Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 13 tháng 9, 2017

Người Việt Nam đầu tiên đặt chân đến châu Mỹ by anle20


Nguyễn Hiến LêCon đường Thiên lý

Từ một người đi tìm vàng ở California, ông đã trở thành ký giả người Việt đầu tiên trên đất Mỹ. Ông là Trần Trọng Khiêm, người làng Xuân Lũng, phủ Lâm Thao, Phú Thọ.
Trần Trọng Khiêm sinh năm Tân Tỵ (1821), tức năm Minh Mạng thứ 2, là con của một gia đình thế gia vọng tộc ở phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ nhưng trong người lúc nào cũng sẵn máu phiêu lưu. Năm ông 21 tuổi, vợ ông bị một viên chánh tổng âm mưu làm nhục rồi giết hại. Sau khi giết tên chánh tổng báo thù cho vợ, ông xuống Phố Hiến (Hưng Yên), xin làm việc trong một tàu buôn ngoại quốc và bắt đầu bôn ba khắp năm châu bốn bể.
Suốt từ năm 1842 đến 1854, Trần Trọng Khiêm đã đi qua nhiều vùng đất từ Hương Cảng đến Anh Cát Lợi, Hoà Lan, Pháp Lan Tây. Do trí tuệ sắc sảo, đến đâu ông cũng học được ngoại ngữ của các nước đó. Năm 1849, ông đặt chân đến thành phố New Orleans (Hoa Kỳ), bắt đầu chặng đường 4 năm phiêu bạt ở Mỹ cho đến khi tìm đường về cố hương.
Tuy không phải sứ giả, nhưng Lê Kim đến Hoa Kỳ trước Bùi Viện 20năm
Sau khi đến Mỹ, ông cải trang thành một người Trung Hoa tên là Lê Kim rồi gia nhập đoàn người đi tìm vàng ở miền Tây Hoa Kỳ. Sau đó, ông trở về thành phố Xanh–Phát–Lan–Xích–Cố (phiên âm của San Francisco) và làm kí giả cho tờ Daily News 2 năm. Cuộc phiêu lưu của Trần Trọng Khiêm (tức Lê Kim) trên đất Mỹ đã được nhiều tài liệu ghi lại.
Trong cuốn sách La Ruée Vers L’or của tác giả Rene Lefebre (NXB Dumas, Lyon, 1937) có kể về con đường tìm vàng của Lê Kim và những người đa quốc tịch Gia Nã Đại, Anh, Pháp, Hòa Lan, Mễ Tây Cơ… Họ gặp nhau ở thành phố New Orleans thuộc tiểu bang Louisiana vào giữa thế kỷ 19 rồi cùng hợp thành một đoàn đi sang miền Viễn Tây tìm vàng.
Thời đó, “Wild West” (miền Tây hoang dã) là từ ngữ người Mỹ dùng để chỉ bang California, nơi mà cuộc sống luôn bị rình rập bởi thú dữ, núi lửa và động đất. Trong gần 2 năm, Lê Kim đã sống cuộc đời của một cao bồi miền Tây thực thụ. Ông đã tham gia đoàn đào vàng do một người ưa mạo hiểm người Canada tên là Mark lập nên.
Để tham gia đoàn người này, tất cả các thành viên phải góp công của và tiền bạc. Lê Kim đã góp 200 Mỹ kim vào năm 1849 để mua lương thực và chuẩn bị lên đường. Đoàn có 60 người nhưng Lê Kim đặc biệt được thủ lĩnh Mark yêu quý và tin tưởng. Do biết rất nhiều ngoại ngữ, ông được ủy nhiệm làm liên lạc viên cho thủ lĩnh Mark và thông ngôn các thứ tiếng trong đoàn gồm tiếng Hòa Lan, tiếng Trung, tiếng Pháp. Ông cũng thường xuyên nói với mọi người rằng ông biết một thứ tiếng nữa là tiếng Việt Nam nhưng không cần dùng đến. Lê Kim nói ông không phải người Hoa nhưng đất nước nằm ngay cạnh nước Tàu.
Ông và những người tìm vàng đã vượt sông Nebraska, qua núi Rocky, đi về Laramie, Salt Lake City, vừa đi vừa hát bài ca rất nổi tiếng thời đó là “Oh! Suzannah” (Oh! My Suzannah! Đừng khóc nữa em! Anh đi Cali đào vàng. Đợi anh hai năm, anh sẽ trở về. Mình cùng nhau cất ngôi nhà hạnh phúc). Họ thường xuyên đối mặt với hiểm họa đói khát và sự tấn công của người da đỏ để đến California tìm vàng. Sốt rét và rắn độc đã cướp đi mất quá nửa số thành viên trong đoàn.
Ở Hoa Kỳ, Lê Kim vừa tìm vàng, vừa làm nhà báo và được một nhà văn viết trong cuốn “Đổ xô đi tìm vàng”.
Trong đoàn, Lê Kim nổi tiếng là người lịch thiệp, cư xử đàng hoàng, tử tế nên rất được kính trọng nhưng đó đúng là một chuyến đi mạo hiểm, khiến già nửa thành viên trong đoàn chết vì vất vả, đói khát và nguy hiểm dọc đường đi.
Sau khi tích trữ được một chút vàng làm vốn liếng, Lê Kim quay trở lại San Francisco. Vào giữa thế kỷ 19, nơi đây còn là một thị trấn đầy bụi bặm, trộm cướp. Là người học rộng, hiểu nhiều, lại thông thạo nhiều ngoại ngữ, Lê Kim nhanh chóng xin được công việc chạy tin tự do cho nhiều tờ báo như tờ Alta California, Morning Post rồi làm biên tập cho tờ nhật báo Daily Evening.
Đề tài mà Lê Kim thường viết là về cuộc sống đầy hiểm họa và cay đắng của những người khai hoang ở bắc California và quanh khu vực San Francisco, trong đó ông hướng sự thương cảm sâu sắc đến những người da vàng mà thời đó vẫn là nạn nhân của sự phân biệt chủng tộc. Lê Kim cho rằng các mỏ vàng đã khiến cuộc sống ở đây trở nên méo mó và sa đọa không gì cứu vãn được.
Nhiều bài báo của ông đăng trên tờ Daily Evening hiện vẫn còn lưu giữ ở thư viện Đại học California. Đặc biệt, trong số báo ra ngày 8.11.1853, có một bài báo đã kể chi tiết về cuộc gặp giữa Lê Kim và vị tướng Mỹ John A. Sutter. Tướng Sutter vốn trước là người có công khai phá thị trấn San Francisco. Khi Lê Kim mới đến đây, ông đã được tướng Sutter giúp đỡ rất nhiều. Sau khi bị lật đổ, Sutter đã bị tâm thần và sống lang thang ở khắp các bến tàu để xin ăn, bạn bè thân thiết đều không đoái hoài đến.
Khi tình cờ gặp lại, Lê Kim đã cho vị tướng bất hạnh 200 Mỹ kim. Ông đã chê trách thái độ hững hờ, ghẻ lạnh của người dân San Francisco và nước Mỹ đối với tướng Sutter, điều mà theo ông là đi ngược với đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ông.
Sang năm 1854, khi đã quá mệt mỏi với cuộc sống hỗn loạn và nhiễu nhương ở Mỹ, cộng thêm nỗi nhớ quê hương ngày đêm thúc giục, Lê Kim đã tìm đường trở lại Việt Nam. Nhưng ông cũng đã kịp để lại nước Mỹ dấu ấn của mình, trở thành người Việt Nam đầu tiên cưỡi ngựa, bắn súng như một cao bồi và cũng là người Việt đầu tiên làm ký giả cho báo chí Mỹ.
Người Minh Hương cầm quân chống Pháp
Năm 1854, Trần Trọng Khiêm trở về Việt Nam vẫn dưới cái tên Lê Kim. Để tránh bị truy nã, ông không dám trở về quê nhà mà phải lấy thân phận là người Minh Hương đi khai hoang ở tỉnh Định Tường. Ông là người có công khai hoang, sáng lập ra làng Hòa An, phủ Tân Thành, tỉnh Định Tường. Tại đây, ông tục huyền với một người phụ nữ họ Phan và sinh được hai người con trai, đặt tên là Lê Xuân Lãm và Lê Xuân Lương.
Trong di chúc để lại, ông dặn tất cả con cháu đời sau đều phải lấy tên đệm là Xuân để tưởng nhớ quê cũ ở làng Xuân Lũng.
Trong bức thư bằng chữ nôm gửi về cho người anh ruột Trần Mạnh Trí ở làng Xuân Lũng vào năm 1860, Lê Kim đã kể tường tận hành trình hơn 10 năm phiêu dạt của mình từ một con tàu ngoại quốc ở Phố Hiến đến những ngày tháng đầy khắc nghiệt ở Hoa Kỳ rồi trở về an cư lạc nghiệp ở Định Tường. Khi người anh nhắn lại: “Gia đình bình yên và lúc này người đi xa đừng vội trở về”, Lê Kim đã phải tiếp tục chôn giấu gốc gác của mình ở miền Tây Nam Bộ.
Nhưng chưa đầy 10 năm sau, khi Pháp xâm lược Việt Nam. Lê Kim đã từ bỏ nhà cửa, ruộng đất, dùng toàn bộ tài sản của mình cùng với Võ Duy Dương mộ được mấy ngàn nghĩa binh phất cờ khởi nghĩa ở Đồng Tháp Mười. Tài bắn súng học được trong những năm tháng ở miền Tây Hoa Kỳ cùng với kinh nghiệm xây thành đắp lũy đã khiến ông trở thành một vị tướng giỏi.

