Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 9 tháng 8, 2017

Công an Hà Nội muốn khơi lại biến cố Đồng Tâm để làm gì?


Nguyễn Đăng Quang
Tin từ Đồng Tâm cho biết: Lúc 11 giờ sáng hôm nay (8/8/2017), có 3 nhân viên công lực của TP Hà Nội, gồm 1 Công an xã Đồng Tâm, 1 Công an huyện Mỹ Đức và 1 Công an TP Hà Nội thuộc Phòng Cảnh sát Hình sự số 7 phố Thiền Quang đến nhà riêng ông Lê Đình Công, trưởng thôn Hoành xã Đồng Tâm, đưa giấy triệu tập của CAHN cho ông Công yêu cầu đương sự có mặt tại 7 phố Thiền Quang để làm việc về “hành vi gây rối trật tự công cộng” xảy ra trên xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, TP Hà Nội (nhưng không nói rõ vụ việc này xảy ra khi nào?) Ông Lê Đình Công đã từ chối nhận lệnh triệu tập, đồng thời ghi vào giấy này như sau: “Tôi, Lê Đình Công, không gây rối trật tự công cộng” rồi trả lại cho các nhân viên công lực này mang về! Tin cho biết thêm, ngoài ông Lê Đình Công ra, còn có khoảng hơn hai chục công dân xã Đồng Tâm cũng bị CAHN gửi giấy triệu tập với lý do tương tự. Song tất cả đều trả lại giấy triệu tập cho CAHN. Vài trường hợp không gặp đương sự ở nhà, nhân viên công quyền yêu cầu người nhà ký thay, nhưng khi biết rõ sự việc, những đương sự này nói sẽ không đi vì họ không trực tiếp nhận giấy triệu tập, và người ký thay không phải là đại diện pháp lý của họ!
Việc Công an Hà Nội cho người đến tận nhà riêng ông Lê Đình Công, và một số người dân khác ở xã Đồng Tâm, đưa giấy triệu tập với lý do họ có “hành vi gây rối trật tự công cộng” là điều vô lý, và là đòn khủng bố mới, một lần nữa đánh trực diện vào ông Công và những người nòng cốt trong cuộc đấu tranh giữ đất, phản đối việc giải tỏa phi pháp hàng chục hecta đất nông nghiệp mà người dân đang canh tác để giao cho Tập đoàn Viettel kinh doanh mà không đền bù cho người dân một đồng. Cho đến nay, sau kết luận sai trái của Thanh tra Thành phố Hà Nội, bà con Đồng Tâm đang kiến nghị Thanh tra Chính phủ vào cuộc, phải gặp và làm việc trực tiếp với người dân ở đây, tiến hành đo đạc lại thật chính xác, xác định rõ ràng phần đất nông nghiệp còn lại của người dân (ngoài diện tích 47,36ha đất mà năm 1980 xã Đồng Tâm đã cắt giao cho BQP sử dụng làm sân bay Miếu Môn). Việc vừa qua là người dân Đồng Tâm đấu tranh giữ đất nông nghiệp để canh tác sản xuất, chứ đấy không thể là hành vi chiếm dụng đất quốc phòng và gây rối trật tự công cộng!
Tưởng cũng cần nhắc lại, ngày 15/4/2017, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã áp dụng biện pháp ngăn chặn, tiến hành bắt 4 công dân xã Đồng Tâm về hành vi gây rối trật tự công cộng đưa thẳng về trụ sở Phòng Cảnh sát Hình sự (số 7 phố Thiền Quang) để điều tra, lấy lời cung! Trong số này có đảng viên lão thành là cụ Lê Đình Kình, 82 tuổi đời, 55 tuổi đảng, một “già làng” được người dân Đồng Tâm rất tin tưởng và kính trọng. Trong số những người bị bắt hôm 15/4/2017 có ông Lê Đình Công, trưởng thôn Hoành và cũng là con trai cụ Kình. Trong mấy ngày bị bắt giam và bị tra khảo, ông Lê Đình Công đã phải viết tổng cộng 6 bản tường trình, cả 6 bản tường trình này ông Công đều khẳng định đất tranh chấp không phải là đất quốc phòng mà là đất nông nghiệp. Tập đoàn Viettel muốn cướp trắng số diện tích đất nông nghiệp còn lại trên Cánh đồng Sênh mà không muốn đền bù cho người dân. Ngày 19/4/2017, sau khi thấy việc Công an Hà Nội bắt 4 công dân Đồng Tâm, và gây thương tích nặng nề cho cụ Lê Đình Kình là sai trái và thiếu cơ sở pháp lý, Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao TP Hà Nội đã phải ra quyết định hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, bắt giam để phục vụ “công tác điều tra” của Công an Hà Nội, đồng thời ra lệnh trả tự do cho cụ Kình, ông Công và các công dân khác! Điều này đã góp phần tháo ngòi nổ cho biến cố Đồng Tâm, được nhân dân cả nước hoan nghênh và thở phào nhẹ nhõm!
Sự việc đang trôi qua êm ả, song không hiểu vì lý do gì, CAHN khơi lại vụ việc, hôm nay ra lệnh triệu tập ông Công và nhiều người dân khác ở Đồng Tâm lên trụ sở Phòng Cảnh sát Hình sự để làm việc về “hành vi gây rối trật tự công cộng” xảy ra trên địa bàn xã Đồng Tâm, nhưng không nói rõ ngày, giờ “hành vi gây rối trật tự công cộng” này xảy ra khi nào! Biến cố Đồng Tâm đã xảy ra từ 4 tháng trước, nay hầu như đã sáng tỏ, vụ việc coi như đã khép lại sau khi Chủ tịch TP Hà Nội ký bản “Cam kết 3 điểm” hôm 22/4/2017, trong đó ông Chung hứa “Không truy cứu trách nhiệm hình sự với toàn thể nhân dân xã Đồng Tâm” và cam kết “Chỉ đạo điều tra, xác minh việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”! Bốn sỹ quan LLVT của Hà Nội - thủ phạm gây thương tích năng nề cho cụ Kình - đã được xác định cụ thể họ tên, chức vụ rõ ràng, nhưng đến nay không có một ai trong họ bị triệu tập, điều tra làm rõ trách nhiệm như Chủ tịch Thành phố Hà Nội đã cam kết! Ngược lại, CAHN rất hăng hái trong việc không để người dân Đồng Tâm yên tâm, ổn định cuộc sống. Ngày 28/7/2017, CAHN phát giấy triệu tập 3 công dân xã Đồng Tâm yêu cầu có mặt tại số 7 phố Thiền Quang để làm việc liên quan đến vụ án “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” (mà CAHN đã khởi tố vụ án này hôm 13/6/2017). Cả 3 người này đều phủ nhận liên quan và tất cả đều từ chối đến làm việc theo giấy triệu tập!
Tiếp đến hôm nay, CAHN lại triệu tập ông Lê Đình Công và hơn hai chục người dân khác ở xã Đồng Tâm lên trụ sở Phòng Cảnh sát Hình sự CAHN để làm việc về vụ việc đã xảy ra hôm 15/4/2017 và đã được người đứng đầu Thành phố cam kết khép lại! Người dân Đồng Tâm có quyền đặt câu hỏi, CQĐT Công an Hà Nội vì sao cứ hết triệu tập hết người này đến người kia, gây sáo trộn cuộc sống hàng ngày của người dân, không hiểu để nhằm mục đích gì? Người dân sợ hãi và cảnh giác là có cơ sở. Thiết nghĩ, trách nhiệm của chính quyền là làm yên lòng người dân, cần làm mọi cách để ổn định cuộc sống người dân, hết sức tránh làm những việc gây bất an cho người dân, làm cho người dân sợ hãi, hoang mang dao động, khiến người dân không yên tâm làm ăn và lao động sản xuất, dẫn đến rối loạn cuộc sống bình yên hàng ngày! Thiết nghĩ, vụ án “Gây rối trật tự công cộng” và “Chống người thi hành công vụ” mà nhà chức trách đã bắt cụ Kình và 3 công dân xã Đồng Tâm hôm 15/4/2017, đã được giải quyết xong xuôi bằng quyết định của Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao Thành phố Hà Nội hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, tạm giữ hình sự đối với cụ Kình, ông Công và 2 công dân khác của xã Đồng Tâm! Như vậy vụ việc này đúng, sai đã tỏ. Còn về vụ án “Bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật” và “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hại tài sản” (mà CAHN khởi tố hôm 13/6/2017), nếu thật sự CAHN cần điều tra, thu thập thông tin nhằm làm rõ mức độ vụ việc đến đâu, thì CAHN hoàn toàn có thể phái các trinh sát hình sự của mình về thôn Hoành (Đồng Tâm), gặp trực tiếp cán bộ xã và những người dân mà CQĐT muốn gặp để tiến hành điều tra, thu thập thông tin phục vụ cho vụ án. Tôi nghĩ người dân Đồng Tâm sẽ vui lòng tiếp đón và sẵn sàng hợp tác với CQĐT! Còn trong lúc này triệu tập công dân lên 7 Thiền Quang trong khi chưa xây dựng được lòng tin với người dân nơi đây, thì là việc hoàn toàn không nên, và chắc chắn sẽ không mang lại kết quả tốt cho cả các bên!
Nếu chúng ta chưa làm cho người dân được an lòng thì đừng bao giờ làm cho người dân khiếp sợ! Hãy hành xử đúng theo nguyên lý Nhà nước pháp quyền, và Nhà nước CỦA DÂN, DO DÂN và VÌ DÂN! Đừng tìm cách làm người dân sợ hãi đến mức cạn kiệt lòng tin, vì mất lòng tin là mất tất cả! Chúng ta đừng bao giờ quên câu “Đẩy thuyền là do dân, nhưng lật thuyền cũng do dân”! Vụ việc Đồng Tâm, nếu tiếp tục như thế này sẽ tiềm ẩn nhiều nguy cơ khó lường! Đừng đẩy tình hình đi quá xa, quá mức đến chỗ không cứu vãn nổi!
Hà Nội, ngày 8/8/2017.
N.Đ.Q.
Tác giả gửi BVN

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhân danh khoa học để phá hoại đất nước!


