Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 14 tháng 8, 2017

Con Sư Tử Đói thức giấc đang quậy phá khắp nơi ?


Cách đây 200 năm (1816), Napoleon Bonaparte, vị hoàng đế trẻ nhất của nước Pháp đã nói về nước Tầu bằng một nhận xét như sau: “Hãy để con sư tử này ngủ yên, vỉ nếu thức tỉnh, nó sẽ làm cả thế giới run sợ”. Câu nói này ngày nay đã trở thành sự thật và sự thật đó sẽ được trình bày trong những đoạn viết tiếp theo.
Biến cải “lục địa đen” thành thuộc địa.
Tàu cộng đang biến cải Phi Châu thành thuộc địa. Các lãnh đạo Tàu muốn Phi Châu là chư hầu ở xa để vừa giải quyết nạn nhân mãn vừa chiếm được tài nguyên thiên nhiên.  Trong khi Hoa Kỳ và cả thế giới im lặng trước hành động này, Tàu cứ tiến tới.


Một triệu quân Tàu di chuyền ngang dọc Phi Châu và Nam Mỹ để chiếm các nguyên liệu chiến lược và chiếm các thị trường mới nổi, trước Mỹ, Nhật và Âu Châu. Thế giới cần phải coi chừng con sư tử đói thức giấc này. 

Đế quốc Tàu là một nước tham lam vô độ. Nó tiêu thụ nửa số xi măng và nửa số thépcủa thế giới, một phần ba số đồng, một phần tư số aluminium, và những số lượng vĩ đại antimony, chronium, cobalt, lithium, zinc và gỗ.

Những nguyên liệu này, quốc gia nào trên thế giới cũng cần, nhất là Hoa Kỳ và các quốc gia kỹ nghệ Âu Châu. Bauxite và sắt của Guinea và Tanzania dùng để sản xuất phi cơ  ở Seattle (Mỹ), đóng tàu ờ Bath (Maine – Mỹ), đồng của Chile dùng làm giây điện, cobalt của Congo dùng trong các sở cơ khí ở Michigan (Mỹ), lithium của Bolivia dùng để chế tạo xe hơi, manganese của Gabon dùng trong kỹ nghệ nhựa, titanium của Mozambique, Madagascar, Paraguay dùng để sản xuất thép tốt trong kỹ nghệ máy bay, làm đầu gối và hông người nhân tạo trong y tế.  Tầu cộng đang lăn xả vào các đống nguyên liệu này để giữ làm của riêng.  Hậu quả sẽ không thể nào lường trước được cho các nền kinh tế khác ngoài lục địa Trung Hoa.

Thủ thuật cướp tài nguyên thiên nhiên bằng sức mạnh mềm.

Việc khai thác dầu hỏa ở Phi Châu cần sự tiến bộ. Nhưng Tàu đến đây không phài để giúp mà để cướp.  Thù thuật cướp bằng sức mạnh mềm là giơ cao tấm chi phiếu to và hứa hẹn cho vay rộng rãi với lãi suất thấp để xây dựng hạ tầng cơ sở, hoặc dinh tổng thống, hoặc mua vũ khí AK 47.  Đổi lại phía đi vay chỉ cần chấp nhận hai điều kiện: 1/ khi nhận tiền phải giao nộp ngay tài nguyên thiên nhiên; 2/ phải mở cửa cho hàng TC đã chế biến vào thị trường thuộc địa.

Thủ thuật này tạo công ăn việc làm cho đế quốc Tàu và giúp các công ty đế quốc thịnh vượng. Quảng Châu, Thành Đô, Thượng Hải tiếp tục phát triển trong khi các thuộc địa mới của Tàu tiếp tục lụn bại.


Sức mạnh mềm trở thành công cụ bành trướng

Ai đến Phi Châu cũng thấy ngay là toàn thể lục địa này đang bị Tàu xâm chiếm bằng sức mạnh mềm. Thủ thuật ngoại giao bằng sức mạnh mềm (nghĩa là cho vay) đang được Bắc Kinh áp dụng khắp mọi nơi trên mặt lục địa này. Angola trả nợ Tàu bằngdầu, Ghana trả nợ Tàu bằng hạt cacao, Nigeria trả nợ Tàu bằng khí đốt… 

Không một nước nào được hưởng lợi với đế quốc Trung Hoa. 

Ở Zimbabue, Tàu bóc lột còn tàn nhẫn hơn. Tàu bỏ ra 5 tỳ đô la mua một mỏplatinum đáng giá 40 tỷ đô la.  Với 5 tỷ đô la đó, nhà độc tài Robert Mugabe xây lâu đài mới, mua trực thăng vũ trang và phi cơ phản lực cùng với rất nhiều vũ khí khác để đàn áp dân lành.

Hiện tượng này, không chi xảy ra tại Phi Châu mà còn ở kắp nơi trên thế giới. Tại Peru, Tàu đã làm chủ một ngọn núi đồng. Tàu chỉ mua ngọn núi này với 3  tỳ đô la mà bây giờ đang hưởng lợi tới  2000%.  Trong khi đó dân Peru vẫn tiếp tục đói khát, mù chữ và phải đối mặt với đủ thứ tai nạn lao động.

Khi Tàu kiểm soát bauxite ở Brazil, Guinea, Malawi, đồng ở Congo, Kazahkstan, Nami-bia, sắt ở Liberia, Somalia, manganese ở Burkina Fasco, Campuchia, Gabon, chì ở Cuba, Tanzania, kẽm ở Algeria, Nigeria, Zambia…thì còn đâu cho các xưởng ở Cincinatti, Memphis, Pittsburg của Mỹ và các xưởng của các quốc gia khác như Đức, Nhật, Seoul. 

Người ta có nhiều lý do để sợ rằng xe hơi tương lai sẽ sản xuất ở Lan Châu (Lanzhou) và Vũ Hồ (Wuhu) thay vì ở Detroit và Huntsville, máy bay sẽ sản xuất ở Binzhou và Thẩm Dương thay vì ở Seattle và Wichita, chip cho máy vi tính sẽ làm tại Đại Liên (Daliem) và Thiên Tân thay vì tại Silicon Valley, thép cùa thế kỹ 21 sẽ được sản xuất nhiều hơn tại Đường Sơn (Tangshan) và Vũ Hán (Wuhan) thay vì ở Birmingham. Alabama và Illinois của Hoa Kỳ.

Chắc chắn đây không phải là thị trường tự do và hợp tác thương mại quốc tế nữa. Ai cũng phài rùng mình với chuyện đang xảy ra này.  Nhưng không hiểu sao trong các phòng họp chính trị ở Washington, Berlin, Tokyo các chính khách vẫn giữ thái độ “sống chết mặc bay” và chẳng thèm để ý.

Nếu cảnh này cứ tiếp tục thì rồi đây Tàu cộng sẽ ở vị thế độc quyền về tài nguyên với giá thấp nhất và như vậy Tàu có thể cạnh tranh với Mỹ và cả thế giới. Kế hoạch thâu tóm tài nguyên cùa Tàu tương đương với việc cấm vận tài nguyên đối với các quốc gia khác trên mặt địa cầu.

 Một cuộc di dân trá hình

Trên thực tế không phải chỉ có kỹ sư và kiến trúc sư Tàu đến Phi Châu. Nông dân cũng đến luôn. Lúc đầu Tàu hứa hẹn cho vay tiền để xây dựng hạ tầng cơ sở, tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, nhưng khi khởi công xây cất thì Tàu lại mang cả triệu công nhân sang để mặc nhiên tranh chỗ.  Tàu đưa dân mình qua tối đa và chỉ thuê dân địa phương ở mức tối thiểu.  Cho nên người dân của các thuộc địa mới của Tàu như Angola và Zimbabue vẫn bị nghèo đói và thường bị nội chiến vì sự tráo trở của Tàu.

Ngoài mục đích thâu tóm tài nguyên và chiếm lĩnh thị trường mới, Tàu còn có kế hoạch xuất cảng nhiều triệu dân qua Phi Châu và Nam Mỹ để giải quyết nạn nhân mãn. Trên lục địa Trung Hoa có 600 con sông thì 400 sông đã kể như chết vì quá ô nhiễm.  Wikeleaks tiết lộ Bắc Kinh muốn dời 300 triệu dân sang Phi Châu.  Khi các chính quyền Phi Châu không thể trả nợ thì chắc chắn hiện tượng di tản này sẽ xảy ta.  Mỹ hiện tại đang nợ Tàu khoảng hai ngàn tỷ đô la: các tiểu bang Montana và Wyoming vắng dân có thể đang là những điểm ngắm của Bắc Kinh.   

Trong thập niên qua 700.000 dân Tầu đã định cư tại Phi Châu. Kế hoạch vẫn còn tiếp tục.  Cờ Tầu bay phấp phới khắp mọi nơi trên lục địa đen.  Các tòa đại sứ mới của Tàu đang tiếp tục được xây cất, các sân bay mới đang được hoàn tất.

Dân Tàu tràn sang Phi Châu như cơn nước lũ. Các khu đô thị biệt lập với hàng rào bao bọc mọc lên khắp nơi, nhưng không cho người da đen bén mảng.  Hơn một triệu nông dân Tàu đang cầy cấy đất Phi Châu, sản xuất thực phẩm để xuất cảng ngược về Hoa Lục trong khi dân địa phương vẫn thiếu thực phẩm tiêu thụ.

