Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2017

Trung Hoa đã lỡ cơ hội trở thành một nước dân chủ cách đây hơn 100 năm như thế nào





Tranh minh hoạ Cách mạng Tân Hợi 1911. Nguồn: Wellcome Library và Palatino Press.


Ngày 12/2/1912, Cách mạng Tân Hợi (Xinhai Revolution) đã chính thức kết thúc chế độ phong kiến tại Trung Hoa, mở ra cơ hội ngàn năm có một biến nước này thành một nền dân chủ.
Hoa Kỳ là nước đầu tiên công nhận chính phủ Trung Hoa Dân quốc (Republic of China) sau khi Woodrow Wilson trở thành tổng thống vào năm 1912.
Tháng 5/1913, một học giả danh tiếng về luật hiến pháp so sánh (comparative constitutional law), và cũng là giáo sư hàng đầu ngành khoa học chính trị tại Mỹ khi ấy, Frank Johnson Goodnow, đã hăm hở đến Trung Hoa. Ông mang theo nhiều hoài bão cùng một sứ mạng cao quý từ chính phủ Mỹ: giúp truyền bá các giá trị tự do, nhân quyền và dân chủ dựa theo tinh thần của bản Hiến pháp Mỹ.

Frank Goodnow. Ảnh: Wikimedia Commons
Frank Goodnow là một người đã dành ra rất nhiều thời gian nghiên cứu và so sánh luật pháp các nước.
Ông cũng là một trong những người đầu tiên cổ xúy cho việc thực hiện các nghiên cứu về chính trị, luật pháp theo tinh thần khoa học biện chứng tại Mỹ.
Và vì lý do đó, Frank Goodnow là một trong những đồng sáng lập viên, và cũng là chủ tịch đầu tiên của Hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ (American Political Science Association) vào năm 1903.
Goodnow càng có nhiều kinh nghiệm trong việc nghiên cứu về luật hiến pháp so sánh tại những vùng thuộc địa của phương Tây tại Châu Á – Thái Bình Dương, sau khi đã dành gần một thập kỷ (1902-1909) để hoàn thành hai nghiên cứu về sự phụ thuộc vào Hoa Kỳ của Philippines.
Các tài liệu này vẫn được các nhà khoa học chính trị đánh giá cao cho đến tận ngày nay.
Tổng thống Woodrow Wilson đã mong rằng với kiến thức và kinh nghiệm dày dặn, luật sư Frank Goodnow có thể giúp hoàn thành bản Hiến pháp đầu tiên và đóng góp vào việc thành lập chính phủ lập hiến (constitutional government) tại Trung Hoa. Từ đó, Hoa Kỳ sẽ có được một đồng minh lớn mạnh tại châu Á.
Nhưng chỉ trong vòng một năm, người được kỳ vọng sẽ mang tinh thần dân chủ, tự do kiểu Mỹ đến Trung Hoa đã chắp bút cho một bản Hiến pháp cổ xúy cho chế độ quân chủ chuyên chế (monarchy) với một niềm tin mãnh liệt rằng, chỉ có một vị hoàng đế mới có thể ổn định và phát triển quốc gia này.
Tiếp theo, Frank Goodnow còn ra mặt ủng hộ Tổng thống Trung Hoa Yuan Shikai (Viên Thế Khải) đăng cơ làm hoàng đế vào năm 1915.
Mùa hè năm 1915, Goodnow đã gửi thư cho Hội Khoa học Chính trị Hoa Kỳ để giải thích cho quan điểm và hành động của mình như sau:
“Thật không có gì phải nghi ngờ nữa, một thể chế quân chủ phù hợp với Trung Hoa hơn là một nền cộng hòa. Lịch sử và truyền thống, tình trạng kinh tế và xã hội, các mối quan hệ với nước ngoài tại đây đều hướng đến một điểm chung, đó là, một bản hiến pháp ủng hộ một thể chế quân chủ có thể dễ dàng hoàn thiện và phát triển hơn một bản hiến pháp cộng hòa.”
Cũng vì quan điểm là xã hội Trung Hoa khi ấy chưa sẵn sàng để tiếp nhận một nền cộng hòa và các giá trị tự do, dân chủ phương Tây mà Goodnow đã gặp chỉ trích từ phía các học giả Trung Hoa thời bấy giờ. Một trong những người gay gắt nhất là một học giả cấp tiến hàng đầu tại đây, ông Hu Shih (Hồ Thích).
Trong khi Goodnow tin rằng một vị hoàng đế sẽ giúp Trung Hoa nhanh chóng ổn định cục diện chính trị và xã hội, thì Hu Shih đã phản bác:
“Lịch sử sẽ ghi nhớ rằng, khi những người như Giáo sư Goodnow cổ xúy cho một chế độ quân chủ được tái dựng lại tại Trung Hoa với lý do là nó sẽ giúp kiểm soát và ổn định đất nước, thì họ vốn không thể nào hiểu nổi, sẽ không có ngọn cờ của bất kỳ một vị hoàng đế nào có thể khiến tất cả người dân chúng ta đoàn kết và đứng chung dưới nó được nữa. Chưa nói đến, một chính quyền phản động (reactionary government) với những quyền lực tùy tiện còn làm cho đất nước càng thêm ly tán, cũng như sẽ khiến cho nhiều cuộc cách mạng khác đồng loạt bùng nổ.”