Tiếng Dân 2 - 8 - 2017 LTS: Về sự kiện Vĩnh Tân 1, báo Nănglượng Việt Nam có bài viết của ba vị Phó Giáo sư, Tiến sĩ Bùi Huy Phùng, PGS TS Nguyễn Cảnh Nam và PGS TS Vũ Thanh Ca, gửi Thủ tướng Chính phủ, nói rằng: “Trong số các ý kiến phản biện, hay thư góp ý có rất nhiều ý kiến có nội dung cảm nhận, định tính và không dựa trên cơ sở khoa học, không cung cấp những thông tin chính xác mà còn tạo ra nhiễu loạn thông tin, có khả năng gây ra những bất ổn xã hội và cản trở những hoạt động kinh tế bình thường để phát triển đất nước“.

Mặc dù mang danh là các nhà khoa học, những người có học hàm, học vị, nhưng các nhà khoa học này đã không vận dụng những kiến thức khoa học của mình để bảo vệ môi trường đất nước và người dân. Các vị này đã im lặng, không hề lên tiếng về những báo cáo gian trá đánh giá tác động môi trường, mạo danh các nhà khoa học, để Vĩnh Tân 1 có được giấy phép đổ chất thải xuống biển, tàn phá môi trường Việt Nam. Các nhà khoa học này chẳng hề bận tâm gì về chuyện Vĩnh Tân có được giấy phép nhấn chìm chất thải xuống biển nhờ sự lừa đảo!

Đọc qua bài báo của báo Năng lượng Việt Nam, có thể thấy các nhà khoa học này cho rằng tất cả sự lừa dối của Vĩnh Tân 1 là đúng, và họ đã vận dụng kiến thức khoa học và trí tuệ của mình để biện minh cho Vĩnh Tân 1. Không những thế, họ còn nhân danh khoa học để chỉ trích các phản đối của dư luận và của các nhà khoa học khác.

Thật ra họ không quan tâm đến tài nguyên môi trường, an ninh lương thực của đất nước, họ đang bịt tai và lừa bịp lãnh đạo, cổ vũ cho Vĩnh Tân 1 không chỉ nạo vét chôn chất thải xuống biển, đe dọa Hòn Cau, mà từ nay Vĩnh Tân được ung dung nhập cảng và đốt than non, xả khí độc, thải xỉ độc và nước độc.

Họ là ai? Họ là những kẻ có học vị, học hàm, sử dụng trí tuệ của mình để phá hoại đất nước. Hãy ghi tên ba vị Phó Giáo sư, Tiến sĩ này vào sổ đen, là những người đã giúp các nhà đầu tư Trung Quốc tàn phá môi trường Việt Nam: PGS TS Bùi Huy Phùng, PGS TS Nguyễn Cảnh Nam và PGS TS Vũ Thanh Ca.
------------------------

Năng lượng Việt Nam

Kiến nghị Thủ tướng giải quyết vấn đề nạo vét cảng biển Vĩnh Tân
31-7-2017

Ngày 31/7/2017, các chuyên gia, nhà khoa học: PGS, TS. Bùi Huy Phùng, PGS, TS. Nguyễn Cảnh Nam và PGS, TS. Vũ Thanh Ca có bản Báo cáo tổng hợp các bài báo phản biện khoa học đăng trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam về việc nhận chìm chất nạo vét ở cảng biển Vĩnh Tân gửi tới Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc. Báo cáo nhấn mạnh: Trong số các ý kiến phản biện, hay thư góp ý có rất nhiều ý kiến có nội dung cảm nhận, định tính và không dựa trên cơ sở khoa học, không cung cấp những thông tin chính xác mà còn tạo ra nhiễu loạn thông tin, có khả năng gây ra những bất ổn xã hội và cản trở những hoạt động kinh tế bình thường để phát triển đất nước.

Trong Báo cáo tổng hợp gửi Thủ tướng Chính phủ, các nhà khoa học cho biết: Ngay sau khi Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp Giấy phép cho Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 được nhận chìm 918.533 m3 chất nạo vét tại vũng quay tàu xuống khu vực biển đã được chọn ở vùng biển Bình Thuận, trên các phương tiện thông tin đại chúng có rất nhiều ý kiến lo ngại, không đồng tình. Báo cáo cho rằng, những ý kiến có thể coi là “phản biện”, hay “thư góp ý” về các quyết định của các cơ quan quản lý nhà nước cần dựa trên các căn cứ khoa học và thực tiễn nhất định.

“Với nhận định này, chúng tôi cho rằng, trong số các ý kiến phản biện, hay thư góp ý có rất nhiều ý kiến có nội dung cảm nhận, định tính và không dựa trên cơ sở khoa học, không cung cấp những thông tin chính xác mà còn tạo ra nhiễu loạn thông tin, có khả năng gây ra những bất ổn xã hội và cản trở những hoạt động kinh tế bình thường để phát triển đất nước”, Báo cáo nhấn mạnh.

Để Thủ tướng Chính phủ có góc nhìn đa chiều, khoa học và thực sự khách quan, qua đó xem xét một cách thấu đáo về vấn đề dư luận xã hội đang quan tâm tại dự án nạo vét cảng biển ở Vĩnh Tân, các nhà khoa học đã tổng hợp nội dung các bài báo phản biện khoa học đã được đăng tải trên Tạp chí Năng lượng Việt Nam. Với một mong muốn là được góp phần nhỏ bé giúp dự án sớm được triển khai thực hiện, Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 về đích đúng tiến độ, chủ đầu tư sớm ổn định sản xuất để kịp thời có thêm nguồn điện bổ sung cho miền Nam trong những năm sắp tới.

Đặc biệt, trong Báo cáo gửi Thủ tướng, các chuyên gia đã khuyến cáo “tránh việc tạo thêm tiền lệ phản ứng “nhiều người” về một vấn đề “chưa rõ” tới các dự án công nghiệp, năng lượng của đất nước sẽ được triển khai đầu tư trong tương lai tới”.

Dưới đây đây là nội dung Báo cáo tổng hợp gửi Thủ tướng Chính phủ.

1. Luật pháp quốc tế và Việt Nam về nhận chìm chất nạo vét ở biển

Vào tháng 11 năm 1972, tại Hội nghị Liên chính phủ tổ chức tại thành phố Luân Đôn (Vương quốc Anh), Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác ở biển (Công ước Luân Đôn 1972) được thông qua. Hiện nay đã có 89 nước phê chuẩn Công ước. Để hiện thực hóa Chương trình Nghị sự 21, tăng cường bảo vệ môi trường biển phục vụ phát triển bền vững, tại cuộc họp đặc biệt của các nước thành viên Công ước Luân Đôn 1972 vào năm 1996 tại Luân Đôn, Nghị định thư về Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác ở biển (Nghị định thư Luân Đôn 1996) được thông qua (và sửa đổi, bổ sung năm 2006, 2009, 2013).

Trong Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996 đều quy định chất nạo vét ở đáy biển là chất được phép đổ xuống biển. Cơ sở của quy định này là chất nạo vét là chất được đưa lên từ đáy biển và việc đưa nó trở lại biển là một việc rất tự nhiên nếu nó không chứa những chất độc hại có khả năng làm môi trường biển thay đổi theo chiều hướng xấu đi.

Nhiều luật pháp quốc tế về môi trường, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982, các Nghị quyết Đại hội đồng Liên Hợp quốc về Đại dương và Luật biển cũng luôn đề cập tới các hoạt động nhận chìm xuống biển. Đặc biệt, các nước Bắc Âu và Tây Âu đã cùng nhau xây dựng Công ước về bảo vệ môi trường biển Đông Bắc Đại Tây dương (Công ước OSPAR) quy định rất rõ những điều kiện nhận chìm.

Theo Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 (bản dịch do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2012), sự nhận chìm là (i) mọi sự trút bỏ có ý thức xuống biển các chất thải, hoặc các chất khác từ tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi hoặc công trình bố trí ở biển; (ii) mọi sự đánh chìm tàu thuyền, phương tiện bay, giàn nổi, hoặc công trình khác được bố trí ở biển.


Việc nhận chìm chất nạo vét xuống biển được luật pháp nhiều nước trên thế giới cho phép và thực hiện rất phổ biến. Chẳng hạn, Cục Khí tượng và Đại dương Hoa Kỳ (NOAA), Cục Bảo vệ môi trường Hoa Kỳ (EPA), Ủy ban Công ước OSPAR (khu vực Đông Bắc Đại Tây dương), v.v. đều viết rõ rằng hầu hết chất nạo vét yêu cầu được nhận chìm ở biển. Báo cáo đánh giá đại dương thế giới lần 1 do Liên hợp quốc ban hành năm 2016 nêu rõ vào năm 2010, riêng nước Bỉ đã nhận chìm khoảng 52 triệu tấn chất nạo vét (tính theo khối lượng khô) xuống biển. Báo cáo của Ủy ban Công ước OSPAR năm 2010 cho thấy từ năm 1990 tới 2010, các nước ở khu vực Đông Bắc Đại Tây dương đã nhận chìm hàng năm từ 80 đến 150 triệu tấn chất nạo vét tính theo khối lượng khô xuống biển.

