mũi tên độc. Thay vì để được giải phẩu để rút mũi tên ra, người bị thương lại khăng khăng đòi hỏi trước phải tìm ra đẳng cấp, tên họ, và dòng tộc của người bắn tên; người ấy da thâm, nâu, hay trắng trẻo; người ấy sống trong làng xóm, thị trấn, hay thành phố; cây cung thường hay cây nỏ; dây cung làm bằng sợi, cây sậy, cây gai dầu, sợi xoắn, hay vỏ cây; mũi tên làm bằng gỗ hoang hay gỗ trồng; và v.v… Những diễn giải về ý nghĩa sự từ chối trả lời trực tiếp những câu hỏi này của Đức Phật thì bất đồng. Một quan điểm nói rằng Đức Phật đã từ khước trả lời vì những câu hỏi siêu hình này không liên quan một cách trực tiếp đến giải thoát. Một quan điểm khác, một cách chính yếu luận bàn bởi Long Thọ, rằng trong chừng mực nào đó những câu hỏi này bị đóng khung trên điều giả định trước của thực tại thuộc bản chất (tự tánh thực tại) của mọi thứ, và không phải trên duyên sanh, thì câu trả lời sẽ dẫn đến việc chấp thủ sâu hơn trong sự tin tưởng về sự tồn tại cố hữu thật sự (tự tánh).

Những câu hỏi được chia thành từng nhóm hơi khác nhau trong những truyền thống Phật giáo khác nhau. Kinh tạng Pali liệt kê mười câu hỏi “không trả lời” như vậy, trong khi truyền thống cổ điển Ấn Độđược người Tây Tạng kế thừa liệt kê mười bốn câu hỏi sau:
Có phài tự ngã và vũ trụ là vĩnh cửu?
Có phải tự ngã và vũ trụ là tạm thời?
Có phải tự ngã và vũ trụ là cả vĩnh cửu và tạm thời?
Có phải tự ngã và vũ trụ không vĩnh cửu cũng không tạm thời?
Có phải tự ngã và vũ trụ có một sự bắt đầu?
Có phải tự ngã và vũ trụ không có sự bắt đầu?
Có phải tự ngã và vũ trụ có cả sự bắt đầu và không có sự bắt đầu?
Có phải tự ngã và vũ trụ không có sự bắt đầu cũng không có sự không bắt đầu?
Có phải Đức Thế Tôn tồn tại sau khi chết?
Có phải Đức Thế Tôn không tồn tại sau khi chết?
Có phải Đức Thế Tôn cả tồn tại và không tồn tại sau khi chết?
Có phải Đức Thế Tôn cả không tồn tại cũng không phải không tồn tại sau khi chết?
Có phải tâm thức là một với thân thể?
Có phải tâm thức và thân thể là hai thực thể riêng biệt?

Bất chấp truyền thống kinh điển của Đức Phật từ khước tham gia vào trình độ luận bàn siêu hình này, nhưng Phật giáo như một hệ thống triết lý Ấn Độ cổ đại đã phát triển một lịch sử dài lâu về việc nghiên cứu một cách sâu sắc trong những câu hỏi cơ bản và lâu đời này về sự tồn tại của chúng ta và thế giớimà chúng ta sống trong ấy. Truyền thống Tây Tạng của tôi đã thừa kế di sản triết lý này.



Có hai truyền thống chính về vũ trụ học trong Phật giáo. Một là hệ thống A Tỳ Đạt Ma, được chia sẻ bởi nhiều trường phái Phật giáo, chằng hạn như Phật giáo Nguyên thỉ (Theravada), vốn là trường phái chiếm ưu thế cho đến ngày nay ở những nước như Thái Lan, Tích Lan, Miến Điện, Campuchia, và Lào. Mặc dù trường phái Phật giáo truyền đến Tây Tạng là Đại thừa Phật giáo, một cách đặc biệt là hình thức của Phật giáo Ấn Độ được biết như truyền thống Nalanda, nhưng tâm lý học và vũ trụ học A Tỳ Đạt Ma đã trở thành một bộ phận quan trọng của quang cảnh tri thức Tây Tạng. Tác phẩm chính của hệ thống A Tỳ Đạt Ma về vũ trụ học được truyền vào Tây Tạng là Kho Tàng Kiến Thức Cao Cấp (A Tỳ Đạt Ma Câu Xá Luận) của Thế Thân. Truyền thống vũ trụ học thứ hai ở Tây Tạng là hệ thống được thấy trong một tập họp của những văn bản Phật giáo Kim Cương thừa quan trọng được biết như Kalachakra, có nghĩa là “bánh xe thời gian” hay “thời luân”. Mặc dù truyền thống quy cho giáo lý chính của chu trình Thời Luân là Đức Phật, nhưng thật khó để xác định một cách chính xác năm tháng xuất xứ của những tác phẩm sơ khai nhất trong hệ thống này. Theo sự chuyển dịch những văn kiện then chốt của Thời Luân từ Sanskrit sang Tạng ngữ vào thế kỷ 11, Thời Luân đã đi đến chiếm cứ một vị trí quan trọng trong di sản Phật giáo Tây Tạng.



Vào lúc 20 tuổi, khi tôi bắt đầu sự học tập hệ thống những văn bản thảo luận về vũ trụ học của A Tỳ Đạt Ma, thì tôi biết rằng thế giới là tròn, đã nhìn vào những hình chụp các miệng núi lửa trên mặt trăng ở những tạp chí, và có một sự hiểu biết nào đó về vòng quay quỹ đạo của trái đất và mặt trăng chung quanh mặt trời. Thế nên tôi phải thừa nhận, khi tôi đang học sự trình bày cổ điển của Thế Thân về hệ thống vũ trụ A Tỳ Đạt Ma, thì nó đã không hấp dẫn nhiều với tôi.