Hu Shih (Hồ Thích) Ảnh: Pinimg.
Lịch sử du nhập của triết học Tây phương vào Trung Hoa 
Nhìn vào quá trình du nhập của các tư tưởng tự do và dân chủ Tây phương vào Trung Hoa cuối thế kỷ 19, chúng ta có thể phần nào hiểu được vì sao quan điểm và hành động của Frank Goodnow lại khiến những người như Hu Shih phẫn nộ.
Ông Hu Shih đã viết, công chúng Hoa Kỳ – kể cả những trí thức như Goodnow – có cái nhìn hết sức “hời hợt” về Trung Hoa.
Thật vậy, xã hội Trung Hoa đã bắt đầu tìm hiểu về các triết lý tự do và dân chủ từ phương Tây khi tinh thần của Kỷ Khai sáng (Age of Enlightenment) du nhập vào nước này trong những năm cuối thế kỷ 19.
“Khế ước xã hội” (Social Contract) của Rousseau (tên trong tiếng Hán là Lư Thoa) đã được dịch sang Hán ngữ vào năm 1898 với tên gọi “Dân ước”.
“Bàn về tự do” (On Liberty) của John Stuart Mills đã được dịch năm 1899, và tác phẩm của Adam Smith – “Tài sản Quốc gia” (The Wealth of Nations) được dịch một năm sau đó cùng với “Tinh thần pháp luật ” (The Spirit of Laws) – Vạn Pháp Tinh Lý – của Montesquieu (tên trong tiếng Hán là Mạnh Đức Tư Cưu). [Chính từ những bản Hán ngữ này mà các học thuyết chính trị căn bản của phương Tây về dân chủ, tự do, và nhà nước pháp quyền đã được dịch sangtiếng Việt vào đầu thế kỷ 20.]
Tuy được tiếp xúc chậm trễ tới hai thế kỷ sau khi những học thuyết này ra đời tại Châu Âu, thế nhưng, nhiều nhà nghiên cứu và sử gia cho rằng, chính những tư tưởng này – đã dẫn đến thành công của Cách mạng Tân Hợi 1911.
Trung Hoa đã có chuyển biến lớn trong nhận thức về chủ nghĩa lập hiến (constitutionalism)
Chỉ vài năm trước khi Frank Goodnow lần đầu đặt chân đến Trung Hoa năm 1913, tại đây đã có những chuyển biến liên tục trong nhận thức về thể chế chính trị, đặc biệt là về chính phủ lập hiến.
Đã qua rồi thời kỳ mà những người mang tư tưởng cải cách với các giá trị của Tây phương bị triều đình đàn áp thảm khốc như Kang Youwei (Khang Hữu Vi) và Liang Qichao (Lương Khải Siêu) trong Cuộc cải cách 100 ngày năm 1898 (Bách nhật Duy tân – 100 days Reform).
Sau những thất bại liên tiếp trước các thế lực nước ngoài trong hai cuộc Chiến tranh Nha phiến (Opium Wars) và cuộc Chiến tranh Thanh-Nhật (Sino-Japanese War 1894–95), triều đình nhà Thanh bắt buộc phải suy nghĩ về cải cách chính trị để duy trì quyền lực.
Đặc biệt, sau khi Nhật Bản chiến thắng trong Chiến tranh Nga-Nhật (Russo-Japanese War 1904-05), thì sức ảnh hưởng của bản Hiến pháp Minh Trị (Meiji Constitution) tại Trung Hoa cũng lớn mạnh theo.
Ngay tại triều đình, đã có nhiều phe nhóm lên tiếng về việc phải tiến hành cải cách theo hình mẫu Nhật Bản, yêu cầu triều đình chấp nhận giới hạn quyền lực của mình bằng hiến pháp và cho phép tổ chức bầu cử quốc hội. Vì vậy, vào năm 1908, triều đình nhà Thanh đã phê chuẩnviệc thiết lập một bản hiến pháp cho chế độ quân chủ để hy vọng kéo dài thời gian cai trị của mình.
Tuy nhiên, những lực lượng cách mạng như Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên) thì hoàn toàn phản đối chế độ quân chủ lập hiến (constitutional monarchy), và nhất quyết đi theo con đường thành lập một nền cộng hòa (republican form of government).
Đến tháng 11/1911, đứng trước tình hình nhân dân cả nước nổi lên, triều đình đã công bố bản hiến pháp của mình. Tuy nhiên, việc làm này đã quá muộn. Và vì sau đó Cách mạng Tân Hợi thành công nên bản hiến pháp quân chủ lập hiến của nhà Thanh chưa bao giờ được áp dụng trong thực tế.

Tranh minh hoạ Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Nguồn: Tranh minh hoạ Cách mạng Tân Hợi 1911. Nguồn: Wellcome Library và Palatino Press.
Tâm huyết của các nhà cách mạng Trung Hoa đối với bản Hiến pháp đầu tiên
Frank Goodnow cũng không đưa ra bất kỳ nhận định hay ghi nhận gì về những nỗ lực tổ chức chính phủ lập hiến mà các nhà cánh mạng tại Trung Hoa đã tiến hành từ năm 1912-1913.
Ngày 10/10/1911, cuộc khởi nghĩa ở Wuchang (Vũ Xương) đã nổ ra, đánh dấu bước ngoặt của cuộc cách mạng lật đổ chế độ phong kiến tại Trung Hoa.
Tháng 12/1911, Sun Yatsen đã từ Hoa Kỳ trở về nước sau gần 16 năm sống lưu vong. Sun thành lập và lãnh đạo Chính phủ Cách mạng Lâm thời Trung Hoa Dân quốc (Provisional Constitution of the Republic of China), và trở thành Tổng thống Lâm thời với thủ phủ đóng tại Nanjing (Nam Kinh).
Đến tháng 1/1912, Chính phủ Cách mạng Lâm thời đã lên kế hoạch tổ chức một hội nghị lập hiến. Một bản Quy ước Hiến pháp tạm thời với 21 điều khoản đã được soạn thảo dựa trên mô hình tổng thống chế (presidential system) của Hoa Kỳ.
Điều 21 của Quy ước Hiến pháp quy định: Bản Quy ước này sẽ được sử dụng tạm thời như là Hiến pháp của quốc gia. Theo đó, chính phủ sẽ tổ chức một đại hội lập hiến để soạn thảo bản hiến pháp chính thức và tổ chức bầu cử Quốc hội. Sau khi Quốc hội tuyên thệ nhậm chức thì sẽ thông qua bản hiến pháp chính thức.
Chính phủ Lâm thời phải đối mặt với một nước Trung Hoa đang có vô số thế lực đang xâu xé nhau. Trong đó, Yuan Shikai là một thế lực lớn nhất. Vào thời điểm trước và sau khi Cách mạng Tân Hợi bùng nổ, Yuan Shikai đã là một tướng lĩnh có rất nhiều binh quyền tại triều đình nhà Thanh, nắm trong tay một lực lượng quân sự rất lớn tại phía Bắc Trung Hoa.
Để đổi lấy sự ủng hộ của Yuan Shikai và thống nhất đất nước, Chính phủ Lâm thời và Sun Yatsen đã đồng ý nhường chức vị tổng thống đầu tiên và chính thức của Trung Hoa Dân Quốc (Republic of China) cho Yuan, với điều kiện Yuan phải tuyệt đối tôn trọng và tuân theo bản Quy ước Hiến pháp.

