Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 9 tháng 9, 2017

Đừng để người Trung Quốc "cười" chúng ta

TIẾN SĨ TRẦN CÔNG TRỤC


(GDVN) - Hòa giải, hòa hợp và đoàn kết thì dân tộc mới trường tồn, chia rẽ bè cánh sẽ đẩy chúng ta đến bờ vực, đến hang hùm miệng rắn.

Báo Tuổi Trẻ hôm 20/8 đưa tin, ngày 18-8-2017, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam giới thiệu, phát hành bộ Lịch sử Việt Nam bao quát nền lịch sử nước ta từ khởi thủy đến năm 2000 do Viện Sử học Việt Nam biên soạn. [1]

Sự kiện này đã tạo ra “cơn bão” dư luận người Việt Nam ở trong và ngoài nước, với những nhận định, đánh giá, bình luận, thậm chí suy diễn…

Những bình luận này xuất phát từ cách nhìn nhận khác nhau về mặt lịch sử, pháp lý, chính trị…đối với chính quyền  Việt Nam Cộng hòa đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam, giai đoan từ năm 1954-1975.

Những quan điểm khác nhau

Nhiều ý kiến đánh giá cao về bộ Lịch sử Việt Nam do Viện Sử học Việt Nam chủ trì biên soạn, xuất bản.

Và một trong nhiều điểm mới của bộ sách lịch sử quan trọng này là việc đã đề cập đến sự tồn tại của chính quyền Việt Nam Cộng hòa như một thực thể chính trị độc lập tại miền Nam Việt Nam.

Bộ sách này đã thay cách dùng từ “ngụy quyền Sài Gòn” trước đây bằng từ “Chính quyền Sài gòn”, thay "ngụy quân" thành "quân đội Sài Gòn".

Trả lời phỏng vấn báo chí, Phó giáo sư - Tiến sĩ Trần Đức Cường, nguyên Viện trưởng Viện Sử học, Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Tổng chủ biên bộ sách Lịch sử Việt Nam, đã nói: 

"Trước đây, khi nhắc đến chính quyền Việt Nam Cộng hòa, mọi người vẫn hay gọi là “ngụy quân, ngụy quyền”. Nhưng chúng tôi từ bỏ không gọi theo cách đó mà gọi là “chính quyền Sài Gòn”, “quân đội Sài Gòn".” 

Nhân “sự kiện” có vẻ “đình đám” này, một số học giả đã lên tiếng cho rằng việc thừa nhận này có lợi trước nhất cho công cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối vời quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa. 

Thừa nhận Việt Nam cộng hòa là bước tiến quan trọng… 

Tiến sỹ Sử học Nguyễn Nhã khẳng định rằng: 

“... Thừa nhận Việt Nam cộng hòa, Việt Nam chúng ta hiện nay có thể chính thức thừa hưởng gia tài rất quý báu về văn hóa giáo dục, kinh tế với cơ chế mà gần như cả thế giới hiện nay đang thực hiện. 

Đặc biệt như tôi đã phát biểu trong Đại hội kỷ niệm 50 năm thành lập Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam rằng giới sử học ở miền Nam trước đây không bị ảnh hưởng về chính trị, hay quan điểm. 

Bất cứ nước nào tôn trọng giới học thuật, khoa học, nghiên cứu, nước ấy sẽ phát triển và ngược lại rất khó phát triển”. 

“Việc từ bỏ cách gọi "ngụy quân", "ngụy quyền" và công nhận Việt Nam Cộng hòa như một chính quyền độc lập là một bước tiến quan trọng trong việc hàn gắn những vết thương của người Việt sau chiến tranh.

Mặt khác điều này có những tác động tích cực đối với việc giải quyết tranh chấp trên Biển Đông, cụ thể là hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa bằng công pháp quốc tế.”

Tiến sĩ Dương Danh Huy, Quỹ Nghiên cứu Biển Đông, đã đi sâu về mối quan hệ giữa sự công nhận một hay hai quốc gia trong giai đoạn chiến tranh 1954-1975 và lập luận pháp lý bảo vệ chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam. 

Các nghiên cứu này đã so sánh các cách thức, quan điểm khác nhau và đi đến kết luận rằng việc công nhận hai quốc gia Việt Nam trong giai đoạn 1954-1975 có lợi trong việc tranh biện pháp lý cho chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa trước Trung Quốc… 

Giáo sư James Crawford, chuyên gia hàng đầu về công pháp quốc tế và là một thẩm phán tại Tòa án Công lý quốc tế, trong tác phẩm “The Creation of States in International Law”, đã cho rằng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là hai quốc gia. 

Theo ông, việc Hiệp định Genève 1954 thiết lập hai vùng tập kết quân sự phải được xem như sự thiết lập hai quốc gia.

Trên phương diện luật pháp cũng như trên thực tế, lãnh thổ của mỗi quốc gia trên không phải là toàn bộ Việt Nam…

Trong khi đó, trên truyền thông và mạng xã hội cũng có những quan điểm không đồng tình với những nhận định nói trên.

Thậm chí đã có những ý kiến tỏ ra gay gắt, cực đoan, đòi thu hồi đốt bỏ bộ Lịch sử Việt Nam đồ sộ gồm 15 tập này và đòi bắt giam sử gia nổi tiếng Phan Huy Lê, người chủ biên bộ Lịch sử Việt Nam mới tái bản lần đầu này. 

Họ cho rằng các sử gia tham gia biên soạn bộ Lịch sử này đã không kiên định lập trường giai cấp, thiếu ý thức chính trị khi dám “thừa nhận bọn bù nhìn bán nước, tay sai của đế quốc Mỹ, đã từng gây nên cảnh nồi da xáo thịt, huynh đệ tương tàn, làm cho Nước nhà chia cắt, phân ly…”

Điều đáng quan ngại hơn là có một bộ phận người Việt Nam ở trong và ngoài nước đã lợi dụng sự kiện này để bôi nhọ chế độ chính trị hiện hành, công khai hô hào dân chúng đứng lên lật đổ chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, đòi phục dựng thể chế Việt Nam Cộng hòa, gây bạo động, bạo loạn, phá hoại nền an ninh quốc gia, sự ổn định chính trị xã hội…

Là một người nghiên cứu pháp lý-chính trị, chúng tôi xin được nêu quan điểm cá nhân của mình.

