Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2017

Ai mới là người phải “Thượng tôn pháp luật” trong vụ Đồng Tâm?




Nguyễn Đình Ấm
27-7-2017

Sau vụ công an Hà Nội đánh trọng thương cụ Kình, bắt cóc đưa lên thành phố giam giữ, vu cáo cụ “gây rối trật tự công cộng” làm dân Đồng Tâm phẫn nộ phải cầm giữ 30 CSCS, cảnh sát cơ động để đòi hỏi công lý, ông Nguyễn Đức Chung (NĐT) Chủ tịch UBNDTP Hà Nội phát biểu“Phải thượng tôn pháp luật, lấy pháp luật làm trọng. Mọi người có quyền được kiến nghị nhưng phát biểu phải có giới hạn…”(Vietnamnet: 7/7/2017).

Lời khuyên của ông Chung trong ngữ cảnh này sẽ làm nhiều người hiểu là dân Đồng Tâm ngoan cố không tôn trọng pháp luật và việc làm của chính quyền Hà Nội là chuẩn xác. Câu nói còn mang tính răn đe như kiểu “không nói nhiều”!

Thế nhưng, xét trên thực tế chính quân đội và chính quyền Hà Nội mới cần phải “thượng tôn pháp luật”:

1- Năm 1980 chính phủ giao cho bộ quốc phòng 208 ha đất để làm sân bay nhưng 37 năm sau không làm để bỏ hoang, cho thuê “phát canh thu tô” có “thượng tôn pháp luật” không khi nghị định 09 ngày 12/2/1996, Điều 6 ghi: “Đơn vị vũ trang nhân dân được nhà nước giao đất quốc phòng (QP), an ninh (AN)sử dụng có những nghĩa vụ sau đây:

-/Sử dụng đất đúng mục đích, đúng vị trí, danh giới…

-/Không được chuyển nhượng, chuyển đổi, cho thuê… ”.

Điều 115 khoản 2: “Hàng năm đơn vị vũ trang được nhà nước giao sử dụng đất QP, AN phải thống kê báo cáo tình hình sử dụng và biến động về đất đai của các đơn vị mình quản ý theo quy định…”. Vậy quân đội có “thượng tôn pháp luật” “thống kê, báo cáo tình hình sử dụng… ”

– Việc tranh chấp đất khu đồng Sênh chưa ngã ngũ, đến mãi tháng 7/2017 thanh tra HN mới có “dự thảo kết luận thanh tra” chưa được dân chấp nhận mà năm 2016 chính quyền đã điều 600 CSCĐ xuống giải tỏa cánh đồng Sênh để DN Viettel xây công trình, tường rào trên khu đất này, như vậy có “thượng tôn pháp luật” hay không?

Về vấn đề này, trả lời phỏng vấn VTV1 ngày 27/7/2017, ông Lưu Bình Nhưỡng, đại biểu quốc hội cho biết (đại ý): Việc thanh tra HN thanh tra xem xét là tốt nhưng việc này chính phủ phải vào cuộc. Chính phủ giao cho quân đội 208 ha đất để làm sân bay nhưng không làm thì đất đó phải trả chính phủ để có kế hoạch sử dụng phù hợp, không đươc giữ lại rồi tự hoán đổi là sai pháp luật….

– Chính phủ giao 208 ha đất cho bộ quốc phòng làm sân bay nhưng không làm nay bộ quốc phòng và thành phố HN tự giao cho Viettel chung nhau làm cơ sở kinh doanh có đúng thẩm quyền, “thượng tôn pháp luật” không?


Năm 2016 trong khi còn tranh chấp chưa ngã ngũ nhưng DN Vietel đã xây công trình, tường bao khu đồng Sênh. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

– Theo cụ Kình và bà con Đồng Tâm, hôm 15/4/2017 công an Hà Nội, huyện Mỹ Đức lừa bà con Đồng Tâm ra đồng để xác định mốc giới, khi đang làm việc, họ khuyên bà con về gần hết chỉ cụ Kình và một số người được ở lại rồi bất thình lình bắn súng uy hiếp, phó CA huyện Mỹ Đức Trần Thanh Tùng đá cụ Kình hơn 80 tuổi, bị trọng thương rồi bắt cóc ném lên xe chở ra Hà Nội thông báo là “kẻ nguy hiểm gây rối trật tự công cộng” mãi sau chủ tịch TP Hà Nội mới đưa cụ đi chạy chữa nay cụ bị tàn phế. 


Phim chụp cụ Kình bị công an, quân đội đánh trọng thương tại cánh đồng Sênh 
ngày 15/4/2017. Ảnh: Nguyễn Đình Ấm

Việc đánh đập dã man, vu khống một người già hơn 80 tuổi đời, 55 năm tuổi đảng, từng trải qua nhiều chức vụ ở địa phương, huyện uỷ viên huyện Mỹ Đức, được nhân dân Đồng Tâm kính trọng, tin tưởng đang đấu tranh với mình… Vậy chính quyền Hà Nội có “thượng tôn pháp luật” không hay vi phạm pháp luật nghiêm trọng? Có bất nhân, bất nghĩa không?

Đây là hành vi xâm phạm thân thể tính mạng, nhân phẩm công dân của công an Hà Nội, vi phạm pháp luật nghiêm trọng, khởi đầu gây nên sự phẫn nộ của dân Đồng Tâm để họ phải cầm giữ một số cán bộ chiến sĩ, cảnh sát cơ động làm con tin nhưng thành phố Hà Nội tảng lờ, không điều tra, khởi tố hành vi nghiêm trọng này mà lại khởi tố hành vi tự vệ ôn hòa của dân Đồng Tâm “bắt giữ người trái pháp luật, hủy hoại tài sản…” thì có công minh “thượng tôn pháp luật” hay không?

– Trong cuộc tranh chấp khu đồng Sênh chính quyền Hà Nội ra văn bản bồi thường tái định cư cho 14 hộ ở Đồng Sênh nhưng khi thấy “hớ” thì xoá để giành lấy lẽ phải, trong tranh luận thì hạn chế dân dự, trình bày phân tích, thanh tra Hà Nội lại thanh tra chính quyền Hà Nội, tự mình đứng ở “cửa trên”… thì có khách quan “thượng tôn pháp luật” không?

Vậy ai là người phải “thượng tôn pháp luật trong vụ tranh chấp đất ở Đồng Tâm?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CHUYỆN NÀY BÂY GIỜ MỚI BIẾT



Từ nghĩa trang liệt sĩ 
biến thành nghĩa trang cán bộ cấp cao


Lại Nguyên Ân
27.07 - 2017

Trong ngày 27/7 hàng năm, gia đình tôi luôn luôn đến nghĩa trang Mai Dịch thắp hương trên phần mộ bố vợ tôi, một liệt sĩ thời KC 9 năm. 

Năm ngoái lên đây thấy nghĩa trang đang cho ốp đá mới tất cả các phần mộ liệt sĩ, tiếc rằng tấm bia làm lại có khi khắc sai một vài dữ liệu tiểu sử liệt sỹ so với nguyên gốc. 

Ví dụ bố vợ tôi được thông báo hy sinh ngày 7/12/1950 trong chiến dịch Sơn Tây, thì nay bia ghi ngày cụ hy sinh là 7/2/1950, -- sớm 10 tháng, có khi lúc ấy chiến dịch kể trên còn chưa mở màn! 


Chưa biết đề nghị với ai để yêu cầu sửa lại cho đúng?!

Nhân đây nói thêm, nghĩa trang Mai Dịch khi mới lập, là nghĩa trang liệt sỹ; về sau đã biến thành nghĩa trang cán bộ cấp cao, nên đã sửa tên lại thành Nghĩa trang Mai Dịch (bỏ chữ "liệt sỹ").

Vốn là sau hòa bình lập lại 1954, chính quyền Hà Nội mới lập 1 nghĩa trang liệt sĩ của thành phố, và tiến hành quy tập hài cốt liệt sỹ các địa phương thuộc thành phố Hà nội. Tiểu khu Vĩnh Tuy Đoài, thuộc Quận 7, cũng như nhiều đơn vị tương tự, đã tiến hành chuyển di hài các liệt sỹ ở nơi mình đến nghĩa trang mới này. Trong khu vực gọi là D6 nghĩa trang Mai Dịch, cạnh phần mộ bố vợ tôi là khá nhiều phần mộ liệt sỹ cùng làng cũ Vĩnh Tuy Đoài với cụ.

Sau đó, người ta đưa đến chôn ở đây những cán bộ cấp cao, lâu dần, đây trở thành một thứ nghĩa trang trung ương!

Trước đây, cho đến những năm 1980, trong nghĩa trang này, phần mộ liệt sĩ vẫn lớn hơn các phần mộ cán bộ cấp cao (chết từ 1960).