Di tích làng Xuân Lũng – quê gốc Lê Kim. 
.
Năm 1866, trong một đợt truy quét của Pháp do tướng De Lagrandière chỉ huy, quân khởi nghĩa thất thủ, Lê Kim đã tuẫn tiết chứ nhất quyết không chịu rơi vào tay giặc. Gia phả nhà họ Lê do hậu duệ của Lê Kim gìn giữ có ghi lại lời trăng trối của ông: “Trước khi chết, cụ dặn cụ bà lánh qua Rạch Giá gắng sức nuôi con, dặn chúng tôi giữ đạo trung hiếu, đừng trục lợi cầu vinh, đừng ham vàng bỏ ngãi. Nghĩa quân chôn cụ ngay dưới chân Giồng Tháp. Năm đó cụ chưa tròn ngũ tuần”. Trên mộ của Lê Kim ở Giồng Tháp (tỉnh Đồng Tháp) có khắc đôi câu đối:
“Lòng trời không tựa, tấm gương tiết nghĩa vì nước quyên sinh
Chính khí nêu cao, tinh thần hùng nhị còn truyền hậu thế”.
Ghi công ông, hiện ở phường Long Bình, quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh có con đường mang tên Trần Trọng Khiêm nối phố Nguyễn Xiển với phố Mạc Hiển Tích.

Cuộc đời sinh động và bi hùng của Trần Trọng Khiêm được hai nhà văn hư cấu nghệ thuật trong hai cuốn tiểu thuyết có nhan đề: La rueé vers l'or (Đổ xô đi tìm vàng) của Rene Lefebre (Nhà Xuất bản Dumas, 1937) và Con đường thiên lý của Nguyễn Hiến Lê (năm 1972).

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con gái Hà Nội ở đâu?


Vũ Thế Thành
Mẹ tôi nể phục mấy cô gái Hà Nội lắm. Dưới con mắt của người nhà quê ra Hà Nội làm việc vặt, bà thấy các thiếu nữ nơi đây ứng xử khôn khéo, nói năng lễ độ, và khuôn phép lắm. Đó là chưa kể thêu thùa may vá, nữ công gia chánh,… Nói chung là đảm. Mỗi khi thấy mấy cô Sài Gòn tân thời quá, tự nhiên quá, bà lại chép miệng, con gái Hà Nội đâu có thế. Bà nói riết, nói riết…, khiến tôi ngờ…bà muốn thằng con của bà nên đi tìm một thiếu nữ Hà Nội.

Nhưng thế giới của tôi lại khác. Tôi sinh ra ở Sài Gòn, lớn lên ở Sài Gòn, bạn bè Sài gòn, trong đầu tôi, nếu có, cũng chỉ là con gái Sài Gòn cho hợp… thủy thổ.