Chúng tôi chỉ mong có thể góp sức tạo lập được tiếng nói chung, nhận thức chung trong nội bộ người Việt Nam trước tình hình  kinh tế, chính trị, an ninh, quốc phòng…của đất nước, cục diện khu vực và quốc tế đang diễn biến hết sức phức tạp, nhạy cảm…

Cần phân biệt rõ ràng về lập trường chính trị và quan điểm pháp lý

Đây là điều cực kỳ quan trọng để xem xét, đánh giá các sự kiện lịch sử có liên quan đến sự ra đời, tồn tại của Nhà nước qua các thời kỳ lịch sử nhân loại nói chung và của một quốc gia nói riêng.

Theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác-Lênin thì nhà nước thực chất là một tổ chức đặc biệt của quyền lực chính trị, một bộ máy chuyên làm nhiệm vụ cưỡng chế và thực hiện chức năng quản lý đặc biệt nhằm duy trì trật tự xã hội, thực hiện mục đích bảo vệ địa vị của giai cấp thống trị trong xã hội.

Những nội dung cơ bản ban đầu về học thuyết này được phản ánh thông qua tác phẩm: "Nguồn gốc của gia đình, chế độ sở hữu và của nhà nước" của Ph.Ăng-ghen. 

Qua tác phẩm này, Ăng-ghen đã phân tích các vấn đề về gia đình, nguồn gốc của giai cấp và của nhà nước và những quy luật tiếp tục phát triển và biến đổi sau này của chúng. 

Ph.Ăng-ghen đã chỉ ra rằng nhà nước chỉ ra đời ở một giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội trên cơ sở xuất hiện chế độ tư hữu và gắn liền với nó là sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng.

Ông cũng luận chứng về tính chất giai cấp và tính lịch sử của nhà nước, làm sáng tỏ chức năng giai cấp cơ bản của nhà nước. [2] 

Căn cứ  vào luận thuyết này thì nhà nước là sản phẩm của một xã hội có giai cấp đối kháng và vì vậy, nó là một phạm trù lịch sử, có thể xuất hiện, thay đổi, thậm chí bị xóa sổ bởi kết quả của các cuộc đấu tranh tranh giành quyền lực thống trị xã hội giữa các giai cấp đối kháng. 

Trong cuộc đấu tranh này, để giành thắng lợi, các đảng phái chính trị, đại diện cho các tầng lớp giai cấp, phải sử dụng mọi biên pháp cần thiết nhằm lật đổ, tiêu diệt giai cấp đối kháng, cũng như các tổ chức thực thi quyền lực của giai cấp thống trị đó. 

Vì vậy, về mặt chính trị, chúng ta không quá ngạc nhiên khi đảng phái chính trị của giai cấp này lên án, tố cáo, bôi nhọ… nhằm hạ thấp uy tín của đảng phái chính trị của giai cấp kia trước công chúng: 

Những chiến sỹ Cộng hòa trong cuộc cách mạng Dân chủ Tư sản đã từng lên án thậm tệ bọn tham quan ô lại của chế độ quân chủ độc tài. 

Những chiến sỹ Cộng sản đã vùng lên, tập họp dân chúng cần lao để  “đào mồ” chôn chủ nghĩa tư bản và gia cấp tư sản thống trị mục nát. 

Và ngược lại, giai cấp thống trị, để bám giữ ngôi vị thống trị, họ đã không tiếc lời bôi nhọ những người Cộng hòa, chiến sỹ Cộng sản…và điên cuồng chống trả bằng nhiều thủ đoạn, phương thức man rợ…

Đó là sự thật lịch sử, là quy luật phát triển của xã hội loài người. Nhân loại đã chứng kiến những bi kịch lịch sử đó. 

Cụm từ “chính quyền bù nhìn”, “chính quyền tay sai của đế quốc Mỹ” được dùng để gọi chính quyền Sài Gòn trước đây hay ngược lại, “Việt Cộng”, “ Chính quyền tay sai của Nga- Xô, Trung- Cộng” để gọi Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chính là sản phẩm của tư duy chính trị mấy chục năm về trước, nay đã lỗi thời. 

Chúng tôi không có ý áp đặt quan điểm của mình lên người khác.

Chỉ có điều, nếu thực sự vì quốc gia và dân tộc, tất cả đều phải được đánh giá một cách khách quan, khoa học về những chính thể đã từng tồn tại trong các giai đoạn lịch sử. 

Phủ nhận sạch trơn hay ca ngợi một chiều chỉ có thể làm cho sự vật phát triển lệch lạc, thậm chí cản trở xu hướng phát triển tiến bộ của lịch sử nhân loại. 

Tuy nhiên, xét về mặt pháp lý, người ta không thể dùng ý chí chính trị để phủ nhận sự tồn tại khách quan của một thể chế chính trị đã được cộng đồng quốc tế chính thức thừa nhận, với tư cách là một thực thể trong quan hệ quốc tế: 

Năm 1954, Hiệp định Genève được ký kết, Việt Nam tạm thời chia làm hai miền do 2 chính quyền hợp pháp quản lý. 

Ở miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào quyền quản lý lãnh thổ và dân cư được trao cho các chính thể, lúc đầu là chính quyền Quốc gia Việt Nam.

Tiếp đến là chính quyền Việt Nam Cộng hòa và từ năm 1975 đến năm 1976 là Chính quyền Cách mạng lâm thời Cộng hòa niềm Nam Việt Nam. 

Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam là chính phủ hợp pháp được ra đời từ thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân Cách mạnh niền Nam Việt Nam và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. 

Thắng lợi của đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân miền Nam Việt Nam là đã lật đổ chính thể Việt Nam Cộng hòa, và lập ra một cách hợp pháp Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. 

Tính chính danh của chính thể Việt Nam Cộng hòa về mặt đối nội và đối ngoại đã bị xóa bỏ hoàn toàn ngay sau khi Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh đọc tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, ngày 30/4/1975.  

Từ thời khắc lịch sử đó, Việt Nam Cộng hòa chỉ còn được nhắc đến như là một thể chế chính trị của quá khứ, giống như các chính thể khác của các chế độ phong kiến, thực dân đã từng tồn tại trong lịch sử Việt Nam…  

Ở miền Bắc, từ vĩ tuyến 17 trở ra, quyền quản lý lãnh thổ, dân cư được trao cho Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa giai đoạn từ năm 1954 đến năm 1976.  