Yuan Shikai (Viên Thế Khải – trái) và Sun Yatsen (Tôn Dật Tiên – phải).
Ngày 15/2/1912, Yuan tuyên thệ nhậm chức tổng thống sau khi đồng ý với các điều kiện của Chính phủ Lâm thời. Sun Yatsen và những người ủng hộ ông tin rằng, với một bản hiến pháp hoàn chỉnh sau đại hội lập hiến cùng các điều khoản kiểm soát và phân chia quyền lực hợp lý, họ có thể kiềm chế quyền lực của Yuan.
Tháng 3/1912, Chính phủ Lâm thời tổ chức đại hội lập hiến.
Ngày 11/3/1912, bản dự thảo hiến pháp của Chính phủ Lâm thời được hoàn thành và công bố (Lâm thời Ước pháp). Nhằm giới hạn quyền lực của tổng thống và gia tăng quyền lực của Quốc hội cũng như của các vị dân biểu, bản Hiến pháp với 56 điều này đã chuyển từ mô hình tổng thống chế của Mỹ sang một mô hình gần giống với chế độ nội các (cabinet system) của Pháp.
Lâm thời Ước pháp tạm thời thay thế bản Quy ước Hiến pháp trở thành văn bản pháp lý cao nhất tại Trung Hoa. Một Viện lập pháp được bổ nhiệm (unicameral house) để ban hành các luật về bầu cử và tổ chức Quốc hội dựa trên Điều 18 và 53 của Lâm thời Ước pháp. Bản Hiến pháp chính thức sẽ do Quốc hội mới này ban hành.
Quốc dân đảng (Kuomintang) cũng được thành lập vào tháng 8/1912. Từ tháng 12/1912 đến đầu năm 1913, chính phủ tổ chức bầu cử Quốc hội. Dưới sự lãnh đạo của ngôi sao chính trị trẻ tuổiSong Jiaoren, Quốc dân đảng trở thành đảng dành được số phiếu cao nhất trong kỳ tổng tuyển cử này.
Ông Song Jiaoren là một nhà cải cách được hưởng nền giáo dục tại Nhật Bản, và là một người tuyệt đối tin tưởng rằng dân chủ hóa là con đường duy nhất đưa Trung Hoa trở thành một nước phát triển. Ông đã được nhiều người kỳ vọng là sẽ mở ra một kỷ nguyên chính trị mới tại đây nếu trở thành thủ tướng.

Cuộc ám sát Song Jiaoren được xem là một tổn thất to lớn cho việc cổ xúy dân chủ tại TQ vào đầu thế kỷ 20. Ảnh: Economist.
Người Trung Hoa đầu thế kỷ 20 không chọn hoàng đế, mà chọn dân chủ
Frank Goodnow chưa bao giờ có cơ hội gặp Song Jiaoren vì ông này đã qua đời hai tháng trước khi Goodnow đến Trung Hoa.
Hai tuần trước khi Quốc hội chính thức tuyên thệ nhậm chức, Song Jiaoren đã bị ám sát vào ngày 20/3/1913. Ông Song qua đời hai ngày sau, khi chưa kịp tròn 31 tuổi.
Cũng không có nhiều tài liệu ghi chép lại để có thể biết liệu Goodnow có tiếp xúc với những người khác thuộc phe Quốc dân đảng, Sun Yatsen, hoặc các đảng phái đối lập với Yuan Shikai hay không. Trong khi đó, một loạt các dân biểu cũng gặp chung số phận như ông Song, và những cái chết này được cho là do Yuan Shikai gây ra nhằm phản đối bản Lâm thời Ước pháp 1912.
Có lẽ, khi đặt chân đến đây, Frank Goodnow đã phải đối diện với một xã hội và môi trường chính trị hoàn toàn khác biệt so với các nước Âu – Mỹ mà ông vốn quen thuộc. Tuy vậy, sự ủng hộ của Goodnow đối với Yuan Shikai là khá rõ ràng.
Cuộc bầu cử năm 1912-1913 ghi nhận đã có hơn 10% dân số Trung Hoa lúc ấy đủ tư cách tham gia bỏ phiếu, đó là khoảng 40 triệu người đàn ông có tài sản và tốt nghiệp tiểu học. Mặc dù cuộc bầu cử này gặp rất nhiều cáo buộc về gian lận, trong đó có cả tình trạng một số ứng viên đe dọa hoặc mua chuộc cử tri. Thế nhưng, lịch sử cũng công nhận đó chính là lần đầu tiên người Trung Hoa được quyền trực tiếp bầu ra người đại diện của mình để điều hành quốc gia.
Và đó cũng là lần đầu họ trải nghiệm dân chủ.
Vậy mà sau khi Frank Goodnow đến, Yuan Shikai trước tiên phản đối bản Lâm thời Ước pháp 1912 đã được Quốc hội sửa chữa và chuẩn bị thông qua trong kỳ họp vào tháng 11/1913 vì họ vẫn giữ nguyên các điều khoản về giới hạn quyền lực của tổng thống.
Tiếp đến, Yuan thẳng tay giải tán Quốc hội do người dân bầu ra – với đa số là người của Quốc dân đảng – vào ngày 4/11/1913 để họ không thể thông qua bản hiến pháp nói trên.
Ngày 1/5/1914, Yuan tổ chức đại hội lập hiến của riêng mình và Frank Goodnow chính là một trong các cố vấn và là người chắp bút cho bản Hiến pháp đầu tiên của chính quyền Yuan Shikai, là bước đệm để Yuan bước lên ngai vàng một năm sau.
Cũng như nhiều người Tây phương trong nhận xét của Hu Shih, Goodnow đã bị hình ảnh “đại tướng quân” của Yuan Shikai hoàn toàn thuyết phục. Để rồi cũng như họ, ông cho rằng Yuan chính là người duy nhất đủ bản lĩnh để lãnh đạo Trung Hoa tiến tới đoàn kết và ổn định.
Có lẽ, vì Frank Goodnow là một người ngoại quốc nên ông khó có thể hiểu hết tình hình thời cuộc như một người trí thức Trung Hoa, ví dụ như Liang Qichao (Lương Khải Siêu).
Tuy cùng nằm trong danh sách các cố vấn được Yuan mời tham gia vào việc phác thảo Hiến pháp năm 1915 như Goodnow, Liang đã thẳng thừng từ chức trong nội các của Yuan Shikai sau khi dã tâm làm hoàng đế của Yuan bộc lộ rõ ràng. Liang cũng không ngần ngại tiến thêm một bước, liên kết với Sun Yatsen để chống lại Yuan sau đó.