Mà con gái Bắc (di cư 54) hồi đó gớm lắm, vờn qua vờn lại, làm duyên, đá lông nheo, õng ẽo  làm điêu đứng con trai Nam Kỳ đến là khổ. Một thanh niên xứ Biên Hòa đã phải cay đắng thế này:

“ Em nhớ giữ tính tình con gái Bắc

Nhớ điêu ngoa nhưng giả bộ ngoan hiền,

Nhớ khiêm nhường nhưng thâm ý khoe khoang,

Nhớ duyên dáng ngây thơ mà xảo quyệt…”

Tôi không có ý kiến gì về bài thơ trên, mà cũng chẳng dại gì có ý kiến. Mấy bà mấy cô Bắc Kỳ đọc bài thơ trên có nổi cơn tam bành rủa xả, thì chắc cũng chỉ mình rủa mình nghe thôi, chứ tác giả, nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên chết rồi, chết trong một chiếc xe hơi cũ kỹ ở sân chùa bên California.

Dù sao cũng nên đọc tiếp thêm vài câu nữa mới thấy “cảm thương” cho tác giả:

“…Ta vẫn nhớ dặn dò lòng tha thiết,

Nên vội vàng tin tưởng chuyện vu vơ

Nên yêu đương bằng gương mặt khờ khờ

Nên hùng hổ để đợi giờ thua thiệt…”

Những ngày sau 75, trên tivi Sài Gòn là những đoàn quân “chiến sĩ gái”, bước theo nhịp quân hành, chiếu cận cảnh với đôi mắt rực lửa căm hờn, giọng nói lanh lảnh. Cảm giác đầu tiên của tôi với các cô gái Bắc Kỳ (thứ thiệt) là…ớn lạnh. Tôi cười, “Đấy con gái Hà Nội của mẹ đấy…”. Bà cụ lại thở dài, chép miệng… “Hồi trước đâu có thế…”.

Dĩ nhiên, mẹ tôi không thể phát hiện cái trò đánh lận rẻ tiền của thằng con, tỉnh bơ xem tất cả các cô Bắc Kỳ đều là các cô Hà Nội.

Thực ra trong đầu tôi cũng có một chút gì đó mơ hồ về con gái Hà Nội. Biết tả thế nào nhỉ! Có thể là hình ảnh dịu dàng đằm thắm của cô Liên trong Gánh Hàng Hoa, hay thiếu nữ tân thời một cách bảo thủ, không sao thoát ra khỏi vòng lễ giáo của cô Loan trong Đoạn Tuyệt. Tôi cảm được nỗi cô đơn của Loan khi thả bộ trên bờ đê Yên Phụ,… Đại loại là tôi đã nhìn thiếu nữ Hà Nội qua lăng kính của những tiểu thuyết trong Tự Lực Văn Đoàn mà tôi được học thời trung học.

Cũng chẳng dừng ở đấy đâu. Khi đọc “Tuấn, chàng trai nước Việt”, một thứ tiểu thuyết hồi ký của Nguyễn Vỹ, tôi biết thêm rằng, các cô nữ sinh Hà Nội cũng lãng mạn ra rít. Họ kín đáo lập ra hội “Ái Tino”. Tino Rossi là ca sĩ người Pháp lừng danh thưở đó, và là thần tượng của vô số thiếu nữ, chẳng riêng gì thiếu nữ Hà thành. Cái “hội” kín đáo, chỉ lèo tèo dăm ba cô thế thôi, nhanh chóng tan hàng, và rồi mạnh ai người nấy tam tòng tứ đức, xuất giá tòng phu, công dung ngôn hạnh… Cái “lãng mạn tân thời” chỉ là đóm lửa, và họ nhanh chóng quay lại với sự thanh lịch, nề nếp theo giáo dục của gia đình.

Năm 1980, lần đầu tiên tôi ra Hà Nội công tác. Anh bạn đồng nghiệp trạc tuổi, tốt nghiệp từ Đông Đức, chở tôi trên chiếc Simson lòng vòng Hà Nội. Nơi đầu tiên tôi muốn ghé thăm là phố Khâm Thiên. Anh bạn tròn xoe mắt, “Làm gì còn hố bom mà ghé thăm”. Tôi chợt hiểu vì sao anh bạn ngạc nhiên, nhưng không thể giải thích. Môi trường giáo dục trong Nam ngoài Bắc khác nhau.

Cái máu phóng đãng đã dẫn tôi đến phố Khâm Thiên, chứ không phải bom rơi đạn lạc ở đó. Đến, dù chỉ để nhìn vài căn nhà xiêu vẹo, cũng thỏa đôi chút tò mò về một thời vang bóng. Phong lưu tài tử giai nhân, đúng, nhưng không phải cách phong lưu của Vân Hạc trong Lều Chõng của Ngô Tất Tố. Anh chàng Vân Hạc khi chờ kết quả thi, ra vào chốn ả đào để vui say bè bạn, để trấn an nhau, để bốc nhau, để chờ ngày bảng vàng ghi tên.

Tôi nhớ đến kiểu cách phong lưu của Cao Bá Quát, một tay chơi thứ thiệt, khi làm sơ khảo trường thi, tiếc bài thi hay mà phạm húy, đã dùng muội đèn để sửa. Việc lộ, bị kết án giảo giam hậu, ông phải đi dương trình hiệu lực, nghĩa là đi làm phục dịch cho phái đoàn đi công tác nước ngoài. Con người tài hoa này, mang theo nỗi cô đơn đến phố ả đào giải sầu bên chén rượu, làm vài bài hát nói, đào nương hát, mình gõ nhịp…

“Giai nhân nan tái đắc

Trót yêu hoa nên dan díu với tình

Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh

Rầu rĩ lắm xuân về oanh nhớ…”

Cũng lần đầu ở Hà Nội, buổi chiều chập choạng tối, lang thang ở phố Huế, tôi thấy một bà đi xe đạp ngược chiều, bị cảnh sát ngoắc lại. Bà năn nỉ thông cảm? Không. Bà phân bua? Không. Bà cãi tay đôi với cảnh sát rằng, nhất định mình đúng. Lương và nhu yếu phẩm phân phối còn không đủ sống, đâu dễ gì chịu nộp phạt. Đôi co với nhau mà cả hai vẫn một mực xưng hô…đồng chí. Tôi phì cười. Hà Nội có những điều không nằm trong trí tưởng tượng của một người Sài Gòn, lần đầu ra Hà Nội như tôi.