Ngày 02 tháng 07 năm 1976, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 (1976-1981), Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất được bầu vào ngày 25 tháng 4 năm 1976, đã quyết định đổi tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Chính thể Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã và đang là một chủ thể hợp hiến, hợp pháp, duy nhất trong quan hệ đối nội và đối ngoại dưới ánh sáng của Luật pháp quốc tế. 

Từ thời điểm lịch sử này, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam cũng đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử và trở thành các chính thể của quá khứ. 

Những sự kiện chính trị, pháp lý nói trên phải được các sử gia chân chính ghi nhận một cách trung thực khách quan trong các bộ lịch sử Việt Nam. 

Việc dùng tên gọi “chính quyền Sài Gòn”, “Việt Nam Cộng hòa” thay vì tên gọi mang nặng màu sắc chính trị: “chính quyền bù nhìn” hay “ngụy quân, ngụy quyền” là một việc làm rất cần thiết.

Điều này phản ánh một tư duy khoa học, khách quan, trung thực, tiến bộ của các sử gia Việt Nam, đáng được trân trọng, hoan nghênh. 

Vì vậy, chúng tôi không đồng tình với ai đó đòi “đốt bỏ” bộ lịch sử đồ sộ và có giá trị khoa học này chỉ để thỏa mãn cảm xúc cá nhân, theo đuổi tư duy chính trị đơn thuần. 

Đồng thời chúng tôi cũng xin nhấn mạnh rằng, nếu ai đó muốn lợi dụng sự kiện này để làm “sống lại” một chính thể của quá khứ, đã không còn tồn tại cả trên danh nghĩa và thực tế, bởi cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc hợp lý, hợp tình của đồng bào miền Nam chỉ là một ảo tưởng.

Thậm chí còn là một hành vi vi phạm Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, vi phạm luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế, chắc chắn họ sẽ bị trừng trị theo đúng Luật pháp hiện hành của Nhà nước Việt Nam.

Như đã phân tích ở trên, Nhà nước là một phạm trù lịch sử. Sự ra đời, tồn tại hay bị phế bỏ cũng là điều hoàn toàn theo đúng quy luật phát triển của xã hội loài người qua các giai đoạn lịch sử. 

Một Nhà nước muốn tồn tại lâu dài phải là một Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân, một chính phủ “liêm khiết, kiến tạo và hành động vì lợi ích của dân chúng”. 

Ngược lại, sẽ có những bi kịch có thể xảy ra có liên quan đến sự đổi thay mang tính tất yếu lịch sử.

Điều này đã được chính cụ Nguyễn Trãi tổng kết: “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời vẫn thường căn dặn. 

Người Trung Quốc đang “cười” chúng ta ?

Sở dĩ chúng tôi phải lên tiếng là vì dư luận người Việt ta đang chia rẽ, nhưng những kẻ đang dòm ngó chúng ta ngoài Biển Đông thì lại đang “mở cờ trong bụng”.

Bài viết này không chỉ nhằm mục đích góp thêm tiếng nói để người Việt chúng ta, trong cũng như ngoài nước ngồi lại với nhau, bình tĩnh nhìn lại quá khứ và chung lòng hướng tới tương lai của Đất Nước Việt Nam, bao gồm Đất, Biển, Trời, liền một giải, rộng dài và giàu đẹp.

Những gì mà chúng tôi đã đề cập ở trên có lẽ đã đủ để trả lời những vấn đề nhà Việt Nam học Tư Trấn Đào từ Viện Nghiên cứu Đông Nam Á - Trung Quốc đặt ra trong bài phân tích đăng trên Thời báo Hoàn Cầu ngày 30/8, với tiêu đề khiến chúng tôi không thể im lặng:

"Việt Nam sửa đổi lịch sử là tự đào hố chôn mình". [3]

Nếu ông Tư Trấn Đào là một nhà khoa học với đúng nghĩa của nó, hi vọng ông tự nhận ra được những sai lầm trong cách lý giải mang đậm màu sắc chính trị, duy lý và ngụy biện được thể hiện trong bài viết này.

Thực ra, những lập luận nói trên của nhà Việt Nam học Tư Trấn Đào không có gì là mới lạ cả. 

Bởi vì, mỗi khi nhắc đến giai đoạn Việt Nam Cộng hòa quản lý 2 quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa chờ ngày tổng tuyển cử theo Hiệp định Genève, kiểu gì cũng sẽ xuất hiện những luận điệu như vậy trên các phương tiện truyền thông Trung Quốc. 

Điều đáng nói là, mặc dù những lập luận của ông Tư Trấn Đào chỉ là một thủ thuật “chơi chữ”, nhưng nếu người Việt chúng ta vẫn còn sống với tư duy và cách nghĩ của mấy chục năm về trước, thì đã vô tình mắc bẫy những người như ông Tào.

Và một điều đáng lưu ý nữa, là bài phân tích của nhà Việt Nam học này chỉ xoáy vào câu chuyện cách gọi Việt Nam Cộng hòa trong bộ Lịch sử Việt Nam.

Trong khi đó, sự kiện Trung Quốc xâm lược toàn tuyến biên giới phía Bắc Việt Nam năm 1979 và gây xung đột kéo dài 10 năm sau đó, lần đầu tiên được gọi tên đúng với bản chất của nó là “xâm lược”, ông Đào chỉ lướt qua.

Thậm chí nhà nghiên cứu này còn dùng tên gọi trung tính để nhắc tới sự kiện Trung Quốc xâm lược Việt Nam năm 1979 mà bộ Lịch sử Việt Nam mới trả lại đúng tên cho nó, là "xung đột vũ trang biên giới Trung - Việt 1979".

Biểu hiện này khác hoàn toàn thái độ bóp méo lịch sử trên truyền thông chính thống Trung Quốc lâu nay, khi gọi cuộc chiến xâm lược này là "phản kích tự vệ". 

Đó là điều khiến chúng tôi phải suy nghĩ. Liệu đây có phải là một sự đổi thay trong nhận thức và chiến lược tuyên truyền của Trung Quốc? 

