Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 29 tháng 7, 2017

Tập Cận Bình đích thân chỉ đạo xây đảo ở Trường Sa


Văn Khoa

TNO - Tờ Học tập thời báo thuộc Trường đảng trương ương Trung Quốc vừa đăng bài xã luận ca ngợi Chủ tịch Tập Cận Bình đích thân chỉ đạo bồi đắp xây đảo nhân tạo phi pháp ở quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam.

Bài xã luận được đăng vào ngày 28.7 còn khẳng định chính ông Tập là người đưa ra quyết định thành lập cái gọi là thành phố Tam Sa hồi tháng 7.2012 nhằm tự cho Trung Quốc có quyền quản lý cả Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa, cũng thuộc chủ quyền Việt Nam.

“Về vấn đề Nam Hải (cách Trung Quốc gọi Biển Đông-PV), (ông Tập) đích thân đưa ra quyết định xây đảo và gia cố các bãi đá, và thiết lập thành phố Tam Sa. (Những quyết định này) cơ bản đã thay đổi tình hình chiến lược của Nam Hải”, bài xã luận viết.

Trung Quốc bắt đầu hoạt động bồi đắp từ năm 2013 và nhanh chóng xây 7 thực thể ở Trường Sa thành 7 đảo nhân tạo phi pháp. Bộ Quốc phòng Mỹ ước tính Trung Quốc đã bồi đắp tổng cộng trên 12,9 km2 đất ở khu vực.

Giới quan sát cho rằng bài xã luận từ Học tập thời báo cho thấy ông Tập đã khôi phục được sự tập trung hóa và kiểm soát chính sách đối ngoại của Trung Quốc ở một mức độ nào đó, theo tờ South China Morning Post.

Bài xã luận của Học tập thời bào còn công nhận ông Tập đứng sau việc Trung Quốc hồi năm 2013 đơn phương thiết lập vùng nhận dạng phòng không (ADIZ) ở biển Hoa Đông, nơi nước này và Nhật có tranh chấp về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Hôm 27.7, tờ PLA Daily, cơ quan ngôn luận của Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc, cũng đăng bài xã luận ca ngợi ông Tập đã chỉ đạo chiến lược của Bắc Kinh về Senkaku/Điếu Ngư.

Những bài xã luận ca ngợi ông Tập như trên được đăng tải trong bối cảnh Đảng Cộng sản Trung Quốc sắp tổ chức đại hội 5 năm lần.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Không có dân tộc Kinh (?)



Nguyễn Văn Mỹ
MTG - Người Việt, ai cũng phải khai là dân tộc Kinh một cách vô lý. “Kinh” nghĩa là gì? Tự tìm hiểu tôi mới nghiệm ra không có dân tộc nào là dân tộc Kinh cả.

​Nhiều người lớn đang vò đầu bứt tai than vãn: “Xã hội bây giờ nhiễu nhương quá, chẳng còn tôn ti trật tự”. Ai cũng biết vậy. Cái gì cũng có căn nguyên, nhân nào thì quả đó. Xã hội nền nếp vì mọi thứ đều có quy chuẩn rõ ràng, ngô khoai minh bạch. Việt Nam lắm chuyện khác người, từ những việc rất nhỏ.

Làm sao có thể dạy trẻ con lịch sự, biết kính trọng tổ tiên, ông bà khi tên đường đặt rất tùy tiện. Từ những cách gọi lai căng như Bà Triệu (Triệu Thị Trinh), Trần Hưng Đạo (Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn)… đến những cách gọi thiếu tôn trọng như Thoại Ngọc Hầu (Ngọc Hầu Nguyễn Văn Thoại), Lãnh Binh Thăng (Lãnh Binh Nguyễn Ngọc Thăng), Đề Thám (Đề Lĩnh Hoàng Hoa Thám)… Tệ nhất là cách gọi theo hỗn danh như Ký Con (Đoàn Trần Nghiệp, làm thư ký, nhỏ con), Đồng Đen (Nguyễn Văn Kịp)… Nếu những cách gọi này được phổ cập thì tiếng Việt sẽ thế nào?

Bi hài nhất là chuyện khai lý lịch. Thời bao cấp, có năm khai vài chục bản, không biết để làm gì. Trẻ vào nhà trẻ, mẫu giáo cũng khai lý lịch với phần trước 1975 làm gì trong khi ba mẹ các cháu cũng chưa sinh ra. Mà toàn chữ nghĩa mông lung. Khổ nhất là phần tự khai “Ưu khuyết điểm”. Chẳng biết phải tự đánh giá về mình thế nào cho đúng mà không nguy hại đến công việc đang làm.  “Trình độ văn hóa” làm sao đo đếm, xác định? Thiên hạ chỉ nói trình độ học vấn thôi. Chuyện tiếu lâm kể là khi hỏi cung về “Nơi sinh”, có người dân tộc thiểu số đã thật thà trả lời: “Ai chẳng sinh ra từ chỗ đó mà còn hỏi?”. Rồi “quan hệ gia đình”, “quan hệ xã hội”. Từ quan hệ này có giống như “quan hệ bất chính” hay không?