Tranh vẽ nội chiến tại Trung Hoa (1919-1949). Ảnh: Chưa rõ nguồn.
Yuan Shikai chỉ vừa bắt đầu giấc mộng đế vương thì đã qua đời vào ngày 6/6/1916. Sau khi Yuan Shikai chết, đất nước Trung Hoa lại càng trở nên chia cắt hơn bao giờ hết, khi các lực lượng tướng lĩnh, quân đội nổi lên khắp nơi. Chính quyền Trung Hoa Dân quốc chỉ đủ năng lực để kiểm soát ở phía Nam đất nước, và Sun Yatsen một lần nữa trở thành người lãnh đạo tối cao.
Frank Goodnow hoàn toàn có quyền tin tưởng vào học thức của mình để bày tỏ sự ủng hộ đối với Yuan Shikai. Nhưng như Hu Shih đã nói, sự hiểu biết của ông về Trung Hoa có thể là không đủ sâu.
Frank Goodnow làm sao có thể đặt mình vào vị trí của Hu Shih để hiểu rằng, người Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã không thể quay lại xưng thần và quỳ gối trước bất kỳ một vị hoàng đế nào nữa?
Lịch sử đã đứng về phía các ông Sun Yatsen, Song Jiaoren, và Hu Shih, những người đã kiên quyết phải dẹp tan chế độ phong kiến. Vì khác với những gì Frank Goodnow và một số người Tây phương ủng hộ Yuan Shikai tiên liệu, một vị hoàng đế đã không thể thống nhất Trung Hoa và mang lại sự ổn định, hòa bình và thịnh vượng. Ngược lại, chính những việc làm của Yuan Shikai đã đẩy quốc gia này chìm sâu vào những cuộc nội chiến triền miên kéo dài suốt ba thập kỷ, và kết thúc bằng sự chiến thắng của những người cộng sản.
Sau khi đảng Cộng sản dành được chiến thắng tại Trung Hoa lục địa và lập ra một chế độ toàn trị mới tại đây vào ngày 1/10/1949, lực lượng Quốc dân đảng chỉ còn có thể cố thủ ở Đài Loan. Trải qua thêm gần 30 năm nữa dưới chế độ độc tài của Quốc dân đảng, Đài Loan mới có thể bắt đầu công cuộc dân chủ hóa hòn đảo này vào năm 1987.
Rất nhiều nhà cách mạng Trung Hoa đầu thế kỷ 20 đã đổi cả tính mạng để tranh đấu cho niềm tin vào một nền cộng hòa và các thiết chế dân chủ. Và ngày nay, có lẽ sự phát triển của nền dân chủ Đài Loan là niềm an ủi lớn nhất cho những người như Sun Yatsen, Song Jiaoren, và Hu Shih, khi bóng đêm của sự chuyên chế và toàn trị vẫn phủ trùm đất nước mà các ông đã hết lòng đấu tranh cho tự do của mỗi người dân.
Tài liệu tham khảo:


Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM THÀNH LẬP NĂM 1932?


Ngọc Tô



.
Tuần trước có thằng cháu ngoại đến nhà chơi, thấy tôi đang “buôn” về cuộc đời và sự nghiệp của nhà cách mạng tiền bối Nguyễn Văn Ngọ, cháu liền hỏi:
- Đố ông biết Đảng cộng sản Việt Nam thành lập vào năm nào?
- 1930. Tôi trả lời!
Thế thì ông sai rồi, tài liệu mới nhất (2016) ghi chính xác là năm 1932. Rồi
cháu đưa ra dẫn chứng bằng tờ lịch mồng 03 tháng 02 năm 2016. Ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam(1932). Thấy hay hay, dòng dưới lại ghi:
“Dối trá lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực” (Benjamin Frankmin).
Cháu bảo tôi cho mượn iphone và trong nháy mắt cháu liền cho tôi xem bách khoa toàn thư mở (google), ngoài ra còn một loạt lịch khác đều ghi ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam (1932), làm tôi tâm phục khẩu phục và dòng dưới còn ghi nhiều câu châm ngôn, ca dao “bất hủ” hơn như:
- Kẻ tiểu nhân đêm hôm xin xỏ, sáng ngày khoe khoang (Mạnh Tử)
- Chỉ có những thằng ngốc và người chết là chẳng bao giờ thay dổi ý kiến (S. Saplin)
- Nói lời phải giữ lấy lời. Đừng như con bướm đậu rồi lại bay (Ca dao)
- Dạ tràng xe cát biển đông. Nhọc nhằn mà chẳng nên công cán gì (Ca dao)
- Mức ngu xuẩn thứ nhất là tự nhận mình thông minh, thứ 2 là phô bày điều đó, thứ 3 là xem thường lời khuyên góp ý (Benjamin Frankmin)…
Rồi tờ lịch ngày 19 tháng 5 - Sinh nhật chủ tịch Hồ Chí Minh, dòng dưới cũng ghi:
“Dối trá lừa lọc là hành động của kẻ ngu xuẩn không có đủ trí óc để trung thực” (Benjamin Frankmin)…
Có lẽ những bộ lịch như vậy được phát hành tới hàng trăm nghìn bộ, chứ không phải như một vài trăm cuốn văn thơ của mấy hội viên Hội Nhà văn để tặng bạn bè đâu?
Những lỗi sai căn bản của lịch thì chắc còn khá nhiều, nhưng những suy luận bởi những câu châm ngôn, ca dao tục ngữ,…xỏ xiên kia, ai hiểu thế nào thì hiểu.