Theo báo cáo đánh giá Đại dương Thế giới do Liên Hợp quốc (năm 2016), chỉ có ít hơn 50% thành viên Công ước Luân Đôn 1972 báo cáo nhận chìm. Tuy vậy, trong báo cáo về nhận chìm năm 2016 của IMO, vào năm 2012 các nước trên thế giới đã cấp phép và nhận chìm khoảng 650 triệu tấn chất nạo vét tính theo khối lượng khô xuống biển. Với con số hơn 50% các nước thành viên Công ước Luân Đôn 1972 (87 nước vào năm 2012) không báo cáo như nêu ở trên và những nước không tham gia công ước cũng không báo cáo, có thể ước tính rằng số lượng thực của chất nạo vét được nhận chìm xuống biển vào năm 2012 nằm trong khoảng từ 800 triệu tấn đến 1 tỷ tấn. Một thí dụ rất điển hình về nhận chìm cát nạo vét là bãi biển Palm, Florida, Hoa Kỳ. Đây là bãi biển đẹp và đắt giá nhất Hoa Kỳ. Bãi này bị xói lở do cát bị vận chuyển dọc bờ theo hướng sóng thịnh hành và lắng đọng ở phía cuối của bãi. Để duy trì bãi, người ta đã nạo vét cát ở cuối bãi, chở lên “nhận chìm” ở đầu bãi.

Tại Việt Nam, Luật bảo vệ môi trường 2014 đã cho phép nhận chìm, đổ thải ở biển. Việc nhận chìm ở biển đã được quy định chi tiết trong Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo 2015 và Nghị định số 40/2016/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo. Danh mục các chất được phép nhận chìm ở biển quy định trong Nghị định số 40/2016/NĐ-CP của Chính phủ hoàn toàn trùng khớp với danh mục các chất, bao gồm cả chất nạo vét được đổ xuống biển quy định trong Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư Luân Đôn 1996. Như vậy, luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam đều cho phép nhận chìm ở biển. Mục đích là để quản lý tốt hơn và giảm thiểu tác động môi trường do nhận chìm ở biển, đồng thời giảm chi phí nhận chìm, đổ thải, tạo điều kiện để phát triển kinh tế biển một cách hiệu quả nhất.

Một quy định rất chặt chẽ trong luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam về nhận chìm ở biển là phải thực hiện thẩm định và cấp phép để đảm bảo kiểm soát và hạn chế thấp nhất những thiệt hại về môi trường, sinh thái do các hoạt động nhận chìm gây ra. Theo đó, phải đảm bảo khu vực nhận chìm không phải là khu vực có tầm quan trọng cao về môi trường, sinh thái và hoạt động nhận chìm ở biển không được gây ra những tác động có hại tới các khu vực biển có tầm quan trọng cao về môi trường sinh thái ở xung quanh khu vực nhận chìm.

2. Thành phần của chất nạo vét ở Vĩnh Tân và khả năng ảnh hưởng tới môi trường khu vực dự kiến nhận chìm

Theo Báo cáo dự án nhận chìm chất nạo vét ở Vĩnh Tân, độ dày lớp đất cát nạo vét điển hình khoảng 14,5 m. Trong đó có một lớp cát pha bùn sét với hàm lượng đất, bùn, sét không vượt quá 5%. Các lớp khác chủ yếu là cát và có rất ít bùn sét. Một số lượng đất trong chất nạo vét đã được nèn chặt qua nhiều năm nên khi bị nhận chìm xuống biển rất khó có khả năng bị hòa tan trong nước biển.

Khu vực dự kiến nhận chìm được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép có diện tích 30 ha. Kết quả khảo sát hiện trường trình bày trong Báo cáo dự án nhận chìm và kết quả khảo sát độc lập của Viện Hải dương học cho thấy nền đáy biển khu vực nhận chìm chất nạo vét tại khu vực vũng quay tàu và luồng vào cảng biển Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 chủ yếu là nền cát với rất ít sinh vật sinh sống. Khi nhận chìm, hầu hết các sinh vật sinh sống ở đáy biển hoặc là bơi đi nơi khác, hoặc là có khả năng xuyên qua lớp đất, cát để lên mặt và không bị chết. Sau khi dự án nhận chìm kết thúc, các sinh vật này sẽ nhanh chóng quay trở lại và hệ sinh thái ở đây sẽ được phục hồi. Vì vậy, hoạt động nhận chìm sẽ ảnh hưởng không đáng kể tới đa dạng sinh học và nguồn lợi thủy sản ở khu vực này.

Khi nhận chìm, bùn, sét và các chất độc (nếu có) trong chất nạo vét có thể hòa tan vào nước và được dòng chảy biển mang đi, ảnh hưởng tới các khu vực xung quanh. Theo kết quả phân tích đối với dự án nhận chìm chất nạo vét tại Vĩnh Tân do Trung tâm công nghệ xử lý môi trường, Bộ Tư lệnh Hóa học thực hiện một cách độc lập, trong thành phần của chất nạo vét không thấy có chất độc hại như: kim loại nặng, hoặc các chất độc hại khác vượt quá mức cho phép. Như vậy, vấn đề cần quan tâm khi nhận chìm chất nạo vét chỉ là nước đục chứ không phải là hàm lượng của các chất độc hại.

3. Tác động có thể có của hoạt động nhận chìm tới môi trường bãi cạn Breda và khu bảo tồn biển Hòn Cau

Hoạt động nhận chìm chất nạo vét cảng biển trong dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 có thể có tác động tới môi trường của các khu vực xung quanh, đặc biệt là khu bảo tồn biển Hòn Cau và bãi cạn Breda là những khu vực có các rạn san hô quý hiếm và hệ sinh thái rạn san hô với đa dạng sinh học rất cao. Nếu chất nạo vét bị vận chuyển tới và lắng đọng tại các khu vực này, thiệt hại về môi trường, sinh thái sẽ rất lớn. Ngoài ra, khu vực ven bờ biển là khu vực lấy nước nuôi tôm giống nên cũng cần tránh nước đục. Vì vậy, dự án cần được thực hiện sao cho nước đục không ảnh hưởng không đáng kể tới các khu vực nêu trên.

Vùng biển Bình Thuận có một hệ thống dòng chảy rất phức tạp. Mùa hè, dưới tác dụng của gió mùa Tây Nam, dòng mặt chảy ven bờ rất mạnh và có hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc và hướng ra ngoài biển khi vượt qua Bình Thuận sang Ninh Thuận. Mùa đông, dòng chảy mặt chủ yếu có hướng từ Bắc xuống Nam. Cần chú ý rằng, hệ thống dòng chảy biển là tổng hợp của dòng chảy do gió gây ra, dòng chảy do chênh lệch mật độ và cao độ mặt nước và dòng chảy do lực hấp dẫn gây ra (dòng chảy triều). Ngoài ra, vùng biển khu vực này còn chịu ảnh hưởng của hiện tượng nước trồi.

Các kết quả đo đạc hiện trường và tính toán bằng các mô hình toán hiện đại (do PGS, TS. Vũ Thanh Ca, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam và nhóm nghiên cứu của GS.TS. Đinh Văn Ưu, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện) cho thấy tại khu vực biển ngoài khơi Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa có xoáy nghịch tạo ra do hoàn lưu biển và tại tâm xoáy có vùng nước trồi cách bờ trong khoảng từ trên 100km đến 150km. Nước trồi là nước từ dưới độ sâu hàng trăm mét nổi lên trên mặt biển nên có nhiệt độ nước thấp và độ muối cao. Vì vậy, nước này nặng hơn nước biển ven bờ. Khi nổi lên mặt biển ở khu vực tâm xoáy, nước này sẽ chảy vào gần bờ tại khu vực Mũi Né và men theo bờ đi lên phía Bắc trước khi chảy chếch ra ngoài khơi theo hướng Đông Bắc ở khu vực ranh giới tỉnh Bình Thuận sang tỉnh Ninh Thuận. Chính hệ thống nước trồi này đã làm cho vùng biển Khánh Hòa, Bình Thuận và Ninh Thuận vào mùa hè rất mát và gây ra khô hạn ở Ninh Thuận. Khi vào gần bờ, nước này sẽ chìm xuống (vì nặng hơn nước gần bờ), xáo trộn mạnh mẽ với nước mặt và tạo ra một lớp nước gần như đồng nhất từ mặt biển tới độ sâu khá lớn, có thể tới cả trăm mét. Trong lớp nước đồng nhất này, dòng chảy có vận tốc lớn sẽ tăng cường trao đổi động lượng giữa mặt nước và các lớp nước bên dưới, làm hầu như toàn lớp này nước chảy theo một hướng – đó là hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc. Chính động lượng rất lớn của lớp nước này đã tạo ra vùng nước quẩn ở vùng biển từ Khánh Hòa tới Ninh Thuận với dòng chảy ven bờ rất yếu từ Bắc xuống Nam, nhưng dòng chảy này chỉ dừng ở khu vực biển giữa tỉnh Ninh Thuận mà không tới ranh giới giữa hai tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận.