Phần khai thành phần dân tộc càng khó hiểu. Người Việt, ai cũng phải khai là dân tộc Kinh một cách vô lý. “Kinh” nghĩa là gì? Tự tìm hiểu tôi mới nghiệm ra không có dân tộc nào là dân tộc Kinh cả. Chỉ có “người Kinh” trong khẩu ngữ. Khái niệm này có nguồn gốc từ thời nhà Nguyễn. Khi Nguyễn Ánh, sau nhiều năm bôn tẩu gian khổ, đã đánh bại Tây Sơn và lên ngôi vào năm 1802, lấy hiệu là Gia Long. Bài học xương máu Gia Long rút ra là mầm mống các cuộc nổi loạn luôn xuất phát từ đám nhà giàu, lợi dụng, xúi giục và tụ tập những người nghèo bất mãn để phản kháng theo ý đồ của mình. Những cuộc bạo loạn này sẽ nhanh chóng thành khởi nghĩa nếu được chính quyền địa phương hà hơi, tiếp sức. Phải dập tắt những bạo loạn từ trong trứng nước và nắm quyền kiểm soát chặt chẽ.

Sau khi lên ngôi, Gia Long đã cho tuyển chọn và bổ nhiệm người thân thích, họ hàng tỏa đi khắp nới nắm giữ các chức vụ từ làng xã cho đến huyện, phủ… Hết bà con thì lấy người đồng hương Phú Xuân, kinh đô nhà Nguyễn, đất tổ của Nguyễn Hoàng, Nguyễn Kim. Người Kinh có nghĩa là người Kinh đô. Dần dà, khái niệm “người Kinh” được mở rộng thành người miền xuôi, bao gồm cà người Hoa, người Chăm… Ngược lại là “người Thượng” nghĩa là người miền núi, người vùng cao. Nếu mình khai là dân tộc Kinh, chẳng lẽ các dân tộc thiểu số vùng cao sẽ khai chung là dân tộc “Thượng”? Khi đó người Việt chỉ có 2 dân tộc là “Kinh” và “Thượng”, chứ không phải 54 dân tộc như hiện nay.

Người Việt phải khai là “Dân tộc Việt” trong cộng đồng “Người Việt Nam” gồm 54 dân tộc anh em mà dân tộc Việt là đông nhất. Hiện nay, chỉ có duy nhất sách “Non nước Việt Nam”, tài liệu tham khảo nghiệp vụ du lịch do Tổng cục Du lịch xuất bản ghi rõ mục thành phần dân tộc cả nước và các địa phương là “Việt” có chữ Kinh trong ngoặc đơn (Kinh) kế bên để chú thích thêm; bên cạnh các dân tộc khác như Thái, Hoa, Chăm, H’ Mông, Tày, Nùng, Ê Đê… Có người bảo “Chuyện nhỏ, gọi dân tộc gì cũng được, miễn là đất nước giàu mạnh. Xã hội còn bao nhiêu chuyện lớn ngổn ngang”. Đúng là đất nước còn bao chuyện bức bách nhưng tôi không coi chuyện gọi sai tên dân tộc là chuyện nhỏ, không cần sửa. Chuyện nhỏ mà có tác hại lớn về nhận thức và cả hành động. Chuyện nhỏ không làm được sao có thể làm chuyện lớn?

Mong sao việc này được sửa sớm. Tôi chỉ muốn mình là dân tộc Việt chứ không thích làm dân tộc Kinh.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NẾU GIÁO SƯ NGUYỄN LÂN CÒN SỐNG....

Đỗ Ngọc Thống:


Đỗ Ngọc Thống
(Phó giáo sư Tiến sĩ Văn học)

SÁCH CỦA HOÀNG TUẤN CÔNG

Cuối năm 2016, khi đã chuẩn bị xong bản thảo cuốn “Từ điển tiếng Việt của GS, Nguyễn Lân - Phê bình và khảo cứu”, Hoàng Tuấn Công có nhờ Hoàng Dũng viết Lời tựa và tôi viết Lời bạt. Mấy hôm trước Hoàng Dũng đã công bố Lời tựa (in ở đầu sách), nay tôi xin đăng Lời bạt (in ở cuối sách) để bạn đọc rộng đường tham khảo. Còn phần ruột sách quan trọng nhất thì mọi người đành… đi mua vậy.


Tháng 3/2017 NXB Chính trị quốc gia phát hành 82.700 bản cuốn “Xây dựng chỉnh đốn Đảng là nhiệm vụ then chốt để phát triển đất nước” của TBT Nguyễn Phú Trọng (nhandan.com

Sách của Hoàng Tuấn Công cũng thuộc loại “xây dựng chỉnh đốn... để phát triển đất nước", tất nhiên không phải chỉnh đốn Đảng, nên chỉ in 2000 bản. 

Không biết cuốn nào bán chạy đây?

Thứ bảy, 29/07/2017
-------------------------------------

Đỗ Ngọc Thống

Lời bạt

Một chiều mùa hè cách đây vài ba năm, tôi nhận được điện thoại của nhà văn Nguyễn Quang Lập. Anh nói với một giọng đầy hứng khởi, cứ như vừa phát hiện ra điều gì đó thật mới mẻ:“này, ông hỏi hộ tôi xem Hoàng Tuấn Công là ai, ở đâu và làm gì? Một nhà ngôn ngữ học giỏi thế sao lâu nay không nghe thấy tên, mãi bây giờ mới xuất hiện?”