Theo tuần báo The Economist, Tàu đã chiếm bảy triệu mẫu dầu cọ (palm oil) của Congo để làm xăng hữu cơ.  Hình thức “nông trại hữu nghị” đang được sử dụng tại các xứ Gabon, Ghana, Guinea, Mali, Mauritania và Tanzania.
  
Dùng gái điếm để thu hút di dân tới những nơi vắng vẻ

Tầu mang sang Phi Châu cả gái điếm, để họ kiếm ăn ớ những nơi xa xôi có những công trình của Tầu đang xây cất. Tại Cameroon gái điếm Tàu chỉ đòi có  2000 CFA (4.25 đô la) trong khi các cô gái địa phương thì nhất định đòi 5000  CFA mới chịu lên giừờng.  Tại Congo Brazaville có một chuyện khá buồn cười cần kể lại.  Các cô gái điếm khi được giải thoát lại không chịu trở về Trung Quốc.  Lý do là ở̉ lại đất Phi Châu các cô kiếm được nhiều tiền hơn và được đối xử tốt hơn là ở quê nhà tại Tứ Xuyên (Sichuan).

Hệ sinh thái của nước Tàu bi tàn phá khủng khiếp vì quá trình hiện đại hóa nhanh chóng. Giờ đây Tàu lại đang tàn phá hệ sinh thái của các nước chư hầu mới.  Nỗi thống khổ của dân bản xứ nói sao cho siết vì sư trâng tráo của các nhà độc tài địa phương là vô giới hạn.  Ngoài việc hệ sinh thái bị tàn phá, các khoản tiền khác kiếm được từ việc khai thác cảc mỏ kim cương và việc bán gỗ rừng đều đã được các nhà độc tài này dùng để mua vũ khí đàn áp dân lành, gây ra những cuộc nội chiến đẫm máu. 

Quyền lực mềm của Tàu đang hoành hành cả tại Úc và Nam Mỹ

Trong số 640 triệu vũ khí nhẹ đang lưu hành trên thế giới thì 100 triệu lưu hành tại Phi Châu. Những chế độ độc tài khát máu như Angola, Sudan, Zimbabue là những chế độ đứng đầu bảng giết hại dân lành.

Có một lần, Ôn Gia Bảo tuyên bố ở nghị viện Gabon rằng: “Chỉ buôn bán thôi, không có điều kiện chính trị gì cả”. Với chủ trương này, Tàu làm ăn với bất cứ một chính quyền địa phương nào dù tàn bạo đến đâu, thối nát đến đâu.  Trong khi các nước văn minh như Mỹ, Anh Pháp, cố gắng tạo áp lực lên bạo chúa, bạo quyền thì Tàu gian manh đi luồn cửa hậu.

Vào lúc này Tàu đang tìm cách tiếp cận với Úc để nâng cao các liên lạc ngoại giao. Tàu muốn đầu tư lớn vào nhiều khu vực khai thác mỏ ớ Úc.  Điều đáng ngạc nhiên là các nền kinh tế có cơ cấu dân chủ như Úc, Brazil, Nam Phi… vẫn bị tiền Tàu cuốn hút.

Tại Úc trong vài năm qua một số công ty Tàu như China Minmetals, Hunan Valin Steel & Iron, Shangai Baosteel đã ký được những hợp đồng khai thác tài nguyên ví đại. Trong ngắn hạn vài trăm gia đình thượng lưu Úc sẽ giàu to, nhưng trong tương lai nước Úc sẽ lâm vào cảnh nghèo khó vì các mỏ bị vét sạch.  Trong trung hạn sự thâm thủng mậ̣u dịch với Tàu sẽ xảy ra vì Tàu dùng nguyên liệu của Úc rồi lại đem các chế phẩm hoàn tất bán ngược trở lại trên đất Úc. 

Tại Brazil và Nam Mỹ Tàu cũng có những chính sách tương tự nhưng yếu hơn. Việc làm ăn giữa Tàu và Brazil được báo Washington Post mô tả như sau: “Trên bãi cát vàng dài 175 dặm ở bờ Đại Tây Dương, phía Bắc Rio De Janeiro, Tàu đang xây dựng một thực thể kinh tế mới. Tại đây người ta thấy những con tàu khổng lồ đang lấy quặng sắt hoặc lấy dầu trở về Bắc Kinh.  Nhìn chung thành phố này lớn gấp đôi Manhattan với nhiều hãng xưởng hoạt động tấp nập…”   Sự đầu tư của Tầu vào Brazil sẽ làm chậm sự phát triễn của các công ty thuộc chính quyền địa phương.
  
Kết luận

Trong bai diễn văn đọc tại Paris khi đến tham dự lễ kỷ niệm 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Pháp-Trung, Tập Cận Bình có nhắc lại câu nói của Napoleon Bonaparte, nhưng y đã thêm một lời khuyến dụ như sau: “Con sư tử Trung Quốc giờ đây đã thức dậy nhưng đây là một con sư tử hòa bỉnh, dễ mến và văn minh”.

Lời khuyến dụ của Tập Cận Bình không được nhiều người tin tường. Giáo sư Jean Pierre Cabestan của trường đại học Hong Kong nhận xét: “Sư tử là một con vật to lớn, hoang dại, chuyên ăn thịt những con thú khác, khá giống Trung Quốc trong mối quan hệ của họ với các nước xung quanh”.

Nhà báo Trần Thế Diệu, chủ bút tờ Thế Giới Nhật Báo tại New York viết thêm rằng: Rõ ràng câu nói đó chỉ dành cho người Trung Quốc nghe mà thôi chứ người ngoài không ai tin nổi”.

Giáo sư Richard Rigby của Đại Học Quốc Gia Úc tóm lược cách tiếp cận của Trung Quốc hiện nay là: “Cứ lấn tới ở bất cứ nơi nào chùng ta có thể!”.  Nhận xét này của Rigby cũng được giáo sư Hoàng Tĩnh của Đại Học Quốc Gia Singapore đồng ý và nói theo cùng một chiều hướng: “Họ là những người làm những gì có thể, bất kể là có nên hay không”.

Đã đến lúc Hoa Kỳ và thế giới dân chủ phải có thái độ và hành động quyết liệt hơn với cáí đế quốc thực dân mới đang hoành hành như chỗ không người. Cái giây thòng lọng mà Bắc Kinh quàng vào cổ nền kinh tế thế giới đang từ từ siết chặt.  Kinh nghiệm này Hoa Kỳ đã trải qua kể từ khi Washington lỏng tay cho Đặng Tiểu Bình tác yêu tác quái.

.................

................/

Nguyễn Cao Quyền
http://hon-viet.co.uk/NguyenCaoQuyen_ConSuTuDoiThucGiacDangQuayPhaKhapNoi.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao nói: Khổ nạn trong đời chính là món quà lớn nhất ông trời ban cho ta?



Có một chàng trai trẻ không may mất đi cả đôi chân của mình trong một tai nạn giao thông. Nỗi đau quá lớn, tính tình của anh kể từ đó cũng đổi khác, cáu bẳn nhiều hơn, từ chối trị liệu phục hồi, lại nhốt mình trong nhà, thường quát nạt mẹ cha và vùi đầu trong khổ não triền miên.
Một hôm, anh nổi cơn tam bành, hai tay hất đổ cả mâm cơm trưa mà mẹ anh vất vả chuẩn bị xuống sàn nhà. Nhưng mẹ anh vẫn nhẫn nại, không một lời oán trách, bà chỉ thở dài lặng lẽ thu dọn thức ăn.
Hôm sau, mẹ anh đến bên giường, chỉ về phía cánh cửa sổ ở khu nhà trọ đối diện và nói: “Con có nhìn thấy cánh cửa sổ kia không? Có một cô gái sống ở đó. Cô ấy cũng bị tai nạn mất đi hai chân giống như con vậy. Nhưng cô ấy vẫn rất lạc quan, lại có tài, mỗi ngày đều ở nhà chuyên tâm vẽ tranh đến tận đêm khuya. Không phải con cũng rất thích vẽ tranh đó sao? Có lẽ con nên thử làm theo cô ấy“.
Chàng trai trẻ nghe xong, trên mặt lộ vẻ tức giận và phản bác. Nhưng cũng từ hôm ấy, anh bắt đầu chú ý đến cửa sổ khu xóm trọ đó. Quả nhiên giống như những gì mẹ anh đã nói. Căn phòng đó tối nào cũng rực rỡ ánh đèn mãi đến tận đêm khuya mới tắt. Hẳn là cô gái đó đang miệt mài vẽ tranh.
Căn phòng lúc nào cũng rực rỡ ánh đèn đến đêm khuya, hẳn là cô gái đang ngồi vẽ tranh. (Ảnh dẫn theo Toplist.vn)
Chàng trai cụt chân cảm thấy vô cùng hiếu kỳ. Cô ta trông ra sao, tính cách như thế nào, ngoài vẽ tranh ra còn sở thích nào khác nữa không? Biết bao câu hỏi cứ triền miên hiện lên trong đầu anh.
Rồi một hôm, anh cũng mang ra bộ đồ vẽ vốn đã xếp xó từ lâu và bắt đầu đưa những nét cọ đầu tiên. Trái tim vốn phong bế, cằn cỗi của anh cũng dần cởi mở hơn. Anh chấp nhận đến bệnh viện tập phục hồi vận động định kỳ, cũng không còn quát mắng người nhà nữa. Những nụ cười đã xuất hiện nhiều hơn trên gương mặt rạng rỡ của anh.
Trong khoảng thời gian dưỡng bệnh, anh đã vẽ ra rất nhiều tác phẩm. Một hôm, sau khi đắn đo suy nghĩ thật lâu, anh dốc hết dũng khí, mang theo bức tranh của mình sang nhà đối diện tìm cô gái. Nhưng anh đã bấm chuông một hồi lâu mà không có người ra mở cửa. Cuối cùng, một ông lão ở khu nhà trọ bên cạnh bước ra, hỏi: “Xin hỏi, cậu có chuyện gì chăng?“.
Chàng trai trẻ đáp: “Dạ, cháu muốn tìm cô gái sống ở khu nhà này ạ!“.
Nhà trọ này trước nay đều để không, vốn không có người ở!“, ông lão nói. “Nhưng cách đây ít lâu một phụ nữ trung niên đã trả cho lão một khoản tiền, yêu cầu lão đây cứ chập tối mỗi ngày thắp đèn lên, đợi đến tận đêm khuya mới tắt đi. Người phụ nữ đó nói rằng bà ấy sống ở nhà đối diện bên kia“.
Chàng trai trẻ đứng lặng ở đó hồi lâu. Thì ra, chuyện về cô gái cụt chân vẽ tranh ấy vốn là mẹ anh cố tình bịa ra để mở ra cho anh một tia hy vọng. Anh không nói cho mẹ biết là mình đã biết hết sự thật mà từ đó càng hiếu thuận với mẹ hơn. Anh cũng cố gắng vẽ nhiều tranh hơn, về sau đã trở thành một họa sĩ xuất sắc.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những lần được gặp Anh Việt Phương



