Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2017

"Bàn về Văn hóa", những bài cũ trong một cuốn sách mới ra của Nguyễn Kiến Giang

Văn nghệ Thứ Bảy :

Một số hình ảnh về cuốn sách mới ra của học giả Nguyễn Kiến Giang, nhân ngày giỗ của ông.

Ảnh lấy về từ Fb.






Dưới là loạt bài của Nguyễn Kiến Giang đã xuất hiện trên talawas.

Có thể thấy nhiều bài trong sách chính là bản in bây giờ của bản đã xuất hiện trên talawas.


---

1. Những bài đã đi trên talawas khi cụ Nguyễn Kiến Giang còn tại thế



2. Đăng lại một ít bài lấy về từ talawas


.
18.4.2006
Nguyễn Kiến Giang

Bài này viết đầu năm 1991, theo yêu cầu của một nhóm lão thành cách mạng, trước Đại hội VII của Đảng Cộng sản Việt Nam. Các cụ rất tán thành những nội dung nêu ra. Nhưng vì những lý do nào đó, các cụ (trừ cụ Lê Giản) không muốn ký tên vào bản kiến nghị này. Tôi đành phi xin phép các cụ để tôi ký tên một mình và gửi đến những địa chỉ cần thiết.


Đặt vấn đề 


1. Tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng và kéo dài là hiện thực cơ bản, bao trùm toàn bộ đời sống xã hội nước ta, không ai không thừa nhận. Đất nước giống như một người ốm nặng, chưa gượng dậy nổi. Hơn thế nữa, căn bệnh lại có phần nguy kịch hơn và ngấm vào bên trong. Nhiệm vụ cấp bách nhất hiện nay là phải vượt qua tình trạng khủng hoảng càng sớm càng tốt. Chưa giải quyết được nhiệm vụ này, thì chưa thể nói tới bất cứ nhiệm vụ nào khác, càng chưa thể nói tới những triển vọng phát triển lâu dài của đất nước một cách cụ thể. 


Nhưng trong nhận thức cũng như trong thực tiễn, nhiều vấn đề có liên quan với khủng hoảng vẫn chưa có một sự thống nhất: khủng hoảng này là khủng hoảng gì? Thực chất của nó là thế nào? Nguyên nhân chủ yếu của nó? Có khả năng ra khỏi khủng hoảng không? Thoát ra bằng lối nào? 

Đề cương này góp phần phân tích và lý giải những câu hỏi đang làm day dứt tất cả những ai lo lắng tới vận mệnh đất nước lúc này. Trong đề cương, chỉ xin bàn tới những điểm chính, coi như những gợi ý để cùng nhau suy nghĩ và giải quyết. 



Khủng hoảng 



2. Khủng hoảng gì? 


Trong các văn kiện chính thức, khi nói tới khủng hoảng, thường dùng mấy chữ “khủng hoảng kinh tế - xã hội”. Thật ra, đó là khủng hoảng toàn diện, khủng hoảng tổng thể của xã hội, khủng hoảng trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội: kinh tế và xã hội, tinh thần và đạo đức, tư tưởng và chính trị. Khủng hoảng ở mỗi lĩnh vực vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của khủng hoảng ở các lĩnh vực khác. 

Khủng hoảng trong lĩnh vực kinh tế biểu hiện chủ yếu ở tình trạng lạc hậu kinh tế và kỹ thuật của đất nước. Trong khi nhiều nước trên thế giới đang bước qua giai đoạn văn minh hậu công nghiệp (điện tử - tin học), thì nước ta vẫn chưa ra khỏi giai đoạn văn minh tiền công nghiệp (văn minh nông nghiệp); sản xuất không đủ ăn (1.932 kilôcalo mỗi người mỗi ngày so với yêu cầu 2.300 kilocalo); không tạo được nguồn tích luỹ bên trong đáng kể, chưa đủ bảo đảm tái sản xuất giản đơn, chưa nói tới tái sản xuất mở rộng, trong khi sức ép dân số và thoái hóa môi trường sinh thái ngày càng tăng; lạm phát vẫn ở mức nghiêm trọng; mức tăng giá cả khá cao; tài sản quốc gia ngày càng giảm sút, không ít xí nghiệp đứng trước nguy cả bị mất dần tài sản, kể cả tài sản cố định; ngân sách thiếu hụt nghiêm trọng, dù mức chi ngân sách cho các hoạt động kinh tế và văn hóa rất thấp; nạn buôn lậu hoành hành, thị trường hỗn loạn... 