Bây giờ, Hà Nội khác xa rồi. Hà Nội nhiều nhà cao tầng, cầu vượt. Hà Nội nhiều xe hơi hơn, Hà Nội giàu hơn. Hà Nội không còn những cảnh cãi tay đôi với cảnh sát buồn cười như thế nữa.  Hà Nội văn minh hơn, nhưng có thể họ phải “cãi tay đôi” với chính mình, khi mà còn những cảnh thanh niên thiếu nữ “ à la mode” hái hoa, giẵm hoa bẻ cành để chụp ảnh, hay gào thét tung hô thần tượng minh tinh Hàn Quốc. Đó là chưa kể bún mắng cháo chửi, rải rác vẫn còn đâu đó. Thương hiệu chăng? Tôi chịu! Ăn ngon mà nghe chửi, thôi thà ăn độn dễ nuốt hơn.

Tôi có bà bạn già (hơn tôi) là dân Hà Nội mấy đời. Cha bà là một trong số rất ít người xong bậc đại học thời Tây. Sau 54, nhà đông con, xoay sở không nổi, ông bố định cho 2 đứa con lớn tạm nghỉ học, đi làm rồi học bổ túc sau. Nhưng bà mẹ thì không, nhất quyết không. Bà đến gặp ông bà bác sĩ nhà bên mượn…tiền để các con tiếp tục ăn học. Họ cùng ở trong thành như bà, không vướng bận con cái, còn chút của ăn của để, đồng ý cho vay tín chấp, một thứ tín chấp tình người, thời nay khó tìm. Tôi hiểu ra, dân trí thức Hà Nội xưa có kiểu chơi “chẳng giống ai” (lúc này). Họ kín đáo giúp đỡ nhau trong những tình huống khắc nghiệt. Trong họ dường như  chất “nhân” và lòng tự trọng được rèn luyện qua giáo dục, giấy rách phải giữ lấy lề. Mực đen và bão tố không thể vấy bẩn hay phá sập.  Những năm sau 75, trong Sàigòn tôi cũng thấy vài trường hợp như thế.

Bà bạn (già) này, về chuyên môn, thì kiến thức mênh mông chứ chẳng vừa. Ăn nói nhẹ nhàng, nhưng quyết liệt khi cần. Vậy mà cư xử thì cứ dạ dạ,..cám ơn. Bà nói chuyện với tôi cũng thế, cũng dạ dạ,..cám ơn.  Tôi cười, sao chị khách sáo thế. “Không phải đâu, tôi được giáo dục trong nhà từ nhỏ như thế. Các anh chị em tôi cũng đều như vậy chứ chẳng riêng tôi. Hồi đi học, chỉ vì dạ dạ…cám ơn mà chúng tôi bị phê bình là tiểu tư sản. Ông bà cụ dạy con nghiêm khắc lắm. Tôi là con gái, đi học về là phải tập tành bếp núc, ăn trái chuối là phải bẻ đôi. Ở trường là chuyện khác, còn về nhà là đâu ra đó, vào khuôn phép.”. Tôi cũng nhận ra sự  “khách sáo chân thành” của bà, chứ không phải khách sáo đãi bôi.

Dạo sau này, vì công việc tôi thường ra Hà Nội. Đi ăn hàng với bè bạn ở đó thì không sao, nhưng hễ đi một mình là bị chặt (giá), dù chỉ là chai nước tinh khiết, 10.000 đồng ở quán ven đường phố cổ. Bị chặt riết thành quen. Tôi nhủ thầm, lần nào ra Hà Nội mà không bị chặt coi như trúng số.

Dù tôi cũng có vài người bạn thân ở Hà Nội, nhưng giữa tôi và Hà Nội, dường như vẫn còn khoảng cách nào đó. Tôi đến Hà Nội như một kẻ xa lạ, đến như đi nước ngoài không cần visa.

Sài Gòn dễ hội nhập. Cứ ở Sài Gòn là thành người Sài Gòn. Chưa thấy mình là người Sài Gòn, ở lâu thêm chút nữa cũng biến thành người Sài Gòn. Sài Gòn đồng hóa con người nhanh lắm.

Nhưng Hà Nội có lẽ khác, người ta đồng hóa Hà Nội như vũ bão, đồng hóa cạnh tranh từ nhiều nguồn khác nhau để tạo ra một văn hóa Hà thành hiện đại khó mô tả. Còn người Hà Nội (thứ thiệt) đành phải co cụm, khép kín, và giáo dục con cái theo cách riêng của họ để bảo tồn…di sản. Giáo dục từ gia đình mới tạo ra gốc rễ, chứ  không phải là quy tắc ứng xử, hay giàu sang, quyền thế.

Hà Nội nhiều hồ. Hà Nội đẹp vì hồ vào những buổi sáng thật sớm, khi trời còn nhá nhem. Sáng lên, Hà Nội biến mất. Con gái Hà Nội (xưa) chắc cũng thế. Cuộc đời dâu bể đã làm họ biến mất, nhưng thực ra cũng chỉ lẩn quất, âm thầm đâu đó thôi.

Năm ngoái, đi ngang qua ngõ nhỏ trong khu phố cổ, tôi ghé tiệm tạp hóa mua chai nước lạnh. Bà bán hàng dễ cũng gần 70, đưa chai nước: “Thưa, của ông đây, giá 5.000. Cám ơn ông…”. Tai tôi lùng bùng. Trong tiềm thức có cái gì nghe quen quen, đọc đâu đó rồi. Đã dợm chân đi, nhưng cũng quay lại: “Thưa bà, bà là người Hà Nội?”. “Vâng ạ, nhà tôi ở  ngõ này đã ba đời rồi, từ thời ông nội tôi ra làm quan ở đây”.

Mẹ tôi nói đúng về con gái Hà Nội. Họ hiếm hoi, ẩn mình như giọt nước đọng ở mặt dưới của lá cây sau cơn mưa. Có duyên mới gặp, phải tìm mới thấy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đặc khu kinh tế thậm chí phải có phố “đèn xanh, đèn đỏ”!


>> Báo cáo về Sơn Trà gửi Thủ tướng có nội dung gì?
>> Một lũ người vô dụng!
>> Thiếu tiền xây bảo tàng 11.000 tỉ, Bộ Xây dựng 'kêu' Thủ tướng
>> Nhân quyền tại VN sẽ tốt hơn khi Mỹ rời TPP?