Tác giả: Gia Hảo
Đối với vợ chồng tôi, chúng tôi luôn coi Anh Việt Phương chẳng những là người Anh lớn vì về tuổi tác, Anh hơn chúng tôi hơn cả một con giáp, mà với kiến thức uyên bác của mình, Anh là một người Thầy, về quan hệ đời thường, Anh luôn nho nhã, đôn hậu đối xử với mọi người, Anh – một Nhân cách lớn…với tất cả những chữ đáng được viết hoa.
Thế hệ chúng tôi, những học sinh cấp hai, cấp ba của Hà nội vào những năm 50-60 của thế kỷ trước, từng được dự những buổi nghe Anh Việt Phương nói chuyện do Thành đoàn Thanh niên Lao động Hà nội tổ chức tại Nhà hát nhân dân Hà nội, nhà hát ngoài trời mới được xây dựng đơn sơ với những lớp ghế gỗ tại Khu đấu sảo cũ, nay là Cung Văn hóa, về “Nhân sinh quan cách mạng”, với tài hùng biện, Việt Phương đã cùng với những người thầy trực tiếp dạy dỗ chúng tôi, dẫn dắt chúng tôi biết hoàn thiện mình để trở thành những con người có ích cho xã hội…

Riêng với học sinh trường Chu Văn An Hà nội, chúng tôi cảm thấy mình còn có một “đặc ân” vì Anh đã đến trường nói chuyện nhiều hơn, giới thiệu cho chúng tôi những cuốn sách mới, chủ yếu bằng tiếng Pháp, để tìm đọc, trong đó tôi nhớ nhất lần Anh giới thiệu cuốn “Xa Mascơva” (Loin de Moscou), rồi sau này cùng với bài thơ “Lên Miền Tây” của Bùi Minh Quốc, một học sinh Chu Văn An, những cuốn sách như Thép đã tôi thế đấy, Ruồi trâu…, những bài văn như Phong cách cây tùng, Như cánh chim ưng của Đào Chú, Đan cô của Mắc xim Gocky…, những cuốn truyện như Đất nước đứng lên của Nguyên Ngọc, Vượt Côn đảo của Phùng Quán…với giọng giảng bài hào sảng của thầy Nguyễn Phước Tương (Giáo sư Tương Lai)…nhiều người trong chúng tôi đã sẵn sàng “lao vào lửa” để thử sức trong nhiều lĩnh vực, nhiều người ít nhiều đã thành đạt…. Điều quý nhất, chung ở một điểm, là hầu hết đều trở thành những người tử tế.

Lúc đầu tôi cứ nghĩ, sở dĩ Việt Phương dành cho chúng tôi một sự ưu ái là vì, với cương vị của Anh, trợ lý cho Thủ tướng, trong đó có vấn đề giáo dục, Anh cần một trường để theo sát nhằm có tư liệu đóng góp cho ngành giaó dục, trường tôi lại ở rất gần Trụ sở Văn phòng Chính phủ, hoặc trường tôi có nhiều giáo viên như thầy Tương, thầy Chiêu, thầy Vịnh, thầy Bách…đã từng công tác với Anh tại Khu học xá và đặc biệt, có cô Tú Lan, người bạn đời chia sẻ với Anh mọi niềm vui, nỗi buồn suốt cả cuộc đời, cũng có thời dạy tại Chu Văn An, rồi hơn thế nữa, Anh cũng đã từng là học sinh Trường Bưởi cũ, tại lễ kỷ niệm 100 năm Trường Bưởi-Chu Văn An (1998), nhóm các Anh chưa đủ tới 10 người là nhóm học sinh lớn tuổi nhất của Trường còn lại…

Những suy đoán “thiên vị” trên của chúng tôi hoàn toàn sai đối với con người Việt Phương, vì không riêng gì trường tôi mà các trường khác, các cơ quan khác có yêu cầu, một khi có thời gian, Anh sẵn sàng chia sẻ những hiểu biết của mình, không hơn không kém; cũng phải nói thêm, hồi đó chưa có cái “văn hóa phong bì” như ngày nay mà có thể nghĩ rằng những người được mời đi nói chuyện lại có chút ít gì tư lợi…, được chia sẻ hiểu biết của mình với người khác đã là niềm vui lớn đối với những trí thức có nhân cách như Việt Phương.

Bẵng đi một thời gian dài, tôi ít có điều kiện để được tham dự các buổi nói chuyện của Anh, nhất là sau cái “tai nạn” mà do những người ấu trĩ, đố kỵ dựng ra, khi Việt Phương thể hiện không phải chỉ là một nhà chính trị, mà còn là một nhà thơ có tư tưởng lớn, có tầm nhìn xa…giờ đây nhìn lại mới thấy Anh đã đi trước thời đại, được bộc lộ trong “Cửa mở” bị thu hồi sau khi xuất bản. Như lẽ thường tình trong xã hội ta, cái gì cấm thì lại càng gợi sự tò mò cho nhiều người tìm đọc, nhiều khi chỉ chuyền tay nhau những bản chép tay… “Cửa mở” đã đến với độc giả như vậy, cho dù nhà thơ, sau vụ “tai nạn” đó, cũng ít xuất hiện trước công chúng như xưa.

Khoảng đầu năm 1993, tôi thực sự ngạc nhiên khi nhận được thư mời của Chánh văn phòng Chính phủ hồi đó là ông Lê Xuân Chinh, triệu tập tôi vào Tổ Tư vấn của Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Tại đây, trong số 60 người, tôi vào loại trẻ nhất, học vấn thấp nhất, chỉ có mỗi tấm bằng cử nhân Ngoại thương, chức vụ thấp nhất, chỉ mới ở cấp vụ…

Đứng trước những người đã từng có chức vụ cao như bác Nguyễn Cơ Thạch (nguyên ủy viên BCT, nguyên Phó thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của CHXHCNVN) , Nguyễn Xuân Oánh (Nguyên phó thủ tướng VNCH), người Việt nam trong lớp đầu tiên tốt nghiệp trường Harvard danh tiếng của Mỹ…, những người có học hàm học vị cao, có bề dầy kiến thức như Đào Xuân Sâm, Tương Lai, Lê Công Tiến, Nguyễn Bút, Trần văn Thọ…, những nhà kỹ trị có ảnh hướng lớn đến việc điều hành những ngành tầm cỡ quốc gia như bác Nguyễn văn Thiệu, Vũ Quang Việt, Huỳnh Bửu Sơn…, những người thao lược dầy dạn kinh nghiệm trên chính trường như Hà Nghiệp, Việt Phương, Trần Đức Nguyên, Nguyễn Trung, Nguyễn Mại… ,vẫn như xưa, thủa những năm 50-60, tôi vẫn chỉ là một cậu học trò nhỏ, đứng từ xa để ngưỡng mộ những thần tượng của mình, không dám đến gần, lại càng không dám chủ động giơ tay ra bắt người lớn hơn mình.