Như vậy, hiện tượng nước trồi ở ngoài khơi Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa không làm thay đổi hướng dòng chảy mùa hè từ Tây Nam lên Đông Bắc tại khu vực ven biển Bình Thuận, đặc biệt là tại khu vực nhận chìm chất nạo vét. Vì nước đục là do dòng chảy vận chuyển nên cũng được vận chuyển lên Bắc, do vậy không thể ảnh hưởng tới bãi cạn Breda và khu bảo tồn biển Hòn Cau.

Tuy nhiên, nếu xảy ra gió mùa Đông Bắc với thời gian dài, dòng chảy tại khu vực nhận chìm sẽ thay đổi hướng và nước đục sẽ có khả năng ảnh hưởng tới khu bảo tồn biển Hòn Cau và bãi cạn Breda. Vì giấy phép nhận chìm của Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ cho phép đổ vào mùa hè và đầu thu (từ 23/6/2017 tới 31/10/2017), khả năng xảy ra gió mùa Đông Bắc với cường độ lớn, thời gian dài trong thời gian này khá hiếm. Với hệ thống trạm quan trắc quy định như trong giấy phép, nếu xảy ra hiện tượng nước đục lan tới ranh giới khu bảo tồn biển Hòn Cau trong gió mùa Đông Bắc thì sẽ dừng ngay hoạt động nhận chìm để chờ gió đổi sang hướng Nam, Đông Nam, hoặc Tây Nam. Đồng thời, cần xây dựng các phương án ứng phó sự cố môi trường nếu sự cố xảy ra trong quá trình nhận chìm.

Trong điều kiện bão, các sóng bão có chu kỳ khá dài có thể tác động tới đáy biển nơi nhận chìm chất thải nạo vét. Tuy vậy, do sóng biển là quá trình thế, không xoáy nên dưới tác động của sóng cát biển sẽ chỉ dịch chuyển được một đoạn rất ngắn do hiệu ứng phi tuyến và không thể cuốn lên để trùm lên san hô tại Hòn Cau, hoặc Breda. Bùn có thể bị cuốn lên, nhưng động lực mạnh mẽ tại rạn san hô trong bão sẽ không cho phép bùn lắng đọng ở đây và gây hại cho san hô. Thực tế là trong bão, bùn từ trong lục địa chảy ra rất nhiều, làm đục cả dải nước biển ven bờ, nhưng không ảnh hưởng gì đến các rạn san hô.

Theo các kết quả nghiên cứu trên thế giới, bùn là những hạt có kích thước nhỏ hơn 60 micromét, có cấu tạo dạng bản và tích điện trái dấu ở giữa bản (điện âm) và xung quanh (điện dương) nên nó có xu hướng kết bông (tiếng Anh gọi là flocculation hay aggregation) do tích điện trái dấu và hút nhau giữa cạnh hạt bùn và giữa hạt bùn. Các khối bông kết bùn giúp bùn lắng đọng nhanh hơn, nhưng khá yếu trong nước ngọt. Tuy vậy, khi ra đến biển, nước biển có chứa rất nhiều i-ôn. Các i-ôn này sẽ làm các khối bông kết của bùn vững chắc hơn rất nhiều. Chính các khối bông kết này giúp bùn nhanh chóng lắng đọng xuống đáy ở vùng cửa sông, ven biển để tạo ra các đồng bằng châu thổ.

Với lý do này, chỉ khu vực gần cửa sông mùa lũ là có nước đục, còn biển ngoài khơi luôn trong xanh. Đó cũng là lý do tại sao sau các trận mưa lớn, nước sông tải ra biển thậm chí hàng tỉ m3 nước đục nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó nước biển trở thành trong sạch rất nhanh. Khi lắng đọng xuống đáy, bùn sẽ hấp thụ các chất nhiễm bẩn khác và làm sạch nước biển.

Như vậy, trong gió mùa (mùa hè), bùn trong dòng nước đục do hiện tượng nhận chìm chất nạo vét gây ra sẽ bị vận chuyển lên phía Đông Bắc, ra ngoài xa và nhanh chóng lắng đọng xuống đáy biển và không thể tồn tại từ lâu dài để bị vận chuyển qua lại và lắng đọng xuống khu bảo tồn biển Hòn Cau cũng như các khu vực khác có tầm quan trọng về môi trường, sinh thái cao.

Tóm lại, việc nhận chìm chất nạo vét ở Vĩnh Tân không có gì đáng lo ngại và nếu được kiểm soát tốt sẽ không gây hại cho khu bảo tồn biển Hòn Cau, bãi cạn Breda và các khu vực lấy nước nuôi tôm giống ven bờ.

4. Tại Vĩnh Tân cần thiết phải đầu tư nạo vét cảng để tiếp nhận tàu chở than có tải trọng lớn nhằm giải quyết bài toán kinh tế

Bờ biển khu vực Bình Thuận dài, nhưng nông. Tỉnh Bình Thuận có lợi thế rất cơ bản về “mặt tiền” – bờ biển. Tổng chiều dài bờ biển của Bình Thuận khoảng 192km. Tính trung bình “mặt tiền” của Bình Thuận khoảng 24,58m/km2 (gấp 2,36 lần mức bình quân của Việt Nam và gấp 10,3 lần mức bình quân của thế giới). Tuy nhiên, bờ biển Bình Thuận nhìn chung nông và bị bồi lấp nhanh do có nhiều cửa sông (với mật độ trung bình 15km bờ biển có một cửa sông. Vì vậy, ngoài lĩnh vực du lịch, việc phát triển các dự án sản xuất công nghiệp có nhu cầu giao thông đường biển ở Bình Thuận rất khó khăn. Đặc biệt, các dự án nhiệt điện có nhu cầu bắt buộc phải tiếp nhận khối lượng than rất lớn (than khai thác trong nước cũng như than nhập khẩu) bằng đường biển.

Ví dụ, theo báo cáo của Xí nghiệp Khảo sát Hàng hải miền Nam, trước khi nạo vét, cảng biển tạm của dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 (2x600MW) có các thông số như sau: (i) Trong phạm vi luồng tàu vào ra bến (có chiều dài 870m, rộng 30m), điểm có độ sâu nhỏ nhất (cách mặt bến 70m) là -3,2m; (ii) Trong phạm vi khu nước trước bến, điểm có độ sâu nhỏ nhất là -2,8m nằm ở giữa khu và cách bến khoảng 5m về phía biển. Vì vậy, nếu không nạo vét cảng, dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 4 chỉ có thể tiếp nhận được xà lan tải trọng 3.000 DWT.

Như vậy, nếu các dự án nhiệt điện không đầu tư nạo vét cảng biển, và chỉ sử dụng xà lan 3.000 DWT để chuyển tải và cập bến bốc than, khả năng bị ách tắc và gián đoạn trong khâu cấp khoảng 3,7 triệu tấn than/năm để phát điện là không tránh khỏi. Vì vậy, theo Quyết định số 2414/QĐ-TTg ngày 11/12/2013, Cảng than của Vĩnh Tân 4 phải được nạo vét để có thể tiếp nhận được tàu có tải trọng 100.000 DWT.

Theo thiết kế được phê duyệt, Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân có nhu cầu tiếp nhận than từ phía biển (“mặt tiền”) khoảng 15 triệu tấn/năm. Vì vậy, để giảm chi phí phát điện, các dự án nhiệt điện thuộc Trung tâm Nhiệt điện Vĩnh Tân cần phải nạo vét đáy biển khu vực gần bờ để xây dựng các cảng nhập than có mớm nước càng sâu càng tốt nhằm tiếp nhận được các loại tàu chở than có tải trọng càng lớn càng tốt.

Trên thực tế, việc cấp than cho các dự án điện bằng tàu biển có tải trọng trên 5÷6 vạn DWT so với loại tàu có tải trọng dưới 3 vận tấn (DWT) sẽ giảm được chi phí vận tải (gồm cước thuê tàu, chi phí xếp và dỡ hàng) khoảng 5÷7U$/tấn than, chưa kể còn giảm được thất thoát trong quá trình xếp dỡ. Tuy vậy, việc thiết lập các cảng than sâu cho các dự án điện ở khu vực Vĩnh Tân rất khó khăn. Ví dụ, dự án Nhiệt điện Vĩnh Tân 2 (đang vận hành), mặc dù chi phí đầu tư cảng than rất lớn (ở thôn Vĩnh Phúc, xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong), nhưng độ sâu luồng vào chỉ có 11,7m và độ sâu trước bến bốc chỉ có 11,3m. Vì vậy, hiện nay cảng nhận than của Vĩnh Tân 2 chỉ tiếp nhận được tàu chở than có tải trọng 22.000÷30.000 DWT.

Như vậy, nếu xây dựng được cảng than nước sâu ở Bình Thuận để có thể tiếp nhận tàu chở than tải trọng trên 50.000 DWT, cụm các NMNĐ ở Vĩnh Tân sẽ tiết kiệm (giảm chi phí sản xuất điện) được không dưới 90 triệu U$/năm. Nếu tính cho cả đời dự án (điện và cảng 40 năm) sẽ tiết kiệm được 3,6 tỷ U$. Con số này tương đương với tổng mức đầu tư của cả 2 dự án Vĩnh Tân 1 (2x600MW) và dự án Vĩnh Tân 4.