Vũ trụ A Tỳ Đạt Ma diễn tả một trái đất bằng phẳng, với các thiên thể như mặt trời và mặt trăng xoay chung quanh. Theo thuyết này, trái đất của chúng ta là một trong bốn “lục địa” – trong thực tế, lục địa phía nam – nằm trong bốn hướng chủ yếu của một núi cao chót vót gọi là núi Tu Di, ở trung tâm của vũ trụ. Mỗi một lục địa này được nằm bên sườn bởi hai lục địa nhỏ hơn, trong khi khoảng cách giữa chúng được choán đầy bởi những đại dương rộng lớn. Toàn bộ hệ thống thế giới này được nâng đở bởi một “mặt đất”, hóa ra được duy trì lơ lững trong không gian trống rỗng. Năng lực của “không khí” giữ cho nền móng nổi trong không gian trống rỗng. Thế Thân cho một sự diễn tả chi tiết về đường hướng quỹ đạo của mặt trời và mặt trăng, kích thước của chúng, và khoảng cách của chúng từ mặt đất.

Kích thước những khoảng cách này, và v.v… mâu thuẩn một cách dứt khoát bởi chứng cứ thực nghiệm của vũ trụ học hiện đại. Có một châm ngôn trong triết lý Phật giáo rằng duy trì một giáo thuyết mâu thuẩn với lý trí là phá hoại uy tín của người [bảo thủ] ấy. Do vậy, thật khó để theo vũ trụ học của A Tỳ Đạt Ma một cách chữ nghĩa. Thực tế, ngay cả không có nguồn gốc với khoa học hiện đại, thì cũng có một loạt những mô hình mâu thuẩn về vũ trụ học trong tư tưởng Phật giáo cho chúng ta đặt nghi vấn về chân lý theo chữ nghĩa của bất cứ phiên bản nào. Quan điểm của riêng tôi là Phật giáo phải từ bỏ nhiều khía cạnh của vũ trụ học A Tỳ Đạt Ma.

Phạm vi nào mà chính Thế Thân tin tưởng trong thế giới quan A Tỳ Đạt Ma thì để ngỏ cho nghi vấn. Ngài đang trình bày một cách hệ thống những suy đoán vũ trụ quan đa dạng ở Ấn Độ thời đó. Nói một cách nghiêm túc, sự diễn tả vũ trụ và nguồn gốc của nó – mà những kinh luận Phật giáo liên hệ đến như “vật chứa” – là thứ yếu đối với tầm quan trọng của bản chất và nguồn gốc của chúng sanh “được chứa đựng.” Học giả Tây Tạng Gendun Chophel, người đã du hành một cách rộng rãi khắp lục địa Ấn Độtrong những năm 1930, nhắc nhở rằng sự diễn tả của A Tỳ Đạt Ma về “trái đất” như một lục địa phương nam trình bày một bản đồ cổ điển của trung tâm Ấn Độ. Ông có một tường thuật hấp dẫn những diễn tảvề ba “lục địa” còn lại phù hợp với vị trí địa lý thực tế của Ấn Độ hiện đại như thế nào. Linh cảm này có đúng không hay có phải những vị trí này trong thực tế được đặt tên sau khi “những lục địa” được cho là bao quanh núi Tu Di vẫn là một nghi vấn.



Trong một số kinh điển buổi đầu, những hành tinh được diễn tả như những khối hình cầu lơ lững trong không gian trống trải, không khác khái niệm những hệ thống hành tinh trong vũ trụ học hiện đại. Trong vũ trụ quan Thời Luân, một dãy xác định được đề ra cho sự tiến hóa của những thiên thể trong thiên hà hiện tại. Thứ nhất, những ngôi sao được hình thành, sau đó hệ thống mặt trời đi đến hình thành, và v.v… Những gì hấp dẫn trong cả vũ trụ quan A Tỳ Đạt Ma và Thời Luân là khung cảnh lớn mà chúng cung cấp cho khởi nguyên của vũ trụ. Cả A Tỳ Đạt Ma và Thời Luân cùng cho thuật ngữ kỷ thuật trichilicosm hay ba nghìn đại thiên thế giới (tôi tin rằng tương ứng cho khoảng một tỉ hệ thống thế giới) để chuyên chở cho khái niệm về những hệ thống vũ trụ bao la, và cả hai cho rằng có vô số những hệ thống như vậy. Cho nên theo nguyên tắc, mặc dù không có “bắt đầu” hay “kết thúc” với toàn thể vũ trụ, thì vẫn có một tiến trình thời gian xác định của một sự bắt đầu, đoạn giữa, và kết thúc (sanh, trụ, diệt) trong mối quan hệ đến bất cứ một hệ thống thế giới cá biệt nào.

Sự tiến triển của một hệ thống vũ trụ đặc thù được thấu hiểu trong dạng thức của bốn giai đoạn chính, được biết như bốn thời kỳ của (1) không, (2) thành, (3) trụ, và cuối cùng (4) hoại. Mỗi giai đoạn này được cho là tồn tại một thời gian dài không thể tưởng, hai mươi “trung vô số kiếp[2]”, và chỉ ở trung vô số kiếp cuối cùng của giai đoạn thành mà chúng sanh mới được nói là tiến hóa. Kiếp hoại của một hệ thống vũ trụ có thể được tạo bởi bất cứ ba yếu tố khác hơn là đất và không gian – có tên là: nước, lửa, và không khí. Bất cứ yếu tố nào đưa đến sự hoại của hệ thống thế giới trước sẽ hoạt động như căn bảncho việc tạo thành một vũ trụ mới.