Tại cuộc họp đầu tiên của Tổ Tư vấn được tổ chức tại Trung tâm Hội nghị Quốc tế (Đường Lê Hồng Phong), Thủ tướng Võ Văn Kiệt và các anh trong tổ thường trực trong đó có các anh Trần Đức Nguyên, Việt Phương…đến bắt tay từng người. Lần đầu tiên tôi được bắt tay Thủ tướng và những người mình ngưỡng mộ, riêng Việt Phương, Anh còn hỏi tôi “Hảo phải không?”, “Học trò Tương Lai phải không?” chắc trước đó Anh có thấy tôi khi nói chuyện với GS Tương Lai, tôi đều xưng hộ “Thưa Thầy, em…” như ngày xưa khi còn học thầy, chỉ có điều, lúc đó Anh cũng không nói cho tôi biết Anh cũng là học sinh Trường Bưởi-Chu Văn An, một khía cạnh mà lứa tuổi học trò Chu Văn An chúng tôi thường cứ cộng vào để tăng thêm niềm kiêu hãnh…

Tại cuộc gặp đó, hai chúng tôi còn được được các anh trong Tổ Thường trực giới thiệu với Thủ tướng là chúng tôi là một cặp vợ chồng, Thủ tướng cười và nói hiếm có gia đình nào mà cả vợ và chồng đều làm tư vấn cho Thủ tướng, và cho phép chúng tôi còn được được chụp một kiểu ảnh riêng với Thủ tướng, để kiêng chụp ảnh 3 người, anh Trần Đức Nguyên, Tổ trưởng, đã đứng chụp chung với chúng tôi, tấm hình đó luôn được treo tại nơi trang trọng nhất trong gia đình tôi.

Rồi sau này, tại Văn phòng Tổ Tư vấn Thủ tướng ở phố Bà huyện Thanh quan, chúng tôi thường xuyên được gặp các anh trong Tổ thường trực để nhận việc hoặc trao đổi các vấn đề có liên quan tới cải cách hành chính và kinh tế, kinh tế đối ngoại…Tôi được gặp anh Việt Phương nhiều lần, được thấy Anh đưa ra những ý kiến sắc sảo, những tổng kết đầy đủ và xúc tích các cuộc họp bàn luận về nhiều vấn đề phức tạp…Riêng với tôi, tôi cảm thấy mình có phần nào được ưu ái, nhiều lần được Anh hỏi tới những kiến thức mình đã từng đi dịch cho các lớp quản lý kinh tế do các giáo sư Liên xô giảng tại các lớp đào tạo cán bộ lãnh đạo trung cao cấp của ta những năm sau giải phóng (1975), rồi được học và tham gia tổ chức các khóa đào tạo ngắn ngày về quản lý kinh tế do học viện INSEAD (Pháp) dưới sự tài trợ của UNDP. Qua cách hỏi của Anh, tôi biết, tuy Anh không trực tiếp tham gia các khóa học đó, song kiến thức của Anh còn cao hơn những gì tôi được học và đôi khi Anh còn chỉ ra những điểm mà Anh chưa tán đồng hoặc coi là còn sai cả về lý luận lẫn thực tiễn. Điều đó khảng định rằng, Anh không học, nhưng có đọc và suy ngẫm còn cao hơn người được học.

Hồi những năm 90, bộ sách phổ biến nhất hồi bấy giờ được coi như giáo trình Kinh tế Thị trường (KTTT) mà nhiều người vẫn cứ gọi là Kinh tế Tư bản chủ nghĩa, gồm 2 tập “Kinh tế học” của Samuelson, mỗi tập dầy khoảng trên 500 trang. Để hỗ trợ cho việc tìm hiểu KTTT, ta có mời các giáo sư nước ngoài vào nói chuyện theo các chuyên đề, hoặc tổ chức các lớp đào tạo cán bộ về những kiến thức phổ cặp như các lớp do INSEAD như kể trên thực hiện. Có lần ta mời một giáo sư người Đức vào nói về tài chính-ngân hàng, Tổ Tư vấn có tổ chức hẳn một tuần cho vị giáo sư này nói chuyện (lên lớp) với các thành viên có liên quan, chủ yếu là số anh em ở Miền Bắc, tôi may mắn được tham dự cùng với gần 10 người khác, phần lớn là cán bộ trẻ, còn “i-tờ” về vấn đề này; tôi thấy, dù bận trăm công, ngàn việc, nhưng ngoài bác Thiệu, chuyên gia chính về tài chính- ngân hàng, anh Việt Phương vẫn tham gia đầy đủ, trong phần thảo luận, Anh đưa ra cho giảng viên những câu hỏi sắc sảo, điều đó lại khẳng định rằng sức đọc của Anh thực khó ai bì kịp, chưa nói là đọc một, hiểu mười…

Biết Anh thích tìm hiều những vấn đề mới, nên khi có dịp đi nước ngoài, có sách gì hay, chúng tôi lại gửi cho Anh đọc, ngược lại, Anh cũng chuyển cho chúng tôi, nhất là giới trẻ hơn, đọc những cuốn sách, kể cả sách được tác giả ký tặng riêng Anh cho chúng tôi mượn đọc.

Khi Tổ Tư vấn được cải tổ lại thành Ban Nghiên cứu của Thủ tướng chỉ còn lại 19 người, tôi “ra về” với thư cảm ơn của Văn phòng Chính phủ, đôi khi chúng tôi chỉ còn tham gia dưới dạng cộng tác viên với Ban, khi cần được huy động. Năm 1999, tôi đến tuổi nghỉ hưu, tôi nhận được thư của Anh gọi lên làm việc tiếp ở Ban nghiên cứu, đó cũng là sự ưu ái của Anh đối với tôi. Song, tôi, vì nhiều lý do khác, trong đó phải lo duy trì hoạt động của một công ty tư vấn do một số anh chị em đã theo tôi ra lập công ty riêng mà tôi cảm thấy mình vẫn còn trách nhiệm đối với họ, nên đành cáo lỗi. Sau này, gặp Anh, tôi có cảm ơn Anh về sự quan tâm của Anh đối với tôi và Anh có hỏi cặn kẽ việc chúng tôi làm tư vấn cho các doanh nghiệp, tham gia trình bầy tại các lớp đào tạo, tham gia giải quyết tranh chấp giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước khi được yêu cầu, Anh có động viên tôi cố gắng giúp các doanh nghiệp cũng là một việc rất cần thiết…

Những năm gần đây, do sức khỏe, Anh ít có điều kiện gặp gỡ chung các anh em cũ, chúng tôi thường tới nhà thăm Anh, Anh vẫn thường xuyên hỏi thăm công việc của chúng tôi và động viên chúng tôi hãy làm tốt các công việc hiện nay của mình.

Anh không phải chỉ là một người yêu thơ mà là một nhà thơ thực thụ, Anh gieo vần bằng những trải nghiệm thực tế cuộc đời, yêu cái đẹp bình dị chân thành, ghét cái xa hoa, giả dối, hướng về tương lai rộng mở…

Anh quen một nhà thơ ở Hải phòng, một công nhân đóng tầu, người mà Anh cho là làm thơ “lục-bát” hay nhất, nhà thơ ấy đã làm hẳn mô hình một con tầu biển tặng Anh, Anh dành hẳn một chỗ cho mô hình con tàu đó trong phòng khách chắc chỉ rộng hơn 10 M vuông; tôi tin rằng, với Anh, Anh còn nhiều tặng phẩm có thể đẹp hơn, đắt giá hơn, của những người có vị trí xã hội cao hơn gửi tặng, nhưng mô hình con tầu của nhà thơ công nhân “lục-bát” đó vẫn chiếm vị trí trang trọng nhất trong phòng khách của Anh.

Trước đây, khi còn khỏe, Anh còn gửi mail cho mọi người, đôi khi Anh gửi cả những bài thơ Anh mới làm hay thu thập được, kể cả bằng tiếng Pháp. Khi sức khỏe yếu dần, ai đến thăm, nếu có thơ mới Anh đều tặng để gửi gấm những suy tư trong đó. Có lần Anh hỏi tôi thấy thơ Anh thế nào? Thú thực tôi không phải là nhà thơ và bình thơ lại càng kém, tôi chỉ mượn lời của Paul Eluard, một nhà thơ cọng sản Pháp, để nhận xét thơ Anh:

Je dis ce que je vois,

Ce que je sais,

Ce qui est vrais



Tạm dịch :

Tôi nói những gì tôi thấy,

Những điều tôi biết,

Những gì có thực.

Chỉ tiếc rằng, Anh thấy và biết nhiều, nhưng chưa nói và viết ra hết. Đáp lại, tôi chỉ nhận được một nụ cười rất tươi từ phía Anh.

Mỗi đợt Anh nằm bệnh viện, như mọi người yêu kính Anh, chúng tôi đều tới thăm Anh. Và qua mỗi lần, chúng tôi lại lo khi thấy sức khỏe Anh cứ xuống dần, xấu dần…

Đợt cuối cùng, chúng tôi tới thăm Anh 2 lần, lần đầu Anh còn nhận ra chúng tôi và còn cố nói chuyện. Anh còn nhớ những chuyện dung dị nhất đời thường, Anh hỏi tôi:
Hảo vẫn lái xe đưa Lan đi họp đấy chứ?
Các việc hai em làm cho doanh nghiệp rất tốt, các em cố gắng nhé.