Sau một vài ngày, tôi báo lại cho Nguyễn Quang Lập mấy thông tin cơ bản về Hoàng Tuấn Công: quê Thanh Hóa, học tổng hợp sử, hiện đang công tác tại phòng truyền thông hay tuyên truyền gì đó của Sở Nông nghiệp Thanh Hóa… Chưa nghe hết, Nguyễn Quang Lập đã xuýt xoa: “Ôi trời ơi, thế thì phí quá, uổng quá. Là đồng hương, ông xem có tác động được gì để Công chuyển đến một nơi nào đó cho phù hợp với cái tài của nó không”. Nghe xong tôi thực sự cảm động trước tấm lòng liên tài của Nguyễn Quang Lập và rất tò mò về Hoàng Tuấn Công. Thế rồi tôi bị hút vào những bài viết của Công, trước là đọc trên trang của Nguyễn Quang Lập, rồi sau thường vào thẳng Blog Tuấn Công Thư Phòng. Đó là những bài Công viết phê bình, đối thoại và đính chính, chú giải về hàng loạt những sai sót trong việc giải nghĩa từ ngữ tiếng Việt của một số nhà biên soạn từ điển; chỉ ra những ngô nghê, nhảm nhí trong trong việc sử dụng tiếng Hán và hành vi đạo văn của một cây bút chuyên viết và chỉ viết được về thơ Hồ Chí Minh; phân tích sự cẩu thả và thiếu chính xác trong chữ nghĩa của một vị GS cao niên chuyên sản xuất câu đối .v.v…

Tôi đã đọc các bài viết của Công một cách say sưa không dứt ra được; phần vì những bài viết đó có nhiều lý giải rất mới mẻ, trước hết là với hiểu biết của chính tôi; phần vì cách viết của Công rất hấp dẫn, vừa khoa học, công phu, lại vừa đáo để trong lập luận, một thứ văn luận chiến (polémique) sắc sảo. Những bài viết của Công thực sự đã chinh phục tôi, và sự thật nếu không đọc, tôi hoàn toàn có thể hiểu sai những từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ mà lâu nay vẫn nghe, vẫn dùng. Không chỉ riêng mình, tôi chắc rất nhiều người đã và sẽ vỡ ra, ngộ ra nhiều điều khi đọc những gì Công viết. Không tin thì bạn cứ hãy liếc qua thử vài ba trang của cuốn sách này - cuốn “Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Lân - Phê bình và Khảo cứu”, cuốn sách mà tác giả đã dày công biên soạn trong vòng 3-4 năm nay và cũng đã công bố ít nhiều trên trang blog của mình, nay hợp làm một quyển.

Tôi được biết, bản thảo của cuốn sách đã xong từ lâu, rất nhiều người mến mộ, giới thiệu với dăm ba nhà xuất bản. Nhà nào ban đầu cũng hăm hở nhận lời, nhưng rồi cuối cùng sách vẫn chưa ra được. Vừa rồi gặp tôi, Công bảo: “không hiểu sao sắp ký hợp đồng rồi họ lại bảo thôi thầy ạ”.

Lật từng trang bản thảo cuốn sách Từ điển tiếng Việt của Nguyễn Lân - Phê bình và Khảo cứu, tôi cứ nghĩ mãi về lý do vì sao “sắp ký hợp đồng rồi họ lại bảo thôi”. Rồi tự lý giải cho mình. Lý do thì có thể nhiều, nhưng phải chăng như nhiều người đã nghĩ, lý do chính là do tâm lý ngại “va chạm” với tên tuổi của GS Nguyễn Lân- một bậc thầy đáng kính, một nhà khoa học đáng nể trọng, một tên tuổi không thể không nhắc tới của khoa học giáo dục nước nhà thời hiện đại. Lại nữa thầy đã vào cõi thiên thu… Do dự, ngại ngùng về điều này cũng thường tình và dễ cảm thông. Nhưng rồi tôi chợt nghĩ: nếu GS Nguyễn Lân còn sống, ông sẽ phản ứng thế nào khi đọc sách này? Liệu thầy có buồn và nổi nóng với kẻ hậu sinh? Không, tôi chắc thầy chẳng bao giờ xử sự thế, mà trái lại sẽ rất trân trọng những người như Hoàng Tuấn Công, người không chỉ chăm chú đọc kĩ những cuốn sách Từ điển của thầy mà còn tỉ mỉ ghi chép, đối chiếu, so sánh, khảo cứu từng con chữ trong đó để đối thoại, chú giải, đính chính lại những gì chưa ổn, chưa đúng, đặng mang đến cho bạn đọc một cách hiểu vẹn toàn, chính xác. Kho tàng tri thức, chữ nghĩa của ông cha để lại là vô tận, bao la; ai có thể ôm hết và hiểu đúng mọi điều? Sai sót trong việc hiểu và giải thích kho tàng chữ nghĩa ấy là chuyện bình thường, góp ý để chỉnh sửa lại cho đúng là chuyện rất nên làm và nên khích lệ, ủng hộ, biểu dương… Ai cũng nghĩ thế, huống chi là GS Nguyễn Lân, một người thầy, một nhà khoa học luôn có tấm lòng rộng mở, bao dung. Rồi cứ nghĩ nếu có phép màu giúp GS Nguyễn Lân sống lại, khi gặp Công, thầy sẽ nở một nụ cười hiền hậu và bảo: “Cậu khá lắm; giỏi lắm!”. Tôi cũng nghĩ thầy sẽ rất mừng và tự hào về một thế hệ “hậu sinh khả úy”, chứ không buồn nản vì một đám sĩ tử, nhân danh trí thức, nhân danh đạo lí khiêm cung để chỉ biết cúi đầu, cung cúc nghe theo, chép lại, nói lại y nguyên như sách của thầy, kể cả cái sai, điều sót.