Do thế, trung tâm của vũ trụ học Phật giáo không chỉ là ý tưởng rằng có những hệ thống thế giới phức tạp – nhiều hơn số hạt cát trong sông Hằng, theo một số kinh luận – mà cũng là ý tưởng rằng chúng ở trong một trạng thái liên tục hình thành và mất đi. Điều này có nghĩa rằng vũ trụ không có sự bắt đầu tuyệt đối. Những câu hỏi của ý tưởng này đề ra cho khoa học là căn bản. Chỉ có một big bang hay có nhiều big bang? Có một vũ trụ hay có nhiều, hay thậm chí có vô số? Vũ trụ giới hạn hay vô hạn, như Phật giáo khẳng định? Vũ trụ của chúng ta sẽ mở rộng vô hạn, hay sự mở rộng của nó chậm lại, ngay cả đảo ngược lại, vì thế cuối cùng nó sẽ kết thúc trong một cuộc khủng hoảng lớn? Có phải vũ trụ của chúng ta là bộ phận của một vũ trụ tái sinh không ngừng? Các nhà khoa học đang tranh luận những vấn đề này một cách mạnh liệt. Theo quan điểm của Phật giáo, có câu hỏi xa hơn này. Ngay cả nếu chúng ta cho rằng chỉ có một vụ nổ vũ trụ, hay một big bang, thì chúng ta vẫn có thể hỏi, Có phải đây là nguồn gốc của toàn thể vũ trụ hay có phải điều này chỉ chứng tỏ nguồn gốc hệ thống vũ trụ đặc thù của chúng ta mà thôi? Thế nên câu hỏi then chốt là có phải big bang – điều theo vũ trụ học hiện đại, là sự khởi đầu hệ thống thế giới hiện tại của chúng ta – thật sự là khởi đầu của mọi thứ?



Theo quan điểm Phật giáo, ý tưởng rằng có một sự bắt đầu xác định là khả nghi cao độ. Nếu có một sự khởi đầu chắc chắn, nói một cách logic, điều này để lại chỉ hai lựa chọn. Một là hữu thần, vốn đề xướngrằng vũ trụ được tạo thành bởi một trí thông minh hoàn toàn siêu việt, và do thế ở ngoài luật nhân quả. Thứ hai là vũ trụ đi đến hình thành hoàn toàn không có nguyên nhân gì cả. Phật giáo phủ nhận cả hai lựa chọn này. Nếu vũ trụ được hình thành bởi một trí năng tiên quyết, thì những câu hỏi về vị thế bản thể học của một trí năng như vậy và loại thực tại nào mà nó là, vẫn tồn tại.

Nhà đại luận lý và nhận thức luận Pháp Xứng (thế kỷ thứ 7 Dương lịch) đã trình bày sự phê bình thuyết hữu thần theo tiêu chuẩn Phật giáo một cách thuyết phục. Trong tác phẩm cổ điển Giải Thích Nhận Thức có Giá Trị[3] của ngài, Pháp Xứng đã phê bình một số “chứng minh” ảnh hưởng nhất cho sự tồn tại của đấng Tạo Hóa được hình thành bởi một số trường phái triết lý hữu thần Ấn Độ. Vắn tắt, những lập luận cho thuyết hữu thần hoạt động như sau: Những thế giới của cả kinh nghiệm nội tại và vật chấtbên ngoài được tạo ra bởi một trí năng tiên quyết, (a) bởi vì, như những dụng cụ thợ mộc, chúng vận hành trong một trình tự liên tục, của tính trật tự; (b) giống như những đồ đạc tạo tác chẳng hạn những chiếc chậu, chúng có hình thể; và (c) giống như những vật thể sử dụng hàng ngày thì chúng sở hữuhiệu lực nhân quả.

Những lập luận này, tôi nghĩ, có một sự giống nhau với lập luận hữu thần trong truyền thống triết họcphương Tây được biết như Thiết kế luận ( lập luận xuất phát từ ý định[4]-Lập luận về sự tồn tại của một đấng tạo hóa trí năng). Sự lập luận này lấy trật tự ở mức độ cao cấp mà chúng ta nhận thức trong thiên nhiên như chứng cứ của một trí năng vốn phải mang nó thành hiện hữu. Giống như chúng ta không thể nhận thức về một đồng hồ đeo tay mà không có người làm ra đồng hồ, vì thế thật khó khăn để nhận thức về một trật tự vũ trụ mà không có một trí năng ở phía sau nó.

Những trường phái triết lý Ấn Độ cổ truyền ủng hộ chủ trương một sự thấu hiểu hữu thần về nguồn gốc của vũ trụ cũng đa dạng như những đối tác của họ ở phương Tây. Một trong những trường phái sớm nhất là một nhánh của phái Số Luận, vốn giữ quan điểm rằng vũ trụ đi đến hình thành qua sự tác độngsáng tạo lẫn nhau về những gì họ gọi là “thể chất nguyên sơ”, tự tánh (prakit), và Tự Tại (Ishvara), hay Thượng Đế. Đây là một thuyết siêu hình tinh vi đặt nền tảng trên luật nhân quả tự nhiên, giải thích vai trò của Thần Thánh trong dạng thức của những đặc trưng huyền bí hơn của thực tại, chẳng hạn như sự tạo hóa, mục tiêu của sự tồn tại, và những vấn đề như vậy.