Lần thứ hai chúng tôi vào thăm, Anh đã yếu lắm rồi, Anh mở mắt nhìn chúng tôi, tôi cảm thấy Anh vẫn nhận ra người đến thăm, song không thể nói chuyện được. Tôi bóp chân, bóp tay cho Anh mà lòng xót xa vì “cái gì đến sẽ phải đến!” dù cho có nghiệt ngã bao nhiêu mà khó ai có thể tránh được.

Chỉ vài hôm sau, sáng 6/5/2017, chúng tôi được tin báo Anh đã ra đi để lại cho gia đình và bạn bè gần xa, lòng tiếc thương vô hạn.

Tôi viết những dòng trên để nhớ tới Việt Phương, một người Anh, một người Thầy, và trên tất cả, một Nhân cách lớn.

Cuộc đời của nhà thơ Việt Phương, tác giả của “Cửa mở” đã khép lại, hy vọng “Cưả đời” sẽ tiếp tục mở để cho những ý tưởng, những khát vọng của nhà thơ sẽ thanh thoát khi “Cửa đã mở”.

Trong những ngày tổ chức tang lễ anh Việt Phương, tôi đã chia sẻ với bạn bè trên trang Face book vài vần thơ tiễn biệt con người có nhân cách lớn như Việt Phương:
Sống-Chết

Có kẻ sống,

Ôi thây ma rữa chết.

Có Nguời đi rồi,

Vẫn còn trong nhịp đập muôn tim.

Thế gian này,

Oán-Ân?

Dễ mấy ai lường được,

Vinh biệt một CON NGƯỜI,

Tỏ một nhánh hồng trong khói nhang bay.

Âm, Dương đôi đường,

Còn gì?
Oán-Quên,
Ân- Nhớ !

Gia Hảo

Viết những dòng trên, nhớ lại những dịp được gặp, được làm việc với anh Việt Phương, nhất là thời gian ở Tổ Tư vấn của Thủ tướng (Võ Văn Kiệt), nhớ lại những ngày được gần với các anh, các chị có kiến thức uyên thâm, lạc quan yêu đời, nhiều người tuổi cao nhưng tư duy đâu có già, vẫn còn trẻ, vẫn sáng suốt vì luôn cố bắt kịp thời đại…Gần được những người như Việt Phương quả là một may mắn cho tôi.

Tôi viết những dòng này khi “100 ngày” (13-8) kể từ ngày mất của Anh đang đến gần. Xin chị Tú Lan và gia đình, cho phép tôi với những dòng trên, một lần nữa được thắp một nén nhang cho anh Việt Phương, một người Anh, một người Thầy, một CON NGƯỜI (viết hoa) có nhân cách lớn, một nhà thơ “mở cửa” cho mọi ý tưởng bay cao và bay xa. Xin Anh hãy mỉm cười vì còn có những người bạn, người em và nhiều thế hệ sau thực hiện những điều mong ước Anh đã gửi gấm trong những bài viết, những bài thuyết trình và cả trong thơ… của Anh./.

Hà nội 18/7/2017

KD: Hôm nay, tròn 100 ngày mất của nhà thơ Việt Phương, Blog KD/KD nhận được bài viết của chuyên gia kinh tế Nguyễn Gia Hảo- phu quân của bà Phạm Chi Lan. Đó là những kỷ niệm đẹp, chân thành và nhiều xúc cảm . Xin đăng lên Blog để bạn đọc chia sẻ
———– 
https://kimdunghn.wordpress.com/2017/08/13/nhung-lan-duoc-gap-anh-viet-phuong/

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Kim Jong-un đang điều trị trọng bệnh, đã mất tích hơn 30 ngày


Không biết tin này có chính xác không.Lượm lặt để chúng ta tham khảo

Cơ quan tình báo Hàn Quốc tiết lộ ông Kim Jong-un đã liên tiếp vắng mặt nhiều ngày qua vì lâm bệnh nặng, đang trong giai đoạn nguy kịch.
Lãnh đạo tối cao Triều Tiên Kim Jong-un
Theo nguồn tin tình báo từ Triều Tiên do Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) Lee Byung-ho cho biết, trong vòng một tháng qua Kim Jong-un chỉ ra chỉ thị trên giấy tờ, không trực tiếp xuất hiện trước công chúng cũng như các cuộc họp quan trọng của nhà nước. Lần cuối cùng ông xuất hiện gần đây là vào ngày 28/7 tại nghĩa trang liệt sĩ chiến tranh giải phóng tổ quốc ở ngoại ô Bình Nhưỡng sau 15 ngày vắng bóng trước đó. Đi cùng ông tới thăm nghĩa trang chỉ có một số đại diện quân đội Triều Tiên. Sau đó Kim Jong-un lại tiếp tục mất tích một cách bí ẩn. Nguồn tin tình báo này nhận định, hình ảnh xuất hiện của Kim Jong-un vào ngày 28/7 đã được thực hiện từ trước.
Hình ảnh ông Kim Jong-un xuất hiện lần cuối cùng trên truyền thông vào ngày 28/7 nhưng được cho là đã ghi hình từ trước đó.
Trong những ngày gần đây phía Mỹ liên tục đưa ra cáo buộc về việc Triều Tiên sản xuất đầu đạn hạt nhân thu nhỏ đưa lên tên lửa đạn đạo, cùng những phát biểu gây áp lực của ông Trump dành cho Triều Tiên. Phía Triều Tiên, đặc biệt là Kim Jong-un vẫn một mực giữ im lặng với giới truyền thông cùng dân chúng nước nhà. Sáng nay ngày 10/8, biển người tập hợp ở quãng trường thủ đô nhằm thể hiện sự trung thành với lãnh đạo và nhà nước sau khi Liên Hợp Quốc áp lệnh trừng phạt lên Triều Tiên. Một lần nữa, Kim Jong-un vẫn không xuất hiện, cũng không hề có một trả lời xác thực nào trước truyền thông. Một hành động khó hiểu từ trước đến giờ so với tính cách của ông.
Biển người Triều Tiên phản đối lệnh trừng phạt của Liên Hợp Quốc vào sáng ngày 10/8, thế nhưng không có sự xuất hiện của lãnh đạo tối cao Kim Jong-un.
Phía tình báo Hàn Quốc tiết lộ thêm những thông tin mà giới chức Triều Tiên đang cố giấu kín những ngày vừa qua, Kim Jong-un đang trong quá trình điều trị nên không thể xuất hiện trước dân chúng. Nguồn tin này cho biết thêm, ông Kim Jong-un liên tục có những triệu chứng như buồn nôn, nôn mửa, tiêu chảy. Lúc đầu các bác sĩ riêng cho rằng đó chỉ do các vấn đề về tiêu hóa. Nhưng sau khi điều trị, các bệnh lí vẫn không hề thuyên giảm mà còn xuất hiện thêm các triệu chứng ngoài da như bong tróc, sau đó rụng tóc liên tục, có dấu hiệu sốc co giật cường độ cao, tế bào máu trong cơ thể Kim Jong-un suy giảm nghiêm trọng với tốc độ nhanh, sức đề kháng hầu như không còn.
Giám đốc Cơ quan Tình báo Quốc gia Hàn Quốc (NIS) Lee Byung-ho.
Với tất cả những triệu chứng trên, rất có thể Kim Jong-un đang có những triệu chứng do nhiễm phóng xạ nồng độ cao, và hiện chưa có cách để chữa căn bệnh này. Đó có thể là lí do trong vòng một tháng vừa qua Kim Jong-un không thể xuất hiện trước dân chúng và truyền thông.
Trên thế giới, cũng có rất nhiều nhân vật bị ám sát bởi nhiễm phóng xạ. Đầu tháng 11 năm 2006 Alexander Liwinenko, một điệp viên nhị trùng làm việc cho phản gián Nga KGB và dồng thời cho phản gián Anh, xin tỵ nạn chính trị ở Anh, bị giết chết ở London bởi chất phóng xạ Polonium 210, chỉ 3 tuần sau khi ông uống 1 ly trà có hòa tan chất phóng xạ này. Người ta cho rằng Putin đã ra lệnh giết Liwinenko vì những cáo buộc của ông ta về những tội ác của chế độ Putin.
Ngày 28 tháng 10 năm 2004 ông Jassir Arafat, thủ lãnh của Palestine đột nhiên lâm bệnh nặng, sau 1 tuần ông không ăn uống được vì viêm đường ruột. Ông được đưa ngay sang Paris, điều trị ở bệnh viện quân đội Percy. Vài ngày sau đó ông bị hôn mê, thận và gan không còn hoat động, cuối cùng là chảy máu óc. Ngày 11 tháng 11 năm 2004 ông chết, chỉ quãng 2-3 tuần sau khi có những triệu chứng bệnh tật đầu tiên. Các bác sĩ điều trị không kết luận được về nguyên nhân cái chết của ông. Việc mổ tử thi để giảo nghiệm không được gia đình ông cho phép.
Đầu năm 2012 người ta tìm thấy dấu vết của Polonium 210 trong những vật dụng cá nhân của ông còn giữ lại. Từ đó dẫn đến nghi ngờ là ông đã chết vì bị đầu độc bằng phóng xạ. Tháng 10 năm 2013 mộ của ông được cải táng và di cốt của ông được 3 nhóm chuyên gia Pháp, Thụy Sĩ và Nga khảo nghiệm. Kết quả phân chất (8 năm sau khi ông chết) không đồng nhất: Trong khi Thụy Sĩ cho rằng ông Arafat có khả năng (moderately support) nhiễm độc Polonium 210, thì Pháp và Nga không tìm thấy bằng chứng cụ thể. Cuối cùng, tới nay vai trò của Polonium trong cái chết của Arafat vẫn còn là một hoài nghi.
Mặt khác, điều này cũng cho thấy là việc điều tra chứng minh tác động của chất độc phóng xạ không hề đơn giản. Trong trường hợp cái chết của Litwinenko các bác sĩ và những điều tra viên trong những ngày đầu tiên đã phải xếp vào loại chết không rõ nguyên nhân. Chỉ sau một thời gian dài mò mẫm người ta mới xác định được nguyên nhân ngộ độc phóng xạ. Điều này khẳng định thêm một lần nữa tính “ưu việt” của chất độc Polonium 210 là giết người không để dấu vết hay rất khó khăn để tìm ra dấu vết.
(Theo Daegu Shinmun)/Thoibao Today