5. Tại Vĩnh Tân phải nhận chìm chất nạo vét trong bờ ra khu vực biển sâu ngoài bờ

Chính vì những lý do nêu trên, Bộ Công Thương đã phê duyệt hạng mục đầu tư “Bến chuyên dùng phục vụ Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1”, với độ sâu mớm nước theo thiết kế -12,7m, có khả năng tiếp nhận tàu chở than tải trọng 30.000÷50.000 DWT. Để thực hiện nhiệm vụ thiết kế này, chủ đầu tư buộc phải thi công nạo vét đáy biển ở các khu vực trước bến và vũng quay tàu với khối lượng lớn.

Ngoài ra, sau này trong quá trình vận hành, cũng như mọi cảng biển khác, để duy trì độ sâu mớm nước, cảng than của Nhà máy Nhiệt điện Vĩnh Tân 1 hàng năm phải nạo vét khối lượng bồi lấp ở đáy biển khoảng 0,268 triệu m3/năm. Toàn bộ khối lượng nạo vét được Bộ Tài nguyên và Môi trường đã phê duyệt và UBND tỉnh Bình Thuận đã chấp nhận cho chủ đầu tư được nhận chìm ngoài biển, ở khu vực có diện tích 30 ha, độ sâu trung bình hơn 36m, cách cảng hơn 10km và cách vùng lõi khu bảo tồn biển Hòn Cau khoảng 8 km.

6. Tại Vĩnh Tân đưa chất nạo vét từ biển lên bờ không khả thi về mặt kinh tế và không có nhu cầu

Trong khi cả thế giới đều chấp thuận việc nhận chìm ngoài khơi các chất thu được trong quá trình nạo vét xây dựng cảng biển, gần đây, có ý kiến đề cập đến việc đưa chất nạo vét ở Vĩnh Tân lên bờ. Trước hết, đây chỉ là ý kiến hoàn toàn “cảm tính”, không có cơ sở khoa học.

Phải khẳng định rằng, “trên bờ” và “ngoài khơi” là hai môi trường đổ thải/nhận chìm hoàn toàn khác nhau. Nếu chất nạo vét được đổ lên bờ, về nguyên tắc, bãi thải trên bờ cần được xây dựng theo đúng tiêu chuẩn của một “bãi thải” để vừa không được ảnh hưởng tới hệ sinh thái trên bờ, vừa không được ảnh hưởng tới sinh thái dưới biển. Như vậy, ở Vĩnh Tân đòi hỏi phải xây dựng kè bao cũng như bảo vệ, chống thấm rất tốn kém và ảnh hưởng tới môi trường, xã hội rất lớn. Ngoài ra, việc thiết lập bãi thải trên bờ ở Vĩnh Tân sẽ đòi hỏi chi phí đổ thải lớn hơn so với trường hợp đổ thải từ trên bờ xuống, ví dụ như ở mỏ sắt Thạch Khê, Hà Tĩnh. Vì còn phát sinh chi phí cho công đoạn dỡ tải từ xà lan mở đáy đưa chất nạo vét từ biển lên bờ (ở Thạch Khê đưa chất thải từ trên bờ xuống biển). Ngoài ra, tại khu vực Bình Thuận, ở trên bờ có rất nhiều cát sạch có thể sử dụng cho mục đích san lấp tạo mặt bằng với chi phí thấp hơn nhiều (chỉ bằng 10%) so với việc hút bùn cát từ đáy biển lên.

Về mặt kỹ thuật, việc nạo vét đáy biển được thực hiện chủ yếu bằng tàu hút bùn, kết hợp với xà lan mở đáy. Trong điều kiện cụ thể của Việt Nam hiện nay, việc bơm các vật liệu nạo vét ngược từ dưới biển lên bờ để san lấp tạo mặt bằng chỉ có thể thực hiện được trong phạm vi bán kính 1-2km.

Hơn nữa, tại khu vực huyện Tuy Phong, nơi có nhu cầu nạo vét đáy biển, hiện không có nhu cầu san lấp ở trên bờ.

Phương án xây kè đổ thải chất nạo vét để lấn biển là không khả thi về kỹ thuật và kinh tế và môi trường, sinh thái vì các lý do như sau:

Các khu vực bờ biển hiện nay đang ở vị trí cân bằng và các yếu tố động lực (như sóng và dòng chảy biển) và vận chuyển bùn cát đang ở trạng thái duy trì cân bằng đó. Đối với các khu vực bờ biển đang bị xói lở, để bảo vệ bờ biển, chống xói lở người ta phải xác định cán cân bùn cát để có giải pháp can thiệp, bù thêm bùn cát nếu như bị thiếu hụt. Làm kè đổ cát lấn biển tại một khu vực như đề xuất của Bình Thuận sẽ làm thay đổi trường sóng, dòng chảy, ngăn chặn dòng vận chuyển cát và do vậy phá vỡ cân bằng hiện có. Ngoài ra, kè lấn biển còn phá vỡ khả năng tự bảo vệ tự nhiên của bờ biển. Các nghiên cứu cho thấy bãi cát tự nhiên như ở Bình Thuận có khả năng tiêu tán đến 90% năng lượng sóng, trong khi kè lấn biển chỉ tiêu tán được 10% đến 30% năng lượng sóng. Do vậy, công trình ven bờ biển thông thường (như kè) chỉ có thể bền vững nếu có bãi cát phía trước. Vì khu vực lấn biển không có bãi cát, sóng sẽ đánh trực tiếp vào kè và làm sập kè, để lại một vùng bờ biển hoang tàn và mang khoản đầu tư hàng trăm, thậm chí hàng ngàn tỉ đồng, xuống biển. Hơn nữa, do phá vỡ cán cân cát, công trình lấn biển sẽ gây xói lở ở các khu vực bờ biển cạnh đó. Kinh nghiệm xói lở tại Hội An cho thấy rằng, kè do các resort xây dựng không thể ngăn nổi sóng và một số resort bị xói lở, phá hoại tới mức thậm chí bị bỏ hoang; hoặc thực trạng sụt lở, xói mòn tại một số bãi biển ở phía Nam cũng chứng tỏ điều đó. Hơn nữa, lấn biển là phá hoại vĩnh viễn một vùng biển. Khác với nhận chìm, nếu là đáy cát, tại khu vực nhận chìm hệ sinh thái sẽ phục hồi khá nhanh sau khi việc nhận chìm hoàn thành.

Để bảo vệ bờ biển, lấn biển, cần phải thuận theo tự nhiên. Nhật Bản, Singapore có lấn biển nhưng họ thuận theo tự nhiên, dùng công trình để thay đổi trường sóng và đổ cát để nuôi bãi, tạo bãi để lấn biển. Lấn biển theo cách này vừa có bãi, vừa bảo vệ bờ, nhưng phải chấp nhận chi phí vô cùng tốn kém.

Mặt khác, thời gian qua, việc thải tro xỉ từ nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân theo thiết kế cũng đang gặp khó khăn về địa điểm (do phải đổ thải trên bờ). Trong tương lai, do không có vị trí thải tro – xỉ trên bờ phù hợp, các dự án nhiệt điện ở Vĩnh Tân sẽ gặp rất nhiều khó khăn, có nguy cơ sẽ phải dừng sản xuất. (Trường hợp tương tự đang xảy ra đối với dự án Nhiệt điện Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh).

7. Kết luận

Việc Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép cho Công ty TNHH Điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm chất nạo vét đáy biển ra khu vực biển đã xác định ngoài khơi là hợp lý: Đủ cơ sở pháp lý và thực tiễn; khả thi về mặt kỹ thuật và môi trường; hiệu quả về kinh tế và phù hợp với thực tế của địa phương. Cụ thể như sau:

Thứ nhất: Luật pháp quốc tế và Việt Nam cho phép nhận chìm chất nạo vét ở đáy biển ra biển. Trên thế giới, hầu hết chất nạo vét luồng và cảng biển được nhận chìm ở biển vừa vì lý do kỹ thuật, vừa vì lý do kinh tế.

Thứ hai: Về mặt kỹ thuật, việc nhận chìm thực chất chỉ là xê dịch lớp cát, đất bùn trên đáy biển ở khu vực này chồng lấp lên lớp cát, đất, bùn trên đáy biển ở khu vực khác.

Thứ ba: Trong quá trình nhận chìm: Chiều cao lớp bùn đáy biển ở khu vực nhận chìm chỉ tăng thêm khoảng 3,3m. Khu vực đổ thải này có độ sâu hơn 36m. Thực tế, chất nạo vét được chuyên chở và nhận chìm bằng xà lan mở đáy, và các công việc này chỉ được chủ đầu tư thực hiện trong thời gian sóng biển có chiều cao không quá 2m. Với trình tự nhận chìm, cường độ nhận chìm và thời gian, kỹ thuật nhận chìm hợp lý, việc nhận chìm sẽ không có ảnh hưởng đáng kể tới đa dạng sinh học biển tại khu vực nhận chìm. Việc nhận chìm chỉ được thực hiện trong điều kiện gió mùa Tây Nam; do vậy nước đục sẽ được vận chuyển lên phía Đông Bắc, ra xa và lắng đọng xuống đáy biển, không thể ảnh hưởng tới khu bảo tồn biển Hòn Cau và bãi cạn Breda.

Thứ tư: Nếu nhận chìm ở độ sâu như tại khu vực nhận chìm ở biển Bình Thuận, sau này sóng dài từ đại dương truyền vào sẽ dần mang lớp cát dưới đáy biển vào gần bờ để bồi đắp cho bờ bãi quốc gia. Do vậy, cát nhận chìm dưới đáy biển không mất đi mà vẫn là một phần của lãnh thổ quốc gia.