Điểm then chốt trong sự phê bình của Pháp Xứng liên hệ đến việc chứng minh một sự mâu thuẩn căn bản mà ngài cảm thấy trong lập trường hữu thần (có sự tạo hóa). Ngài cho thấy rằng chính nổ lực giải thích cho nguồn gốc của vũ trụ trong dạng thức hữu thần được động viên bởi nguyên lý nhân quả, tuy thế - trong sự phân tích sau cùng – thuyết hữu thần bị buộc phủ nhận nguyên lý này. Bằng việc đặt một sự khởi đầu tuyệt đối với chuỗi nhân quả, những nhà hữu thần đang hàm ý rằng có thể có điều gì đó, tối thiểu là một nhân, mà tự nó ở ngoài luật nhân quả. Sự khởi đầu này, vốn có hiệu quả với nguyên nhânđầu tiên, tự nó sẽ là sẳn có. Nguyên nhân đầu tiên sẽ phải là một yếu tố căn bản vĩnh cữu và tuyệt đối. Nếu là như vậy, chúng ta giải thích cho năng lực sản sinh mọi sự vật và sự kiện vốn là tạm thời như thế nào? Pháp Xứng lập luận rằng không có hiệu ứng nhân quả nào có thể phù hợp với một yếu tố cơ bản thường hằng như vậy. Về bản chất, ngài đang nói rằng sự thừa nhận một nguyên nhân đầu tiên sẽ phải là một giả thuyết siêu hình tùy tiện. Nó không thể chứng minh được.

Vô Trước, sáng tác trong thế kỷ thứ 4, đã hiểu những nguồn gốc của vũ trụ trong dạng thức của thuyết duyên khởi. Thuyết này trình bày rõ rằng tất cả mọi thứ sinh khởi và đi đến chấm dứt trong sự lệ thuộctrên những nguyên nhân và điều kiện (nhân và duyên). Vô Trước nhận diện ba điều kiện then chốt chi phối nguồn gốc lệ thuộc hay duyên khởi. Thứ nhất là điều kiện của sự vắng mặt một trí năng có trước. Vô Trước phủ nhận khả năng vũ trụ là sự tạo hóa của một trí năng có trước, lập luận rằng nếu người ta thừa nhận một trí năng như vậy, thì nó sẽ là hoàn toàn vượt khỏi nhân và quả. Một sự tồn tại tuyệt đối là vĩnh cửu, siêu việt, và vượt quá sự phạm vi của luật nhân quả sẽ không có khả năng để tương tác với nhân và quả, và vì thế không thể bắt đầu thứ gì đó và cũng không thể chấm dứt nó. Thứ hai là điều kiệnvô thường, mà nó quyết định rằng mỗi nguyên nhân và điều kiện cho phát sinh thế giới duyên khởi tự chính chúng là vô thường và đối tượng để thay đổi. Thứ ba là điều kiện tiềm năng. Nguyên tắc này liên hệ đến sự kiện rằng điều gì đó không thể được sản sinh từ chính bất cứ thứ gì khác. Đúng hơn, một tập họp đặc thù của những nguyên nhân và điều kiện để phát sinh một tập họp những hệ quả hay các hậu quả đặc thù, phải có một loại quan hệ bản chất giữa chúng. Vô Trước quả quyết rằng nguồn gốc của vũ trụ phải được hiểu trong dạng thức của nguyên lý về một chuỗi vô tận của nhân quả mà không có trí năng siêu việt hay tiên khởi.



Phật giáo và khoa học đều căn bản không sẳn lòng đưa ra một bản chất siêu việt như nguồn gốc của mọi thứ. Điều này hầu như không đáng ngạc nhiên cho rằng những truyền thống khảo sát này căn bảnlà vô thần (không có đấng tạo hóa) trong xu hướng tư tưởng triết lý của họ. Tuy nhiên, nếu về một mặt, thuyết big bang được xem như sự khởi đầu tuyệt đối, vốn hàm ý rằng vũ trụ có một thời điểm bắt đầu xác định, thì ngoại trừ người ta từ chối xét đoán vượt khỏi vụ nổ vũ trụ này, bằng không thì những nhà vũ trụ học phải chấp nhận dù muốn dù không một loại nguyên lý siêu việt nào đó như nguyên nhân của vũ trụ. Điều này có thể không giống như Thượng Đế mà những người hữu thần (có đấng tạo hóa) đưa ra; tuy vậy, trong vai trò nguyên sơ như sự tạo hóa của vũ trụ, thì nguyên lý siêu việt này sẽ là một loại thần thánh.

Về mặt khác, nếu (như một số nhà khoa học đã cho rằng) big bang là một điểm khời đầu kém quan trọng hơn một điểm dao động nhiệt động lực học, thì có chỗ cho một sự thấu hiểu tế nhị và phức tạphơn cho sự kiện vũ trụ này. Tôi nghe nói rằng nhiều nhà khoa học cảm thấy sự giám định vẫn tiếp tục về vấn đề có phải big bang là sự khởi đầu tuyệt đối của mọi thứ không. Chứng cứ thực nghiệm kết luậnduy nhất, như tôi nghe nói, là môi trường vũ trụ của chúng ta dường như đã tiến hóa từ một trạng tháinóng, đặc một cách dữ dội. Cho đến khi một chứng cứ đáng tin cậy hơn có thể được tìm ra cho những khía cạnh đa dạng của thuyết big bang, và những tuệ giác then chốt của vật lý lượng tử và thuyết tương đối hoán toàn nhất trí, thì nhiều câu hỏi vũ trụ phát sinh ở đây sẽ vẫn tồn tại trong thế giới siêu hình, chứ không phải khoa học thực nghiệm.