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những vụ án động trời của sát thủ gốc Việt



Một trong 10 vụ án lớn nhất lịch sử mà Tổ chức cảnh sát quốc tế (Interpol) tổng kết trong 90 hoạt động có thủ phạm là người đàn ông gốc Việt tên Charles Sobhraj với biệt danh "Sát nhân bikini", "Người rắn".
Theo Interpol, đây là một trong những sát thủ nguy hiểm nhất nhưng cũng nổi tiếng nhất thế giới vào thập niên 70-80 của thế kỷ trước. Nghi can đã thực hiện 24 vụ giết người cướp của ở Ấn Độ, Thái Lan, Nepal, Iran và Thổ Nhĩ Kỳ…
Sinh năm 1944 tại Sài Gòn, tên đầy đủ trong giấy tờ của Charles Sobhraj là Hatchand Bhaonani Gurumukh Charles Sobhraj. Sự có mặt của Sobhraj là kết quả mối tình chớp nhoáng giữa phụ nữ người Việt và một người đàn ông Ấn Độ làm nghề buôn bán tơ lụa. Khi Sobhraj chưa đầy tháng, người cha "quất ngựa truy phong" bỏ rơi hai mẹ con.
nhung-vu-an-dong-troi-cua-sat-thu-goc-viet
Sobhraj năm 19 tuổi.
3 năm sau, mẹ Sobhraj đi bước nữa với với một trung úy trong đội quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam là Alphonse Darreaux rồi sinh thêm một con trai, đặt tên là André. Năm 1954, quân Pháp rút về nước, Sobhraj và André được cha dượng đem theo.
Trong cuốn hồi ký "Charles Sobhraj - Cuộc đời tội phạm", anh ta kể: "Tình cảm của tôi với ông ấy rất nhạt, hầu như chẳng có ấn tượng gì. Tôi như một thứ trái cây chín hoang. Ngoài giờ học ở trường, tôi lang thang cùng đám du thử du thực trên đường phố Paris, chuyên ăn cắp để kiếm tiền chơi bời nhưng ngược lại, bên cạnh tiếng Pháp cùng một ít tiếng Việt, tôi còn học được 4 ngoại ngữ và có thể nói thành thạo".
Năm 1963, Sobhraj bị bắt vì tội trộm cắp, bị giam tại nhà tù Poissy, Paris. Tại đây, nhờ biết ngoại ngữ nên thỉnh thoảng anh ta vẫn được ban giám thị gọi đi phiên dịch. Cảm thương cho cậu bé mặt mũi sáng sủa, thông minh nhưng sớm vướng vòng lao lý, ông Felix d'Escogne, một nhà hảo tâm giàu có thường đến thăm tù nhân, đã gặp gỡ, động viên Sobhraj, mang sách báo cho anh ta đọc.
Sobhraj kể: "Nhờ ông Felix, tôi học hỏi được rất nhiều điều, chủ yếu là kỹ năng sống, cách ứng xử trong giao tiếp. Chính tác phong của ông Felix đã làm tôi bỏ hẳn tật chửi thề - thói quen tiêm nhiễm trong những ngày lê la trên đường phố".
Ba năm sau, Sobhraj được ân xá và nơi đầu tiên tìm đến là nhà ông Felix. Chỉ vài tháng, anh ta như lột xác. Với những bộ quần áo vest cắt may rất khéo, giày da Italia, cravat lụa tơ tằm Ấn Độ, Sobhraj thường xuyên cùng Felix xuất hiện trong những bữa tiệc của giới thượng lưu. Rất tế nhị, ông Felix không bao giờ kể về quá khứ của Sobhraj mà chỉ nói rằng anh ta là con của một sĩ quan Pháp ở Việt Nam. Và vì chiến tranh nên gia đình buộc anh ta phải sang Pháp.
Tuy nhiên, đã mang cái mác là con "sĩ quan" thì phải có tiền trong lúc Sobhraj không một xu dính túi. Ngay cả ly cà phê buổi sáng cũng phải nhờ vào ông Felix nên cuối cùng, Sobhraj quay lại nghề trộm cắp.
Phi vụ đầu tiên của anh ta là một chiếc xe hơi Citroen DS19. Chỉ mất vài phút, Sobhraj đã nổ máy, lái nó đi. Liên lạc với đám bạn bè du thủ du thực ngày nào, Sobhraj tìm ra nơi tiêu thụ không chút khó khăn. Theo hồ sơ của Interpol, chỉ trong 4 tháng, Sobhraj đã trộm tổng cộng 9 chiếc xe, chủ yếu là loại DS19 và DS21 - hai loại xe thời thượng ở nước Pháp lúc bấy giờ.
nhung-vu-an-dong-troi-cua-sat-thu-goc-viet-1
Sobhraj lúc bị cảnh sát Ấn Độ bắt.
Có tiền, Sobhraj thỏa sức ăn chơi. Trong một bữa tiệc, anh ta gặp Chantal Compagnon, cô gái trẻ người Paris. Choáng ngợp trước vẻ đẹp trai, lịch lãm của Sobhraj, tình yêu đến với Chantal rất nhanh chóng.
Một buổi trưa tháng 9/1968, Sobhraj điện thoại cho Chantal, hẹn cô đi ăn tối. Dự định trong bữa ăn, anh ta sẽ ngỏ lời cầu hôn Chantal với lễ vật là một chiếc nhẫn kim cương trị giá 15.000 franc.
Hồ sơ Interpol ghi lại: "Vào thời điểm những vụ mất cắp xe hơi liên tục xảy ra, nhân viên lễ tân của khách sạn Imperial đã nhớ được khuôn mặt Sobhraj khi hắn trộm một chiếc Cadillac lái khỏi sân khách sạn".
Dựa vào lời mô tả của lễ tân, cảnh sát phác họa chân dung Sobhraj. 18h ngày 24/9/1968 - ngày chuẩn bị cầu hôn Chantal, Sobhraj dừng chiếc DS21 ở một ngã tư chờ đèn đỏ thì bị cảnh sát kiểm tra. Do không có giấy tờ xe, lại thêm chiếc DS21 vừa ăn cắp được chưa kịp thay bảng số khác nên Sobhraj bị bắt
Ra tòa, do Sobhraj khai rằng chỉ có ý muốn "mượn" chiếc xe một lát vì sợ trễ bữa hẹn cầu hôn với Chantal và khi xác minh, cô gái cũng khai đúng như vậy nên Sobhraj chỉ chịu mức án 8 tháng tù giam.
Sau vụ việc ấy, những tưởng Chantal sẽ hoảng sợ mà xa lánh một kẻ tội phạm có lớp vỏ ngoài quý phái nhưng thật bất ngờ, cô gái trẻ vẫn vào thăm anh ta đều đặn. Sobhraj viết: "Trong tất cả những lần gặp tôi, Chantal không một lời nhắc đến lý do tôi vào tù. Cô ấy chỉ an ủi và hứa sẽ đợi tôi. 8 tháng không phải là dài lắm".
Được tha, Chantal và Sobhraj lấy nhau mặc dù gia đình cô gái đã hết sức ngăn cản. Để có tiền sinh sống, Sobhraj lại ăn cắp xe hơi nhưng anh ta hiểu rằng mình sẽ quay vào tù bất cứ lúc nào vì với tiền án như thế, chắc chắn cảnh sát Paris sẽ để mắt đến anh ta mỗi khi có một chiếc xe hơi nào đó biến mất.
Sobhraj viết: "Đầu năm 1970, lúc ấy vợ tôi đang mang thai, một gã bạn tôi báo tin gara Covignon - nơi tôi thường bán những chiếc xe ăn cắp bị cảnh sát lục soát. Biết rằng sớm muộn gì cũng bị bắt, tôi nhờ đám chiến hữu làm cho mình một cuốn hộ chiếu giả rồi cùng Chantal đi Ấn Độ qua ngả Đông Âu".
Giữa tháng 9/1970, vợ chồng Sobhraj đến thành phố Mumbai, Ấn Độ. Trên đường đi, chẳng hiểu Sobhraj thuyết phục thế nào mà cô vợ Chantal lại trở thành đồng lõa với Sobhraj trong những vụ lừa đảo, trộm cắp. Trong vai một cặp vợ chồng trẻ, sở hữu hàng trăm nghìn hecta cao su ở Đông Dương đi nghỉ mát, hoặc một thương gia ngành dệt may ở Lebanon, Sobhraj làm quen với những khách du lịch châu Âu giàu có rồi mời họ uống rượu pha thuốc ngủ. Khi nạn nhân đã mê man, vợ chồng Sobhraj lục túi lấy tiền, thẻ tín dụng, hộ chiếu, đồng hồ, nhẫn, máy chụp ảnh, dây chuyền…
Theo hồ sơ Interpol, không rõ tổng số tài sản mà Sobhraj đã chiếm đoạt trong năm 1970 là bao nhiêu vì có những nạn nhân chọn cách im lặng, coi như "của đi thay người" nhưng với những người đến cảnh sát khai báo, số tài sản mà họ bị mất ước khoảng 145.000 franc.
nhung-vu-an-dong-troi-cua-sat-thu-goc-viet-2
Nét mặt thông minh đã giúp Sobhraj thực hiện thành công nhiều vụ chiếm đoạt tài sản.
Cuối tháng 9/1970, Chantal hạ sinh một bé gái, vợ chồng mướn một căn hộ sang trọng trong khu người Anh ở Mumbai. Để có tiền chi trả cho cuộc sống xa hoa cũng như ném vào những sòng bạc, Sobhraj lại tiếp tục trộm cắp xe hơi và buôn lậu nhiều thứ, kể cả ma túy.
Sobhraj kể: "Chỉ một thời gian ngắn, tôi đã kết bạn với những nhóm tiêu thụ đồ ăn cắp ở Mumbai, Calcutta và New Dehli. Khác với Paris, những băng nhóm phương Đông "tiền trao cháo múc" xong phi vụ là xem như chưa hề quen biết, có gặp nhau ngoài đường cũng chẳng thèm chào. Điều ấy đã khiến nguy cơ bị lộ giảm thiểu đến mức thấp nhất".
Tháng 4/1971, Sobhraj quyết định làm một vụ táo bạo. Nhận thấy quầy bán vàng bạc đá quý tại khách sạn Ashoka, thủ đô New Dehli, Ấn Độ chỉ có một nhân viên duy nhất trông coi vào giờ nghỉ trưa, Sobhraj một mình một dao găm, vờ như khách mua hàng bước vào uy hiếp cô nhân viên. Nhưng hắn chưa kịp lấy đi thứ gì thì cô này đã kịp thời dùng chân ấn vào nút báo động đặt ở dưới đất. Bị bắt tạm giam tại đồn cảnh sát, trong khi chờ lấy lời khai, Sobhraj vờ lên cơn đau ruột thừa. Được đưa vào bệnh viện, Sobhraj toan tính sẽ lợi dụng cơ hội này để bỏ trốn nhưng không ngờ anh ta lại phải mổ.
Ra viện, trở lại nhà giam, Sobhraj nhắn tin cho Chantal. Sử dụng vỏ bọc y tá, Chantal nhờ cảnh sát gửi cho Sobhraj một ít thuốc, trong đó có cả thuốc ngủ. Theo Sobhraj, do vẫn còn trong thời gian dưỡng bệnh, anh ta được cho nằm ở một phòng riêng, việc canh gác có phần lỏng lẻo nên anh ta sẽ tìm cách bỏ thuốc ngủ vào bình nước uống của người lính gác. Khi người này đã mê man, Sobhraj trốn.
Thiên bất dung gian, âm mưu của Sobhraj bại lộ. Đối diện với mức án 12 năm tù vì tội cướp có vũ trang và cố ý đào tẩu, Sobhraj đành phải cầu cứu cha dượng mình bằng cách mượn tiền đóng thế chân để được tại ngoại.
Trong cuốn hồi ký "Cuộc đời tội phạm", Sobhraj kể: "Thông qua vợ tôi, cha dượng tôi - là viên trung úy quân đội Pháp ở Đông Dương năm xưa - đã gửi cho tôi 70.000 franc, đồng thời cho biết đứa em trai cùng mẹ khác cha với tôi là André, hiện đang ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ. Nếu cần thêm gì thì cứ liên lạc với nó".
Được tại ngoại, Sobhraj nhanh chóng cùng vợ bỏ trốn đến Kabul, Afghanistan. Tại đây, đôi vợ chồng lại tiếp tục sử dụng bài bản mời rượu có pha thuốc ngủ cho những khách du lịch châu Âu mà họ chủ động làm quen rồi chiếm đoạt tài sản.
Giữa năm 1971, vài ngày sau khi thực hiện thành công một phi vụ, lấy được gần 6.000 USD, một nạn nhân đã nhận ra Sobhraj khi anh ta đang đi trên phố. Bị cảnh sát Kabul mời về trụ sở, Sobhraj liên tục chối bai bải rằng "đã có một sự nhầm lẫn nào đó".
Do mới chỉ bị câu lưu để lấy lời khai, Sobhraj lại giả vờ đau bao tử rồi nhắn vợ mang thuốc đến, trong đó dĩ nhiên có cả thuốc ngủ. Lần này, hắn đã thành công. Thoát khỏi tay cảnh sát Kabul, Sobhraj lập tức bảo vợ trốn sang Iran. Thế nhưng, mặc cho Sobhraj năn nỉ, thuyết phục, Chantal vẫn cương quyết không đi theo.
Sobhraj nói: "Chantal muốn rũ bỏ quá khứ phạm tội để có thể yên ổn nuôi con. Thậm chí lúc tôi đưa tiền cho cô ấy làm lộ phí, cô ấy cũng không nhận". Bằng cách bán sợi dây chuyền có gắn mấy hạt kim cương nhỏ, được mẹ cho từ hồi còn bé, Chatal mua vé máy bay và sắm sửa thêm mấy đồ dùng cần thiết cho con gái Usha trong chuyến đi dài
Khuya ngày 27/6/1971, Chantal lên máy bay về Pháp. Từ đó, Sobhraj không bao giờ còn gặp lại vợ. Trong gần 2 năm tiếp theo, Sobhraj lang bạt nhiều nơi, từ Bắc Âu đến Trung Đông và vẫn kiếm sống bằng cách mời rượu có thuốc ngủ nhưng trong các phi vụ ấy, thay vì là "chủ đồn điền cao su ở Đông Dương" hoặc "thương gia kinh doanh vải vóc tơ lụa" thì Sobhraj trở thành "người môi giới mua bán kim cương, hồng ngọc" hoặc "đại lý cho một tập đoàn dược phẩm nổi tiếng".
Để đi từ quốc gia này sang quốc gia khác, Sobhraj lần lượt sử dụng 10 cuốn hộ chiếu đã đánh cắp được với những tên tuổi khác nhau, chỉ thay vào đó bằng ảnh của mình…
Theo Cảnh sát toàn cầu
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bí mật của chuyên chế là gì?