P.Thảo
Dân Trí - Nhận xét các đề xuất ưu đãi cho 3 đặc khu kinh tế đang xây dựng vẫn chỉ thể hiện tư duy cũ theo kiểu 30 năm về trước, Phó Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề, cần có đột phá như phải đồng ý cho kinh doanh một số ngành nghề mà nơi khác không thể có, như casino hay phố “đèn xanh, đèn đỏ”…

Phó Chủ tịch Quốc hội là người góp ý kiến về cả vấn đề cơ chế chính sách, cơ chế tổ chức, quản lý với các đặc khu kinh tế khi UB Thường vụ Quốc hội thảo luật về luật Hành chính – Kinh tế đặc biệt (HCKTĐB) ngày 11/9.

“Nhốt” quyền lực các Trưởng đặc khu

Trưởng Đơn vị HCKTĐB, các cơ quan khác của Nhà nước ở đơn vị HCKTĐB chịu sự giám sát của Đoàn ĐBQH tỉnh và của HĐND, Thường trực HĐND, các Ban của HĐND và đại biểu HĐND tỉnh về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao tại đơn vị HCKTĐB.

Thẩm tra nội dung dự thảo luật Hành chính – Kinh tế đặc biệt, Chủ nhiệm UB Pháp luật Nguyễn Khắc Định băn khoăn nhiều về quy định trách nhiệm của người đứng đầu các đặc khu kinh tế. Theo mô hình đề xuất, các đặc khu kinh tế không tổ chức cấp chính quyền địa phương, Trưởng đặc khu có thẩm quyền quyết định và tổ chức thực hiện toàn bộ các hoạt động hành chính, kinh tế - xã hội trên địa bàn.

Ông Định cho biết, trong quá trình thẩm tra sơ bộ dự thảo luật, có ý kiến đồng tình với quy định như dự thảo, tuy nhiên có nhiều ý kiến đề nghị cân nhắc thêm về tính hợp hiến của việc này. Hơn nữa, việc tập trung nhiều quyền lực cho chức danh Trưởng đặc khu nhưng không có cơ chế giám sát quyền lực ngang cấp, tại chỗ mà thực hiện giám sát từ trên xuống sẽ không tránh khỏi hình thức, dễ dẫn tới tình trạng lạm quyền, mất dân chủ.

“Nếu dự thảo luật chỉ quy định vượt trội về giao thẩm quyền mà không vượt trội về cơ chế giám sát, không làm rõ được phương thức thực thi quyền lực của người giữ chức danh này là không bảo đảm tính đồng bộ, hiệu quả, cũng như chưa thể chế hóa đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng và quy định của Hiến pháp về kiểm soát quyền lực“ – báo cáo thẩm tra sơ bộ nêu rõ.

Cho ý kiến về vấn đề này, Chủ nhiệm Uỷ ban Quốc phòng – An ninh Võ Trọng Việt nêu quan điểm đồng tình với phương án của Chính phủ là nên trao quyền cho Trưởng đặc khu nhưng quy định rõ người này được làm gì, không được làm gì, trách nhiệm ra sao.

Nếu vẫn tổ chức bộ máy đầy đủ, không có cải tiến, cải tổ gì thì đặc khu cũng “không có gì đặc biệt” nhưng luật cũng phải giải quyết được 7 vấn đề mà bộ máy hiện nay đang vấp váp, thì mới có thể tạo ra được đột phá khác biệt.

Cụ thể, theo tướng Võ Trọng Việt, những vấn đề đó là sự trì trệ, “công thì của tôi mà tội là tập thể”; trách nhiệm người đứng đầu không rõ, cái được giao không làm, cái không thuộc thẩm quyền thì lại làm, cơ chế kiểm soát quyền lực kém, nên có những nơi “một bàn tay che cả bầu trời”…

Tồn tại thứ 3, theo ông là cơ chế bình quân chủ nghĩa, “giỏi như dốt, dốt như giỏi”; thứ tư là bộ máy đông nhưng không mạnh, đủ các ban bệ nhưng tiêu cực chủ yếu là báo chí và nhân dân phát hiện; thứ năm là việc để mất thời cơ và cơ hội quá nhiều...

“Tránh trước nói thì hay nhưng cũng là cơ chế, bộ máy, lề lối, phương pháp, con người ấy thì làm sao thay đổi. Thay vỏ phải thay ruột thì mới được” – ông Võ Trọng Việt nói.

Đồng tình quan điểm này, Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển ủng hộ việc tổ chức bộ máy tại đặc khu một cách gọn nhẹ, một người có thể được trao quyền rất lớn nhưng việc kiểm soát quyền lực cũng phải đặc biệt để buộc người đó hành động vì lợi ích quốc gia chứ không thể lồng lợi ích cá nhân vào.

Phó Chủ tịch Quốc hội gợi ý, cơ chế xây dựng phải như Tổng Bí thư nói, làm sao “nhốt” quyền lực trong lồng luật pháp để quản lý.

Phú Quốc, Vân Đồn có cạnh tranh nổi với Singapore, Hồng Kông?

Nói về cơ chế ưu đãi đối với các đặc khu kinh tế, Chủ nhiệm UB Tài chính – Ngân sách Nguyễn Đức Hải cho rằng, dự thảo đưa ra thì nhiều nhưng chủ yếu mới là về thuế trong khi muốn vượt trội thì không thể chỉ dựa vào ưu đãi thuế.

“Tôi rất lo về tính cạnh tranh của 3 đặc khu kinh tế dự kiến (Vân Đồn – Quảng Ninh, Bắc Vân Phong – Khánh Hoà và Phú Quốc – Kiên Giang) so với khu vực. Trên thế giới, mô hình đặc khu rất nhiều, nhưng có nơi thành công, nơi thất bại. Đơn cử, đặc khu Subic của Philippines là không thành công, vì chỉ có điều kiện thuận lợi mà không có đối tác bên ngoài. Còn các đặc khu của Trung Quốc thành công là do họ mở nút thắt để đón dòng vốn vào. Đặc khu Chu Hải đối diện với Thẩm Quyến, đặc khu Hạ Môn thì đối diện với Đài Loan, nên họ mở cửa để kéo dòng vốn và dòng công nghệ vào…” – ông Hải phân tích.