Còn mấy câu thơ phản ảnh thực tế đời sống xã hội của nhà thơ Trần Nhuận Minh trong tập “Thành phố dịu dàng” NXB Hội Nhà văn năm 2015:
NHỮNG ĐIỀU ẤY...
Yêu ai thì bịa cho họ lắm điều hay
Ghét ai thì vu cho họ nhiều lầm lỗi
Tôi nhận ra những điều ấy trong sách giáo khoa
Dạy các thế hệ trẻ con về sự trung thực…
.
LÚC ẤY...
Một học sinh lớp 12 đuổi đâm thầy giáo
Anh chạy theo can và bất ngờ bị đâm thủng ngực
Lúc ấy trên truyền hình đang có cuộc mít tinh
Ca ngợi nền giáo dục của chúng ta vô cùng ưu việt...
Hay những câu thơ khác của mấy hội viên khác bị Cục Xuất bản In và Phát hành “soi”, rồi đình chỉ xuất bản... Nghĩ cũng thật buồn?
Mong các nhà chức trách không chỉ “soi” mấy cuốn sách văn học mà nên quan tâm tới nhiều loại ấn phẩm in thông dụng như mấy loại lịch kia, sách giáo khoa, tạp chí khác… vì số lượng phát hành rất lớn, phục vụ nhiều tầng lớp nhân dân, biên độ ảnh hưởng tới toàn xã hội.
Ngọc Tô

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Điều gì đằng sau sóng ngầm di cư của người giàu?


Ba đối tượng di cư chủ yếu: Quan chức tham nhũng, kẻ tội phạm có tiền trốn tránh; Người giàu muốn có cuộc sống tốt hơn; Người dân cảm thấy bất an, bất mãn về chính quyền, lo lắng cho tương lai của con cái nên muốn đi tìm miền đất hứa.

23/07/2017 TTO - Chúng ta quan tâm thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào làm ăn tại VN thì cũng cần quan tâm giữ những doanh nghiệp nội địa giỏi. ​Nếu những người có nguồn tiền không sạch muốn chuyển tiền ra khỏi VN có thể không khó hiểu, thì điều cần quan tâm là những doanh nhân, người giàu muốn chuyển tiền khỏi VN.

Cần tránh việc doanh nhân bỗng nhiên bị rơi vào bĩ cực vì chính sách thay đổi. Trong ảnh: tại một doanh nghiệp sản xuất hàng công nghiệp phụ trợ - Ảnh: T.HƯƠNG

Xu hướng ngược chiều...

Những ngày gần đây, thông tin trên báo chí khiến chúng ta phải suy nghĩ. VN đã đứng thứ 6 trong năm 2016 và liên tục nằm trong top 10 các quốc gia có công dân mua nhà tại Mỹ, theo công bố của Hiệp hội Quốc gia chuyên viên địa ốc Hoa Kỳ.

Lưu ý là số tiền 3,06 tỉ đôla Mỹ để mua nhà, đó là chỉ riêng ở Mỹ, chưa tính các quốc gia phát triển khác ở châu Âu, Bắc Mỹ hay châu Úc... Con số này thật lớn nếu so với 5,7 tỉ đôla Mỹ của bà con kiều bào đang đầu tư về VN qua gần 3.200 dự án từ trước đến nay (theo số liệu của Ủy ban Nhà nước về người VN ở nước ngoài).


Trong những năm qua, bên cạnh những thông tin tích cực về luồng vốn FDI vào VN, ít ai để ý đến một xu hướng ngược chiều, nhiều thương hiệu Việt khá thành công đã được những tập đoàn nước ngoài mua lại qua những phi vụ M&A (mua bán sáp nhập).

Đằng sau những phi vụ M&A thành công kia, có bao nhiêu những người chủ Việt tiếp tục kinh doanh tại VN? Bao nhiêu người không còn ao ước phát triển sản nghiệp, thương hiệu truyền đời? M&A để có vốn chuyển hướng kinh doanh, đầu tư mới là một tín hiệu lành mạnh. Nhưng M&A để rút lui, để đi mua bất động sản ở các nước tiên tiến lại là một xu hướng đáng lo ngại.

Điều dễ thấy là chưa bao giờ ở VN nở rộ các hội thảo tư vấn đầu tư định cư, đầu tư có quốc tịch... nhiều đến như vậy. Trong các cuộc gặp, nói chuyện với bạn bè làm doanh nhân, tôi thấy một trong những chủ đề quen thuộc hay được đem ra bàn là thể thức, thủ tục nhập quốc tịch các quốc gia...


Những người giàu ra đi thực sự là điều cần quan tâm. VN cần phải là đất nước để ai cũng muốn gắn bó trọn đời, yên tâm trao gửi sự nghiệp cho nhiều đời sau.

Tạo đất lành 
để chim đậu

Liệu đã đến lúc cần chú ý về những cơn sóng ngầm di cư của những người giàu, những doanh nhân thành công tại VN? Lý do nhiều doanh nhân muốn ra đi là gì? Họ tìm thấy những cơ hội kinh doanh tốt hơn ở nước ngoài? Hay họ có mối lo dần lớn, cảm thấy không yên tâm về môi trường kinh doanh và làm ăn hiện nay?

Họ lo lắng về sự đi xuống của chất lượng môi trường sống? Hay họ muốn con cái và gia đình tương lai sau này thụ hưởng cuộc sống có chất lượng giáo dục và môi trường tốt hơn?...

Cũng cần để ý thông tin VN đã nằm trong top 10 quốc gia di cư nhiều nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) cho biết từ năm 1990 đến 2015, có trên 2,55 triệu người Việt di cư ra nước ngoài (trung bình mỗi năm gần 100.000 người). Những người giàu ra đi thực sự là điều cần quan tâm. Có lẽ đã đến lúc cần thống kê.

Doanh nhân, người giỏi cần một môi trường kinh doanh thuận lợi nhưng phải ổn định và an toàn. Tài sản, sản nghiệp của họ phải được đảm bảo chắc chắn. VN hơn lúc nào hết cần cải cách hệ thống tư pháp mạnh mẽ hơn nữa để bảo vệ quyền tài sản của người dân, không hình sự hóa các giao dịch kinh tế - dân sự.

Các chính sách phải nhất quán, thống nhất, không thể để tình trạng một ngành hàng đang kinh doanh thuận lợi nhanh chóng rơi vào bĩ cực vì chính sách thay đổi.

Không chỉ là nơi để kinh doanh, muốn VN là một chốn sống yên bình thì cần phải bảo vệ môi trường, đảm bảo an toàn xã hội. Giáo dục và y tế cần phát triển cũng là nhiệm vụ cấp bách.

“Đất lành chim đậu”, VN cần phải là đất nước để ai cũng muốn gắn bó trọn đời, yên tâm trao gửi sự nghiệp cho nhiều đời sau.