Đường Hải
TTVN - Chuyên chế ắt phải ngu dân, ngu dân ắt phải tẩy não, tẩy não cần có “môn học”: Đó chính là “giáo dục thù hận”. Giáo dục thù hận là một bí mật của kẻ thống trị chuyên chế, đây là một bí mật công khai, nhưng không phải ai cũng có thể nhìn được rõ.

Giáo dục thù hận cần phải đưa ra được đối tượng để thù hận: thù hận chủ nghĩa đế quốc Mỹ, thù hận Âu Mỹ, thù hận toàn bộ phương Tây, thù hận dân chủ phương Tây, thù hận tư bản chủ nghĩa, thù hận chủ nghĩa tự do, thù hận giá trị phổ quát. Giáo dục thù hận sẽ làm toàn bộ dân chúng của một quốc gia đều nhìn phương Tây với tâm lý cuồng bức hại, lúc nào cũng đề phòng bị phương Tây hãm hại, trong đầu lúc nào cũng coi những lời nói và hành động của phương Tây là mưu đồ bất chính, lòng dạ hiểm ác, phương Tây là ma quỷ, là lang sói. Do đó kẻ chuyên chế từ chối bất cứ phê bình nào của phương Tây, bất cứ phê bình nào của phương Tây đều là can thiệp nội bộ, đều là vì để đạt mục đích mà họ không thể nói cho người khác.

Đặt định được kẻ thù bên ngoài thì có thể nhất trí phương hướng đối ngoại, thì có thể dịch chuyển tầm nhìn của quần chúng. Giáo dục thù hận của Triều Tiên rất thành công, mặc dù Mỹ cung cấp lúa mì cho Triều Tiên vô điều kiện, giải quyết được khủng hoảng nhân đạo tại Triều Tiên, nhưng Triều Tiên vẫn luôn coi Mỹ là kẻ thù không đội trời chung, để toàn dân Triều Tiên đều thù hận Mỹ, đồng thời lại thêm vào Hàn Quốc và Nhật Bản. Trải qua giáo dục thù hận như vậy, đồng thời tô vẽ bản thân kẻ thống trị thành hình tượng vị thần vinh quang vĩ đại, ánh mắt của dân chúng cũng dõi theo ánh mắt của kẻ thống trị chuyên chế mà nhất trí theo một đường lối đối ngoại, chuyên chế thống trị cũng nhờ đó mà tiếp tục thống trị lâu dài hơn.