Còn sự thay đổi của cá nhân ông Tư Trấn Đào trong cách "định danh" cuộc chiến cần phải đặt trong bối cảnh và mục tiêu tổng thể bài viết: 

Tiếp tục chia rẽ dư luận Việt Nam bằng cách khoét sâu mâu thuẫn nội tại của quá khứ mấy chục năm về trước, để chứng minh cho yêu sách chủ quyền phi lý của Trung Quốc đối với Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam.

Và chúng tôi cũng xin lưu ý thêm với ông Đào, với tư cách một nhà nghiên cứu khoa học, thì ông nên lý giải như thế nào về việc:

Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã bê nguyên đường “lưỡi bò” của "ngụy quân, ngụy quyền" Trung Hoa Dân quốc về làm của mình, để đòi độc chiếm Biển Đông với lập luận đó là “sự kế thừa chủ quyền lịch sử”?

Vì thế, chúng tôi thiết tha mong muốn đồng bào người Việt mình, trong cũng như ngoài nước, hiểu rằng quá khứ đã qua và không thể thay đổi.

Nhưng hiện tại và tương lai như thế nào là nằm trong tay mỗi chúng ta.

Hòa giải, hòa hợp và đoàn kết thì dân tộc mới trường tồn, chia rẽ bè cánh sẽ đẩy chúng ta đến bờ vực, đến hang hùm miệng rắn.

Tài liệu tham khảo:

[1]http://tuoitre.vn/tin/van-hoa-giai-tri/van-hoc-sach/20170820/thua-nhan-viet-nam-cong-hoa-la-buoc-tien-quan-trong/1372210.html

[2]Lược khảo lịch sử tư tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, tập II, Trịnh Quốc Tuấn, Nguyễn Đức Bách, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 1994, trang 78.

[3]http://opinion.huanqiu.com/hqpl/2017-08/11193169.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Nghị nói ngược: ‘Tôi chưa bao giờ nghĩ mình là một nhà chính trị’


>> Một lũ người vô dụng!
>> Báo Mỹ: Tổng thống Trump ra lệnh sẵn sàng bắn hạ tên lửa Triều Tiên
>> Đừng bao giờ tin vào những lớp học làm giàu siêu tốc hay sách làm giàu không khó


Theo Vương Diệu – Hoàng Ly (Trí thức trẻ) 






















NQL - Năm 1997, sau khi bảo vệ xong luận án tiến sĩ và đang làm việc ở mức lương tương được hơn 100 cây vàng/năm thời đó, ông Nguyễn Đức Kiên lại quyết định về Việt Nam làm công chức Nhà nước. Cùng tới Đức năm 1992, ông Kiên là nghiên cứu sinh Việt Nam duy nhất trở về.

Thời điểm ông Nguyễn Đức Kiên trở về Việt Nam làm việc tại Ban Kinh tế Trung ương (1997) cũng đúng lúc đất nước bắt đầu chịu tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á bắt nguồn từ Thái Lan. Vị Tiến sĩ tốt nghiệp tại Đức phải làm quen với mức lương chuyên viên bình thường (khoảng vài trăm nghìn đồng/tháng) và môi trường làm việc mới.

Chia sẻ về lý do trở về Việt Nam, ông Kiên nói: “Mùa hè năm 1997, khi về nước chơi, tôi có tới thăm các thủ trưởng cũ và nhận được lời khuyên: ‘Trong 6-7 năm cậu đi thì đất nước khác lắm rồi, đổi mới rồi. Cậu về sẽ đóng góp được nhiều cho đất nước và đúng sở trường’. Tôi rất phấn khích lúc đó, rồi quyết định bỏ việc ở Đức và về nước”. Năm 1991 và 1992, tới Đức học và làm nghiên cứu sinh Tiến sĩ có 4 người Việt Nam nhưng chỉ có ông Kiên trở về nước.

Cơ duyên chính trị của anh thầy giáo

Tốt nghiệp đại học chuyên ngành tự động hóa, ông Kiên ở lại Đại học Giao thông Vận tải làm giảng viên. Tuy nhiên, năm 1984 khi thực hiện chủ trương cải cách giáo dục và các trường đại học về Bộ Giáo dục Đào tạo, giảng viên Kiên cùng với thầy trưởng khoa của mình GS.TS Lã Ngọc Khuê chuyển về Bộ Giao thông Vận tải (sau này ông Khuê trở thành Thứ trưởng). Cựu giảng viên chia sẻ: “Tôi cũng tâm tư khi chuyển vì vẫn thích làm giáo viên, gia đình tôi cũng toàn làm nghiên cứu chứ không làm quản lý (bố mẹ ông Kiên đều làm nghề giáo: mẹ làm giảng viên bộ môn Mắt, Đại học Y Hà Nội, bố là Giáo sư Bệnh viện Hữu Nghị, Chủ tịch Hội hóa sinh miền Bắc)”.

Sự nghiệp chính trị của ông Kiên bắt đầu từ “bước chuyển tâm tư” và đánh dấu với việc phụ trách một sự kiện khá đặc biệt thời kỳ đó là kiểm định cầu Thăng Long. Năm ấy, lần đầu tiên Liên Xô hỗ trợ cho Việt Nam kiểm định cầu bằng điện tử. Trước đó, chưa có một sự kiện kiểm định cầu nào được tổ chức đặc biệt như thế. 50 dattric điện tử được gắn vào các dầm cầu Thăng Long. 60 ô tô ở tầng hai của cầu gồm nhiều xe bò ma đủ tải trọng, mỗi cánh gà tầng dưới có 6 xe bò ma nữa, 2 đoàn tàu trên đường ray đôi được bố trí để thử tải trọng.

Khi cờ báo hiệu được phất, tất cả các phương tiện đang chạy, đột ngột phanh gấp từ tốc độ 60km/h. Cuộc kiểm nghiệm cầu Thăng Long kết thúc sau những thử tĩnh và thử động trên từng dầm. Không một bước nào trong quy trình kiểm nghiệm được làm qua loa… “Đó là một kỷ niệm khó quên đối với tôi”, ông Kiên tâm sự về buổi kiểm nghiệm được coi là “hoành tráng nhất” mà ông từng biết “cho đến tận bây giờ”.