ĐẬU ANH TUẤN
http://tuoitre.vn/tin/kinh-te/20170723/dieu-gi-dang-sau-song-ngam-di-cu-cua-nguoi-giau/1356814.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Tự do là một trách nhiệm”


"Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo. Cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo".

Ngày 1/7, nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh đã tham dự lễ tốt nghiệp của Viện nghiên cứu phát triển quốc gia thuộc Đại học Bắc Kinh. Trong buổi lễ, ông có bài phát biểu đại diện cho giáo viên với chủ đề “Tự do là một trách nhiệm”, ông nói đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm đến vận mệnh của đất nước.
Nhà nghiên cứu kinh tế học Trung Quốc Trương Duy Nghênh
Bài phát biểu này được đăng trên Wechat của viện, tuy nhiên nó đã bị xóa trong chưa đầy 12 giờ sau khi đăng tải. Toàn văn bài phát biểu sau khi được đăng trên trang sohu.com, cũng đã bị gỡ xuống trong 24 giờ. Những lời nói xúc động của ông Trương Duy Nghênh đã trở thành bài viết được sinh viên trường Đại học Bắc Kinh cũng như cư dân mạng muốn đọc nhất, bên cạnh đó cũng có nhiều tranh luận của cư dân mạng xoay quanh bài phát biểu này.

Viện nghiên cứu phát triển Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh là một một viện học thuật có tính chỉ định, ngoài cựu Phó tổng giám đốc Ngân hàng thế giới Lâm Nghị Phu được nhậm chức Viện trưởng danh dự ra, thành viên hội đồng của viện bao gồm Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Vương Kỳ Sơn, Giám đốc Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc Chu Tiểu Xuyên, và giáo sư, Nhà kinh tế học nổi tiếng Chu Kỳ Nhân, Trương Duy Nghênh, v.v…


Dưới đây là nội dung bài phát biểu của ông Trương Duy Nghênh được lưu truyền trên internet:
Chào các em sinh viên! Đầu tiên xin chúc mừng các em đã tốt nghiệp!
“Người Bắc Đại” là một vầng sáng, kèm theo đó là trách nhiệm, đặc biệt là trách nhiệm đối với dân tộc chịu bao khổ nạn chịu bao chà đạp của chúng ta.
Văn minh Trung Hoa là một trong những nền văn minh cổ xưa trên thế giới, đồng thời cũng là nền văn minh cổ xưa duy nhất được duy trì cho đến ngày nay. Trung Quốc thời cổ đại có sự phát minh sáng tạo đầy huy hoàng, có đóng góp quan trọng cho sự tiến bộ của nhân loại. Nhưng 500 năm qua, về phương diện phát minh sáng tạo thì Trung Quốc không có gì nổi trội để khen. Chúng ta hãy dùng con số để nói rõ hơn. Theo thống kê của học giả Jack Challoner thuộc Bảo tàng Khoa học Anh, trong khoảng thời gian từ thời kỳ đồ đá (2,5 triệu năm trước) đến năm 2008, đã có 1001 phát minh lớn làm thay đổi cả thế giới, trong đó, Trung Quốc có 30 phát minh,  chiếm 3%.
30 phát minh này đều là xuất hiện từ trước năm 1500,  chiếm 18,4% trong 163 phát minh lớn trên toàn thế giới trước năm 1500. Trong đó, phát minh cuối cùng là bàn chải đánh răng được phát minh năm 1498, đây cũng là phát minh to lớn duy nhất trong triều đại nhà Minh.Từ sau năm 1500, hơn 500 năm toàn thế giới có 838 phát minh, trong số đó không có phát minh nào đến từ Trung Quốc.
Kinh tế tăng trưởng nhờ những sản phẩm mới, công nghệ mới, ngành nghề mới không ngừng xuất hiện. Trong xã hội truyền thống chỉ có vài ngành nghề như nông nghiệp, luyện kim, làm đồ gốm, thủ công mỹ nghệ. Trong đó nông nghiệp chiếm vị trí chủ đạo. Hiện giờ chúng ta có bao nhiêu ngành nghề ? Theo sự tiêu chuẩn phân loại đa tầng quốc tế, chỉ riêng sản phẩm xuất khẩu, số ngành có mã 2 chữ có 97 ngành, 4 chữ là 1222 ngành, 6 chữ là 5053 ngành, và vẫn không ngừng tăng thêm. Những ngành mới này đều những ngành ra đời từ cách đây 300 năm, mỗi một sản phẩm mới đều có thể tra được nguồn gốc phát triển của nó.

Từ sau năm 1500 tất cả những phát minh lớn đều không đến từ Trung Quốc

Trong số các ngành mới, lấy ngành sản xuất ô tô làm ví dụ. Ngành ô tô được những người Đức như Karl Benz, Daimler và Maybach sáng lập vào khoảng giữa những năm 1880, sau đó trải qua hàng loạt cải tiến về công nghệ, chỉ từ năm 1900 đến 1981, đã có hơn 600 mẫu đổi mới quan trọng (theo Albernathy,Clark and kantrow, 1984).
Trung Quốc hiện nay là nước sản xuất ô tô lớn nhất thế giới, nếu như bạn viết một bộ lịch sử về sự tiến bộ của ngành ô tô, trên danh sách sẽ có hàng vạn nhà phát minh có tên tuổi, trong đó có người Đức, người Pháp, người Anh, người Italy, người Mỹ, người Bỉ, người Thụy Điển, người Nhật, nhưng sẽ không có người Trung Quốc.
Dù là những ngành nghề truyền thống mà Trung Quốc từng dẫn đầu từ trước thế kỷ 17 như luyện kim, làm gốm, dệt may, những phát minh lớn cách đây 300 năm, không có phát minh nào là của người Trung Quốc.
Tôi muốn nhấn mạnh sự khác nhau trước và sau năm 1500. Trước năm 1500, thế giới phân chia thành những khu vực khác nhau, mỗi khu vực về cơ bản đều trong trạng thái đóng cửa, một kỹ thuật mới xuất hiện ở một nơi, thì sức ảnh hưởng của nó tới nơi khác là rất nhỏ, và cống hiến của nó đối với nhân loại cũng rất hạn chế.
Ví dụ như, năm 105, ông Thái Luân thời Đông Hán đã phát minh ra kỹ thuật sản xuất giấy, nhưng đến năm sau 751, kỹ thuật sản xuất giấy mới được truyền tới nước Hồi giáo, trải qua 300 – 400 năm mới truyền tới tây Âu.
Nhưng sau năm 1500, toàn cầu đã bắt đầu nhất thể hóa, không những tốc độ phát minh kỹ thuật mới được tăng nhanh, mà sự  phổ biến của kỹ thuật cũng gia tăng, một công nghệ mới xuất hiện ở nơi này, nó sẽ nhanh chóng được mang tới nơi khác, và sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến nhân loại.
Ví dụ, năm 1886, người Đức phát minh ra ô tô, 15 năm sau, nước Pháp trở thành nước đứng đầu sản xuất ô tô, qua 15 năm nữa, nước Mỹ thay thế Pháp trở thành cường quốc về sản xuất ô tô. Đến năm 1930, tỷ lệ phổ biến của ô tô Mỹ lên đến 60%.
Do đó, sau năm 1500, sáng tạo mới đã thực sự có tính so sánh giữa các nước, chất lượng ai tốt ai không tốt chỉ nhìn là biết ! Trong 500 năm trở lại đây, Trung Quốc không có một phát minh mới nào đáng ghi trong sử sách, điều đó có nghĩa là chúng ta chưa làm được gì để cống hiến cho sự tiến bộ của nhân loại! So với tổ tiên thì chúng ta kém xa !
Tôi còn muốn nhấn mạnh vấn đề về dân số, dân số có nước nhiều nước ít, so sánh đơn giản giữa các nước về phát minh sáng tạo của ai nhiều sẽ không chính xác.