Nay thì phần mộ liệt sỹ chỉ là phần nhỏ, trong khi những khu vực các con đường đi, các lề cỏ để trống trước đây, đều bị lấn để đặt phần mộ các ... cán bộ cấp cao. Các ngôi mộ ấy đều có kích thước to lớn, bia mộ có ảnh màu, ghi chữ to, nêu các chức vụ lớn nhất người quá cố từng trải qua.

Mộ liệt sỹ thì kích cỡ vẫn nhỏ thó, kiểu cách đồng nhất, bia đồng loạt, thậm chí còn ghi sai dữ kiện tiểu sử, như ví dụ trên
  
Hóa ra chính thể chả công bằng gì đối với những người có công với chế độ,-- đây là nói những liệt sỹ chống Pháp so với những người khi chết là cán bộ cao cấp ...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đừng trông chờ vào Trump





Đó là lời giáo sư Thomas Patterson nói với gã trong cuộc gặp vừa qua tại nhà Nguyễn Anh Tuấn.
Thomas Patterson là học giả hàng đầu về truyền thông và chính trị của Mỹ, ông cũng từng là cố vấn của tổng thống Clinton, ông là giáo sư danh giá của Harvard và là tác giả những cuốn sách góp phần đổi thay nhận thức của người Mỹ.
Cuốn Out of Order được tổng thống Clinton cho rằng bất kì chính trị gia nào cũng cần đọc.
Cuốn The American Democracy ông đề cao sự tham gia của công dân Mỹ trong quá trình phát triển nền chính trị dân chủ và coi chính trị là môn khoa học thực hành.
Gã phải dài nhời về giáo sư Thomas Patterson như thế để bạn face của gã hiểu rằng người có lời khuyên dân Việt mình đừng hy vọng Trump sẽ giúp VN chống Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông là không tầm phào.
Giáo sư nói , người Việt phải tự mình bảo vệ các giá trị của mình.
Trump chỉ quan tâm lợi ích của ông ta.
Gã không hỏi giáo sư, người Việt làm thế nào để tự lực có sức mạnh bảo vệ các giá trị của mình. Vì câu trả lời của ông từ lâu gã đã rõ khi chính ông cùng Nguyễn Anh Tuấn lập ra Giải thưởng Trần Nhân Tông để xúc tiến Hoà giải,Hoà hợp dân tộc Việt.
Sức mạnh dân tộc Việt chỉ có được khi chính quyền và người dân là một, khi cả cộng đồng dân Việt là một.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cao điểm Vị Xuyên: Thất trận, lính Trung Quốc nổi loạn bắn chỉ huy


Thu Thủy (chuyển ngữ từ Tiexue.net) 




VNN - Trận A6B (mặt trận Vị Xuyên) đã đi vào lịch sử hào hùng của quân đội ta như một trận phản kích, phòng ngự thắng lợi. Đối với đối phương, đây là một trận thất bại cay đắng, được nhắc đến nhiều, ngoài tổn thất lớn, cũng bởi sau trận này đã xảy ra vụ binh biến chưa từng có: lính vác súng bắn chỉ huy quân đoàn vì bất tài, nướng quân vô ích…

Trong 6 năm chiến đấu phòng ngự chống Trung Quốc lấn chiếm ở mặt trận Vị Xuyên đã diễn ra nhiều trận đánh ác liệt, nhưng ít có trận nào được báo chí Trung Quốc nói đến nhiều như trận ngày 31/5/1985 trên cao điểm A6B (phía Trung Quốc gọi là cao điểm 211). Khu vực này cùng Bốn Hầm, 772… là nơi chiến sự diễn ra ác liệt nhất. Địch dội xuống đây hàng trăm ngàn quả đạn pháo khiến đỉnh núi bị bạt thấp đi mấy mét, đá trở nên trắng xóa vì đạn pháo, nên được lính ta gọi là “Lò vôi thế kỷ”. Nhưng chính tại nơi này, cán bộ chiến sĩ ta đã kiên cường tiến công giành lại trận địa, bám trụ cho đến khi đối phương phải rút quân về bên kia biên giới.

Trận A6B đã đi vào lịch sử hào hùng của quân đội ta như một trận phản kích, phòng ngự thắng lợi. Đối với đối phương, đây là một trận thất bại cay đắng, được nhắc đến nhiều, ngoài tổn thất lớn, cũng bởi sau trận này đã xảy ra vụ binh biến chưa từng có: lính vác súng bắn chỉ huy quân đoàn vì bất tài, nướng quân vô ích…

Mạng Thiết Huyết (Tiexue.net) của Trung Quốc hiện vẫn đang đăng trên mục “Lịch sử Trung Quốc” của Diễn đàn lịch sử Thiết Huyết bài viết về trận huyết chiến A6B và chuyện xảy ra sau đó với nhan đề: “Hổ phụ sinh khuyển tử: Túc Nhung Sinh, con trai Túc Dụ và trận thảm bại ngày 31/5 của Quân đoàn 67” tại địa chỉ: http://bbs.tiexue.net/post _ 3404616_ 1. html. Ngoại trừ những chi tiết bịa đặt, phóng đại thắng lợi, che dấu thất bại, bài báo đã phản ánh phần nào thực tế cuộc chiến đấu ác liệt này. Xin lược dịch dưới đây để bạn đọc tham khảo (đề mục nhỏ do chúng tôi đặt).

Bất ngờ bị mất điểm cao 211

Cao điểm 211 (tức A6B) ở khu vực cửa khẩu Na La, mặt trận Lão Sơn (tức cụm cao điểm 1509, phía Tây sông Lô thuộc xã Thanh Thủy, Vị Xuyên, tỉnh Hà Giang) được Quân đoàn 1 (QĐ1) chiếm được ngày 11/2/1985.

Ngày 18/5/1985, Quân đoàn 67 sau khi ra luân chiến đã tiếp nhận bàn giao trận địa từ Quân đoàn 1. 13 ngày sau, vào lúc 5h10’ ngày 31/5/1985, Quân khu 2 Việt Nam nhân lúc QĐ67 đứng chân chưa vững đã phát động cuộc tấn công “M-1” pháo kích mãnh liệt toàn bộ mặt trận suốt 45 phút. Đến 5h55’, khi pháo binh chuyển làn, tiểu đoàn (d) 4 trung đoàn (e) 982 của Việt Nam đã chia làm hai hướng tiến công 3 điểm cao 211, 156 và 166; cùng lúc d5/e982 của họ nghi binh tiến công các cao điểm 140, 142. 

Dưới sự yểm hộ của pháo binh, quân đội Việt Nam đã lợi dụng ưu thế binh lực nhanh chóng đánh chiếm các chốt số 1. 2 của điểm cao 211, tiểu đội chốt giữ ở đó cơ bản chết hết, chiến sĩ Lý Lâm Hải ở chốt số 1 bị bắt làm tù binh; tiểu đội trưởng Bào Hổ Dân bỏ trận địa nhảy xuống thung lũng trốn sau 7 ngày mới tìm về được trận địa bên kia. Sau đó quân Việt Nam nhiều lần tổ chức tiến công các điểm cao 140, 156, 166 đến tận 9h30’ tối mới ngừng. Điểm cao 211 không rộng lắm, nằm kề điểm cao 227 (tức A6A) do quân Việt Nam chốt giữ. Toàn bộ 211 chỉ có 3 điểm chốt; nói cách khác, quân Việt Nam đã chiếm lại thành công toàn bộ cao điểm 211.

Bị mất trận địa nhưng báo cáo vẫn đang kiểm soát

Ngày hôm đó, QĐ67 khi báo cáo Quân khu Côn Minh và Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc vẫn nói đang kiểm soát được 21; nhưng Trung tướng Ngôi Phúc Lâm, Cục trưởng Tác chiến/BTTM tỏ ý sẽ tự mình ra Lão Sơn kiểm tra công tác, yêu cầu QĐ 67 cho gọi chiến sĩ ở cao điểm 211 xuống báo cáo. Không còn cách nào khác, QĐ 67 ra lệnh bằng mọi giá phải chiếm lại các chốt số 1, 2 của 211.

Sư trưởng f199 khi đó là Thiếu tướng Trịnh Quảng Thần (sau này khi về hưu đang là Phó tư lệnh Quân khu tỉnh Sơn Đông) lên tiếng phản đối mạo hiểm xuất kích, cho rằng bộ đội vừa tiếp nhận trận địa, chưa thông thạo tình hình chiến trường, địa hình và tình hình bên kia, cần phải để quâ lính có quá trình làm quen. 