Thời gian ở Bộ Giao thông Vận tải của thầy giáo này kéo dài hơn 6 năm. Tìm được học bổng chuyên ngành quy hoạch giao thông, năm 1991, ông Kiên tới CHLB Đức du học theo chương trình cao học. Giải thích về lý do chọn CHLB Đức, Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội cho biết bị ảnh hưởng từ kinh nghiệm của bố đã làm nghiên cứu sinh ở Cộng hòa dân chủ Đức và phương pháp làm việc của các chuyên gia Cộng hóa dân chủ Đức khi sang công tác tại Việt Nam (ông Kiên sang học khi nước Đức đã thống nhất).

Tại CHLB Đức, sau khi học hết chương trình cao học, ông Kiên thi tiếp nghiên cứu sinh tiến sĩ về kinh tế vĩ mô quy hoạch vùng. Hoàn thành chương trình tiến sĩ, ông ở lại Đức làm việc và lúc về nước đang ở mức tương đương hơn 100 cây vàng thời đó.

Vị đại biểu Quốc hội chuyên trách tâm sự: “Học tập và làm việc ở Đức, tôi ngấm 2 tính cách: kỷ luật và nói thẳng. Người Đức sẽ nói ‘Tuần này, Kiên đi muộn 3 lần’ chứ không nói kiểu ‘Kiên thì tốt đấy, nhiều ưu điểm nhưng cũng có nhược điểm là hay đi muộn’. Điều này đôi khi lại trở thành nhược điểm của tôi”.

Ngã rẽ cuộc đời

Cuối năm 1997, phấn khích với chia sẻ của các thủ trưởng cũ, ông Kiên bỏ việc ở CHLB Đức về Việt Nam và làm chuyên viên tại Vụ Công nghiệp, Ban Kinh tế Trung ương. Vợ và 2 con ông Kiên vẫn ở lại CHLB Đức (con trai lớn hiện là giảng viên Đại học Mannheim – trường được coi là Havard của nước Đức, con gái đang học năm thứ 2 đại học).

Năm đó, ông Kiên là người trẻ nhất Vụ (37 tuổi) và trở thành nhân tố mới. Lãnh đạo, chuyên viên cao cấp tại đây thường có kinh nghiệm làm quản lý Nhà nước nhiều năm ở cơ quan khác, hoặc tối thiểu là giám đốc ty Công nghiệp tỉnh.

Ở Vụ Công nghiệp, “nhân tố mới” chia sẻ, ông cảm thấy rất may mắn. “Môi trường tại đây thẳng thắn không khác gì ở Đức” và “các anh đều tận tình chia sẻ kinh nghiệm cũng như cách làm việc, mà nhờ đó mình có cơ hội thể hiện được năng lực cũng như kiến thức mới”, ông Kiên tâm sự. Chỉ sau vài tháng, ông Kiên được chuyển lên chuyên viên chính và sau đó thăng tiến rất nhanh tại Ban Kinh tế Trung ương. Chỉ sau 6 năm, ông Kiên đã được bổ nhiệm từ chuyên viên lên giữ chức Vụ trưởng Vụ Công nghiệp.

Tháng 1/2007, Ban Kinh tế Trung ương được hợp nhất về Văn phòng Trung ương Đảng. Lúc đó, ông Kiên cùng 4 vị Vụ trưởng khác chuyển sang Quốc hội và đi ứng cử tại các địa phương. Ông Kiên là đại biểu Quốc hội được ứng cử tại địa bàn tỉnh Sóc Trăng. Trong số các Vụ trưởng, ông Kiên là cán bộ duy nhất đáp ứng đủ điều kiện luận chuyển và được phân công giữ chức Ủy viên Ban thường vụ tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Sóc Trăng vào đầu năm 2008 và sau đó được Đại hội Đảng bộ tỉnh bầu là Phó Bí thư tỉnh ủy.

Về địa phương, ông Kiên nhanh chóng phải làm quen với nhiều thứ mới mẻ từ ngôn ngữ (cách nói pha lẫn tiếng phổ thông và tiếng Khơ me), kỹ thuật làm nông (ngành kinh tế chính của Sóc Trăng)… đến cách điều hành đặc thù của một lãnh đạo tỉnh. Tuy nhiên, cú sốc đến với ông Kiên khi thực hiện trách nhiệm của một đai biểu Quốc hội chuyên trách.

“Quốc hội của năm 2007 và năm 2017 đã có sự đổi mới kinh khủng. Khi còn ở Ban Kinh tế Trung ương, tôi được quyền tham dự cuộc họp của lãnh đạo, được quyền tiếp cận bất cứ thông tin nào của các Bộ bởi Đảng chỉ đạo theo nghị quyết và các điểm nóng. Thế nhưng, khi sang Quốc hội thì thấy ngay là việc tiếp cận thông tin với các Bộ và Chính phủ là rất khó và phải theo chuyên đề”, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế tâm sự về thời kỳ đầu làm chuyên trách.

Thực tế, việc rẽ ngang sang Quốc hội cũng là “một tâm tư lớn” với ông Kiên khi sự nghiệp tại Ban Kinh tế Trung ương đang rất rộng mở vào cuối năm 2006. Thế nhưng, với ông Kiên có lẽ đó là cái duyên của một người thích làm nghiên cứu.

Phát biểu “lạ” về nợ công

Trở thành một đại biểu Quốc hội chuyên trách nhưng “ông nghị” Nguyễn Đức Kiên chia sẻ: “Chưa bao giờ tôi nghĩ mình là một nhà chính trị cả. Đến thời điểm này tôi vẫn là một người làm công tác nghiên cứu. Những trao đổi tại hội thảo hay phát biểu tại hội trường Quốc hội đều xuất phát từ khoa học, kết quả nghiên cứu, tôi không phát biểu theo cảm tính”.

Tuy nhiên, ngay cả khi phát biểu dựa vào những nghiên cứu khoa học, ông Kiên cũng có những lần “rất đắn đo và nhiều suy tư”. Cuối năm 2014, trong phiên thảo luận tại hội trường về hình lại tình hình kinh tế xã hội giai đoạn 2011-2015, ông nghị này phát biểu đầu tiên và đưa ra các nhận xét “lạ” (vào thời điểm đó) về nợ công và tăng trưởng kinh tế.

Hôm đó, ông Kiên đã đưa ra các con số cho thấy tốc độ tăng của nợ công gấp 3 lần tăng trưởng kinh tế và khi nợ công càng cao, vốn đầu tư càng lớn thì tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 2001 đến 2011 đều giảm dần. Đây là những đánh giá mà theo nghị sĩ tỉnh Sóc Trăng là “không trùng với báo cáo của Chính phủ cũng như văn kiện Đại hội Đảng”.