Một lý do khác cũng có thể dẫn đến việc người ta “ngại ngùng” với bản thảo cuốn sách này là do tính chất phức tạp, khó khăn trong đánh giá, thẩm định. Các nội dung tri thức được đề cập trong sách này mang tính bách khoa. Có thể nói các vấn đề nêu trong sách hầu như liên quan đến rất nhiều lĩnh vực; đòi hỏi người soạn và người thẩm định phải có những hiểu biết rất đa dạng, phong phú, chính xác của nhiều ngành khoa học, cũng như phải có kinh nghiệm, sự từng trải từ cuộc sống, không chỉ hôm nay mà cả xa xưa, nhất là cuộc sống xa xưa. Do tính chất phức tạp của tri thức tổng hợp được đề cập tới và dường như lường trước được những “nghi ngờ” khó tránh khỏi của bạn đọc về độ tin cậy trong diễn giải của người soạn, Hoàng Tuấn Công chủ trương trình bày rất chi tiết, cặn kẽ; lập luận rào trước đón sau, dẫn ra nhiều ngữ liệu, chua rõ nguồn trích, nguyên văn tiếng La tinh, tiếng Hán, tiếng Mường, tiếng Anh; đối chiếu với hàng chục cuốn từ điển khác; liên hệ với cách nói, cách hiểu tương tự của các dân tộc khác… để làm rõ ý kiến của mình. Vì thế cuốn sách này không chỉ đơn thuần là từ điển giải nghĩa mà nó thực sự còn là một công trình khảo cứu rất công phu… Cũng vì thế việc đánh giá, thẩm định, biên tập không đơn giản.

Bản thảo cuốn sách hơn sáu trăm trang, với tôi đây là một kho tàng tri thức khổng lồ. Mỗi ngày tôi tranh thủ xem và học từ đó khoảng dăm bảy mục, vừa phù hợp với thời gian, vừa là để nhấm nháp, nghiền ngẫm,“tiêu hóa” những gì tác giả đã nêu lên, vừa như là món ngon để dành ăn dần, sợ hết…

Không cần phải theo thứ tự trước sau, bạn cứ lật giở và đọc bất cứ trang nào cũng được…Bất cứ trang nào bạn cũng có thể gặp được những điều thật thú vị trong cách hiểu, cách chú giải của Hoàng Tuấn Công.

Tiếng nói, ngôn ngữ của một dân tộc là “vốn hương hỏa cha ông để lại” như nhà văn Nguyễn Tuân từng tâm niệm. Mỗi người cần có ý thức và có trách nhiệm chung tay góp phần làm cho“vốn hương hỏa”ấy ngày càng phát triển, sinh sắc hơn lên. Trong bối cảnh cuộc sống hiện đại, tiếng Việt đang bị mai một, bóp méo, hiểu sai, sử dụng cẩu thả… thì cuốn sách này là một đóng góp có ý nghĩa; một nỗ lực cá nhân đáng trân trọng trong việc giữ gìn tiếng Việt, để tiếng nói của cha ông ngày càng giàu có, tinh tế, chuẩn mực, sáng trong hơn.

Với một cuốn sách như thế, tôi càng tin vào điều đã nghĩ, nếu GS Nguyễn Lân còn sống, hẳn ông cũng chẳng bận lòng, phật ý, cho dù tác giả bàn về những sai sót của thầy.

Hà Nội, 12/2016
Đ.N.T

Phần nhận xét hiển thị trên trang

chế lan viên: điêu tàn và ...

/ lê xuân quang (berlin) -- www.vanchuongviet.org/

CHẾ LAN VIÊN [i.e. Phan Ngọc Hoan 1920- 1989 tp. HCM]
(courtesy of Blog Phan Nguyên)

                                                        Chế Lan Viên poet  -- epaint byPhan Nguyên



                                                         ĐIÊU TÀN+ DI CẢO / CHẾ LAN VIÊN
              ["Di Cảo"/ Chế Lan Viên gồm 3 tập, được nhà báo Trần Nhật Thu sưu tập, in ấn, phát hành tại tp. HCM.]
                                                                           (courtesy of Blog Phan Nguyên)

   

CH LAVIÊN: ĐIÊTÀN & ...
Lê Xuân Quang

Có lần, trong một hội thảo văn thơ, một nhà thơ nổi tiếng của dòng Thi Ca Tiền Chiến đã nói: "Thi sĩ Việt Nam đã, đang rơi vào tình trạng :’’Hiện tượng Một Bài’’. Ông nêu dẫn chứng về khá nhiều tác giả nổi tiếng thời Tiền Chiến rồi sau khi đi Kháng chiến trở về, cố lắm mới có một bài có thể gọi là hay, sau đó... không có thi phẩm nào vượt qua được ’’Một bài ’’ kia. Nhận xét của nhà thơ này khá đúng . Ngay đến tận bây giờ vẫn chưa mất tính thời sự.