Trịnh Quảng Thần nói: trận đầu rất quan trọng, không đánh thì thôi, nếu đánh phải thắng, chắc thắng hãy đánh. Ý kiến của Thần không những không được chấp nhận, mà còn bị Tham mưu trưởng QĐ67 là Túc Nhung Sinh phê bình là “sợ chiến đấu”, “dao động”. Túc Nhung Sinh báo cáo vấn đề của Trịnh Quảng Thần lên Tư lệnh quân đoàn. Tức giận, tư lệnh QĐ 67 đã bãi quyền chỉ huy của Trịnh Quảng Thần, giao Túc Nhung Sinh vượt qua mặt cơ quan f199, trực tiếp sử dụng cơ quan quân đoàn tổ chức cho e595/f199 tổ chức phản kích nhằm lấy lại trận địa. 

Túc Nhung Sinh là con trai của Đại tướng Túc Dụ (1907 – 1984, nguyên Ủy viên thường vụ Quân ủy, Tổng Tham mưu trưởng, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Trung Quốc), mới được đề bạt làm sư trưởng của f200 được một năm, trước khi QĐ 67 ra biên giới nhờ chạy các mối quan hệ nên được đề bạt Tham mưu trưởng qđ67. Chuyến đi “tráng men” (nguyên văn: mạ vàng) này của Sinh đã khiến quân lính f199 rơi vào bi kịch.

Sau khi QĐ 67 thảm bại, Sinh ngồi im trên ghế Tham mưu trưởng quân đoàn 5 năm, đến 1990 bị điều ngang về Bộ TTM làm Cục phó Quân vụ (Quân lực), ngồi chơi xơi nước. Sau khi “Dương gia tướng” (ám chỉ anh em Dương Thượng Côn, Dương Bạch Băng) bị ngã ngựa, Trương Vạn Niên - bộ hạ cũ của ông Túc Dụ lên làm Phó chủ tịch Quân ủy đã đề bạt Túc Nhung Sinh làm Tư lệnh quân đoàn 24; tháng 11/1997 lại đề bạt Sinh làm Phó tư lệnh Quân khu Bắc Kinh phụ trách hậu cần, nội vụ, ngoại sự…Năm 1999, Sinh được phong hàm Trung tướng sau 11 năm ngồi im với lon Thiếu tướng. 

Trở lại câu chuyện ở mặt trận năm 1985. Ngày 1/6/1985, tiểu đoàn 1, trung đoàn 595, sư đoàn 199, quân đoàn 67 do Túc Nhung Sinh tổ chức tập kết ở cao điểm 255 tiến hành phản kích định chiếm lại cao điểm 211; tiểu đoàn phó Vương Triều Đông phụ trách chỉ huy tuyến 1. 

Sáng sớm, dưới màn mưa như trút, Đông dẫn phân đội xung kích xuất kích; cùng lúc mũi thứ hai do trung đội (b) trưởng b2/c1 Vương Trung Viễn chỉ huy cũng từ cao điểm 908 đánh xuống. Hai mũi đột kích vượt qua địa hình lồi lõm nhằm thẳng hai trận địa chốt số 1, 2 trên 211 xông tới. Lúc đó, quân Việt Nam trên 211 phát hiện 2 toán xung kích của ta (Trung Quốc), cuộc chiến lập tức bùng phát. Quân Việt Nam chiếm địa thế cao hơn ném lựu đạn và bắn quét như mưa, đồng thời gọi pháo binh tiến hành phong tỏa hỏa lực, pháo Trung Quốc cũng bắn chế áp lên 211.

Đạn pháo của cả hai bên cùng bắn trùm lên 255 và 211, mảnh đạn bay tứ tung. Hai tiểu đội trưởng lần lượt chết trên đường xung phong, dưới một mỏm đá cao 5m ở chân 211, hơn 10 lính xung kích tử trận, máu hòa vào bùn đất. Những người sống sót lui về chốt số 3 củng cố lại rồi xung phong tiếp. Quân Việt Nam ở 211 và 227 phối hợp đánh chặn. Sau khi quân Trung Quốc chiếm được trận địa số 1 và 2, quân Việt Nam ở 255 liền tổ chức bao vây, đẩy lui 8 lính còn sống sót trong đó 5 đã bị thương về trận địa số 3. Sau khi chốt giữ mấy ngày ở chốt số 3, 5 lính bị thương đều bị chết…

Trong máy Vô tuyến điện 861 không ngừng vang lên tiếng các mũi xung kích gọi nhau, nhưng đại bộ phận họ sau đó đều chết và bị thương. Dưới màn mưa và đạn pháo, đại đội (c) 3 tổ chức 3 đợt xung phong nữa, nhưng qua ngày thứ 2 chỉ còn sót lại 2 người… 

Trong các ngày từ 2/6 đến 11/6, các đội viên xung kích của quân  Trung Quốc cơ bản không có cách nào tiếp cận được cao điểm 211, mà các người chỉ huy ở Sở chỉ huy tiền phương vẫn cứ liên tục thúc giục xung phong. Trong tình hình không thể giành lại được 211, quân đoàn 67 vẫn ném nhiều binh lực và đạn dược, cố bằng mọi giá quyết giành lại cao điểm này. Trong chiến đấu, do hỏa lực pháo binh Việt Nam quá dữ dội, thi thể những lính xung kích bị chết không thể đem về được, cảnh tượng xác chết nằm phơi mình khắp nơi trôn rất thê thảm…f199 phải tổ chức mấy đợt tiến công có yểm hộ để lấy xác. 

Trong cuộc chiến đấu kéo dài 11 ngày đó, e595/f199/qđ67 bị tổn thất nghiêm trọng: 2 tiểu đoàn bị quân Việt Nam đánh tan, biên chế từ đại đội đến trung đoàn hoàn toàn bị xóa. Để tăng viện cho e595, đơn vị dự bị của sư đoàn là d3/e597 cũng tổn thất nghiêm trọng. Hơn 120 đội viên đột kích mãi mãi nằm lại 211, còn số bị thương thì không sao tính xuể; mấy trăm hầm hố, hang động lớn nhỏ xung quanh khu vực này chỗ nào cũng chật kín thương binh. Sau trận đánh, khi rút về tuyến sau, số người còn tự mình đi về trận địa xuất phát được chỉ chiếm không tới 1/10… Cả trung đoàn 595 đã mất sức chiến đấu, không thể đảm đương được nhiệm vụ tác chiến, phải đưa ra khỏi mặt trận để chỉnh đốn. Để thay thế e595, Quân khu Tế Nam phải khẩn cấp thành lập e598 từ 3 tiểu đoàn lấy từ các e598, 599,600 và đại đội pháo lấy từ f76 để đưa ra Vân Nam thay cho e595.

Về mặt địa hình, cao điểm 211 không có giá trị quân sự gì lớn, nhưng vì nó được QĐ 67 nhận bàn giao từ quân đoàn 1 nên chỉ huy QĐ 67 nhận định không thể để mất, tung lực lượng lớn binh lực vào chịu trận dưới hỏa lực pháo của Việt Nam. Đó là nguyên nhân chủ yếu gây nên trận thảm bại 11/6. Sau khi tin tức về thất bại của e595/f199/qđ67 lan truyền, toàn quân Trung Quốc đều sửng sốt. Thế nhưng, đối với các quan binh e595 đã bỏ mình trong trận đó, điều đáng tiếc không chỉ có thế. 

Trong số họ, đại bộ phận sau đó đã không được tôn vinh đúng mức. Trong danh sách gần 100 liệt sĩ được khen thưởng huân chương, ngoài Giả Kha, không thấy có tên các quan binh của e595 chết trong trận 11/6. 

Quân lính phẫn uất bắn chỉ huy

Quân binh f199 từ trên xuống dưới cực kỳ phẫn nộ đối với thủ trưởng quân đoàn 67. Rất nhiều người viết đơn tố cáo, kiện lên tới Quân ủy và Tổng bộ, chỉ trích Tham mưu trưởng quân đoàn không nghe ý kiến bộ đội, đánh nhau trên giấy, gây nên thất bại nghiêm trọng ngay trận đầu ra quân. Bộ Tổng tham mưu Trung Quốc lần lượt cử các đoàn do Cục trưởng Quân huấn Thác Hiệp dẫn đầu xuống điều tra. Sau khi điều tra kết luận khẳng định không phải do lãnh đạo f199 sợ chiến đấu, mà do thủ trưởng quân đoàn khi đó không phán đoán chính xác tình hình địch, ta, chỉ huy vượt cấp, sau khi thất bại lại đùn đẩy trách nhiệm cho sư đoàn là không đúng, đề nghị “nghiêm khắc phê bình” quân đoàn 67. Túc Nhung Sinh cũng cảm thấy mất mặt, dẫn nhóm cán bộ cơ quan rút về Bộ Tư lệnh quân đoàn; sư trưởng Trịnh Quảng Thần được phục hội quyền chỉ huy, các trận sau đó lại do sư bộ f199 tổ chức chỉ huy.