Sự sáng tạo mới phải tỷ lệ thuận với dân số, tại sao Trung Quốc không thế?

Về lý luận mà nói, trong một điều kiện khác, một nước có dân số đông, thì sự sáng tạo sẽ nhiều, tiến bộ về kỹ thuật sẽ nhanh. Hơn nữa, tỷ lệ sáng tạo và tỷ lệ dân số là mối quan hệ chỉ số, không phải đơn giản là mối quan hệ tỷ lệ tương ứng. Có 2 nguyên nhân: thứ nhất, tri thức ở phương diện sản xuất có tính kinh tế và hiệu ứng lan tỏa quan trọng; thứ 2, tri thức ở phương diện sử dụng sản phẩm không có tính ngăn cản người khác sử dụng nó.
Những phát minh cống hiến cho nhân loại của người Trung Quốc không tương xứng với tỷ lệ dân số của Trung Quốc. Dân số Trung Quốc gấp 4 lần dân số Mỹ, gấp 10 lần Nhật, gấp 20 lần Anh, gấp 165 lần Thụy Sĩ.  
Nhưng thực tế, trong 500 năm, về phương diện phát minh sáng tạo,sự cống hiến của Trung Quốc gần như con số 0, chưa cần so sánh với nước Mỹ, nước Anh, ngay cả con số lẻ của Thụy Sĩ cũng chưa đạt đến. Người Thụy Sĩ phát minh ra kìm phẫu thuật, máy trợ thính điện tử, dây an toàn, công nghệ chỉnh hình, màn hình LCD, v.v.
Công nghệ mực chống giả được Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc dùng để in tiền là công nghệ của Thụy Sĩ, bột mỳ Trung Quốc sản xuất có 60%-70% máy móc gia công của công ty Bühler của Thụy Sĩ.
Nguyên nhân do đâu? Lẽ nào là do gen của người Trung Quốc? Hiển nhiên là không phải! Nếu không, chúng ta không có cách nào giải thích được sự huy hoàng của Trung Quốc cổ đại.
Hiển nhiên là do thể chế và chế độ của chúng ta. Sức sáng tạo là dựa vào sự tự do! Sự tự do về tư tưởng và tự do về hành vi. Đặc điểm cơ bản của thể chế của Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, nó đã bóp nghẹt tính sáng tạo, giết chết tinh thần của các nhà khởi nghiệp. Người Trung Quốc có sức sáng tạo nhất đó là vào thời Xuân Thu và thời Tống, đây không phải là ngẫu nhiên. Hai thời đại này cũng là thời đại người Trung Quốc tự do nhất.
Trước năm 1500, phương Tây không sáng sủa, phương Đông thì mờ mịt, sau năm 1500,  một số nước phương Tây trải qua cải cách tôn giáo và vận động phổ cập kiến thức mới, họ đã dần dần hướng tới tự do và pháp trị, còn chúng ta lại đi ngược đường với họ.

Thể chế Trung Quốc đã hạn chế sự tự do của người dân, cũng hạn chế luôn cả sức sáng tạo

Tôi cần phải nhấn mạnh, tự do là một chỉnh thể không thể tách rời, khi tâm hồn không tự do, thì hành động cũng không được tự do; khi không có tự do ngôn luận, thì tư tưởng không thể tự do được. Chỉ có tự do, thì mới có sự sáng tạo.
Lấy một ví dụ để nói rõ về điểm này. Ngày nay, rửa tay trước khi ăn cơm và sau khi đi vệ sinh đã trở thành thói quen. Nhưng năm 1847, khi bác sĩ nội khoa người Hungari Ignaz Semmelweis đề xuất bác sĩ và y tá phải rửa tay trước khi tiếp xúc với sản phụ, ông đã xúc phạm đến đồng nghiệp, vì thế mà bị mất việc, và chết trong một bệnh viện tâm thần lúc 47 tuổi.
Quan điểm của Ignaz Semmelweis dựa trên sự theo dõi về sốt hậu sản, khi đó tại bệnh viện của ông có 2 phòng sinh, một phòng để phục vụ người giàu, do các bác sĩ và y tá giỏi chăm sóc, những bác sĩ này luôn đổi công việc giữa đỡ đẻ và giải phẫu; một phòng khác là để phục vụ người nghèo, do bà mụ đỡ đẻ. Ông phát hiện, tỷ lệ người giàu bị sốt hậu sản nhiều gấp 3 lần người nghèo. Ông cho rằng nguyên nhân là do bác sĩ không rửa tay. Nhưng cách nhìn nhận vấn đề của ông lại mâu thuẫn với lý luận khoa học thời đó, ông cũng không thể đưa ra những luận chứng khoa học để thuyết minh cho phát hiện của mình.