Ông Hải phân tích, với đảo Phú Quốc, mở tối đa theo hướng làm du dịch thì cũng sẽ chỉ ngang với Jeju của Hàn Quốc thôi chứ chưa thể trở thành một trung tâm công nghệ, tài chính như Singapore. Muốn có đặc khu như một trung tâm tài chính quốc tế, ông Hải cho rằng, phải đặt vấn đề có cạnh tranh được với Singapore và Hong Kong hay không?.

Chủ nhiệm UB Tài chính – Ngân sách lo ngại với quy mô các đặc khu dự kiến xây dựng, tính lan tỏa sẽ không được như kỳ vọng, cần phải có đề án phát triển 3 khu vực này gắn với phát triển công nghệ, chứ nếu chỉ làm du lịch thì khá giới hạn.

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển cũng cho rằng các ưu đãi đưa ra mới chỉ là nhìn nhận theo cách cũ, ưu đãi kiểu “miễn, giảm, giãn” là tư duy cách đây đã 30 năm.

Phó Chủ tịch Quốc hội đặt vấn đề, cần có chính sách ưu đãi về xuất nhập cảnh, nhập cư. Ở những đặc khu dự kiến cũng phải đồng ý cho kinh doanh một số ngành nghề mà nơi khác không thể có, ví dụ kinh doanh sòng bạc – casino, thậm chí phải có khu phố vui chơi “đèn xanh, đèn đỏ”. Cuộc sống có những đòi hỏi thực tế như thế, phải “thuận” theo và tính hướng quản lý phù hợp.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phải cho chúng tôi sống với chứ!



ANH ĐÀO


























LĐO - Vẫn là thứ “văn” rất cũ: “Khoản thu tự nguyện”, “hội cha mẹ học sinh đề xuất”, và những kỷ lục về lạm thu đầu năm học liên tục bị phá bỏ. Trường Minh Tân 9,1 triệu; trường Đặng Cương 10,1 triệu, rồi trường Chu Văn An “ta cần có 16,7 triệu”! Và chưa chắc đó đã phải là con số cuối cùng.

Chưa đầy 24 giờ sau khi Hiệu trưởng Trường Minh Tân (Hải Phòng) bị đình chỉ để làm rõ những khoản thu đầu năm bị tố lên tới 9,1 triệu đồng thì lại có một kỷ lục mới được lập, cũng ngay tại Hải Phòng.

Đó là trường Đặng Cương. Đây là những khoản thu mà chính một thầy giáo trong trường đã liệt kê, cho một học sinh lớp 1: Hồ sơ nhập học: 100.000; ủng hộ cơ sở vật chất, CLB hè: 2,65 triệu; SGK: 1,8 triệu; đồng phục: 400.000; kỹ năng sống: 1 triệu; Tiếng Anh theo đề án ngoại ngữ: 2 triệu. Tổng cộng: 10.131.000 đồng.

Học sinh lớp 4 còn có một số khoản: BHYT, bảo hiểm toàn diện, tin nhắn, trải nghiệm sáng tạo, hoạt động ngoài giờ, tạp phí, tăng giờ, gửi xe.

Rồi Đặng Cương chưa qua, đã tới trường Chu Văn An, Cao Lãnh, Đồng Tháp với kỷ lục “chúng ta cần có 16,7 triệu”!

9-16 triệu cho mỗi học sinh nhập học. Thật khó tìm được từ ngữ nào khác diễn giải cho đúng ngoài hai chữ “bóc lột”!

Nhìn từ Minh Tân, qua Đặng Cương, rồi Chu Văn An, chúng ta nhìn thấy rất rõ rằng đó không hề là những cá biệt cho một tình trạng đã xảy ra từ cả thập kỷ nay, lặp đi lặp lại và không cách gì khắc phục. Nhìn thấy rất rõ mỗi trường thu một cách, tùy vào sự... sáng tạo của thầy hiệu trưởng.

Và nhìn thấy cả cách giải thích sau mỗi scandal này, cách giải thích đã thành... truyền thống, thành giai thoại: Nào là khoản thu tự nguyện, nào là đề xuất của hội cha mẹ học sinh. Cứ như thể nhà trường ngây thơ vô tội vậy.

Năm 2010, khi vấn đề lạm thu được chất vấn gay gắt trước Quốc hội, Bộ trưởng Bộ Giáo dục khi ấy là ông Phạm Vũ Luận đã ngắn gọn thế này: UBND tỉnh/thành là cấp có nhiệm vụ quản lý việc thu-chi học phí, lệ phí và các khoản thu hợp pháp khác. Quả bóng đã được đá bay về phía các địa phương. Và vì thế, lạm thu vẫn cứ là chuyện... mỗi đầu năm.

Năm ngoái, ở Nghệ An có tới 1.900 học sinh bỏ học. Ngay tại đầu tàu kinh tế TPHCM hơn 5.000 học sinh cũng phải bỏ ngang. Báo Pháp Luật TP dẫn ý kiến một thầy hiệu trưởng nhìn nhận: Đa số là học sinh ngoại thành phải đi học xa hoặc gia đình quá khó khăn.

Thưa các thầy hiệu trưởng, các thầy giám đốc sở, và cả các thầy ở Bộ GDĐT không biết các thầy có còn thương xót những đứa trẻ phải bỏ học vì quá nghèo trước những khoản thu choáng váng đầu năm?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 12 tháng 9, 2017

BÁO VĂN NGHỆ TP HCM ĐÃ GỠ BỎ BÀI CHỬI BỘ NGOẠI GIAO ĐỨC


Vụ bắt cóc Trịnh XuânThanh:
Tờ Văn Nghệ TP. HCM gỡ bỏ trọn số báo vì bài nhục mạ Bộ Ngoại giao Đức 


Thời Báo.de
12.09.2017 08:04 64892


Sau khi tờ Thoibao.de đăng bài viết đánh động dư luận và đăng bản dịch tiếng Đức, tờ tuần báo Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh đã phải xóa bỏ trọn số báo 462 ra ngày 10.08.2017 vì trong đó đăng một bài báo nhục mạ Chính phủ Đức với tựa đề "Vụ Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú: Bộ Ngoại giao Đức hồ đồ hay mua phiếu?” của tác giả Vũ Hương. 
Vụ bắt cóc Trịnh XuânThanh: Tờ Văn Nghệ TP. HCM gỡ bỏ trọn số báo vì bài nhục mạ Bộ Ngoại giao Đức
Ảnh bìa tuần báo Văn Nghệ TP. HCM số 462 ra ngày 10.08.2017 (Bộ Ngoại giao Đức hồ đồ hay mua phiếu? Trang 16)

Bài báo này đã phỉ báng một cách nặng nề khi ví Chính phủ Đức là một "lũ kền kền vô trách nhiệm", hoặc thóa mạ là „những lang sói trong giới phản động ngoại quốc“, mạ lỵ báo chí truyền thông Đức là „các thế lực đen tối“ hoặc „các thế lực thù địch“ ám chỉ ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đức Gabriel là "mua phiếu ... cho cuộc bầu cử vào thời gian vài tuần tới“, nhục mạ Bộ Ngoại giao Đức là “hồ đồ”, là “thần kinh” v.v.