Theo vũ trụ quan Phật giáo, thế giới được cấu thành bởi năm yếu tố: yếu tố hổ trợ là không gian, và bốn yếu tố căn bản là đất, nước, lửa, và không khí. Không gian cho phép sự tồn tại và hoạt động của tất cả những yếu tố khác. Hệ thống Thời Luân trình bày không gian không như hoàn toàn không có gì cả, nhưng như một môi trường của “những hạt không” hay “những hạt không gian” (vi trần), vốn được nghĩ như những hạt “vật chất” cực kỳ vi tế. Yếu tố không gian này là căn bản của sự tiến hóa và sự tan rã của bốn yếu tố, những thứ được sinh ra từ nó và hấp thụ ngược lại vào trong nó. Tiến trình tan rã xảy ra trong trình tự này: đất, nước, lửa, và không khí. Tiến trình phát sinh xảy ra theo trình tự này: không khí, lửa, nước, và đất.

Vô Trước xác định rằng những yếu tố căn bản này, là những thứ được ngài diễn tả như “bốn yếu tố lớn” hay “tứ đại”, không nên được hiểu trong dạng thức của vật chất theo ý nghĩa tuyệt đối. Ngài giải thíchmột sự phân biệt giữa “bốn yếu tố lớn”, vốn giống như tiềm năng hơn, và bốn yếu tố là những thành phần của vật chất tổng hợp hay hợp chất. Có lẽ bốn yếu tố trong một đối tượng vật chất có lẽ được hiểu một cách tốt hơn như rắn chắc (đất), chất lỏng (nước), sức nóng (lửa), và năng lượng động lực (không khí). Bốn yếu tố được phát sinh từ cấp độ vi tế đến thô phù, từ nhân tiềm ẩn của những hạt không, và chúng tan rã từ cấp độ thô phù đến vi tế và trở lại vào trong những hạt không của không gian. Không gian, với những hạt không của nó, là căn bản cho toàn bộ tiến trình. Thuật ngữ hạt (particle) có lẽ không phù hợp khi liên hệ đến những hiện tượng này, vì nó đã hàm ý hình thành những thực tế vật chất, Thật đáng tiếc là chỉ có diễn tả chút ít trong văn bản giúp để miêu tả những hạt không gian này xa hơn.

Vũ trụ học Phật giáo thiết lập một vòng tuần hoàn của vũ trụ theo cách sau: thứ nhất có một giai đoạn hình thành (thành), tiếp theo một giai đoạn khi vũ trụ tồn tại (trụ), sau đó một giai đoạn khi nó bị tàn hoại (hoại), được tiếp theo bởi một giai đoạn trống không (không) trước khi hình thành một vũ trụ mới. Trải qua bốn thời kỳ, giai đoạn trống không, những hạt không gian tồn tại, và chính là từ những hạt này mà tất cả vật chất trong một vũ trụ mới được hình thành. Chính là trong những hạt không gian này mà chúng ta tìm thấy một nguyên nhân căn bản của toàn bộ thế giới vật chất. Nếu chúng ta mong muốn diễn tả sự hình thành vũ trụ và những thân thể vật chất của chúng sanh, thì chúng ta cần phân tích cung cách những yếu tố khác nhau cấu thành để cho vũ trụ ấy có thể hình thành từ những hạt không giannày.

Chính trên căn bản tiềm năng đặc thù của những hạt đó mà cấu trúc của vũ trụ và mọi thứ trong nó – những hành tinh, những vì sao, chúng sanh, chẳng hạn như con người và thú vật – đã hình thành. Nếu chúng ta đi ngược lại nguyên nhân cơ bản của những đối tượng vật chất của thế giới, thì cuối cùngchúng ta đến những hạt không gian. Chúng có trước big bang (là thứ để nói cho bất cứ một sự bắt đầu mới nào) và quả thật là phần còn sót của vũ trụ trước đó vốn đã bị tan hoại. Tôi nghe nói rằng một số nhà vũ trụ học ủng hộ ý tưởng rằng vũ trụ của chúng ta đã sinh khởi như một sự dao động thất thường từ điều được gọi là chân không lượng tử (quantum vacuum). Đối với tôi ý tưởng này âm hưởng giáo lýThời Luân về những hạt không gian (vi trần).

Theo quan điểm của vũ trụ học hiện đại, việc thấu hiểu nguồn gốc của vũ trụ trong thời gian vài giây đầu tiên đặt ra một sự thử thách gần như không thể vượt qua. Một phần của vấn đề nằm trong sự kiện mà bốn năng lực tự nhiên được biết – lực hấp dẫn và điện từ học, và những năng lực mạnh và yếu của hạt nhân nguyên tử - không hoạt động vào thời điểm này. Chúng tham dự sau đó, khi mật độ và nhiệt độ của giai đoạn đầu tiên đã giảm sút một cách đáng kể để cho các hạt căn bản của vật chất, chẳng hạn hydrogen và helium bắt đầu hình thành. Sự khởi đầu chính xác của big bang là điều được gọi là “tính phi thường”. Ở đây, tất cả những phương trình toán học và quy luật vật lý bị phá vở. Những số lượng thông thường đo lường được, chẳng hạn mật độ và nhiệt độ, trở thành bất định vào thời điểm như thế.