Thói quen vệ sinh của nhân loại thay đổi thế nào? Việc này có liên quan tới phát minh máy in

Những năm 1440, Johannes Gutenberg đã phát minh ra phương pháp in dấu. Loại máy in sử dụng phương pháp in này đã khiến cho sách vở bắt đầu phổ biến, nhiều người bỗng phát hiện, thì ra họ bị “viễn thị”, thế là nhu cầu về kính lại tăng cao. 100 năm sau khi máy in được phát minh, châu Âu xuất hiện hàng ngàn nhà sản xuất kính mắt, đồng thời cũng làm dấy lên cuộc cách mạng về công nghệ quang học.
Năm 1590, công ty sản xuất kính mắt Janssen Hà Lan đã lắp vài chiếc kính trong một cái ống tròn, và họ phát hiện những sinh vật quan sát qua những chiếc kính này được phóng to lên, từ đó họ phát minh ra kính hiển vi. Nha khoa học người Anh Robert Hook đã sử dụng kính hiển vi để phát hiện ra tế bào, từ đó tạo nên cuộc cách mạng khoa học và y học.
Nhưng kính hiển vi thời đầu không cho hiệu suất cao, cho đến những năm 1870, công ty Carl Zeiss của Đức đã sản xuất ra loại  kính hiển vi mới, nó được chế tạo dựa trên công thức toán học chính xác. Nhờ vào loại kính hiển vi này, bác sĩ người Đức Robert Koch đã phát hiện ra vi khuẩn mà mắt người không nhìn thấy, và cũng chứng minh cho quan điểm của bác sĩ người Hungari Ignaz Semmelweis, từ đó lý luận về vi sinh vật và vi khuẩn học ra đời. Nhờ sự ra đời về vi khuẩn học này mà con người đã dần dần thay đổi thói quen, và tuổi thọ của con người cũng được kéo dài.
Chúng ta thử nghĩ: nếu lúc đầu máy in bị cấm sử dụng, hoặc là chỉ cho phép in ấn những gì đã được kiểm duyệt, vậy sách báo sẽ không được phổ cập, nhu cầu về kính mắt cũng sẽ không lớn, kính hiển vi và kính viễn vọng cũng sẽ không được phát minh nữa, ngành vi sinh vật học cũng không được ra đời, tuổi thọ dự tính của con người cũng sẽ không tăng từ 30 lên 70, càng không thể nào mơ tới thám hiểm không gian vũ trụ.

Không bảo vệ tự do thì không xứng với danh hiệu “người Bắc Đại”

Newton mất 30 năm để phát hiện ra lực vạn vật hấp dẫn, tôi mất 3 tháng để làm rõ định luật vạn vật hấp dẫn này, nếu tôi nói mình dùng thời gian 3 tháng để đi hết con đường của Newton, mọi người có thể cảm thấy buồn cười. Ngược lại, nếu tôi quay sang cười Newton, vậy thì chỉ có thể nói tôi quá vô tri!
Chúng ta thường nói, Trung Quốc dùng 7% diện tích đất có thể trồng trọt để nuôi sống 20% người dân thế giới, nhưng chúng ta cần hỏi lại: Trung Quốc liệu có thể làm được việc đó không? Nói đơn giản, chính là sử dụng lượng lớn phân hóa học. Nếu không sử dụng phân hóa học, e là một nửa người Trung Quốc sẽ chết đói.
Công nghệ sản xuất phân đạm đến từ đâu? Hơn 100 năm trước, nhà khoa học người Đức Fritz Habe và kỹ sư Carl Bosch của công ty BASF đã phát minh ra, chứ không phải Trung Quốc phát minh ra. Năm 1972, sau chuyến thăm của Tổng thống Mỹ Nixon, Trung Quốc và Mỹ đã có thương vụ làm hợp tác đầu tiên, chính là mua 13 giàn thiết bị sản xuất Ure quy mô lớn nhất, hiện đại nhất thế giới lúc bấy giờ, trong đó có 8 giàn máy là của công ty Kellogg.
Trải qua 50 năm, 100 năm nữa khi viết lại lịch sử phát minh trên thế giới, liệu Trung Quốc có thể có tên trong đó. Chỉ có tự do, thì mới làm tinh thần và sức sáng tạo của doanh nghiệp của người Trung Quốc mới phát huy hết khả năng, biến Trung Quốc trở thành điển hình về sáng tạo cái mới.
Do đó, đẩy mạnh và bảo vệ tự do là trách nhiệm của mỗi người Trung Quốc quan tâm tới vận mệnh của đất nước, và là sứ mệnh của người của trường Đại học Bắc Kinh! Không bảo vệ tự do, thì không xứng với xưng hiệu “người Bắc Đại”!
Trí Đạt (biên dịch)
 Nguồn: Bạn đọc gửi tới.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

TIN TỨC MỚI NHẤT VỀ TÌNH HÌNH BIỂN ĐÔNG



Huy Đức
23 - -7 -2017

REPSOL CÓ THỂ PHẢI NGƯNG HAI MŨI KHOAN 
Ở BÃI TƯ CHÍNH 136/3

Lô 136/03 mà các bạn nhìn thấy trên bản đồ này là nơi thuộc chủ quyền của Việt Nam: Bãi Tư Chính. Nhưng, nó cũng là nơi, đường lưỡi bò của Trung Quốc liếm qua và Bắc Kinh gọi đó là Vạn An Bắc 21. Cả VN và TQ đều coi đây là vùng "chủ quyền không thể tranh cãi" của mình. Việc Hà Nội cho Repsol khoan thăm dò ở lô 136/03 không chỉ như một dự án khai thác dầu - khí đơn thuần mà còn như để khẳng định chủ quyền của VN ở vùng biển này.

Nhưng, ngày mai, thứ Hai, 24-7-2017, có thể Repsol sẽ phải ngưng mọi hoạt động ở đây vì các sức ép đến từ Trung Quốc.

Hai mũi khoan được bắt đầu vào ngày 18-6-2017, đúng ngày Phó chủ tịch Quân ủy Trung Quốc Phạm Tường Long tới Hà Nội. Tướng Phạm Tường Long khi đó đã bỏ về, BK triệu hồi đại sứ, đòi đàm phán ở cấp cao và đưa gần 200 tàu xuống bãi Tư Chính nhưng Hà Nội vẫn để Repsol duy trì các hoạt động khoan thăm dò. 

Nhưng lần này thì có vẻ như Hà Nội đang đơn độc.
 

Phần nhận xét hiển thị trên trang