Trận thảm bại 31/5 của quân đoàn 67 còn sinh ra một chuyện có một không hai trong cuộc chiến tranh đánh   Việt Nam kéo dài 10 năm: một chiến sĩ quê Tảo Trang sống sót trên cao điểm 211, trong khi ăn sáng đã mang súng xông vào nhà ăn Sở chỉ huy quân đoàn nhằm Túc Nhung Sinh bắn quét. Sinh nhanh chóng chui xuống gầm bàn nấp tránh nên không bị thương, nhưng người cảnh vệ của Sinh bị bắn chết. Tư lệnh quân đoàn Trương Chí Kiên bị trúng vào vai, hơn chục quan binh khác cũng trúng đạn bị thương. Cảnh tượng khi đó rất hỗn loạn, mấy ngày sau vẫn không làm rõ được điều gì đã xảy ra. Người lính đã nổ súng sau đó rút ra ngoài an toàn, mấy ngày sau mới phát hiện anh ta đã tự sát chết dưới hồ nước phía sau Sở chỉ huy, tay vẫn ôm khẩu tiểu liên đã dùng gây án. Do chết đã lâu ngày nên thi thể đã thối rữa. Quân đoàn 67 lại được thông báo toàn quân thêm lần nữa…

Sau khi sự việc xảy ra, các đoàn của Quân ủy, Bộ Công an, Bộ An ninh quốc gia tới tấp về SCH quân đoàn 67 điều tra nguyên nhân sự cố. Khi Tư lệnh Trương Chí Kiên bị nhân viên điều tra thẩm vấn trong bệnh viện đã khóc, nói: “Tôi không thể nào nghĩ đến chuyện chiến sĩ của mình lại vác súng bắn tư lệnh quân đoàn của họ như thế!”.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đạo văn và “đạo … người”


XUÂN DƯƠNG




(GDVN) - Việc cho phép đổ chất nạo vét xuống biển có phải chỉ là tạo điều kiện cho doanh nghiệp hay còn ẩn chứa những điều chưa được dư luận biết đến?

Thông tin trên các báo cho hay, sau quyết định của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đến lượt Bộ Tài nguyên và Môi trường họp sơ kết 6 tháng đầu năm 2017 cũng đã không cho phép phóng viên báo chí tham dự đưa tin.

Các cơ quan, lãnh đạo, nguyên thủ… họp kín, hội đàm kín là chuyện bình thường khi nội dung họp hoặc là rất “tế nhị” hoặc là liên quan đến bí mật quốc gia không được phép tiết lộ.

Vậy thì cuộc họp sơ kết công tác 6 tháng của Bộ Tài nguyên và Môi trường thuộc kiểu “tế nhị” hay chứa đựng bí mật không được cho dân chúng biết?

Vấn đề ở chỗ Bộ này đang thực hiện cái việc dân gian gọi là “nhất bên trọng, trăm bên khinh” khi chỉ cho phép phóng viên báo Tài nguyên và Môi trường dự và đưa tin, tất cả phóng viên báo đài khác - kể cả Thông tấn xã Việt Nam - đều bị “mời” ra ngoài?

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trong lời tuyên thệ nhậm chức và phát biểu trước Quốc hội, đồng bào và cử tri cả nước từng hứa xây dựng một “Chính phủ kiến tạo phát triển, liêm chính, hành động quyết liệt, phục vụ Nhân dân”.

Nếu chỉ có Thủ tướng, các Phó Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ quyết tâm liệu Chính phủ có thực hiện được lời hứa?

Ngay cả khi toàn bộ Nội các quyết tâm thì lời hứa ấy thực hiện được bao nhiêu phần nếu không có sự hậu thuẫn của nhân dân?

Cụ Hồ từng nói: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”, lời giáo huấn của Người cho thấy dẫu cả Chính phủ có quyết tâm thì cũng không thể thực hiện được lời hứa của Thủ tướng nếu dân “không biết, không bàn, không kiểm tra”.

Nói chính xác, muốn “dân biết, dân bàn, dân kiểm tra” thì thông tin cho dân phải kịp thời, chính xác và minh bạch.

Được biết ngày 23/6/2017, Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Nguyễn Linh Ngọc đã kí Giấy phép số 1517/GP-BTNMT, cho phép Công ty Trách nhiệm Hữu hạn điện lực Vĩnh Tân 1 nhận chìm 918.533 m3 chất nạo vét đáy biển khu vực gần nhà máy ra vùng biển thuộc xã Vĩnh Tân, huyện Tuy Phong, Bình Thuận.

Giấy phép có hiệu lực kể từ ngày kí và hết hạn vào ngày 31/10/2017.

Người dân và truyền thông nghe được khá nhiều lời hứa về bảo vệ môi trường biển từ phía cơ quan chức năng của Việt Nam - Tổng cục Biển và Hải đảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường - chứ không phải từ đối tác nước ngoài đầu tư theo hình thức BOT vào nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân 1, đối tác này chiếm 95% số vốn đầu tư, Việt Nam chỉ có 5% trong đó.

Không muốn (hoặc không dám) cho phóng viên đưa tin liệu có thể nói là cách xử lý minh bạch, phù hợp với lời dạy của Hồ Chủ tịch?

Dần dà từ các hé lộ trên truyền thông câu hỏi này đã xuất hiện lời giải.

“Dự án nhận chìm 1 triệu m3 bùn: Hàng loạt nhà khoa học bị mạo danh lên tiếng” (Vietnamnet.vn 22/7/2017).

“Vụ nhận chìm bùn, cát: Nhà khoa học thứ 3 bị mạo danh” (Plo.vn 21/7/2017)

“Hồ sơ nhận chìm 1 triệu m3 bùn thải: Mạo danh nhiều nhà khoa học” (Thanhnien.vn 22/7/2017)

…….

Dự án của doanh nghiệp đã được vị lãnh đạo cấp Bộ ký duyệt, thế thì phải rất chuẩn về mọi phương diện, nếu cấp Bộ còn khiếm khuyết thì chẳng lẽ phải lãnh đạo Chính phủ phê duyệt mới hoàn chỉnh?

Dư luận cho rằng việc phê duyệt dự án là vi phạm luật, nếu phải nói chính xác thì xin trích dẫn ý kiến mà Thanhnien.vn đăng tải: “không thể nói việc cấp phép là đúng luật”.[1]

Về phương diện luật pháp, xin để các vị luật sư, nhất là các nhà làm luật phân tích. Xin nói thêm một chút về phương diện đạo đức, trách nhiệm của bên lập và bên phê duyệt dự án.

Người Việt dùng từ “đạo văn” để nói về hành vi ăn cắp ý tưởng, sao chép trộm các tài liệu, công trình khoa học đã công bố mà không xin phép tác giả. Điều đáng nói là nhờ “đạo văn” mà số người có bằng tiến sĩ hay hàm phó giáo sư, giáo sư không hề ít.

“Đạo văn” đã bị xã hội lên án gay gắt, đã có các chế tài xử lý cụ thể. Năm 2017 này, nhờ “công lao” ký duyệt dự án của một vị lãnh đạo cấp bộ mà dân chúng biết thêm hình thức “đạo… người”.

Đơn vị tư vấn lập dự án đã mạo nhận 3 nhà khoa học (một tiến sĩ, hai thạc sĩ) trong danh sách 14 thành viên gửi kèm hồ sơ dự án và hồ sơ này đã được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt.

Cả ba người bị mạo danh đều đã lên tiếng xác nhận không hề biết tên mình được đưa vào hồ sơ.

Liên quan đến dự án đổ chất nạo vét xuống biển, Bộ Công Thương tạm đình chỉ 1 cán bộ, đó là ông Hà Quốc Quân, Giám đốc Trung tâm Tư vấn đầu tư và Chuyển giao giao công nghệ của Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách công nghiệp thuộc Bộ Công Thương.

Ông Quân vừa là viên chức nhà nước vừa là người đứng đầu một doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp này chính là tư vấn cho dự án và ông Quân chính là người ký danh sách tư vấn cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn điện lực Vĩnh Tân 1.

Như thông tin trên Vietnamnet.vn [2], đơn vị lập dự án đổ bùn thải xuống biển Vĩnh Tân là trung tâm Quy hoạch và Quản lý tổng hợp vùng duyên hải khu vực phía Nam - đơn vị sự nghiệp trực thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, Tổng cục này thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Theo thông tin công bố trên website của Tổng cục Biển và Hải đảo thì cơ quan này có 646 cán bộ, trong đó có 04 Phó giáo sư; 26 Tiến sĩ; 58 Thạc sĩ; 555 người có trình độ đại học, cao đẳng, chỉ có 03 người chưa có bằng cử nhân. [3]

Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã được quy định trong Quyết định số 43/2014/QĐ-TTg.