Dân chủ và tự do là kẻ thù của chuyên chế, do đó, bất cứ quốc gia dân chủ tự do nào, nhất là quốc gia tuyên dương dân chủ tự do thì đều trở thành kẻ thù của quốc gia chuyên chế. Quốc gia chuyên chế sẽ nói tất cả các quốc gia dân chủ thành kẻ thù, dùng giáo dục thù hận để người dân hình thành tâm lý thù hận. Vì thế mà tư tưởng, lời nói và hành vi của quốc gia dân chủ trở thành giả tạo lừa gạt, tất cả lời nói và hành vi đều có mục đích mà không thể nói cho người khác biết. Từ đó kẻ chuyên chế có được kết luận, quốc gia dân chủ là kẻ lừa gạt, là ác ma, nên cần cảnh giác, không được tin, càng không thể học tập theo.

Giáo dục tẩy não của chế độ chuyên chế chắc chắn bao hàm giáo dục thù hận, trái ngược với giáo dục thù hận là giáo dục lòng trung thành, và lòng yêu mến. Có được giáo dục thù hận rồi thì tự nhiên cũng có sự giáo dục lòng trung thành, và lòng yêu mến. Con người không thể chỉ có hận mà không có yêu, kẻ thống trị truyền bá giáo dục thù hận, một mặt là muốn ngăn trở tự do và dân chủ, một mặt là muốn gây dựng lòng trung thành và lòng yêu mến với bản thân kẻ thống trị. Thế là, trung thành với một loại chủ nghĩa, trung thành với chính quyền hiện hữu, trung thành với đảng và quốc gia. Trong đó, trung thành và tình yêu cuồng nhiệt có tính mê hoặc sẽ kéo theo những thứ của chủ nghĩa ái quốc và chủ nghĩa dân tộc, mượn những thứ đó để cải trang bản thân, đem chính quyền chuyên chế hóa trang thành người phát ngôn của quốc gia và dân tộc, ta là quốc gia, quốc gia tức là ta, yêu ta tức là yêu quốc gia, yêu quốc gia ắt phải yêu ta.

Chuyên chế chắc chắn phải hạn chế tự do, bởi vì tự do không có lợi cho chuyên chế. Chính quyền chuyên chế dù miệng có nói bảo vệ tự do thế nào đi nữa, thì chắc chắn sẽ lén lút hạn chế tự do, bởi vì tự do sẽ khiến cho chuyên chế phải giải thể. Một đặc điểm của chuyên chế là thù hận tự do, tuyên truyền chủ nghĩa tập thể, chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa dân tộc. Bởi vì có rất nhiều người không phân biệt rõ quan hệ giữa quốc gia, dân tộc và kẻ thống trị, họ thường lẫn lộn giữa đảng và quốc gia, chính phủ và quốc gia.

Kẻ chuyên chế đều thù hận dân chủ, dân chủ là kẻ thù không đội trời chung với kẻ chuyên chế, do đó kẻ thống trị luôn muốn bôi nhọ quốc gia dân chủ. Tuy nhiên điều kẻ thống trị thích nhất lại là hóa trang bản thân thành bộ dạng dân chủ, không có một quốc gia chuyên chế nào lại trực tiếp tự xưng là chuyên chế. Ngược lại, họ sẽ mượn danh nghĩa người dân và dân chủ để thi hành thống trị chuyên chế, ngay cả tên nước cũng thể hiện ra sự khôi hài: tên đầy đủ của Triều Tiên là nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Các quốc gia dân chủ hiện đại rất ít thi hành giáo dục thù hận. Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ Hai, Nhật Bản bị Mỹ tấn công, nhưng sau chiến tranh, Nhật Bản lại không thi hành giáo dục thù hận đối với Mỹ, Đức cũng không, Italy cũng không. Ngược lại, những nước này lại còn trở thành đồng minh với Mỹ, đồng thời còn học tập Mỹ, điều này không chỉ xuất phát từ suy tính lợi ích quốc tế chiến lược, mà là có nhận thức gần giống nhau đối với tư tưởng chính trị hiện đại.

Chính trị hiện đại không tuyên dương giáo dục thù hận, mà là đề xướng lý tính và khoan dung. Chính trị hiện đại tuyên dương nền chính trị dân chủ, xóa bỏ độc tài chuyên chế, bởi vì độc tài chuyên chế như là khối u ác tính sinh trưởng trên cơ thể người. Dù là trong thời gian ngắn có thể sáng tạo ra sự huy hoàng thế nào đi nữa, thì cuối cùng rồi cũng sẽ thối nát và làm thương tổn đến nhân loại. Do đó thế giới dân chủ coi chuyên chế là kẻ thù, bởi nguồn gốc sự tàn bạo trong lịch sử của nhân loại là chủ nghĩa chuyên chế, chuyên chế tất nhiên là số ít người vì tư lợi mà bóc lột nhiều người, cùng với đó, nhiều người không thể nào biểu đạt nguyện vọng của mình, không có cách nào bảo vệ quyền lợi của mình, chỉ có thể để mặc cho bị áp bức.

Giáo dục thù hận là một chương quan trọng trong giáo dục ngu dân, giáo dục tẩy não, tạo thành tàn tích ở một mức độ rất lớn. Khi một người tiếp nhận sự truyền bá tư tưởng của kẻ chuyên chế, thì sẽ không phân thiện ác, không phân tốt xấu, không phân đúng sai, toàn bộ thế giới quan đều bị đảo lộn, và sẽ cam tâm tình nguyện bán mạng cho kẻ chuyên chế, lại còn tự cho mình là quang vinh cao thượng. Khi một người tiếp nhận giáo dục thù hận của kẻ chuyên chế, thì sẽ căm ghét hiện đại, khước từ bị phê bình, căm ghét ý tốt, từ chối cải tiến, cuối cùng là nối giáo cho giặc, thay kẻ chuyên chế duy hộ thống trị, tự thắt chặt xiềng xích chuyên chế trên người mình.

Trong một đất nước chế độ chuyên chế, nếu muốn tỉnh táo, đầu tiên cần phải nhận rõ được giáo dục thù hận, thoát khỏi giáo dục thù hận, chỉ có vứt bỏ sự thù hận ngu muội, thì mới có thể thực sự tiếp nhận được nền văn minh hiện đại.

BẠN HỎI – ĐỖ HOÀNG TRẢ LỜI





Hồng Nguyễn Em là hội nhà ăn chả hiểu VĂN NÔ là gì . Tìm từ điển tiếng Việt cũng không thấy. Bác có thể dẫn giải một cách gọi là Bác Học để em tâm phục khẩu phục không ạ . Xin cảm ơn Do Hoang .
Đỗ Hoàng trả lời : Xin lỗi bạn Hồng Nguyễn, tôi chậm trả lời. Thật ra chữ Văn, chữ Nô có lâu trong ngôn ngữ Hán và Việt. Chữ Văn có 16 chữ. Chữ văn dùng ở đây là : 文 nghĩa là văn trong viết văn, làm thơ, sáng tác nghệ thuật, văn chương.
Chữ Nô : 奴 có 6 chữ, nghĩa ở đây là đứa ở, con sen, đầy tớ…
Bạn có thể tìm hiểu thêm trong từ điển tiếng Việt - NXB Khoa học và Xã hội 1967, từ điển Hán Việt của Thiều Chửu – NXB Văn hóa – Thông tin 2009.
Nô - Nô là nô lệ hay nô tỳ, nô bộc… nói tắt. Nô tỳ là người có tội hoặc cha mẹ là người có tội hoặc nghèo đói mà phải bán mình làm đứa ở cho nhà giàu. Nô bộc là đầy tớ, đứa ở.
Văn : Là văn học, văn chương nói tắt. Làm văn. Thể văn chương nói chung!...
Văn nô: 文 奴 là đám viết văn làm đầy tớ, nô tì cho bọn cầm quyền, thực hành lợi ích phe nhóm cực đoan (bây giờ gọi là lợi ích nhóm) đi ngược lại lợi ích muôn đời của nhân loại! Trong từ điển tiếng Việt không có. Nó là sáng tạo của nhà thơ Đỗ Hoàng khi sáng tác.
Xin cám ơn bạn Hồng Nguyễn!
Hà Nội ngày 13 – 8 – 2017
Đ – H
VỊNH VĂN NÔ
Đỗ Hoàng
Đời nào cũng có lũ Văn nô
Thấy vịt ngôi cao chúng tụng hô
Khúm núm trước bầy quan hút máu,
Vênh vang sau đám mọi ăn hồ!
Câu văn dựa thế mùi rơm rác,
Mẩu báo xu thời khí cóc khô!
Kẻ sĩ mang danh mà tệ thế
Tang thương sông núi, nát cơ đồ! 

Hà Nội 2 – 2012
Đ - H
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang đứng và ngoài trời

Phần nhận xét hiển thị trên trang