Thứ năm: Trong điều kiện cụ thể của cảng than Vĩnh Tân tại biển Bình Thuận, việc “nhận chìm” ngoài khơi là giải pháp không thể tránh khỏi (phù hợp với điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế cũng như ít thiệt hại về môi trường sinh thái nhất). Tuy nhiên, công việc tiếp theo cần lưu ý là quan trắc và giám sát để xử lý các vấn đề có thể phát sinh trong tổ chức thực hiện.

8. Kiến nghị

Các chuyên gia, nhà khoa học trong Hội đồng Phản biện Khoa học của Tạp chí Năng lượng Việt Nam kính đề nghị Thủ tướng Chính phủ giao các bộ, cơ quan liên quan tham khảo, nghiên cứu những phân tích, ý kiến phản biện trong các bài báo khoa học đã được đăng tải trên Năng lượng Việt Nam và đã được tổng hợp trên đây.

Với những kiến giải như trên, chúng tôi kính mong Thủ tướng Chính phủ xem xét cân nhắc để chỉ đạo giải quyết vấn đề nạo vét cảng biển ở Vĩnh Tân một cách khách quan, khoa học, khả thi và mang lại hiệu quả chung để đảm bảo phát triển bền vững nền kinh tế đất nước.

HỘI ĐỒNG PHẢN BIỆN TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

https://xuandienhannom.blogspot.com/2017/08/nhiet-ien-vinh-tan-danh-tinh-cac-nha.html


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luân hồi có thật: Những sự thật khó bác bỏ


Luân hồi có tồn tại thật sự hay chỉ là tưởng tượng, mê tín hoặc trùng hợp ngẫu nhiên? Đã có nhiều câu chuyện về con người với khả năng siêu thường: có thể nhìn thấy quá khứ, di chuyển đồ vật hay cảm nhận những điều vượt quá khả năng của các giác quan bình thường, hoặc tâm trí rời khỏi thân thể…
(ảnh: Shutterstock)
Từ thời cổ đại, những bí ẩn này đã làm cho bao người có lý trí phải suy nghĩ, nhưng chỉ tới những năm 1970 thì các nhà khoa học mới bắt đầu hiểu một chút về những bí ẩn đang hoạt động bên trong chúng ta.

Bạn chỉ có một cuộc đời hay nhiều đời? Bạn đã bao giờ có cảm giác “déjà vu” – rằng dường như mình đã từng ở nơi nào đó trước đây? Dưới đây là 3 trường hợp thú vị mà các chuyên gia trải nghiệm về vấn đề luân hồi.

Câu chuyện 1: Những cuộn băng của Bloxham

Arnall Bloxham là một nhà thôi miên xứ Wales từ những năm 1970. Trong 20 năm, ông đã thôi miên vài trăm người và ghi lại lời kể của họ về những kiếp sống trước. Liệu có cách giải thích nào khác cho những cuộn băng này ngoài luân hồi?

Arnall Bloxham là một chuyên gia trong lĩnh vực gọi là “thôi miên hồi quy” về những kiếp sống trước. Ông có thể thôi miên và đưa một người về thời điểm họ sinh ra, hoặc thậm chí xa hơn. Khi đó, ông là chủ tịch của Hội trị liệu thôi miên Anh Quốc và dùng thôi miên để chữa các chứng bệnh vật lý, như hút thuốc chẳng hạn.

Những điều xảy ra trong các thí nghiệm thôi miên hồi quy thách thức logic thường tình của con người. Các bệnh nhân có thể kể lại từng chi tiết nhỏ về cuộc sống của những nhân vật đã tồn tại từ hàng trăm năm trước đây.

Quả thật là khó tin, nhưng Bloxham đã ghi lại hơn 400 lời kể của các đối tượng bị thôi miên nói về những kiếp sống trước. Ngoài ra, nhiều bản điều tra đối chiếu với các cuộn băng trên đã được thực hiện, và xác nhận là chính xác. Theo Bloxham, đây là bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ cho tín ngưỡng xa xưa về luân hồi.

Một trong những trường hợp nổi bật là Jane Evans. Các buổi thôi miên hồi quy của Jane bắt đầu năm 1971 khi bà thấy một tấm poster ghi rằng: “Arnall Bloxham nói bệnh thấp khớp là do tâm lý.”

Khi đó, Jane, một bà nội trợ 32 tuổi ở xứ Wales bị viêm khớp dạng thấp, đã không thể tin được, nên bà quyết định liên lạc với người chịu trách nhiệm cho tờ poster này. Và qua một người bạn của chồng, bà đã làm vậy. Bà rốt cuộc đã hồi tưởng lại 6 kiếp sống trước đây của mình:

Vợ của một thầy giáo thời La Mã
Một người Do Thái bị thảm sát vào thế kỉ 12 ở York
Người hầu của một thương gia quyền thế thời trung cổ ở Pháp
Phù dâu của Catherine xứ Aragon (nữ hoàng Anh thế kỉ 15-16)
Người hầu nghèo ở London thời nữ hoàng Anne
Một bà xơ thế kỉ 19 ở Mỹ



Câu chuyện của Jane Evans và một vài trường hợp khác đã được nhà sản xuất truyền hình của BBC, Jeffrey Iverson ghi thành sách mang tên “More Lives Than One?” (tạm dịch: “Nhiều hơn một kiếp sống?”) Và năm 1975, ông thậm chí còn quay camera và ghi âm lại cảnh Bloxham thôi miên Jane để đối chiếu xác minh.

Iverson đã nghiên cứu các chi tiết mà Jane kể ra, rồi xác minh rằng đây đều là các nhân vật có thật. Ở cuối quyển sách, ông nhận định rằng 20 năm sự nghiệp của Bloxham đã trở thành bằng chứng mạnh mẽ cho niềm tin về luân hồi. Ông cũng sản xuất một bộ phim tài liệu mang tên “Những cuộn băng của Bloxham” dựa trên những tư liệu kể trên.

Câu chuyện 2: Những người phái Cathar của bác sĩ Arthur Guirdham

Những người hoài nghi đã cho rằng hiện tượng này là “tiềm ký ức” (cryptomnesia) – tức ai đó nhớ lại những điều họ đã từng biết, nhưng lại cho rằng đó là mới. Nếu một ký ức xa xưa như vậy có thể được tìm thấy trong tâm trí của con người, nó có thể lý giải một cách logic về hiện tượng được cho là “luân hồi” của Jane Evan.

Tuy nhiên, theo BS. Arthur Guirdham, một chuyên gia khác về luân hồi của Anh Quốc, kiểu giải thích này không phù hợp với những câu chuyện mà ông đã nghe hoặc chứng kiến. Ông đã nói về những trải nghiệm này trong quyển sách, “We Are One Another,” (“Chúng ta là nhau” – TD), “The Cathars & Reincarnation” (“Những người phái Cathar & luân hồi” – TD) và tiểu sử của ông – “A Foot in Both Worlds” (“Một chân trong hai thế giới” – TD).



Guirdham từng là một nhà tâm thần học sức khỏe có tiếng ở Anh Quốc. Ông đứng đầu một nhóm nhỏ những người tin rằng họ đã từng theo phái Cathar trong kiếp trước, một nhóm dị giáo ở vùng Languedoc, Tây Nam nước Pháp thế kỉ 13.

Vụ việc đã dẫn đến lý thuyết luân hồi của BS. Guirdham bắt đầu ở Bath năm 1962, trong khu vực ngoại trú của bệnh viện, nơi ông làm việc trong vai trò nhà tâm thần học. Một ngày nọ, bệnh nhân cuối cùng của ông là một phụ nữ trẻ quyến rũ, có sắc mặt bình thường. Cô kể rằng thường gặp ác mộng từ tuổi thiếu niên, mà đến bây giờ đã tăng lên 2-3 lần một tuần. Trong giấc mơ, cô đang nằm trên sàn thì một người đàn ông tiến tới từ đằng sau. Cô không biết điều gì sắp xảy ra nhưng cực kỳ lo sợ.

Mặc dù BS. Guirdham vẫn điềm tĩnh, nhưng ông đã phải giấu đi sự ngạc nhiên: điều cô gái kể cũng chính là giấc mộng đã ám ảnh ông trong hơn 30 năm. Ông cảm thấy rất tò mò, nhưng vẫn không nói gì với bệnh nhân này. Sau đó, cô không còn gặp cơn ác mộng đó nữa, và đối với BS. Guirdham, giấc mơ đó cũng biến mất trong vòng 1 tuần sau khi gặp cô gái.

Tuy nhiên, ông Guirdham vẫn tiếp tục gặp lại bệnh nhân này. Ông chắc chắn rằng tâm lý cô bình thường, nhưng cô có kiến thức kỳ lạ về lịch sử. Sau này cô đưa cho ông danh sách tên của những người đã từng sống trong thế kỉ 13 và mô tả chuyện đã xảy ra với họ. Cô nói rằng chính BS. Guirdham cũng đã sống thời đó và tên là Rogiet de Cruisot.

Là nhà tâm thần học, BS. Guirdham đã biết một vài thông tin cơ bản về thuyết luân hồi, nhưng chưa bao giờ hứng thú lắm. Tuy nhiên, trường hợp này làm cho ông quyết định sẽ đi sâu tìm hiểu.