Mục a khoản 7 điều 2 Quyết định số 43/2014/QĐ-TTg “Nhiệm vụ và quyền hạn” ghi rõ:

“7. Về kiểm soát tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo:

a) Tổ chức thực hiện kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển, vùng ven biển và hải đảo; đánh giá hiện trạng môi trường của các vùng biển, hải đảo, quần đảo, bãi ngầm của Việt Nam”.

Có thể thấy với chức năng là cơ quan nhà nước “kiểm tra, giám sát các hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường vùng biển, vùng ven biển và hải đảo …” nhưng cơ quan thuộc Tổng cục Biển và Hải đảo lại làm dự án đổ bùn thải cho doanh nghiệp 95% vốn nước ngoài, vậy có phải Tổng cục Biển và Hải đảo “vừa đá bóng vừa thổi còi”.

Tổng cục Biển và Hải đảo có một đội ngũ cán bộ khoa học hùng hậu không kém gì một viện nghiên cứu hay một đại học, vậy tại sao là phải dùng số liệu tư vấn của một đơn vị tư nhân mà trình độ học vấn và lực lượng nhân sự chắc chắn không bằng Tổng cục?

Khi cơ quan nhà nước “vừa đá bóng vừa thổi còi” điều gì sẽ xảy ra hẳn dư luận có thể dự đoán.

Điều đáng nói là Thủ tướng từng phát biểu quan điểm “Chính phủ không bán bia, bán sữa”, vậy việc cơ quan thuộc Chính phủ làm dịch vụ cho doanh nghiệp, việc viên chức nhà nước lại đồng thời quản lý điều hành doanh nghiệp tư nhân có phải là hành động mang dáng dấp “bán bia, bán sữa”?

Về điều này người viết từng đề cập trong bài “Đâu là tế bào gốc của xã hội “nhóm lợi ích” ”. [4]

Nếu thông suốt quan điểm của Thủ tướng thì tại sao ông Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường lại ký duyệt dự án, cho phép đổ chất nạo vét xuống biển khi mà dự án này vừa có những vấn đề chưa rõ ràng về mặt pháp luật vừa vi phạm những chuẩn mực tối thiểu về đạo đức tư cách những người tham gia?

Một dự án sai phạm như thế vẫn được ký duyệt có phải chỉ là do năng lực cán bộ hay còn bởi những lý do liên quan đến một nhóm người thuộc hai Bộ Công thương và Tài nguyên và Môi trường?

Bộ Công thương đã đình chỉ công tác với cán bộ của mình, liệu điều này có được lặp lại ở Bộ Tài nguyên và Môi trường?

Dư luận được biết đến lời xin lỗi của Thứ trưởng Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch với một công dân Đà Nẵng vì ký “nhầm” một văn bản, được biết đến tài sản “khủng” và vi phạm những điều đảng viên không được làm của Thứ trưởng Bộ Công thương, đã biết đến quyết định 83/QĐ-TTg và 84/QĐ-TTg  do Thủ tướng ký thi hành kỷ luật hai vị Thứ trưởng Bộ Nội vụ và nay biết thêm về vai trò của vị Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt dự án nhận chìm chất thải chứa đựng khá nhiều vấn đề về luật pháp cũng như đạo đức.

Thật khó để chấp nhận, rằng số cán bộ nêu trên chỉ mắc “lỗi kỹ thuật” mà không liên quan đến các yếu tố khác.

Tài nguyên và môi trường là vấn đề sống còn của quốc gia, dân tộc, nếu “người gác đền” trong lĩnh vực này không hoàn thành nhiệm vụ thì sự trả giá không chỉ là con cháu mai sau mà chính thế hệ hôm nay cũng phải lĩnh nhận.

Việc cho phép đổ chất nạo vét xuống biển có phải chỉ là tạo điều kiện cho doanh nghiệp hay còn ẩn chứa những điều chưa được dư luận biết đến?

Khi một cơ quan thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng dự án thì việc Thứ trưởng phê duyệt không thể nói là không có chút ưu ái.

Về điều này có thể nêu một ví dụ rất rõ ràng, việc Nhà xuất bản Giáo dục trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo đã khiến cho con em chúng ta năm nào cũng phải mua sách giáo khoa dù nội dung sách mỗi năm chỉ có tí chút thay đổi.

Vấn đề rất quan trọng hiện nay đã được Thủ tướng chỉ rõ, Chính phủ phải tập trung vào chức năng quản lý nhà nước chứ không phải là dịch vụ, chừng nào các cơ quan nhà nước còn làm dịch vụ, kể cả dịch vụ công như Y tế, Giáo dục, Giao thông… thì còn xuất hiện bất cập.

Muốn ngăn chặn hoạt động của “nhóm lợi ích”, không thể không thay đổi thể chế kinh tế, không thể không xem xét lại việc một số cơ quan thuộc các bộ, tổng cục có thêm chức năng làm dịch vụ.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://thanhnien.vn/thoi-su/viet-nam-se-lap-ky-luc-xa-thai-xuong-bien-853877.html

[2] http://www.vasi.gov.vn/gioi-thieu.html

[3] http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/moi-truong/vu-nhan-chim-1-trieu-m3-bun-thai-xuong-bien-hang-loat-nha-khoa-hoc-bi-mao-danh-loi-dung-ten-tuoi-385353.html

[4] http://giaoduc.net.vn/Goc-nhin/Dau-la-te-bao-goc-cua-xa-hoi-nhom-loi-ich-post171210.gd

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bài của nhà văn Vũ Thư Hiên


Lời giới thiệu: Ông Vũ Thư Hiên, nhà văn, người dịch nhiều và rất hay những tác phẩm văn học Nga-Xô viết, đặc biệt các tác phầm của K.Paustovski, là nạn nhân trong vụ án "xét lại chống đảng" ầm ĩ những năm cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970. Ông là con cụ Vũ Đình Huỳnh, một bậc lão thành cách mạng, Bí thư, trợ lý gần gũi của chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều năm sau cách mạng tháng 8. Cụ Huỳnh cũng bị bắt giam, cả hai cha con cùng chịu cảnh ngục tù, cụ đến chết vẫn không được giải oan.
Dưới đây là bài viết của nhà văn Vũ Thư Hiên. Chúng tôi lưu lại như một dạng tư liệu.


Vì lịch sử và công lý, chúng tôi lên tiếng
VŨ THƯ HIÊN (nhà văn)

Chúng tôi, những nạn nhân còn sống và thân nhân những nạn nhân đã qua đời trong một vụ án không được xét xử cách nay vừa tròn 50 năm được gọi tắt là “Vụ án Xét lại chống Đảng”, một lần nữa phải lên tiếng vì sự thật và công lý, vì lương tâm và nghĩa vụ, vì một đất nước thượng tôn pháp luật.

BỐI CẢNH LỊCH SỬ

Năm 1956, tại Đại hội 20 Đảng cộng sản Liên Xô, Tổng bí thư Nikita Khrushev đã đọc báo cáo quan trọng về chống tệ sùng bái cá nhân Stalin và chủ trương “cùng tồn tại trong hoà bình” giữa hai hệ thống cộng sản và tư bản. Đường lối mới đã được hầu hết các đoàn đại biểu tán đồng tại Đại hội các đảng cộng sản và công nhân quốc tế họp tại Moskva với 81 thành viên tham dự năm 1960.

Đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) do Chủ tịch Đảng Hồ Chí Minh cùng với Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và các ủy viên Bộ Chính trị Trường Chinh, Nguyễn Chí Thanh tham dự đã ký vào bản Tuyên bố chung Hội nghị trên. Đường lối mới này đã bị Đảng cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) kịch liệt lên án, gọi là “Chủ nghĩa xét lại hiện đại”.

Sự thay đổi trong nhận định về quan hệ quốc tế đã phân hoá nội bộ một số đảng cộng sản. Trong ĐCSVN cũng xuất hiện hai luồng quan điểm khác nhau. Một bên ủng hộ “cùng tồn tại trong hoà bình”, phản đối đường lối giáo điều tả khuynh của ĐCSTQ, chủ trương hòa bình thống nhất đất nước, phát triển kinh tế đa thành phần.

Bên kia, theo đường lối của ĐCSTQ, chủ trương chống “chủ nghĩa xét lại hiện đại”, duy trì xã hội chuyên chính phi dân chủ, đẩy mạnh cải cách xã hội chủ nghĩa, xóa bỏ hoàn toàn cơ chế kinh tế thị trường, kiên định chủ trương thống nhất đất nước bằng bạo lực.