Vì sự nghiên cứu của khoa học về nguồn gốc của vũ trụ đòi hỏi việc áp dụng những phương trình toán học và sự thừa nhận giá trị các quy luật vật lý, dường như thế, nếu những phương trình này và những quy luật bị phá vở, thì chúng ta phải tự hỏi mình là bao giờ chúng ta có thể có một sự thấu hiểu hoàn toàn về một vài giây đầu tiên của big bang. Những người bạn khoa học của tôi đã nói với tôi rằng những tâm thức tuyệt vời nhất đang dấn thân trong việc khám phá câu chuyện về những giai đoạn đầu tiên trong việc hình thành vũ trụ chúng ta. Tôi nghe nói rằng một số tin tưởng giải pháp mà với nó đang hiện hữu như một loạt những vấn đề không vượt qua được phải ở trong việc tìm kiếm một đại lý thuyết hợp nhất, là thứ sẽ giúp để hợp thành một thể thống nhất tất cả những quy luật được biết của vật lý. Có lẽ nó sẽ mang hai khuôn mẫu của vật lý hiện đại dường như mâu thuẩn với nhau kết hợp lại – thuyết tương đối và cơ học lượng tử. Tôi nghe nói rằng những thừa nhận hiển nhiên về hai lý thuyết này cho đến bây giờ chứng tỏ rằng không thể giải quyết ổn thỏa. Thuyết tương đối cho rằng sự tính toán chính xác về hoàn cảnh chính xác của vũ trụ vào bất cứ thời điểm nào là có thể nếu chúng ta có thông tin đầy đủ. Cơ học lượng tử trái lại thừa nhận rằng thế giới của những hạt cực nhỏ này có thể được hiểu chỉ trong điều kiện xác suất, bởi vì ở cấp độ cơ bản thế giới bao gồm một số lượng lớn hay số lượng đặc biệt của vật chất (tên vật lý lượng tử là từ nguồn gốc này), vốn là chủ thể đối với nguyên lý không chắc chắn. Những lý thuyết với các danh xưng kỳ lạ như thuyết siêu dây (superstring theory – thuyết siêu huyền[5])hay thuyết M đang được đề xuất như những ứng viên cho đại lý thuyết hợp nhất.

Có một thử thách xa hơn với chính việc làm khó khăn mong có kiến thức trọn vẹn về nguồn gốc rõ ràngcủa vũ trụ. Ở cấp độ căn bản, cơ học lượng tử nói với chúng ta rằng thật không thể đoán trước một cách chính xác vấn đề một hạt hoạt động như thế nào trong một hoàn cảnh nào đó. Do thế, người ta có thể thực hiện những tiên đoán về sự hoạt động của những hạt chỉ trên căn bản xác suất. Nếu điều này là như vậy, bất chấp vấn đề năng lực công thức toán học của chúng ta có thể tài giỏi như thế nào, nhưng vì kiến thức của chúng ta về những điều kiện ban đầu của một hiện tượng hay một sự kiện nào đó luôn luôn không hoàn toàn, cho nên chúng ta không thể thấu hiểu hoàn toàn vấn đề toàn bộ câu chuyện còn lại phơi bày như thế nào. Một cách tốt nhất, chúng ta có thể thực hiện những sự ước lượngđại khái, nhưng chúng ta có thể không bao giờ có được một sự diễn tả hoàn toàn ngay cả một hạt nguyên tử độc nhất, thì nói chi đến toàn bộ vũ trụ.



Trong thế giới quan Phật giáo, có một sự thừa nhận về thực tế không thể đạt được tri thức hoàn toàn về nguồn gốc của vũ trụ. Một văn kiện Đại thừa tên là Kinh Hoa Nghiêm chứa đựng một thảo luận dài về những hệ thống thế giới vô tận và những giới hạn của tri thức loài người. Một phần được gọi là “Không thể tính đếm” (phẩm A Tăng Kỳ) cung ứng một chuỗi tính toán của những con số cực kỳ cao, lên đến tột bậc trong dạng thức chẳng hạn như “không thể tính đếm”, “không đo lường được”, “không bờ bến”, và “không thể so sánh được”. Con số cao nhất là “bình phương vô kể”, được nói là hàm số của tự nó nhân lên “không kể xiết”! Một người bạn đã nói với tôi rằng con số nay có thể được viết là 1059. Hoa Nghiêmtiếp tục với những con số cực kỳ khó khăn để tưởng tượng với những hệ thống vũ trụ; nó đề xuất rằng nếu những thế giới “hằng hà sa số” được rút gọn thành những nguyên tử và mỗi nguyên tử chứa đựng “vô số” thế giới, thì những con số về những hệ thống thế giới sẽ vẫn không thể đếm hết.

Tương tự thế, trong những câu thi kệ tuyệt vời, kinh Hoa Nghiêm so sánh thực tại khó hiểu và sự nối kết tương liên một cách sâu sắc về thế giới đến một mạng lưới vô tận của châu báu được gọi là “Đế châu hay lưới châu báu của trời Đế Thích”, là thứ có thể vươn ra đến không gian vô tận. Ở tại mỗi nút thắt trên lưới là một viên pha lê, vốn nối kết với tất cả những viên pha lê khác và phản chiếu trong chính nó tất cả những viên pha lê khác. Trên một mạng lưới như vậy, không có viên pha lê nào ở trung tâm hay ngoại biên. Mỗi một viên pha lê là ở tại trung tâm và trong nó phản chiếu tất cả những viên pha lê khác trên lưới. Cùng lúc, nó là ở ngoại biên mà trong đó nó tự phản chiếu trong tất cả những viên pha lêkhác. Đưa ra sự nối kết tương liên sâu sắc của mọi thứ trong vũ trụ, thì thật không thể có một kiến thứchoàn toàn của ngay cả một nguyên tử đơn lẻ ngoại trừ người ấy là toàn tri toàn giác (omniscient). Để biết ngay cả một một nguyên tử đơn lẻ trọn vẹn hàm ý sự hiểu biết về những mối quan hệ của nó với tất cả những hiện tượng khác trong vũ trụ vô tận.