Theo phân tích của ông Kiên, nhìn lại kế hoạch phát triển kinh tế giai đoạn 2011 – 2015 có 11 chỉ tiêu đạt kế hoạch, chủ yếu là chỉ tiêu về tiêu tiền nhưng tổng chỉ tiêu sản xuất để làm ra tiền thì không đạt. “Trong bối cảnh nền kinh tế đang khó khăn, chúng ta cứ đưa ra những chỉ tiêu để tiêu tiền, đảm bảo các mục tiêu khác thì liệu chúng ta có nuôi được nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước không?”, đại biểu này đặt câu hỏi.

Cũng từ đó, nghị sĩ này đề nghị cần phải nói rõ hơn về nợ công. Báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, bắt đầu từ năm 2011, Việt Nam phải phát hành trái phiếu để đảo nợ và nói đến tỉ lệ nợ công bằng 65% GDP. Tuy nhiên, ngưỡng 65% GDP là mức đề ra trong Chiến lược nợ công của Thủ tướng Chính phủ quy định đến năm 2020 chứ không phải đến năm 2015. Từ đó, đại biểu Kiên đặt câu hỏi: “Có phải chúng ta đã tiêu hết tiền của 6 năm về sau không?”.

Một năm sau đó, trước nhiều ý kiến ủng hộ việc phát hành trái phiếu quốc tế 3 tỷ USD để tái cơ cấu danh mục nợ của Chính phủ, ông Kiên (lúc đó là Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội) cũng lưu ý các đại biểu về Luật Quản lý nợ công và giá phát hành. Đại biểu Sóc Trăng cho biết, quy định hiện nay không cho phép vay ngoại tệ để cơ cấu lại các khoản vay bằng đồng Việt Nam. Thêm nữa, việc tính toán phát hành trái phiếu quốc tế thì rẻ hơn trong nước là chưa chắc chắn.

Ông Kiên phân tích, theo báo cáo của Chính phủ hiện nay (năm 2015) lợi suất trái phiếu đang phát hành khoảng hơn 6% cộng thêm chi phí phát hành, cộng thêm biến động tỷ giá và so sánh lại với trái phiếu đang phát hành trong nội địa, thì sẽ thấy được ngay giá đắt hay rẻ. Nghị sĩ này dẫn thêm số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư gửi cho các đại biểu Quốc hội về tỷ giá năm 2009 là 16.000 đồng/USD và năm 2015 (thời điểm phát biểu) lên 22.350 đồng/USD. “Nếu cộng thêm biến đổi tỷ giá đó thì chưa chắc đã rẻ”, ông Kiên nhận xét.

Tâm sự về “nghề ông nghị” và Facebook

Chia sẻ về “nghề ông nghị” của mình, vị Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội tâm sự: “Quốc hội phải làm việc theo luật và cơ chế đồng thuận, mà đại biểu kiêm nhiệm nhiều hơn đại biểu chuyên trách. Khi đưa ra các giải pháp, các đại biểu kiêm nhiệm, phần nhiều ở địa phương sẽ có tính chất cục bộ”. Cũng vì thế, ông Kiên cho rằng, có những phát biểu, nghiên cứu dù mang tính khoa học với số liệu chứng minh không phải lúc nào cũng được chấp nhận bởi số đông đại biểu và “đó là một thực tế”.

Chia sẻ thêm về những phiên phát biểu tại hội trường có truyền hình trực tiếp, ông Kiên nói: “Gần 500 đại biểu nhưng ai cũng muốn phát biểu thì phải chia phút ra, mà đã chia mỗi người 7 phút thì không phát biểu sâu được và như vậy sẽ khó thuyết phục. Đó là một cơ chế đầy mâu thuẫn”.

Tuy nhiên, vị đại biểu Quốc hội luôn nghĩ mình là một nhà nghiên cứu tìm thấy những niềm vui đặc biệt khi thực hiện công việc của mình. “Điều sướng nhất là phát hiện được các vấn đề mang tính lý luận từ những hiện tượng nhỏ lẻ, rải rác ở các địa phương, các ngành, rồi đưa ra được giải pháp xử lý và được chấp nhận”, ông Kiên nói.

Vài năm gần đây, cùng với sự phát triển của facebook tại Việt Nam, những câu chuyện trên nghị trường Quốc hội cũng được bàn luận xôm tụ nhiều hơn trước và như ông Kiên nhận xét: “Với một số đại biểu nó tác động rất lớn, tạo ra dư luận rất khó phân biệt được đúng sai”. Thế nhưng, nghị sĩ này bình luận: “Người ta gọi là anh hùng bàn phím chứ không gọi là anh hùng đời thường là có lý do. Khi ngồi ở bàn phím thì ông nói như một nhà đạo đức, như một nhà kinh tế… nhưng rời khỏi bàn phím thì như trẻ con nói với nhau là ‘Thôi mày lộ nguyên hình ra đi!’ (cười)”.

Vị Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế dẫn lời của Phó Chủ tịch Đảng SPD (Đức) – “Số lượng người sử dụng mạng xã hội không phải là thước đo để đánh giá trình độ công nghệ 4.0 của một quốc gia”, và nói thêm: “Tôi tán thành nhận xét đó”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cám ơn GS Ngô Bảo Châu xây ngôi trường trong mơ

Cám ơn GS Ngô Bảo Châu và bè bạn
Thấy học sinh vùng cao phải chịu đựng ngôi trường sụp xệ, lầy lội. Giáo sư Ngô Bảo Châu sau 2 năm xây dựng cùng với những người bạn là Nhà báo Trần Đăng Tuấn, KTS Hoàng Thúc Hào, ngôi trường có kiến trúc hình cánh diều (nâng cánh ước mơ), với tổng diện tích xây dựng 4.000 m2 , kinh phí 6 tỉ đồng, được hoàn thành vừa kịp đưa vào khai giảng cho 8 lớp tiểu học và 2 lớp Mẫu giáo tại Lũng Luông (Thái Nguyên).