Cuộc đấu tranh trong nội bộ diễn ra âm thầm nhưng căng thẳng đã kết thúc bằng nghị quyết của Hội nghị Trung ương 9 ĐCSVN họp năm 1963, đi ngược lại Tuyên bố chung Moskva 1960 đã được đoàn đại biểu Việt Nam long trọng ký kết. Nghị quyết 9 (phần đối ngoại), về thực chất là bản sao đường lối của ĐCSTQ đã khởi đầu cho cuộc trấn áp những đảng viên bất đồng chính kiến bị chụp mũ “chủ nghĩa xét lại hiện đại”. Cần lưu ý là Chủ tịch Hồ Chí Minh không tham gia biểu quyết nghị quyết này.

Toàn văn Nghị quyết 9 được giữ trong tình trạng tuyệt mật, nhưng nội dung tinh thần được phổ biến cho các đảng viên và trí thức. Vì có quá nhiều tranh cãi nội bộ nên Đảng tuyên bố cho phép bảo lưu ý kiến khác biệt. Thái độ cởi mở này chỉ là biện pháp để phát hiện những người không tán thành.

Nhiều ý kiến bất đồng được biểu lộ công khai như những bài viết của các ông Hoàng Minh Chính - Viện trưởng Viện Triết học Mác-Lênin, ông Trần Minh Việt, phó Bí thư Thành ủy kiêm phó Chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội. Những tâm thư của nhiều đảng viên lão thành gửi đến Bộ Chính trị, phản đối đường lối đối ngoại thân Trung Quốc, tranh luận về đường lối giải phóng miền Nam bằng bạo lực, nóng vội trong cải tạo kinh tế xã hội chủ nghĩa và tất cả các ý kiến phát biểu trái chiều tại các cuộc học tập đều được thu thập để rồi trấn áp khốc liệt vào cuối năm 1967.

DIỄN BIẾN SỰ KIỆN

ĐCSVN gọi tắt vụ án này là “Vụ Xét lại chống Đảng” diễn ra năm 1967, nhưng đến tháng 3 năm 1971 mới báo cáo Bộ Chính trị, tháng 1 năm 1972 mới đưa ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 20 (khóa III). Theo ông Nguyễn Trung Thành (vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng thuộc Ban tổ chức Trung ương) là người trực tiếp thi hành thì Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Lê Đức Thọ nhân danh Bộ Chính trị chỉ đạo việc bắt giữ và giam cầm.

Chiến dịch khủng bố đã bắt đầu vào ngày 27 tháng 7 năm 1967 và kéo dài bằng các cuộc bắt bớ, giam cầm, quản chế nhiều năm các cán bộ trung cao cấp mà không hề xét xử hay tuyên án.

Những người bị giam cầm nhiều năm gồm có:

- Hoàng Minh Chính tổng thư ký Đảng Dân chủ Việt Nam, tổng thư ký Hội Liên hiệp Thanh
niên Việt Nam, viện trưởng Viện Triết học.
- Đặng Kim Giang, thiếu tướng phó Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần Quân đội, thứ trưởng Bộ
Nông Trường.
- Vũ Đình Huỳnh bí thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vụ trưởng vụ Lễ tân Bộ Ngoại giao, vụ
trưởng Ban thanh tra Chính phủ .
- Lê Trọng Nghĩa, cục trưởng Cục 2 (Cục Tình báo quân đội).
- Lê Minh Nghĩa, chánh văn phòng Bộ Quốc phòng.
- Đỗ Đức Kiên, đại tá cục trưởng Cục tác chiến.
- Hoàng Thế Dũng, tổng biên tập Báo Quân đội Nhân Dân.
- Nguyễn Kiến Giang, tỉnh ủy viên tỉnh ủy Quảng Bình, phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật.
- Trần Minh Việt phó bí thư Thành ủy Hà Nội, phó Chủ tịch Ủy Ban Hành Chính thành phố Hà
Nội. Vụ trưởng vụ Tài vụ Bộ Công nghiệp nhẹ.
- Phạm Viết phó tổng biên tập Báo Thời Mới (sau sáp nhập vào tờ Thủ đô Hà Nội thành tờ Hà
Nội Mới).
- Nguyễn Thị Ngọc Lan, giảng viên tiếng Anh, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội, vợ ông
Phạm Viết.
- Phạm Kỳ Vân phó tổng biên tập Tạp chí Học Tập.
- Trần Thư, tổng thư ký báo Quân Đội Nhân Dân.
- Hồng Sĩ, trung tá Công an, đặc trách công tác phản gián, Hải Phòng.
- Trần Châu nhà báo, Việt Nam Thông tấn xã.
- Lưu Động nhà báo, trưởng ban Nông nghiệp Báo Nhân Dân.
- Vũ Thư Hiên nhà báo, báo Ảnh Việt Nam, (con trai cả ông Vũ Đình Huỳnh, không đảng).
- Huy Vân, đạo diễn điện ảnh.
- Phan Thế Vấn, bác sĩ, nguyên cán bộ nội thành Hà Nội.
- Vũ Huy Cương biên kịch điện ảnh (không đảng).
- Nguyễn Gia Lộc, cán bộ nghiên cứu Viện Triết học.
- Phùng Văn Mỹ, cán bộ nghiên cứu Viện Triết học.
- Bùi Ngọc Tấn, nhà báo (không đảng).
… và nhiều người khác không phải đảng viên cũng bị đảng Cộng sản Việt Nam trấn áp với nhiều mức độ khác nhau.

Những cán bộ cấp cao không bị bắt nhưng bị khai trừ Đảng là:

- Ung Văn Khiêm bộ trưởng bộ Ngoại giao.
- Bùi Công Trừng chủ nhiệm Ủy ban Khoa học Nhà nước.
- Nguyễn Văn Vịnh thứ trưởng bộ Quốc phòng.
- Lê Liêm thứ trưởng bộ Văn hóa.
- Minh Tranh, phó giám đốc nhà xuất bản Sự Thật.

Một số người đang học tập, công tác ở Liên Xô đã ở lại tỵ nạn như:

- Lê Vinh Quốc đại tá Chính ủy sư đoàn 308
- Nguyễn Minh Cần phó chủ tịch Ủy ban Hành chính Thành phố Hà Nội
- Đỗ Văn Doãn tổng biên tập Báo Quân đội Nhân Dân.

Nhiều người không bị bắt giam đã bị đày ải, trù dập như các ông:
- Minh Tranh phó giám đốc Nhà Xuất bản Sự Thật,
- Các nhà báo Đặng Đình Cẩn, Mai Hiến, Trần Đĩnh, Mai Luân
… Và rất nhiều người khác nữa.

Trong cuộc trấn áp này, bất kỳ người nào có quan điểm ít nhiều khác với đường lối của đảng, đều bị quy kết là “xét lại” và bị trừng phạt với những mức độ khác nhau.

Sự trừng phạt nặng nề còn tiếp diễn vào cuối thập niên 90 đối với ông Nguyễn Trung Thành, người trực tiếp thụ lý vụ này khi ông cùng ông Lê Hồng Hà (Chánh văn phòng Bộ Công an) viết kiến nghị đề nghị Bộ Chính trị xem xét giải oan cho các nạn nhân.

NHỮNG NĂM THÁNG TÙ ĐẦY OAN ỨC VÀ HỆ LỤY

Người được coi là “đầu vụ” là ông Hoàng Minh Chính. Ông bị quy tội vì đã gửi cho hội nghị Trung ương hai bản kiến nghị, bản thứ nhất phê phán Bộ Chính trị đã từ bỏ nguyên tắc đồng thuận với bản Tuyên bố Moskva 1960, bản thứ hai phê phán đường lối quốc tế sai trái của Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc. Lần đầu, ông bị bắt tù 6 năm rồi quản chế tại gia. Lần thứ hai ông bị bắt giam từ 1981 đến 1987. Lần thứ ba từ 1995 đến 1996. Tổng cộng ông bị 12 năm tù giam và 8 năm quản chế. Là một sĩ quan, thương binh, trong thời gian đó, ông phải chịu nhục hình và những hành vi xúc phạm nhân phẩm.

Các ông Đặng Kim Giang, Vũ Đình Huỳnh bị quy là hai người trong “ba kẻ đầu vụ”. Cả hai cùng với ông Trần Minh Việt… bị giam 6 năm và chịu thêm 3 năm lưu đầy biệt xứ, ở những địa phương khác nhau. Khi bị bắt, họ bị giam tại xà lim Hỏa Lò, bị cùm chân và trong phòng giam không có ánh sáng. Nơi giam cầm các ông trong nhiều năm đều là các khu biệt giam, không được giao tiếp với bất kỳ ai.

Ông Đặng Kim Giang cũng bị bắt lần thứ hai năm 1981, trên đường đi đến khu biệt giam ở Nam Định thì lên cơn nhồi máu cơ tim phải đưa thẳng vào bệnh viện công an và bị giam giữ tại đây cho đến khi bệnh tình nguy kịch, trả về nhà một thời gian thì mất.