Thế nhưng - Đối với Chế Lan Viên có thể xem  là trường hợp ngoại lệ.

Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, người quê ở Bình Định, học trường Quy Nhơn (1). Ông đến với thi đàn Việt Nam bằng tập thơ Điêu Tàn (1937) lúc mới 17 tuổi. Đó là tập thơ có chủ đề đặc biệt, cấu trúc độc đáo. Vào lúc nổi danh, tác giả là chàng trai - theo quan niệm chung của các bậc ’’Cha - Chú’’: Đang tuổi ’’Ăn chưa no, lo chưa tới’’. 

Lẽ ra, Chàng Phan đang mài đũng quần ở trường lớp chuyên nghiệp nào đó. Hoặc ít ra, cần được vũ trang lí luận của một ngành chuyên khảo về lịch sử, phải có thời gian sống, chiêm nghiệm thế thái nhân tình, ’’đào bới’’... ’’quằn quại’’, suy tư - mới viết được những vần thơ làm người đọc ’’Sốc’’ trước đau thương của cả một thời đại, một dân tộc, một quốc gia hoàn toàn xa lạ với Phan Ngọc Hoan - giờ chỉ còn hoang phế.
Đọc Điêu Tàn, người đọc bỡ ngỡ... đến choáng ngợp. Điều ’’kinh hoàng’’ hơn: Chàng Phan còn dụng dậy những hồn ma, làm họ sống động như những con người thật, đi lại, vật vờ xung quanh đống đổ nát của đền đài, cất tiếng than khóc cho số phận nghiệt ngã của mình. Chế Lan Viên đã nhập hồn, hóa cốt vào dân tộc Hời rồi bước lên thi đàn Việt Nam như một biểu tượng trong dòng Thơ Mới phôi thai - nửa đầu của thế kỷ 20.
Có thể đọc một bài tiêu biểu trong Điêu Tàn - làm thí dụ:


            TRÊN ĐƯỜNG VỀ

Một ngày biếc thị thành ta rời bỏ
Quay về xem non nước giống dân Hời
..............................................................
..............................................................
 (2) - dòng này bị kiểm duyệt thời đó cắt bỏ)

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi
Những đền xưa đổ nát dưới thời gian,
Những sông vắng lê mình trong bóng tối,
Những tượng Chàm lở lói rỉ rên than.

Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn.
Muôn ma Hời sờ soạng dắt nhau đi;
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn,
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ quy !

Đây, chiến địa nơi đôi bên giao trận,
Muôn cô hồn tử sĩ hét gầm vang,
Mắu Chàm cuộn tháng ngày niềm óan hận,
Xương Chàm luôn rào rạt nỗi căm hờn.

Đây, những cảnh thái bình trong Chiêm Quốc,
Những cô thôn vàng nhuộm nắng chiều tươi,
Những Chiêm nử nhẹ nhàng quay lại ấp,
Áo hồng nâu phủ phất xõa lời vui.

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng,
Những đền đài tuyệt mỹ dưới trời xanh
Đây, chiến thuyền nằm trơ trên sông lặng,
Bày voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

Đây, trong ánh ngọc lưu ly huyền ảo,
Vua quan Chiêm say đắm thịt da ngà,
Những Chiêm nữ mơ màng trong tiếng sáo,
Cùng nhịp nhàng, uyển chuyển uốn mình hoa.

Những cảnh ấy trên đường về ta đã gặp
Tháng ngày qua ám ảnh mãi không thôi,
Và từ đáy lòng ta luôn tràn ngập,
Nỗi buồn thương, nhớ tiếc giống dân Hời !

(Điêu Tàn - 1937)

Tập thơ ra đời được 5 năm, ngay cả Hoài Thanh nhà biên khảo có uy tín trên văn đàn Việt Nam - cũng viết: 
’…Vong linh đau khổ của nòi giống Chàm đã nhập vào Chế Lan Viên, cho nên dầu không phải người họ Chế, CLV  vẫn là một nhà thơ Chiêm Thành…’’(2)

Nhiều người cũng phát triển, nhận định: ‘’… tập thơ (Điêu Tàn) miêu tả nỗi cô đơn của một người không tìm thấy sự hòa hợp với cuộc đời…’’ (3).

Nếu chúng ta đọc Điêu Tàn theo một cách khác: Mở rộng và suy tư thêm, nhận ra - Nghĩa đen của Điêu Tàn đúng là tác giả hướng dẫn người đọc đi vào thế giới mộng ảo và cảm nhận quá khứ bi thương... Nhưng trấn tĩnh lại, ta chợt giật mình, nhận ra, ở phía sau - nghĩa bóng của Điêu Tàn: Bao thế kỷ, bao năm qua, dân tộc Việt, nói giống Việt cũng đã bao phen chèo chống cố thoát ra khỏi cảnh bi nô lệ, bị dân Hán (…) chiếm đất, phải bồng bế nhau xuôi giòng sông, chạy xuống sinh cơ lập nghiệp ở vùng đất mới là Việt Nam ngày nay.