Số báo 462 đã bị gỡ bỏ một cách âm thầm, không ai biết từ bao giờ. Hiện nay, nếu vào trang chủ của tờ Tờ Văn Nghệ TP. HCM và chọn xem báo giấy, thì sẽ thấy số báo 462 rõ ràng đã bị xóa bỏ, không còn trong danh sách các số báo nữa:

Ảnh chụp màn hình tờ Văn Nghệ TP. HCM
(số báo 462 không còn trong danh sách) Link: http://tuanbaovannghetphcm.vn/baogiay/

Ngoài ra, trước đây bài này còn được đăng riêng rẽ trong chuyên mục "Đối thoại Internet" (nằm trong phần "Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi"), nay cũng đã bị gỡ bỏ:

Ảnh chụp màn hình tờ Văn Nghệ TP. HCM

Điều đáng chú ý, ai đã chỉ đạo tờ Văn Nghệ TP. HCM, một tờ báo chính thống, cho đăng bài phỉ báng Bộ Ngoại giao Đức, trong lúc đang có những nỗ lực từ phía Việt Nam muốn đối thoại với phía Đức để giải quyết cuộc khủng hoảng giữa hai nước Việt Nam và Đức sau vụ bắt cóc Trịnh Xuân Thanh?

Quyền lợi của đất nước và dân tộc Việt Nam bị de dọa. Việt Nam có thể bị Chính phủ Đức cắt viện trợ, Hiệp Định Tự Do Mậu Dịch giữa Việt Nam và Liên Hiệp Châu Âu (EU) có nguy cơ bị ngưng lại, không thành. Vụ bắt cóc này đã phá hoại các nỗ lực tìm kiếm bạn bè và tăng cường uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế nhằm bảo vệ biển đảo trước sự đe dọa của Trung Quốc.Việt Nam có nguy cơ bị các nước Âu Mỹ cô lập.

Nếu nhìn về biển Đông, ai sẽ có lợi trong tình trạng này? Trung Quốc hay Việt Nam?

Nhưng bất chấp quyền lợi của đất nước, của dân tộc có thể bị tổn thương, bị thiệt hại ra sao, phe nhóm nào có ý đồ "đổ thêm dầu vào lửa", thay vì tìm cách "hạ nhiệt" cuộc khủng hoảng ngoại giao Đức-Việt?

Người có trách nhiệm trực tiếp với tờ báo là ông Nguyễn Chí Hiếu - Tổng biên tập báo Văn Nghệ TP. HCM và cũng là một quan chức của Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật TP. HCM - Từ bấy lâu nay ông đã thường xuyên cho đăng những bài đánh phá của Dư luận viên, điển hình là bài công kích GS Ngô Bảo Châu đã gây xôn xao dư luận cách đây không lâu, bài viết xúc phạm GS Ngô Bảo Châu bằng những lời lẽ thô bỉ, thóa mạ.
.
Ông Nguyễn Chí Hiếu, Tổng biên tập báo Văn Nghệ TP. Hồ Chí Minh

Thành Ủy và Ủy Ban Nhân Dân TP.HCM là “cơ quan chủ quản” và cấp kinh phí hàng năm cho Liên Hiệp Các Hội Văn Học Nghệ Thuật TP. HCM. Căn cứ vào đường lối “đảng lãnh đạo toàn diện” và sự chỉ đạo của Thành ủy đối với đảng đoàn khối văn học nghệ thuật, thì ít nhất 2 quan chức cao cấp sau đây của Thành ủy TP. HCM có thể phải chịu trách nhiệm về "chỉ đạo" cho tờ báo:
.
Bà Thân Thị Thư, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy TP. Hồ Chí Minh

Ông Tất Thành Cang, Phó bí thư thường trực thành ủy TP.HCM, phụ trách khối nội chính
(đứng bên cạnh TBT Nguyễn Phú Trọng)

Người đứng đầu Thành ủy, ông Nguyễn Thiện Nhân -Bí thư Thành ủy TP. HCM- là người từng tốt nghiệp đại học ở Đông Đức khi xưa và con trai ông cũng tốt nghiệp đại học CHLB Đức hiện nay. Mặc dù ông Nhân được cho là người có mong muốn hàn gắn, giải quyết cuộc khủng hoảng ngoại giao với nước Đức, nhưng nếu trong thời gian sắp tới ông Nguyễn Chí Hiếu không bị cách chức, vẫn tiếp tục làm Tổng biên tập báo Văn Nghệ TP. HCM, thì hoặc là ông Nhân không thể chối bỏ được trách nhiệm trong vụ này, hoặc là ông không có thực quyền.
Ông Nguyễn Thiện Nhân gặp gỡ các nhà doanh nghiệp Việt kiều Đức 
tại chợ Đồng Xuân Berlin (2015)

Linh Quang – Thoibao.de

Chú thích:

Một vài bạn đọc phản hồi rằng vẫn còn có thể xem được bài theo đường link trực tiếp như sau: http://tuanbaovannghetphcm.vn/vu-trinh-xuan-thanh-ve-nuoc-dau-thu-bo-ngoai-giao-duc-ho-do-hay-mua-phieu/

Ban biên tập Thoibao.de đã kiểm tra một lần nữa (và tất cả bạn đọc cũng có thể tự kiểm tra), đúng là báo giấy số 462 đã bị gỡ bỏ và theo đường link nêu trên thì bài vẫn ghi rõ ràng là nằm trong chương mục "Đối thoại Internet" (ở trong phần "Nghiên cứu - Phê bình - Trao đổi"), nhưng khi vào xem chương mục này thì không tìm thấy bài này có trong đó hoặc không được hiển thị !