Người bị giam lâu thứ hai là ông Vũ Thư Hiên, với 9 năm giam liên tục trong các nhà tù và trại tập trung, có những năm bị giam chung với tù hình sự.

Ông Phạm Viết, năm 1967 đang nghỉ công tác dài hạn để điều trị bệnh tim thì bị bắt, giam vào xà lim Hỏa Lò. Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, vợ ông Viết người từng bị bắt 3 lần khi hoạt động nội thành Hà nội trong kháng chiến chống Pháp, là người phụ nữ duy nhất trong vụ này đã bị tù 2 năm rưỡi vì tội không giao nộp bản luận văn phó tiến sĩ “Về chủ nghĩa giáo điều ở Việt Nam” của ông Trần Minh Việt viết tại trường đảng Liên Xô. Bản này lúc đó bị vu cho là “bản cương lĩnh chính trị của tổ chức chống Đảng.”

Thương tâm nhất trong vụ này là ông Phạm Kỳ Vân, phó tổng biên tập tạp chí Học Tập. Ông Kỳ Vân bị bắt khi đang điều trị xơ gan cổ chướng, bệnh tình trở nên trầm trọng, ông được tha về để chết. Vợ ông bị chết đuối, con gái đi Thanh niên xung phong hy sinh trên đường Trường Sơn, con gái khác chết khi sinh nở. Người con trai út tuyệt vọng treo cổ tự vẫn. Cả gia đình không một người nào còn sống.

Còn rất nhiều người khác bị trấn áp theo nhiều cách khác nhau mà chúng tôi không thể kể ra hết: bị quản thúc với những cấm đoán ngặt nghèo, bị đưa đi cải tạo lao động, bị tước quyền công dân, tước bỏ các chính sách đãi ngộ. Họ bị đuổi khỏi cơ quan, đơn vị công tác và còn bị cấm họ làm cả những nghề kiếm sống thông thường như sửa chữa máy thu thanh, làm việc trong các cơ sở in ấn, sửa chữa đồng hồ, kể cả chữa xe đạp hay cắt tóc.

Ban tổ chức Trung ương còn có chủ trương phân biệt đối xử với con em, gia đình những người bị đàn áp: không được kết nạp vào đảng, không được đề bạt lên vị trí quản lý, không được học các trường đại học được coi là quan trọng, ngoài các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, thư viện…, không được cử đi công tác học tập nước ngoài, không được phân công về công tác tại Hà Nội và làm việc tại các bộ ngành trung ương, cơ quan quan trọng.

Hàng trăm lá đơn khiếu oan, về thực chất là những thư tố cáo đã được gửi tới các cơ quan công quyền cao nhất của nhà nước và đảng cộng sản trong suốt 50 năm qua, yêu cầu xét xử trước một phiên tòa công minh, đòi công khai vụ việc trước dư luận, bồi thường cho những thiệt hại về vật chất, tổn thương về tinh thần, phục hồi danh dự cho các nạn nhân… Tất cả những đòi hỏi chính đáng ấy chỉ được trả lời bằng sự im lặng.

NHẬN ĐỊNH CỦA NHỮNG NẠN NHÂN CÒN SỐNG VÀ THẾ HỆ KẾ TIẾP

50 năm đã trôi qua kể từ khi những nạn nhân đầu tiên của vụ “xét lại chống Đảng” bị bắt ngày 27 tháng 7 năm 1967. Các ông Dương Bạch Mai, Ung Văn Khiêm, Bùi Công Trừng, Lê Liêm, Hoàng Minh Chính, Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang và nhiều người khác đã qua đời, mang theo đau thương và uất hận. Những người gây ra tấn thảm kịch lớn nhất trong lịch sử đảng cộng sản Việt Nam – Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trần Quốc Hoàn, Trường Chinh… cũng đã chết.

Liên Xô, và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã tan rã. Trung Quốc và Việt Nam tuy danh xưng là xã hội chủ nghĩa nhưng trong thực tế đang đương đầu với các thách thức của giai đoạn tư bản bán khai, trước mọi tệ nạn như hối mại quyền thế, tham nhũng, lạm dụng luật pháp, chênh lệch giàu nghèo, vi phạm quyền dân chủ,… chưa từng có.

Vụ “Xét lại chống Đảng” cũng như nhiều vụ án oan đã xảy ra trong quá khứ như: Cải cách ruộng đất, Nhân văn - Giai phẩm, Cải tạo tư bản tư doanh, Hợp tác hóa, tập trung cải tạo những người tham gia quân lực và chính quyền Việt Nam Cộng hòa… chưa được các thế hệ cầm quyền kế tiếp chính thức sửa sai và nghiễm nhiên cho rằng việc xử lý trước đây là đúng.

50 năm là một thời gian quá dài cho những oan ức và bất công. Khi sự kiện này xảy ra, những người cầm quyền hiện nay còn quá trẻ, thậm chí có người còn chưa ra đời, hiển nhiên không phải là thủ phạm nhưng họ không thể phủi tay cho rằng mình không có trách nhiệm giải quyết những vụ việc xảy ra trong quá khứ. Là chính quyền kế thừa, họ phải có trách nhiệm với những việc còn tồn tại theo đúng pháp luật, sòng phẳng với lịch sử. Đó là điều phải làm nếu họ còn có ý muốn xây dựng một nhà nước pháp quyền và lấy lại niềm tin của nhân dân.

Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang, bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính, bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết, người phụ nữ duy nhất bị tù trong vụ này, ông Vũ Thư Hiên, ông Phan Thế Vấn và nhiều nhân chứng khác còn sống trong vụ này hiện đều đã ở tuổi gần đất xa trời. Những nhân chứng cuối cùng rồi cũng sẽ không còn, nhưng ký ức về vụ trấn áp sẽ còn sống mãi với thời gian.

Lịch sử không thể bị tẩy xoá.

Con cháu những nạn nhân đó dù chỉ là những đứa trẻ khi cha anh bị bắt, chẳng biết “xét lại” là gì, nhưng cũng nếm đủ những khổ cực của cuộc trấn áp tàn bạo nhắm vào thành viên gia đình những người không chịu cúi đầu. Đến nay, họ cũng đã về già nhưng mãi mãi không thể nào quên được những năm tháng đau thương ấy.

Cho tới nay chúng tôi vẫn còn như thấy trước mắt hình ảnh tướng Đặng Kim Giang, chỉ huy hậu cần chiến dịch Điện Biên Phủ, nằm trong chiếc quan tài hở hoác dưới ngôi nhà tranh dột nát ở ngõ Chùa Liên Phái. Bà vợ ông vừa khóc vừa giã gạch non trộn với cơm nếp, trát kín những kẽ hở của chiếc quan tài ấy.

Chúng tôi không thể quên hình ảnh ông Vũ Đình Huỳnh, nguyên Bí thư của chủ tịch Hồ Chí Minh, thành viên Việt Nam Cách mạng Đồng chí hội từ năm 1925, trước khi ĐCSVN ra đời, bị công an dùng dây thừng trói giật cánh khuỷu khi còng sắt bập vào cổ tay ứa máu mà không vừa. Khi đó ông đã về hưu được vài năm.

Chúng tôi không thể quên nấm mồ của ông Phạm Viết, nằm cô quạnh trên sườn đồi heo hút ở cạnh nhà tù Phú Sơn, Thái Nguyên. Ông là người sỹ quan thương binh đã chiến đấu nhiều năm quên mình trong nội thành Hà Nội. Ở tuổi 44, ông lìa đời mà không được có một người thân bên cạnh dù vợ con đã khẩn thiết yêu cầu được chăm sóc ông những ngày cuối đời.

Chúng tôi mãi mãi không thể quên những gì đã thấy, đã biết, đã ghi nhớ.

Và nhân đây chúng tôi cũng muốn gửi tới rất nhiều người đã đồng cảm và giúp đỡ chúng tôi trong suốt nửa thế kỷ qua lời cảm ơn chân thành. Sự chia sẻ trong tình người dù âm thầm hay công khai đã giúp chúng tôi có thêm nghị lực sống.

Bản lên tiếng này cũng là một nén hương muộn cho những nạn nhân đã khuất. Nhưng máu thịt của họ, tinh thần của họ vẫn còn đây, trong chúng tôi.

Chúng tôi cũng gửi bản lên tiếng này tới các vị đứng đầu Đảng và Nhà nước để nói rằng những thế hệ nối tiếp của các nạn nhân trong vụ "Xét lại chống Đảng” sẽ còn tiếp tục lên tiếng cho tới khi vụ này được công khai trước toàn dân, cho tới khi lẽ công bằng được lập lại cho những nạn nhân còn sống và đã khuất.