Ông phát hiện rằng những cái tên trong danh sách quả đúng là có tồn tại, trong các ghi chép lịch sử ít được biết đến thời Trung Cổ. Chúng được ghi bằng tiếng Pháp, và chưa bao giờ được dịch sang tiếng Anh. Những người mà cô gái mô tả đều là thành viên của phái Cathar – phát triển ở phía Nam nước Pháp và bắc Italy thời Trung Cổ. Phái này tin vào luân hồi. Qua thời gian, ông Guirdham lại gặp thêm một vài rồi một vài cá nhân khác, tổng cộng có 11 người, đều có ký ức tiền kiếp là sống chung với nhau trong một nhóm Cathar.

Những người này đều không uống thuốc hay bị thôi miên, những cái tên và sự việc quá khứ chỉ đơn giản là xuất hiện trong đầu họ, BS. Guirdham cho biết. Ông cũng thu được một trong những bằng chứng đáng chú ý nhất, đó là tập ký họa của một bé gái 7 tuổi, vẽ về một kỷ nguyên dĩ vàng đã trôi xa. Quyển tập cũng ghi lại nhiều cái tên của người trong phái Cathar. Quá kinh ngạc, BS. Guirdham nói: “Tôi không hiểu làm thế nào mà một đứa trẻ 7 tuổi có thể biết những cái tên này trong khi có lẽ không một chuyên gia lịch sử Trung Cổ nào ở Anh Quốc thời nay biết được.”

Số lượng lớn ký ức, những cái tên và thông tin liên lạc đã thuyết phục vị bác sĩ rằng ông và nhóm của mình đã từng sống chung với nhau, không chỉ một mà tới vài đời trước đây. Ông nói, “Với 40 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực y tế, tôi hiểu sự khác biệt giữa trải nghiệm ‘nhãn thông’ (clairvoyant) và chứng tâm thần phân liệt, hoặc chính bản thân tôi đang bị loạn tâm thần. Không có ai trong nhóm của tôi bị vấn đề thần kinh cả – và cũng không có đồng nghiệp nào thấy tôi bị loạn tâm thần.”

Câu chuyện thứ 3: Tiến sĩ Ian Stevenson, ĐH Virginia


(ảnh: ĐH Virginia)

Nếu nhắc đến những chuyên gia hàng đầu về luân hồi, không thể bỏ qua TS. Ian Stevenson, nguyên Trưởng khoa Tâm thần học ĐH Virginia. Ông đã du lịch khắp thế giới và điều tra nhiều báo cáo về luân hồi, đồng thời thiết lập một bài kiểm tra chi tiết để loại bỏ gian dối, tiềm ý thức… Trong số 200, chỉ có 20 trường hợp là vượt qua được bài kiểm tra khó khăn của TS. Stevenson, tức cho thấy có khả năng là luân hồi thực sự.

Trong đó, 7 trường hợp xảy ra ở Ấn Độ, 3 ở Sri Lanka, 2 ở Brazil, 1 ở Lebanon, và 7 trong một bộ lạc ở người da đỏ ở Alaska.

Lấy ví dụ trường hợp của một bé gái rất nhỏ, sinh năm 1956 ở vùng Trung Sri Lanka với cái tên khó đọc Gnantilleka Baddewithana. Không lâu sau khi bắt đầu biết nói, cô đã kể về một người mẹ và người cha khác ở một nơi khác, ngoài ra cô còn có hai anh trai và nhiều người chị.

Từ những chi tiết mà cô bé đưa ra, cha mẹ cô đã tìm thấy một gia đình ở thị trấn cách đó khá xa. gia đình này đã mất một đứa con trai vào năm 1954. Khi Gnantilleka được đưa đến gia đình này, cô nói mình chính là đứa con trai đã qua đời của họ và xác định chính xác 7 thành viên trong “gia đình mình”. Nhưng trước thời điểm đó, cả 2 gia đình chưa từng gặp nhau hay thậm chí đến thị trấn của nhau.
Kết luận

Những người hoài nghi có thể bác bỏ giả thuyết về luân hồi, cho rằng đó chỉ là tưởng tượng, hoặc những người không tin vào luân hồi bài xích nó như một dạng mê tín.

Cho dù bạn có tin hay không, từ thời cổ đại xa xưa, các tôn giáo phương Đông như Phật giáo, Đạo giáo đều có tín ngưỡng về luân hồi. Họ tin vào nhân quả, hay nói cách khác, mối quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả. Họ tin rằng cách mọi người hành xử trong đời là quan trọng, và ai làm việc tốt hay xấu đều sẽ có ảnh hưởng tới quãng đường đời sau này.

Có giả thuyết cho rằng những quy luật của tự nhiên, quy luật vũ trụ chi phối tất cả mọi thứ. Những việc làm của mỗi cá nhân, dù tốt hay xấu cũng sẽ ảnh hưởng tới đời này hoặc đời tiếp theo, thể hiện ra là may mắn, số mệnh hay những xui xẻo, tai ương… tùy theo từng trường hợp.

Những người vô thần có lẽ sẽ xem giả thuyết này là một ví dụ về “hội chứng thuyết định mệnh”. Họ tin rằng cuộc sống là do tự mình quyết định, số phận nằm trong tay mình.

Ngược lại, Đạo gia tin rằng gieo nhân nào gặp quả nấy. Có lẽ đây cũng chính là lý do Phật giáo dạy về “sáu ngã luân hồi” từ 2500 năm trước đây.

Và có lẽ đây cũng chính là lý do mà chúng ta thường nghe ông bà và cha mẹ khuyên bảo rằng “Thiện giả thiện báo, ác giả ác báo.”

Theo Pure Insight,
Sơn Vũ

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHỮNG ĐIỀU SỈ NHỤC VÀ CĂM GIẬN


(Cho một ngày được sống yêu thương và thức tỉnh)
THƠ LƯU QUANG VŨ
Một đất nước luôn có kẻ dẫn đường
Cho người ngoài kéo đến xâm lăng
Cho những cuộc chiến tranh
Đẩy con em ra trận
Những điều sỉ nhục và căm giận

Một xứ sở
Nhà tù lớn hơn trường học
Một dân tộc có nhiều gái điếm nhất thế giới
Có những cái đinh để đóng vào ngón tay
Có những người Việt Nam
Biết mổ bụng ăn gan người Việt

Một đất nước
Đến bây giờ vẫn đói
Không có nhà để ở
Không đủ áo để mặc
Ốm không có thuốc
Vẫn còn những người run rẩy xin ăn


Nỗi sỉ nhục buốt lòng
Khi thấy mẹ ta bảy mươi tuổi lưng còng
Phải làm việc mệt nhoài dưới nắng
Khi thấy lũ em ngày càng hư hỏng
Khi người mình yêu
Nói vào mặt mình những lời ti tiện

Khi bao điều tưởng thiêng liêng trong sạch
Bỗng trở nên ngu xuẩn đê hèn
Khinh mọi người và tự khinh mình
Như chính tay ta đã gây ra mọi việc
Và tất cả không cách nào cứu vãn
Nỗi sỉ nhục ngập tràn trái đất

Khi lẽ phải luôn thuộc về kẻ mạnh
Những nền văn minh chạy theo dục vọng
Những guồng máy xấu xa chà đạp con người
Đi suốt một ngày
Giữa rác rưởi và chết chóc
Luôn thấy bị ném bùn lên mặt

Nói làm sao được nữa những lời yêu
Nghĩ về cha, con sẽ chẳng tự hào
Nỗi tủi nhục làm cha nghẹn thở
Nỗi tức giận làm mặt cha méo mó
Trong hận thù không thể có niềm vui

Nhưng không thể sống yên, không thể được nữa rồi
Nỗi tủi nhục đen sì mỗi cành cây
Nỗi tủi nhục của đứa trẻ chạy trốn
Nỗi tủi nhục trên mỗi bậc thang lười biếng
Trong cốc nước đưa lên môi lạnh ngắt
Trên mỗi dòng tin mỗi ống quần là phẳng

Mỗi chiếc hôn ướt át thì thầm
Mỗi nấm mồ bị vùi dập lãng quên
Trên bàn tay đưa ra trên mỗi bức tường
Nỗi tủi nhục tội lỗi nỗi tủi nhục kinh hoàng
Trên vệt máu bầm đen trên nụ cười thỏa mãn

Cha chẳng có gì để lại cho con
Ngoài một cửa sổ trống trơn
Ngoài một tấm lòng tủi nhục và căm giận
Ngoài kỷ niệm về những năm tàn khốc
Cho một ngày con được sống thương yêu

(Di cảo Lưu Quang Vũ, 1972-1975)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyên gia lo sợ sau khi AI của Facebook tự phát triển ngôn ngữ


Ái Vi 



MTG - Các chuyên gia về khoa học máy tính đã lo sợ, cảnh báo con người về mối nguy hiểm đến từ Trí thông minh Nhân tạo (AI) sau khi hai AI của Facebook tự phát triển ngôn ngữ.

Facebook đã phải "giết" hai AI mà họ tạo ra sau khi chúng tự phát triển ngôn ngữ riêng cho mình. Vụ việc xảy ra khi Facebook dạy hai AI của họ "chatbots" để thương lượng với nhau.

Chatbot là một hình thức thô sơ của phần mềm trí tuệ nhân tạo. Nó hoạt động độc lập, có thể tự động trả lời những câu hỏi hoặc xử lý tình huống càng thật càng tốt. Phạm vi và sự phức tạp của chatbot được xác định bởi thuật toán của người tạo nên chúng.