 Rồi, đã có kinh nghiệm của quá khứ làm gương… cho nên quyết không để 'người phụ mình' cho dù phải bắt buộc 'mình thà phụ người' để tồn tại. Lịch sử đã ghi lại, chứng minh: Việt Nam đã từng bị vương quốc Chiêm Thành xâm chiếm… vua nhà Trần phải mang con gái cưng của mình hiến cho vua Chiêm, để đổi lại sự yên bình cho dòng tộc Việt ở phía Nam. Trong thời đại thế giới hỗn mang trên nguyên tắc tồn tại: Mạnh được, yếu thua. Hoàn cảnh Việt Nam lúc bấy giờ lại bị ép từ 2 phía:

Bắc - phong kiến Trung Hoa lăm le thôn tính, lợi dụng cuộc Huynh - Đệ tương tàn của 2 dòng họ: Trịnh - Nguyễn, coi nhà Trịnh như một tên lính xung kích để chờ thời sẵn sàng hớt tay trên.
Nam - Chiêm Thành luôn luôn xâm lấn, đe dọa….

Không còn đường nào khác, thế là cuộc trường chinh: Dẹp, mở rộng phía Nam để yên một mặt, chú tâm chỉ chống một kẻ thù phía Bắc - thay vì chống với cả hai.  Đây là hoàn cảnh, là lịch sử. Nếu lần này nữa lại hành xử như quá khứ: Bồng bế nhau rút chạy? Nhưng bây giờ: chạy đi đâu? Thế là phải thực hiện quy luật: 'cùng tắc biến/ biến tắc thông'.Và, thảm cảnh đã xảy ra…'
Cao hơn, đúng hơn: Chế Lan Viên viết Điêu Tàn chỉ là cách 'mượn xác - hoàn hồn' - lấy Xưa nói Nay. Tác giả đã đánh thức cả dân tộc bằng một thông điệp: Dân tộc Việt Nam hãy nhìn gương tày liếp đây!  

Xin bạn đọc hãy chú ý 2 câu thơ - thứ 3 và 4 - ở khổ thơ thứ nhất  'Trên Đường Về'.

Tôi rất muốn biết: Hai câu thơ đó là thế nào, mà kiểm duyệt Pháp thời năm 1937 - xóa đi. Chúng ta biết: Từ năm 1936, Mặt trận Bình dânlên nắm chính quyền ở Pháp. Họ đã mở rộng ‘thí cho’ các nước thuộc địa một số cải cách để dân nô lệ đỡ ngột ngạt. Thế mà 2 câu thơ này vẫn bị xóa, chứng tỏ nội dung của nó rất ’dữ dội’; khiến chính phủ bảo hộ ở An- Nam không chịu được. Chắc chắn 2 câu thơ ‘’phạm húy’’… động chạm đến chính sách cai trị của chế độ thực dân ở thuộc địa. Nếu trước đây sẽ bị hành xử khác. Nhưng còn bây giờ, vì có chỉ thị từ bên nhà (Pháp quốc), bộ máy kiểm duyệt cho cắt bỏ 2 câu và để cả bài thơ vì mất 2 câu - đã chuyển hướng theo ý nghĩa khác - vẫn được phổ biến, để không bị Sếp lớn cho là - bất tuân thượng lệnh!

Thời kì đầu Thế kỉ 20 đến cuối những năm 30, Thực dân Pháp đàn áp các cuộc nổi dậy, chém giết các chiến sĩ cách mạng tràn lan: Hà Thành Đầu Độc, Ngày Tang Yên Bái, Cần Vương, Đề Thám…Có thể tinh thần phản kháng đó nằm ở hai câu thơ mà thực dân Pháp nhận ra rồi cắt bỏ. 

Từ suy nghĩ phân tích trên, có thể đi đến nhận định: 'Chế Lan Viên viết 'Điêu Tàn' là có chủ ý: Khơi dậy trong lòng dân tộc tinh thần chống ngoại xâm.; bảo vệ độc lập chủ quyền của lãnh thổ'.

 Chúng ta phải phục hiện sự thực, cho dù hơi muộn nhưng muộn vẫn còn hơn không. Không thể để các thế hệ sau tiếp tục hiểu sai lệch ý tác giảĐiêu Tàn, chỉ vì vài ý kiến trước đó hiểu chưa đầy đủ (…) - kéo theo, làm biến dạng nguyên tác...