Trước sau, lịch sử sẽ phán xét một cách công bằng.

Hà Nội, ngày 27.7.2017

Dưới đây là danh sách những nạn nhân còn sống và gia đình cũng như thân nhân các nạn nhân đã khuất cùng ký tên vào bản lên tiếng này. Danh sách này còn kéo dài do không có điều kiện liên hệ trực tiếp.

- Bà Nguyễn Thị Mỹ, phu nhân ông Đặng Kim Giang và gia đình.
- Bà Lê Hồng Ngọc, phu nhân ông Hoàng Minh Chính và gia đình.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan, phu nhân ông Phạm Viết và gia đình
- Bà Đinh Thị Bích Đào, phu nhân ông Phùng Văn Mỹ và gia đình.
- Bà Nguyễn Thị Oanh, phu nhân ông Lưu Động (tên thật là Nguyễn Xuân Canh) và gia đình.
- Ông Vũ Thư Hiên, con trai ông Vũ Đình Huỳnh và gia đình.
- Ông Phan Thế Vấn và gia đình.
- Ông Trần Đĩnh và gia đình
- Ông Trần Việt Trung, con trai ông Trần Châu và gia đình.
- Bà Minh Sơn, con gái ông Trần Minh Việt và gia đình
- Nguyễn Thị Giáng Hương, con gái ông Trần Thư và gia đình.
…………………

(theo Facebook Vũ Thư Hiên, https://www.facebook.com/thuhienvu222222/posts/10213606819748618)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Hoa Kỳ có thể đặt một chân ở cánh cửa của Việt Nam?


Tác giả: Wendell Minnick
Dịch giả: Song Phan
25-7-2017

Quan hệ giữa Trung Quốc và Việt Nam có thể ít phức tạp hơn Washington mong muốn, bất chấp việc Bắc Kinh đe dọa sử dụng vũ lực buộc Hà Nội ngưng khoan trên biển Đông mới đây.

Ảnh minh họa. Nguồn: Sephard/ internet
Điều thú vị là trong tuyên bố chung ngày 31 tháng 5 của Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc rằng Hoa Kỳ sẽ cam kết giúp đỡ Hà Nội trong việc đối phó với các đe dọa của Trung Quốc.
Những người ở Washington xem Việt Nam là một đồng minh tiềm năng chống Trung Quốc có thể bỏ qua ảnh hưởng mạnh mẽ và tham nhũng của giao thương xuyên biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam.
Khi tham dự IMDEX (Triển lãm Hàng hải Quốc phòng châu Á) ở Singapore hồi tháng 5, nguồn tin của một quan chức cao cấp ngành công nghiệp quốc phòng nói với Shephard rằng, cuộc họp gần đây ở Hà Nội đã kết thúc đột ngột sau khi các quan chức Bộ Quốc phòng báo với phái đoàn Hoa Kỳ rằng vụ mua bán vũ khí sẽ phải có ‘25% lại quả’. Một nguồn tin trung gian khác ở Singapore cũng cho biết các quan chức chính phủ Việt Nam đang rửa tiền tại Singapore qua các bà vợ của họ.
Hoa Kỳ cấm tiến hành công việc làm ăn bằng cách này theo Đạo luật Chống tham nhũng Nước ngoài năm 1977, coi hối lộ là một tội hình sự cấp liên bang. Điều này có thể giải thích vì sao Việt Nam sẽ tiếp tục dựa vào vũ khí Nga và do đó sẽ không có bất kỳ hợp tác quân sự đích thực nào giữa Hoa Kỳ và Việt Nam.
Gần đây, tin Việt Nam sẽ mua 64 xe tăng T-90S / SK của Nga và Nga đang cung cấp cho Việt Nam hệ thống phòng không S-400 và máy bay chiến đấu MiG-35 để thay thế cho đội máy bay MiG 21 quá hạn của Việt Nam đã được xác nhận.
Theo ông Carlyle Thayer, giáo sư danh dự tại Đại học New South Wales, thuộc Học viện Quốc phòng Úc, nếu Việt Nam chọn MiG 35 thì điều này sẽ chấm dứt việc Việt Nam hi vọng sẽ theo Indonesia mua F-16A / B từ Hoa Kỳ.
Có nhiều vấn đề mà việc hợp tác quân sự Mỹ-Việt đang phải đối mặt.
Ông Thayer nói rằng, vấn đề là chính sách quốc phòng “Ba Không” của Việt Nam: không liên minh quân sự, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở Việt Nam và không dựa vào nước này để chống nước kia.
Thêm vào đó là việc Hoa Kỳ hết sức nghi ngại các sĩ quan quân đội cao cấp cả nghỉ hưu lẫn đương nhiệm, [điều này] sẽ làm suy giảm bất kỳ sự tăng cường quan trọng nào trong quan hệ quốc phòng“, ông nói thêm.
Ông Ralph Cossa, Chủ tịch Diễn đàn Thái Bình Dương CSIS ở Honolulu, nói rằng, nếu như chúng ta học được điều gì về Việt Nam trong nửa thế kỷ qua, thì đó là việc không ai có thể thúc đẩy Hà Nội tới nơi mà họ không muốn tới.
Không có chuyện mất mát tình cảm giữa Hà Nội và Bắc Kinh, nhưng Việt Nam sẽ cẩn thận không công khai đứng về cùng phe với bất cứ nước nào. Dù vậy, đã có và vẫn là một cơ hội tuyệt vời cho Washington và Hà Nội trong việc làm sâu sắc quan hệ đối tác của mình, và Trung Quốc cũng khuyến khích cả hai làm như vậy“, Cossa lưu ý.
Hoa Kỳ và Việt Nam đã ký một bản ghi nhớ vào năm 2011, đề ra năm lĩnh vực ưu tiên hợp tác: an ninh hàng hải, tìm kiếm cứu nạn, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thiên tai, trao đổi giữa các trường đại học quốc phòng và các viện nghiên cứu, và các hoạt động gìn giữ hoà bình của LHQ.
Tuy nhiên, bản ghi nhớ năm 2011 đã gây thất vọng cho Mỹ, ông Thayer nói. Chẳng hạn, Việt Nam đã từ chối lời mời của Bộ trưởng Quốc phòng lúc đó là Ash Carter cho các sĩ quan Việt Nam bay tiếp và quan sát việc tuần tra trên biển của máy bay Poseidon P8 trên biển Đông.
Patrick Cronin, cố vấn và là giám đốc cao cấp Chương trình An ninh Châu Á-Thái Bình Dương tại Trung tâm An ninh Mới của Mỹ, nói rằng, có sự liên kết gần hơn tăng lên, nhưng không có khả năng có liên minh nào trong tương lai gần.
Việt Nam vẫn giữ được sự cân bằng về lợi ích và Hoa Kỳ quan tâm hơn đến việc tăng cường khả năng tự vệ của Việt Nam hơn là gánh việc bảo đảm an ninh. Dù vậy, điều đó còn có thể phụ thuộc vào mức độ quyết đoán của Trung Quốc khi nó không cưỡng nỗi tâm lý trở thành Vương quốc biển Trung tâm”.
Tuy nhiên, đã có hoạt động về các vấn đề bảo vệ bờ biển. Hồi tháng 5, Lực lượng Cảnh sát biển Việt Nam đã giao 6 tàu tuần tra của Hải quân Metal Shark mới 45 feet, và tháng 4 đã bàn giao tàu tuần duyên lớp Hamilton quá hạn của Mỹ.
Theo ông Richard Fisher, chuyên gia cao cấp của Trung tâm Đánh giá và Chiến lược Quốc tế, bây giờ Hà Nội dường như quan tâm đến việc tăng cường các tác động ngăn chặn thông qua hợp tác quốc phòng khiêm tốn với Hoa Kỳ.
Dù đã đa dạng hoá nguồn vũ khí của mình trong thập kỷ qua, Việt Nam vẫn cẩn thận tránh phụ thuộc vào cường quốc nước ngoài trong việc bảo vệ mình“.
Ông Fisher nói rằng cuộc xâm lăng của Trung Quốc vào Việt Nam năm 1979, bất kể được thực hiện tệ hại như thế nào, đã cho lãnh đạo Hà Nội thắy rằng, bạn nước ngoài sẽ không bảo vệ họ khi thấy có nguy cơ chiến tranh với Bắc Kinh.
Fisher cảnh báo, “Trung Quốc sẽ không đẩy Việt Nam vào vòng tay mới với người Mỹ. Hơn thế nữa, việc đó có thể thúc đẩy Hà Nội tìm cách có vũ khí hạt nhân – điều đó sẽ làm cho Bắc Kinh kinh hãi hơn là liên minh với Washington“.
(Tiếng Dân)

Phần nhận xét hiển thị trên trang