Chatbot là sự kết hợp của các kịch bản có trước và tự học trong quá trình tương tác. Với các câu hỏi được đặt ra, chatbot sẽ dự đoán và phản hồi chính xác nhất có thể. Nếu tình huống đó chưa xảy ra (không có trong dữ liệu), chatbot sẽ bỏ qua nhưng sẽ đồng thời “bắt chước” để áp dụng cho các cuộc trò chuyện thường xuyên (lặp đi lặp lại nhiều lần) về sau.

Tuy nhiên, trong quá trình thực nghiệm hai AI - được gọi là Alice và Bob - lại tự phát sinh ngôn ngữ máy riêng của mình một cách hoàn toàn tự động.

Các nhà nghiên cứu của Facebook đã cho AI của họ học các bài phát biểu của con người bằng cách dùng các thuật toán, sau đó để AI tự chạy nhằm phát triển kỹ năng đàm thoại.

Khi các nhà khoa học quay trở lại phòng thí nghiệm, học bắt gặp một hiện tượng gây sốc khi hai AI bắt đầu giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ mới hoàn toàn được chúng tạo ra khi con người không giám sát chúng.

Ngôn ngữ mới được tạo ra rõ ràng là hiệu quả cao hơn trong việc hai AI giao tiếp với nhau, nhưng chúng không đúng với nhiệm vụ mà những AI này đã được thiết lập.

Các nhà khoa học sau đó thay đổi thuật toán để tiếp tục nghiên cứu của mình, họ cho rằng chuyện AI tự tạo ra ngôn ngữ có thể chỉ là một lỗi.

Dù vậy sau đó hai AI kia vẫn tiếp tục "cứng đầu" và luôn nhấn mạnh tính riêng trong câu nói của mình. Các nhà khoa học của Facebook ngay lập tức lo lắng về thứ mình tạo ra và đã" khai tử" cả hai AI.

Giáo sư Kevin Warwick một chuyên gia về robot của Anh nói: "Đây là một cột mốc vô cùng quan trọng, nhưng bất cứ ai nghĩ chuyện này không nguy hiểm thì có lẽ 'đầu họ đang rúc trong cát' (cách đà điểu vờ tránh mọi nguy hiểm xung quanh). Đây là lần đầu tiên chuyện này được truyền thông ghi lại, nhưng có lẽ nhiều thứ đã không được ghi lại trước đây. Các thiết bị công nghệ thông tin bây giờ có khả năng giao tiếp riêng, dù chúng ta tự cho rằng mình có thể giám sát chúng, nhưng chúng ta không có cách nào để kiểm chứng chuyện đó".

Đây không phải là lần đầu tiên máy tính tự tạo ra ngôn ngữ riêng. Các nhà phát triển AI ở một số công ty khác trước đó cũng từng nhận thấy AI thực hiện điều tương tự nhằm đơn giản hóa quá trình giao tiếp. Tại OpenAI, phòng thí nghiệm trí tuệ nhân tạo do Elon Musk thành lập, một thí nghiệm đã được thực hiện thành công khi các nhà khoa học để cho chương trình Trí tuệ nhân tạo tự học ngôn ngữ của chúng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tàu sân bay Mỹ lần đầu tiên sẽ thăm Việt Nam




















VNN - Trang web Bộ Quốc phòng Mỹ đưa tin, tàu sân bay nước này lần đầu tiên sẽ thăm Việt Nam trong năm tới.

Theo Lầu Năm Góc, Bộ trưởng Quốc phòng Jim Mattis đã chào đón Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch thăm chính thức Hoa Kỳ để thảo luận về nỗ lực thúc đẩy quan hệ quốc phòng hai nước.

Hai Bộ trưởng nhất trí về các hành động nhằm tăng cường hợp tác quốc phòng, bao gồm việc một tàu sân bay Mỹ sẽ thăm Việt Nam năm tới, mở rộng hợp tác hải quân và tăng cường chia sẻ thông tin.

Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ nêu bật sự hợp tác ngày càng gia tăng trong trong gìn giữ hòa bình, hỗ trợ nhân đạo và lực lượng cảnh sát biển bao gồm việc gần đây Mỹ đã chuyển giao một tàu tuần duyên giúp nâng cao năng lực thực thi pháp luật hàng hải của Việt Nam.

Hai nhà lãnh đạo nhất trí rằng, mối quan hệ quốc phòng Việt - Mỹ vững chắc sẽ thúc đẩy an ninh khu vực và toàn cầu. Mối quan hệ này dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và các mối quan tâm chung, bao gồm cả quyền tự do đi lại ở Biển Đông và trên toàn cầu; tôn trọng pháp luật quốc tế và công nhận chủ quyền quốc gia.

Một số hình ảnh lễ đón Bộ trưởng Quốc phòng Ngô Xuân Lịch mà website Bộ Quốc phòng Mỹ đăng tải: 




Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Trần Bắc Hà: ‘Tôi bình thường mà’




Kiều Diễm
Theo Zing.vn
Ông Trần Bắc Hà.
Trả lời Zing.vn qua điện thoại sáng 9/8 về thông tin ông liên quan đến đại án Phạm Công Danh, ông Trần Bắc Hà, cựu Chủ tịch HĐQT BIDV, cho biết ông vẫn bình thường.
Qua điện thoại, ông Trần Bắc Hà chia sẻ ngắn gọn và cho biết không muốn nói nhiều chuyện hơn vào lúc này.
Trao đổi sau khi ông Trầm Bê bị bắt, ông Hà từ chối bình luận về mối liên quan của mình tới các sai phạm của ông Trầm Bê và Phạm Công Danh trong đại án làm thất thoát hơn 6.000 tỷ đồng.
Theo nội dung kết luận điều tra của Bộ Công an, năm 2013, Phạm Công Danh cần vay 1.800 tỷ đồng của Sacombank nhằm tất toán hơn 1.600 tỷ đồng cho BIDV Chi nhánh sở giao dịch 2 và BIDV Chi nhánh Hải Vân
Trước đó, ngày 27/2/2012 Phạm Công Danh có giấy đề nghị vay 2.000 tỷ đồng gửi BIDV Chi nhánh Sở giao dịch 2 (quận 1). Kèm theo là những giấy tờ liên quan như phương án vay, hồ sơ vay.
Tài sản thế chấp trong hồ sơ vay gồm 5 lô đất tại dự án Khu phức hợp TM&DV cao tầng tại Sân vận động Chi Lăng (TP Đà Nẵng). Cả 5 lô đất này được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lâu dài cho 5 công ty do nguyên chủ tịch Ngân hàng Xây dựng (VNCB) làm chủ.
Sau khi thẩm định, BIDV Chi nhánh Sở giao dịch 2 đồng ý cho vay 1.700 tỷ đồng. Quyết định này được trình lên HĐQT BIDV.
Đến ngày 15/3/2012, ông Trần Bắc Hà, Chủ tịch HĐQT BIDV ra quyết định phê duyệt cho vay hỗ trợ tài chính tạm thời đối với dự án nói trên.
Đến 6/4/2012, ông Đoàn Ánh Sáng, Giám đốc BIDV Chi nhánh Sở giao dịch 2 ký hợp đồng tín dụng cho Phạm Công Danh vay số tiền 1.700 tỷ đồng. Thời hạn vay của hợp đồng này kéo dài đến cuối năm 2012.
Ba ngày sau khi được ký duyệt, Phạm Công Danh bắt đầu lập bảng kê rút vốn. Thời điểm này bà Nguyễn Thị Mai Hoa, Phó giám đốc BIDV Chi nhánh Sở giao dịch 2 phê duyệt và giải ngân số tiền 1.700 tỷ đồng.
Làm việc tại Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) từ năm 1981, ông Trần Bắc Hà được cho là “linh hồn” của BIDV, từng đảm nhiệm vị trí Chủ tịch HĐQT ngân hàng này trong suốt 8 năm liền.
Ông Trần Bắc Hà vừa nghỉ hưu theo chế độ từ ngày 1/9/2016. Từ đó đến nay, BIDV chưa có chủ tịch HĐQT mà chỉ có một Ủy viên phụ trách HĐQT là ông Trần Anh Tuấn. Tuy nhiên, theo quy định, ông Trần Anh Tuấn cũng sắp đến tuổi nghỉ hưu. Đại hội cổ đông 2017 của BIDV cũng chưa bầu ra chủ tịch HĐQT mới.
Năm 2013, có tin đồn ông Trần Bắc Hà bị bắt. Cùng ngày với tin đồn này, thị trường xuất hiện tin Ngân hàng Nhà nước phá giá tiền đồng 2-3%, giá xăng tăng 6%. Thị trường chứng khoán khi đó giảm mạnh, gần 34.000 tỷ đồng (khoảng 1,6 tỷ USD) đã “bốc hơi” do vốn hóa hai sàn Hà Nội, TP.HCM giảm.
Khi đó, ông Trần Bắc Hà đã xuất hiện trên truyền thông cho hay nhận được tin đồn này khi ông đang chủ trì buổi họp tại BIDV về kế hoạch phát triển của ngân hàng năm 2013. Cựu chủ tịch BIDV cũng nhờ cơ quan điều tra vào cuộc tìm ra thủ phạm tung tin đồn.
Sau đó,  2 người tại TP.HCM và một người ở Hà Nội tung tin đồn này đã bị bắt, mỗi người bị phạt tiền từ 10 đến 15 triệu đồng. Tuy nhiên, danh tính của họ không được công bố.

Phần nhận xét hiển thị trên trang