Luận điển Thời Luân cho rằng, trước sự hình thành của nó, bất cứ một vũ trụ nào cũng duy trì trong trạng thái rỗng không, nơi mà tất cả những yếu tố vật chất của nó tồn tại trong hình thức tiềm năng như “những hạt không gian.” Vào một thời điểm nào đó, khi các xu hướng nghiệp của chúng sanh, những kẻ có khả năng tiến hóa trong vũ trụ đặc thù này chín muồi, thì “những hạt không khí” bắt đầu tập họp lại với nhau, tạo thành một cơn gió vũ trụ. Tiếp theo “những hạt lửa” tập họp cùng cách, tạo thành những sự tích “nhiệt” mạnh mẽ di chuyển qua không khí. Tiếp theo điều này, “những hạt nước” tập họp để hình thành những cơn mưa xối xả kèm theo ánh sáng. Cuối cùng, “những hạt đất” tập họp và cùng với những yếu tố khác, bắt đầu tạo thành hình thể rắn. Yếu tố thứ 5, “không gian” được cho là lan tràn khắp tất cả những yếu tố khác như một năng lực nội tại và vì thế không sở hữu một sự tồn tại riêng biệt. Trải qua một tiến trình thời gian lâu dài, 5 yếu tố này mở rộng để hình thành vũ trụ vật chất như chúng ta đi đến biết và trải nghiệm nó.

Cho đến giờ chúng ta đã đang nói về nguồn gốc của vũ trụ mặc dù nó chỉ gồm có một hổn hợp vật chấtvà năng lượng vô tri giác – sự sinh thành của những thiên hà, những hố đen, các vì sao, các hành tinh, và vô số những hạt hạ nguyên tử. Tuy nhiên, theo quan điểm Phật giáo, có một vấn đề quan trọng về vai trò của [tâm] thức. Thí dụ, vốn có trong cả vũ trụ quan Thời Luân và A tỳ đạt ma là ý tưởng rằng sự hình thành của một hệ thống vũ trụ đặc thù nào là được nối kết một cách mật thiết xu hướng nghiệp của chúng sanh. Trong ngôn ngữ trần tục, những vũ trụ học này của Phật giáo có thể được thấy như việc đề xuất rằng hành tinh của chúng ta đã tiến triển trong một cách mà nó có thể hổ trợ sự tiến hóa của chúng sanh trong những hình thể của vô số chủng loại tồn tại ngày nay trên trái đất.

Bằng việc viện dẫn nghiệp ở đây, tôi không đang cho rằng theo Phật giáo, mọi thứ là một sự thể hiện của nghiệp. Chúng ta phải phân biệt giữa quá trình hoạt động của quy luật tự nhiên về nhân quả, mà qua đó một khi một chuỗi những điều kiện nào đó được đặt trong sự vận hành thì chúng sẽ có một chuỗi nhưng hiệu quả nào đó, và luật nghiệp báo, mà qua đó một hành vi có ý sẽ thu hoạch những kết quả nào đó. Vì thế, thí dụ, nếu lửa trại bị bỏ quên trong rừng và gặp những nhánh lá khô, sẽ đưa đến cháy rừng, sự kiện là một khi cây cối bị bốc lửa chúng cháy, trở thành than và khói, đơn giản là sự hoạt độngcủa luật nhân quả, là bản chất của lửa và những vật chất đang cháy. Không có nghiệp liên hệ với một loạt những kiện này. Nhưng một con người chọn đốt lửa trại và quên dập tắt nó – làm bắt đầu một chuỗi những sự kiện - ở đây nghiệp quả có liên hệ.



Quan điểm của riêng tôi là toàn bộ tiến trình của việc phơi bày một hệ thống vũ trụ là vấn đề của quy luật tự nhiên về nhân quả. Tôi hình dung nghiệp đi vào trong khung cảnh ở hai điểm. Khi vũ trụ đã tiến hóa đến một giai đoạn nơi mà nó có thể hổ trợ cho sự sống của chúng sanh, số phận của nó trở thànhbị liên lụy với nghiệp của chúng sanh, những kẻ sống trong nó. Khó khăn hơn có lẽ là sự xen vào đầu tiên của nghiệp, là thứ có hiệu quả với sự trưởng thành tiềm năng của nghiệp với chúng sanh là những kẻ sẽ chiếm cứ vũ trụ ấy, vốn thiết lập trong sự vận hành đi đến sự hiện hữu của nó.

Năng lực để thấy rõ một cách chính xác nơi mà nghiệp giao nhau với quy luật nhân quả tự nhiên được nói một cách truyền thống là chỉ ở trong tâm toàn tri toàn giác của Đức Phật. Vấn đề là để làm hài hòa hai bộ phận của sự giải thích như thế nào – thứ nhất là bất cứ hệ thống vũ trụ nào và chúng sanh trong nó là sinh khởi từ nghiệp, và thứ hai, rằng có một tiến trình tự nhiên của nhân và quả, vốn chỉ là bày ra. Những kinh luận ban sơ của Đạo Phật cho rằng vật chất về một mặt và [tâm] thức về mặt kia liên hệ phù hợp với tiến trình nhân và quả của chúng, là thứ làm cho sinh khởi một loạt những chức năng và đặc tính mới trong cả hai trường hợp. Trên sự thấu hiểu cơ sở bản chất, những mối quan hệ nhân quả, và các chức năng của chúng, thế thì người ta có thể tìm thấy những kết luận – cho cả vật chất và [tâm] thức – làm phát sinh kiến thức. Những giai đoạn này được hệ thống hóa như “4 nguyên lý”: nguyên lý bản chất, nguyên lý lệ thuộc, nguyên lý chức năng, và nguyên lý chứng cứ.