Vậy là ông giáo sư từng bị bêu rếu là có tư tưởng chính trị thụt lùi về nhận thức, phản động, vô ơn, bị cuốn theo lối sống tự do, dân chủ thực dụng của phương Tây lại xây được trường cho học sinh. Còn mấy ông giáo có nhận thức và tư tưởng chính trị vững vàng thì chỉ xây được tượng đài với mấy công trình nghìn tỷ ?!
Một ông Giáo sư "phản động" chỉ biết xây trường học cho học sinh nghèo. Còn những bạn đã từng chỉ trích ông đã làm được gì cho đất nước chưa?









http://m.kenh14.vn/can-canh-ngoi-truong-doc-dao-va-dep-nhu-…

- từ fb Trần Trí -

Dưa Leo - Stand up comedian


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những nhà thơ chỉ có một bài thơ


image
Bài hịch của Lý Thường Kiệt trước cơ sở ngoại giao Trung Cộng ở San Francisco 

Trong lịch sử văn học Việt nam và thế giới, chúng ta biết có những nhà thơ chỉ có một bài thơ. Thế mà, tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, sống mãi với thời gian, sống mãi với người đọc.

Tác phẩm của họ, bài thơ duy nhất ấy, vẫn mãi làm xúc động người đọc, vẫn mãi tiếp thêm năng lượng sống cho các thế hệ.

1. Bài thơ thần – bài thơ “Nam quốc sơn hà” - của Lý Thường Kiệt:

image


Lý Thường Kiệt (1019 – 1105) là nhà quân sự, nhà chính trị nổi tiếng, một thái giám đời nhà Lý, có công to lớn trong việc đánh bại hoàn toàn quân xâm lược Tàu-Tống vào năm 1075-1077. Ông được cho là người đã viết ra tác phẩm “Nam quốc sơn hà” (Sông núi nước Nam).

Tài năng quân sự và chiến công trước quân xâm lược Tàu-Tống trong Chiến trận Như Nguyệt vào năm 1077 đã làm nên tên tuổi của ông. Ngày nay, người Việt thường liệt ông vào danh sách 14 vị anh hùng dân tộc tiêu biểu nhất trong lịch sử Việt Nam.
image 
image 

Dịch nghĩa:

image 

Dịch thơ:

image 

Hiện nay, có nhiều bản dịch thơ khác nhau. Nhưng, bản dịch thơ của học giả Trần Trọng Kim là bản dịch được nhiều người chấp nhận.

Bài thơ chỉ gồm (7 chữ) x (4 dòng), chỉ vỏn vẹn có 28 chữ, đã khẳng định quyền độc lập tự chủ của Dân tộc, vạch trần sự phi nghĩa, phi pháp của bọn xâm lược Tàu-Tống và sự thất bại triệt để, không thể tránh khỏi của chúng. Bởi thế, bài thơ đã được đánh giá là “bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của Dân tộc ta”.

2. Bài thơ “Cảm hoài” của Đặng Dung:

Đặng Dung (1373 - 1414), là nhà thơ và là danh tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai của Đặng Tất, người theo phò vua Giản Định đế của nhà Hậu Trần, sau bị Giản Định đế giết chết cùng với tướng Nguyễn Cảnh Chân. Giận vì cha mình chết oan, Đặng Dung cùng Nguyễn Cảnh Dị (con của Nguyễn Cảnh Chân) bỏ đi, lập Trần Quý Khoáng tức vua Trùng Quang và tiếp tục khởi nghĩa.


image 
image 

Dịch nghĩa:

image 

Dịch thơ :

image 

image 

Bài thơ “Cảm hoài” (Nỗi lòng) chính là tiếng nói gan ruột của một bậc anh hùng thất cơ, lỡ vận. Người anh hùng đó có một hoài bão, một khát vọng to lớn là muốn giúp vua, nâng trục đất, muốn rửa sạch binh giáp, muốn đem lại thái bình cho đất nước, cho muôn dân. Nhưng, khi tuổi đã cao, sức đã kiệt, người anh hùng đó vẫn chưa thực hiện được khát vọng, hoài bão của mình. Bởi thế, tuy nói về sự thất bại, bài thơ vẫn khơi dậy ở người đọc những điều lớn lao, cao cả. Và, có lẽ vì thế, bài thơ vẫn sống mãi với các thế hệ người Việt Nam chúng ta.

3. Bài thơ «Un secret» (Một bí mật) của Félix Arvers:

Félix Arvers (1806-1850) là một nhà thơ Pháp. Ông viết tập thơ «Mes heures perdues» (Thời gian rảnh rỗi của tôi) năm 25 tuổi. Bài thơ Un secret(Một bí mật) là bài thơ trong tập thơ đó, và là bài thơ nổi tiếng duy nhất của ông. Vì vậy, trong nền văn học Pháp, Félix Arvers được xem là "Nhà thơ của một bài thơ duy nhất". Bài Un secret được viết dưới dạng một bài Sonnet (tức là một bài thơ gồm 14 câu, tuân theo cấu trúc và luật gieo vần khắt khe), do đó, nó cũng thường được gọi là Sonnet d'Arvers (Bài Sonnet của Arvers).
Félix Arvers yêu cô Marie, nhưng đó là tình yêu đơn phương, nên ông viết bài Sonnet «Un secret» để bày tỏ tình yêu câm lặng của mình.

image 

Dịch nghĩa:

image 

Dịch thơ :

image 

Bài thơ nói về tình yêu, một tình yêu đơn phương, một tình yêu tuyệt vọng. Và, vì thế, người đọc chúng ta cảm nhận được một tình yêu chân thực, mạnh mẽ, nồng nàn, thiết tha của nhà thơ - người con trai, với cô gái xinh đẹp, mềm mại và dịu dàng (« douce et tendre ») nhưng lại quá đỗi thờ ơ, lãnh đạm!

Bản dịch thơ của Khái Hưng đã góp phần biểu đạt tâm trạng ray rức, xót xa, buồn khổ, đau đớn của nhà thơ – người con trai trong mối tình đơn phương, vô vọng và tuyệt vọng ấy.




Phan Thành Khương

image


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ Trịnh Vĩnh Bình và Trịnh Xuân Thanh: Bài học quá đắt


image
Trịnh Vĩnh Bình và Trịnh Xuân Thanh

Cần tôn trọng và thực hiện đúng luật pháp trong nước, nước sở tại cũng như quốc tế là những bài học 'đau đớn' cho Việt Nam sau vụ Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ Việt Nam và vụ bắt ông Trịnh Xuân Thanh đem về nước.

image
Từ Budapest, tiến sĩ Nguyễn Quang A và tiến sĩ Lê Đăng Doanh bình luận với Quốc Phương hệ lụy của hai vụ việc này hôm 31/8.