Chê Lan Viên là người yêu tổ quốc, đất nước như bao người Việt Nam khác. Chỉ nói riêng phần thi ca, ông đã viết, làm nổi lên những giá trị, nối tiếp sau Điêu Tàn. Chỉ cần 4 câu thơ trong bài Tiếng Hát Con Tầuđã đủ, tiếp tục đưa ông lên vị trí thi hào của dân tộc:

‘’…
Nhớ bản sương giăng, nhớ đèo mây phủ
Nơi nào qua mà chẳng thấy yêu thương
Nơi ta ở - chỉ là đất ở
Nơi ta đi - đất bỗng hóa tâm hồn…’’

Nhà văn nghệ sĩ có thể có nhiều cách thể hiện ca ngợi tổ quốc mình bằng sáng tạo tác phẩm - dài, ngắn. Chế Lan Viên chỉ cần 4 câu thơ đã nói thay cõi lòng của nhiều người. Tổ quốc - Dân tộc  là Đất - Nước. Đọc lên mọi người cảm nhận ngay bởi mấy từ Đất bỗng hóa tâm hồn. Vì là tâm hồn nên' Đất trở thành thiêng liêng, thân yêu. Đất - chính là  Mẹ hiền, là Tổ quốc Việt Nam' !

Phải nghe tiếp những câu thơ hào hùng trong bài: Tổ quốc có bao giờ đẹp thế này chăng? - xâu chuỗi lại mới thấy rõ chủ ý của Chế Lan Viên - từ Điêu Tàn, ngược từng cột mốc lịch sử của hôm qua rồi quay trở về hôm nay: Kêu gọi cả Dân tộc đứng lên Bảo Vệ Tổ Quốc khỏi họa xâm lăng :

Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng ?
Chưa đâu !
Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất !
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hóa thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên
                        trên sóng Bạch Đằng...

Những anh hùng dân tộc - đứng đầu các cuộc chống xâm lăng phương Bắc được nhà thơ ghi lại trong từng câu thơ khiến người đọc đương thời cảm động, trỗi dậy khí thế hiên ngang nhờ oai linh của tổ tiên…

Chê Lan Viên đã để lại cho thi đàn Việt Nam nhiều bài thơ giá trị, cùng những tác phẩm nhiều thể loại khác. Nhưng ông cũng là người duy nhất trong làng thơ Việt Nam: Dù đã đi vào cõi vĩnh hằng, dù lúc còn sống các thi phẩm giá trị chưa được công bố . Giờ, khi tác giả đã trở về với cát bụi, các thi phẩm tuyệt vời mới được người đời, đọc. Người đọc Việt Nam ngả mũ kính chào Thi sĩ trứ danh của 'Văn Chương Việt Nam hiện đại'.

Các thi phẩm nổi tiếng công bố muộn mằn của Chế Lan Viên - in trong Di Cảo Chế Lan Viên - chính là 3 bài thơ: Ai Tôi - Bánh Vẽ - Trừ Đi! 

AI TÔI ?

Mậu Thân, 2000 người xuống đồng bằng
Chỉ một đêm còn sống sót có 30
Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2000 người đó ?
Tôi !
Tôi - người viết những câu thơ cổ võ
Ca tụng người không tiếc mạng mình
                        trong mọi lúc xung phong

Một trong 30 người khi ở mặt trận
                                    về sau mười năm
Ngồi bán quần trên đường nuôi đàn con nhỏ
Quán treo huân chương đầy mọi chỗ
Chả Huân chương nào nuôi được người lính cũ !
Ai chịu trách nhiệm vậy ?
Lại chính tôi!

Người lính cần một câu thơ giải đáp về đời
Tôi ú ớ!
Người ấy nhắc những câu thơ tôi làm
Mà tôi xấu hổ!
Tôi chưa có câu thơ nào hôm nay
giúp người ấy nuôi đàn con nhỏ
Giữa buồn tủi chua cay
Tôi có thể cười!...

1987. ("Di cảo" của Chế Lan Viên)


BÁNH VẼ!

Chưa cần cầm lên nếm, anh đã biết là bánh vẽ
Thế nhưng anh vẫn ngồi vào bàn cùng bè bạn
Cầm lên nhấm nháp
Chả là nếu anh từ chối
Chúng sẽ bảo anh phá rối
Đêm vui!
Bảo anh không còn có khả năng nhai
Và đưa anh từ nay ra khỏi tiệc...
Thế thì còn đâu dịp nhai thứ thiệt ?
Rốt cuộc anh lại ngồi vào bàn
Như không có gì sảy ra hết
Và những người khác thấy anh ngồi,
Họ cũng ngồi thôi
Nhai ngồm ngoàm...

(rút trong tập  Văn học và Dư luận,
NXB Trẻ/ tp HCM -  "Di cảo" của Chế Lan Viên)

TRỪ ĐI!

Sau này anh đọc thơ tôi nên nhớ
Có phải tôi viết đâu ? Một nửa
Cái cần viết vào thơ, tôi đã giết đi rồi!
Giết một tiếng đau, giết một tiếng cười,
Giết một kỷ niệm, giết một ước mơ.
Tôi giết cái cánh sắp bay...
                        trước khi tôi viết
Tôi giết bão táp ngoài khơi
                        cho được yên ổn trên bờ
Và giết luôn mặt trời lên trên biển.
Giết mưa và giết luôn cả cỏ
                        mọc trong mưa luôn thể
Cho nên câu thơ tôi gầy còm như thế
Tôi viết bằng xương thôi,
                        không có thịt của mình.
Và thơ này rơi đến tay anh
Anh bảo đấy là tôi?
Không phải!
Nhưng cũng chính là tôi -  người có lỗi!
Đã giết đi bao nhiêu cái
Có khi không có tội như mình !