Câu hỏi rồi thì là, Có phải bốn nguyên lý này (vốn cấu thành một cách hiệu quả những quy luật của tự nhiên theo triết lý Phật giáo) tự chúng là độc lập với nghiệp, hay ngay cả sự tồn tại của chúng thì cũng liên kết với nghiệp của chúng sanh sống trong vũ trụ mà trong ấy chúng hoạt động? Vấn đề này tương ứng với những câu hỏi được nêu lên trong mối quan hệ với vị thế của những quy luật vật lý. Có thể có không một loạt những quy luật vật lý hoàn toàn khác biệt trong một vũ trụ khác, hay có phải những quy luật vật lý như chúng ta thấu hiểu chúng cũng đúng trong tất cả những vũ trụ có thể có? Nếu câu trả lờilà trong một loạt những quy luật khác biệt có thể hoạt động trong một hệ thống vũ trụ khác, thì điều này cho thấy rằng (theo một quan điểm của Đạo Phật) ngay cả những quy luật vật lý cũng bị vướng mắc với nghiệp của những chúng sanh sẽ xuất hiện trong vũ trụ ấy.

Những lý thuyết vũ trụ của Phật giáo hình dung thế nào sự phân biệt mối quan hệ giữa những thiên hướng nghiệp của chúng sanh và sự tiến hóa của vũ trụ vật chất? Cơ chế nào mà qua nó nghiệp nối kết với sự tiến hóa của hệ thống vật chất? Trên tổng thể, luận A Tỳ Đạt Ma của Phật giáo không nói nhiềuvề những câu hỏi này, ngoại trừ quan điểm tổng quát rằng môi trường nơi một chúng sanh tồn tại là “một hệ quả môi trường” của nghiệp tập thể của chúng sanh cùng và chia sẻ với vô số những chúng sanh khác. Tuy nhiên, trong giáo lý Thời Luân, thì những tương quan gần gũi được xác lập giữa vũ trụvà thân thể của những chúng sanh sống trong nó, giữa những yếu tố tự nhiên trong vũ trụ vật chấtngoại tại và những yếu tố bên trong thân thể của những chúng sanh, và giữa những giai đoạn trong hành trình của những thiên thể và những thay đổi trong thân thể của các chúng sanh. Giáo lý Thời Luântrình bày một khung cảnh chi tiết của những tương quan này và những biểu hiện của chúng trong kinh nghiệm của một tạo vật có tri giác. Thí dụ, Thời Luân nói về vấn đề nhật thực và nguyệt thực có thể ảnh hưởng thân thể của một chúng sanh qua sự thay đổi những mô thức trong hơi thở. Thật sẽ rất hấp dẫnđể đưa ra một số vấn đề này, là những thứ thực nghiệm, đến sự thẩm tra của khoa học.

Thậm chí với tất cả những lý thuyết khoa học sâu sắc này về nguồn gốc của vũ trụ, tôi còn những câu hỏi này, những câu hỏi nghiêm túc nhất: Điều gì tồn tại trước big bang? Big bang đến từ chốn nào? Thứ gì tạo ra nó? Tại sao hành tinh của chúng ta tiến triển để hổ trợ sự sống? Mối quan hệ giữa vũ trụ và những tạo vật đã tiến hóa trong nó là gì? Các nhà khoa học có thể gạt bỏ những câu hỏi này như vô nghĩa, hay họ có thể thừa nhận tầm quan trọng của chúng nhưng không chấp nhận chúng thuộc phạm vi nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên, cả hai sự tiếp cận này sẽ có hậu quả về việc hiểu biết những giới hạn rõ ràng của tri thức khoa học về nguồn gốc vũ trụ của chúng ta. Tôi không lệ thuộc với những cưỡng ép của chuyên môn hay lý tưởng về một thế giới quan vật chất triệt để. Và trong Phật giáo, vũ trụđược thấy như vô tận và vô thỉ, cho nên tôi hoàn toàn vui mừng để mạo hiểm vượt khỏi big bang và suy xét về những trạng thái có thể về các tình huống trước nó.

Ẩn Tâm Lộ

Dịch xong: Wednesday, September 6, 2017

Hiệu đính: Tuesday, September 12, 2017




[1]Charvaka: Triết học duy vật khoái lạc


[2] A tăng kỳ kiếp có đại, trung và tiểu a tăng kỳ kiếp; hay đại kiếp, trung kiếp, tiểu kiếp: Tiểu-kiếp, trung-kiếp, đại-kiếp: Cứ một kiếp-tăng, kiếp-giảm là một tiểu-kiếp. Như thế, một tiểu-kiếp có 16.678.000 năm. Hai mươi tiểu-kiếp là một trung-kiếp. Trung-kiếp có 333.560.000 năm. Bốn trung-kiếp hợp thành một đại-kiếp. Đại-kiếp có 1.334.240.000 năm. Thế thì một đại-kiếp có 80 tiểu-kiếp. Bốn trung-kiếp trong đại-kiếp là: trung-kiếp-thành, trung-kiếp-trụ, trung-kiếp-hoại và trung-kiếp-không. Tam-thiên-thế-giới sanh diệt theo tuần tự thành, trụ, hoại, không của đại-kiếp. Dưới đây, xin kể lược qua bốn giai đoạn ấy.
PHẬT HỌC TINH YẾU ( HT THÍCH THIỀN TÂM)


[3] Exposition of Valid Cognition: Giải Thích Nhận Thức Có Giá Trị/ Lượng Quyết Định Luận, theo Làng Đậu


[4] Argument from design/ intelligent design argument/ Tranh luận về sự tồn tại của Thượng Đế, hay về một đấng tạo hóa trí năng./ Thiết kế luận, theo Làng Đậu


[5] thuyết siêu dây (superstring theory – thuyết siêu huyền) lại có thuyết dây (string theory – thuyết huyền)

Phần nhận xét hiển thị trên trang