Có lẽ link trực tiếp mà bạn đọc tìm thấy là do gỡ bỏ còn sót? Tức là "tẩy xóa" chưa được sạch 100%. 
- Bài viết của Thoibao.de đánh động dư luận về bài nhục mạ Bộ Ngoại giao Đức trên tờ Văn Nghệ TP. HCM: http://thoibao.de/site/News/11365?title=vu-bat-coc-trinh-xuan-thanh%3A-to-van-nghe-tp.-hcm-dang-bai-nhuc-ma-bo-ngoai-giao-duc 

- Bản dịch tiếng Đức bài báo "Vụ Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú: Bộ Ngoại giao Đức hồ đồ hay mua phiếu?”: http://thoibao.de/vd-news/11366/skandal-aus-viet-nam%3A-das-ausw%C3%A4rtige-amt-wurde-beschimpft-und-massiv-beleidigt-.htm 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thiệt hại về tài sản tại Florida do bão Irmagây ra ước lượng khoảng 20 đến 40 tỉ đô la


image

Cư dân trở về quần đảo Florida Keys ngày 12/9 chứng kiến cảnh hoang tàn cơn bão Irma để lại: những căn nhà lưu động bị bẹp dí như những lon nước ngọt và rong biển phủ đầy các cửa trong khi số tử vong tiếp tục gia tăng vì trận bão lớn thứ nhì ập vào nước Mỹ trong năm nay.

image

Irma, một trong những trận bão mạnh nhất tại Đại Tây Dương được ghi nhận từ trước tới nay trước khi đổ bộ vào nước Mỹ, đã làm 43 người thiệt mạng khi thổi qua vùng biển Caribean. Ít nhất 12 người tử vong tại Florida, Georgia và South Carolina vì trận bão này.

image

Trên đảo Islamorada Key, một trong ba hòn đảo mà nhà chức trách cho phép người dân trở về ngày 12/9, người ta nhìn thấy những bức tường nhôm của các căn nhà di động bị bão bóc tung, phơi trần những chất cách nhiệt, phòng ngủ và nhà bếp lộ dưới ánh mặt trời.

image

Khoảng 90.000 cư dân của Miami Beach và người dân của một số nơi ở Keys được thông báo có thể trở về nhà nhưng kèm theo cảnh báo là không nên. 

image

Irma đổ bộ vào Keys ngày 10/9 với sức gió đến 215 kilômét một giờ.

“Phải mất một thời gian nữa mới có thể để dân chúng trở về nhà, đặc biệt là khu vực Florida Keys,” ông Brock Long, quản trị viên của Cơ quan Xử lý Khẩn cấp Liên bang nói.

image

Hơn 6 triệu căn nhà và cửa hàng tại Florida và các bang lân cận vẫn bị cúp điện. Công ty điện lực lớn nhất Florida, Florida Power & Light, cho biết là phía tây tiểu bang có thể mất điện cho đến ngày 22/9.

image

Thành phố Jacksonville, nằm về phía đông bắc Florida, đang phục hồi sau khi bị lụt nặng.

Bão Irma ập vào nước Mỹ ngay sau cơn bão Harvey tàn phá Houston cuối tháng qua làm 60 người thiệt mạng và làm thiệt hại 180 tỉ đô la, phần lớn là do lũ lụt.

image

Tàu sân bay Abraham Lincoln rời khỏi bờ biển phía đông Florida và hai tàu đổ bộ đã lên đường đi giúp vùng Keys.

image

Một vài phi trường chính ở Florida ngưng chở khách vì bão Irma đã bắt đầu hoạt động trở lại vào ngày 12/9, trong đó có phi trường Quốc tế Miami, một trong những phi trường bận rộn nhất nước Mỹ.
Thiệt hại về tài sản được bảo hiểm tại Florida do bão Irma gây ra ước lượng khoảng 20 đến 40 tỉ đô la, công ty AIR Worldwide cho biết.

image


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tác giả 'Thời hoa đỏ' qua đời ở tuổi 83 13/09/2017 00:35 GM


Nhà thơ Thanh Tùng, tác giả bài thơ 'Thời hoa đỏ' vừa qua đời lúc 21h50 ngày 12/9 tại nhà riêng ở TP HCM sau gần 1 năm chống chọi với ung thư dạ dày. 
Nhà thơ Thanh Tùng qua đời
Nhà thơ Thanh Tùng vừa ra đi ở tuổi 83 
Lễ viếng ông diễn ra tại Nhà tang lễ TP HCM, sau đó sẽ được an táng tại Nghĩa trang Chánh Phú Hòa, Bến Cát, Bình Dương theo di nguyện khi còn sống của nhà thơ Thanh Tùng để gần với các bạn văn thơ đã khuất.
Ngoài bài thơ Thời hoa đỏ viết năm 1972 được nhạc sĩ Nguyễn Đình Bảng phổ thành nhạc phẩm cùng tên nổi tiếng, Thanh Tùng có nhiều tác phẩm được phổ nhạc như bài Người về, Hà Nội ngày trở về và Mùa thu giấu em của Phú Quang. 
Nhà thơ Thanh Tùng, tên thật là Doãn Tùng, sinh năm 1935 tại Mỹ Lộc, Nam Định. Ông sống ở Hải Phòng và chuyển vào định cư ở TP.HCM năm 1995. Vợ nhạc sĩ Thanh Tùng qua đời năm 1989 nhưng ông quyết định ở vậy, một mình nuôi hai con. 


Thời hoa đỏ

Dưới màu hoa như lửa cháy khát khao
Anh nắm tay em bước dọc con đường vắng
Chỉ có tiếng ve sôi chẳng cho trưa hè yên tĩnh
Chẳng chịu cho lòng ta yên
Anh mải mê về một màu mây xa
Về cánh buồm bay qua ô cửa nhỏ
Về cái vẻ thần kỳ của ngày xưa
Em hát một câu thơ cũ
Cái say mê của một thời thiếu nữ
Mỗi mùa hoa đỏ về
Hoa như mưa rơi rơi
Cánh mỏng manh tan tác đỏ tươi
Như máu ứa một thời trai trẻ
Hoa như mưa rơi rơi
Như tháng ngày xưa ta dại khờ
Phần nhận xét hiển thị trên trang