Vụ Trịnh Xuân Thanh: "Sai thì phải nhận, phải tôn trọng pháp luật sở tại"

image

Tiến sĩ Nguyễn Quang A nói vụ Trịnh Xuân Thanh có thể được coi là một "thảm họa ngoại giao" "rất đáng tiếc" cho Việt Nam.

image

"Tôi nghĩ Việt Nam chả cần làm đến biện pháp 'rừng rú' như vậy để có những thông tin cần thiết nếu họ có đấu đá nội bộ với nhau.

"Sự việc nó đã xảy ra và quan hệ giữa Đức với Việt Nam nói riêng và có thể giữa EU với Việt Nam nói chung sẽ có những ảnh hưởng rất là xấu. Bây giờ, chắc chắn là chính phủ phải có cách giải quyết, nhưng tôi nghĩ phải nên rất cẩn thận.

"Tất nhiên [có thể dùng] phương pháp ngoại giao để mình không quá mất mặt, nhưng mà sai thì phải nhận ra và phải tôn trọng người ta, phải tôn trọng pháp luật nước sở tại và quốc tế. Làm như thế này thì còn ai chơi với Việt Nam nữa.

"Đây là một bước đi hết sức là tai hại cho mối quan hệ của VN với quốc tế, và tôi nghĩ người nào có chủ trương này có lẽ cũng phải chịu trách nhiệm trước dân tộc về cái thảm họa ngoại giao này."

Hệ lụy của vụ Trịnh Xuân Thanh?

image

TS Lê Đăng Doanh khuyến cáo phía Đức không nên loại bỏ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam Liên minh Châu Âu (EUVFTA) vì việc này sẽ ảnh hưởng tới hàng triệu người lao động, những người 'là nạn nhân chứ không phải thủ phạm' của vụ này.

"Theo tôi, cách tốt nhất đối với VN là nên có đàm phán và giải quyết một cách thực chất đối với phía Đức, hạn chế những thiệt hại không cần thiết đối với sự hợp tác và quan hệ hữu nghị với Đức.

image

"Tôi đã có phát biểu trên truyền thông của Đức là rất mong hai bên sẽ hợp tác với nhau để hạn chế các biện pháp trừng phạt người dân. Nếu bây giờ mà loại bỏ Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam Liên minh Châu Âu thì nó sẽ tác động đến hàng triệu người lao động trong lĩnh vực may mặc, da giầy, nông lâm thủy sản. Họ là những nạn nhân chứ không phải là thủ phạm trong vụ này.

"Phía Đức và Việt Nam nên tiến tới đàm phán để có các biện pháp làm rõ ai là người chịu trách nhiệm về vụ này. Việt Nam cần rút kinh nghiệm rất sâu sắc và bảo đảm thực thi pháp luật, tôn trọng pháp luật của nước sở tại và luật pháp quốc tế trong khi hành xử vụ khác trong tương lai."

Cảnh báo từ vụ án Trịnh Vĩnh Bình

image
Vẻ mặt phấn khởi của ông Trịnh Vĩnh Bình sau khi rời phiên tòa xét xử cuối tháng Tám ở Pháp

Ông Trịnh Vĩnh Bình kiện chính phủ Việt Nam ra Tòa trọng tài Quốc tế ở Paris hồi cuối tháng 8/2017 đòi bồi thường với số tiền là 1,25 tỷ USD.

Bình luận về hệ lụy của vụ án này, ông Nguyễn Quang A nói:

image

"Vụ Trịnh Vĩnh Bình vạch ra một tập quán rất xấu. Chính quyền [đáng lẽ] phải thực hiện nghiêm túc luật pháp thì họ lại không làm. 

Đây là một bài học cho tất cả các cơ quan nhà nước. Các cơ quan nhà nước phải thực hiện đúng luật trước tiên rồi sau đó mới được yêu cầu người dân thực hiện đúng luật.

"Nhà nước sẽ phải tốn một khoản tiền rất lớn để đền cho ông Trịnh Vĩnh Bình. Nghe nói là sau khi trừ chi phí, ông ấy sẽ dành 90% số tiền ấy để làm từ thiện cho Việt Nam. Như vậy về cơ bản VN cũng không mất nhiều tiền lắm trừ án phí 10%.

"Nhưng hậu quả về mặt kinh doanh là rất xấu đối với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài và với các doanh nghiệp nói chung. Một lời cảnh báo rất nghiêm túc với các cơ quan nhà nước VN là các ông phải thực hiện nghiêm về luật. Không thể sử dụng luật rừng để đối xử với người dân và các doanh nghiệp cũng như các nước bạn bè."

Bài học từ vụ Trịnh Vĩnh Bình

image

Tiến sĩ Lê Đăng Doanh nói vụ án này là một bài học đau đớn đối với chính phủ Việt Nam với tác động "trầm trọng" đến tâm lý các doanh nhân về môi trường kinh doanh Việt Nam.

"Điều cần phải rút kinh nghiệm là không thể hình sự hóa các mối quan hệ kinh thế và quản lý dân sự. Càng không thể áp đặt định kiến của một người nào đấy để trừng phạt một doanh nhân trong nước hay ngoài nước.

"Tác động về mặt tâm lý về môi trường kinh doanh còn trầm trọng hơn số tiền phải bỏ ra vì các doanh nhân sẽ rút kinh nghiệm, sẽ xem xét họ có thể trở thành một Trịnh Vĩnh Bình thứ hai hay không và theo tôi điều này có gây tổn hại rất lớn.

image

"Tôi rất mong phía VN sẽ truy cứu trách nhiệm và làm rõ những người nào đã gây ra vụ kiện này, những người nào đã không thực hiện cam kết đền bù cho Trịnh Vĩnh Bình trông phiên tòa đầu tiên và đến bây giờ những người đã dẫn đến vụ án này. Tất cả những người này đều phải chịu trách nhiệm về mặt hành chính, tài chính hay hình sự nếu có những vi phạm như vậy."




Quốc Phương

image

Phần nhận xét hiển thị trên trang