(rút trong tập" Di cảo "(4)  của Chế Lan Viên)

Berlin 27.9.2007

                     LÊ XUÂN QUANG

                       ---------------

1 " Thi nhân Việt Nam "xuất bản năm 1942. Theo "Bách khoa toàn thư VN" : Chế Lan Viên sinh ở Cam Lộ, Quảng Trị (?)
2 - Thi Nhân VN trang 238 - 239
3 - lời giới thiệu của Bách Khoa Toàn Thư Việt Nam…
4 - "Di Cảo"  (3 tập)  được Hội Nhà văn Việt Nam tặng giải thưởng văn chương.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Các nước phản ứng thế nào khi Triều Tiên phóng ICBM thứ hai?



Truyền thông Hàn Quốc cho hay lý do lần này Triều Tiên phóng tên lửa vào ban đêm (23 giờ 41 phút ngày 28/7) là nhằm thăm dò khả năng ứng phó của liên quân Mỹ-Hàn Quốc.
Ngày 29/7, Hãng thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) khẳng định thông tin về vụ phóng tên lửa đạn đạo liên lục địa (ICBM) của nước này. 
Thông báo của KCNA đưa ra sau khi tên lửa đã bay được 47 phút 12 giây, đạt tầm bắn tối đa 3.724,9 km, bay xa 998 km và đã bắn trúng mục tiêu trên biển. 
Theo VietNam+, KCNA nhấn mạnh vụ phóng đã thử nghiệm thành công khả năng quay trở về khí quyển trái đất của ICBM. 
Bản tin của KCNA cũng cho biết vụ thử được tiến hành theo mệnh lệnh của nhà lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un.
Ông Kim Jong-un khẳng định chương trình phát triển vũ khí của Triều Tiên là một tài sản vô giá không thể bị thay thế hay rút lại. 
Ông Kim Jong-un nhấn mạnh vụ thử lên lửa mới nhất là một "cảnh báo nghiêm khắc" đối với Mỹ. 
Theo ông Kim Jong-un, vụ thử đã chứng tỏ toàn bộ lãnh thổ nước Mỹ nằm trong tầm bắn của tên lửa Triều Tiên.
Trước vụ phóng thử tên lửa của Triều Tiên, VGP News dẫn tin Tân Hoa xã, hôm nay, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc, ông Geng Shuang, kêu gọi Triều Tiên tuân thủ các nghị quyết liên quan của Hội đồng Bảo an LHQ và không có bất cứ động thái nào làm leo thang căng thẳng trên bán đảo Triều Tiên.
TTXVN cho hay cùng ngày, Ngoại trưởng Hàn Quốc Kang Kyung-wha  và người đồng cấp Mỹ Rex Tillerson  đã  điện đàm, thảo luận cách đối phó với Triều Tiên. Theo đó, hai bên tập trung vào việc thúc đẩy Hội đồng Bảo an LHQ thông qua một nghị quyết về các biện pháp trừng phạt mạnh với Triều Tiên.
Mặt khác, Chính phủ Hàn Quốc cũng nhấn mạnh mong muốn Triều Tiên hồi đáp đề nghị đối thoại.
Lên tiếng về vụ phóng tên lửa của Triều Tiên, Tổng Thư ký  LHQ Antionio Guterres coi đây là hành động vi phạm nghiêm trọng các nghị quyết của Hội đồng Bảo an, đồng thời nhấn mạnh lãnh đạo Triều Tiên cần tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ quốc tế và cùng với cộng đồng quốc tế giải quyết tình hình căng thẳng tại bán đảo Triều Tiên.
Tuyên bố của cơ quan đối ngoại EU cũng hối thúc Triều Tiên "kiềm chế các hành động khiêu khích có thể dẫn tới căng thẳng gia tăng trong khu vực và trên toàn cầu".
Trong khi đó, Tổng thống Mỹ nêu rõ Mỹ sẽ áp dụng mọi biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh của mình cũng như các đồng minh trong khu vực.
Về phần mình, Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Pháp nhấn mạnh chỉ có những sức ép ngoại giao tối đa mới có thể giúp đưa Triều Tiên trở lại bàn đàm phán.
Vụ phóng tên lửa mới nhất của Triều Tiên đã được dự báo trong bối cảnh Hàn Quốc và Triều Tiên đều đang có những hoạt động chào mừng 64 năm Ngày ký kết thỏa thuận đình chiến, kết thúc cuộc chiến tranh Triều Tiên (27/7/1953-27/7/2017).
Tên lửa vừa được phóng là loại tên lửa đạn đạo liên lục địa, loại Hwasong-14. Quả  tên lửa này bay được 998 km trong khoảng 47 phút, đạt độ cao tối đa 3.724,9 km...
Truyền thông Hàn Quốc cho hay lý do lần này Triều Tiên phóng tên lửa vào ban đêm (23 giờ 41 phút ngày 28/7) là nhằm thăm dò khả năng ứng phó của liên quân Mỹ-Hàn Quốc.
P. Luật (tổng hợp)

Phần nhận xét hiển thị trên trang