Các quan hệ sở hữu ở nước ta hiện nay không phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, do đó vẫn tiếp tục kìm hãm và phá hoại những năng lực sản xuất xã hội. Rõ nhất là ở khu vực sở hữu nhà nước, khu vực này đang biến thành ổ chứa những tật bệnh hiểm nghèo đối với cơ thể toàn xã hội: tham nhũng, buôn lậu và lãng phí vô tội vạ. Trong khu vực sở hữu tập thể, tuy đã thực hiện “khoán 10”, nhưng người nông dân vẫn chưa thật sự làm chủ mảnh đất của mình một cách đầy đủ, tính tích cực của họ vẫn bị hạn chế. Và cả trong khu vực sở hữu tư nhân, vẫn chưa có luật pháp bảo đảm rõ ràng để mỗi công dân yên tâm làm ăn và đầu tư lâu dài. 

Mấy năm vừa qua, kinh tế thị trường được khôi phục và phát triển khá, góp phần đáng kể vào việc giảm bớt những khó khăn về mua và bán, thúc đẩy phần nào các quá trình sản xuất và lưu thông. Đó là một phương hướng tốt, nhưng trong nền kinh tế thị trường của ta đang có nhiều yếu tố bệnh hoạn khiến cho các cơ chế thị trường lành mạnh (cạnh tranh và điều tiết) không hoạt động bình thường được, tạo diều kiện cho những thế lực đen tối lũng đoạn và phá hoại. Kết quả là sản xuất khó khăn và đình đốn, thậm chí có khi bế tắc, mức sống của người lao đông vốn rất thấp lại càng thấp hơn (nói riêng tiền lương, giá trị thực tế chỉ còn bằng 1/3 so với tháng Chín 1985), sức mua xã hội giảm sút nghiêm trọng, đời sống kinh tế chung của xã hội ngày càng khốn quẫn. 


3. Nhưng trong khi đa số nhân dân, trước hết là những người lao động lương thiện, lâm vào cảnh nghèo khổ chưa tìm thấy lối thoát, trì trớ trêu thay, một tầng lớp xã hội nhỏ bé lại chiếm đoạt của cải của đất nước một cách ngang nhiên. Tất nhiên, ở đây không nói tới những người do sức lực và trí tuệ của mình mà trở nên giàu có một cách chính đáng (đối với những người này, cần tạo thêm điều kiện thuận lợi hơn để họ có thể giàu có hơn, điều đó chỉ có lợi chung cho đất nước). ở đây chỉ muốn nói tới những phần tử lợi dụng chức vụ và thế lực trong bộ máy nhà nước để hưởng đặc quyền đặc lợi, để kiếm bổng lộc, để tham nhũng, và những phần tử buôn gian bán lận, đầu cơ tích trữ, chiếm đoạt tài sản của nhà nước và nhân dân. Trong xã hội đã hình thành khá rõ một tầng lớp “tư sản không văn minh” mang tính chất lưu manh, về thực chất cả bọn này lẫn bọn kia đều ăn cắp của nhà nước và nhân dân (trong khi xã hội đang cần có một tầng lớp “tư sản văn minh” để có thể vượt qua tình trạng lạc hậu về kinh tế và kỹ thuật nhanh hơn). Điều không tránh khỏi đã xẩy ra: những phần tử thoái hóa biến chất trong bộ máy nhà nước móc ngoặc với những phần tử tư sản lưu manh trong xã hội, kết thành những mafia có thế lực khá lớn. Chế độ ta lâm vào thế hiểm nghèo vì sự phá hoại và lũng đoạn của chúng. 


Sự phân hóa xã hội không lành mạnh đang diễn ra. Một số người ăn tiêu xả láng, phè phỡn trên những đống của kiếm được bằng ăn cắp. Còn đại đa số dân ta, những người lao động lương thiện, ngày càng khốn khổ. Tiền lương thực tế không đủ nuôi bản thân. Hàng chục vạn vạn người “dư dôi”, thực chất là thất nghiệp. Nông dân đã kiệt quệ trong những năm “hợp tác” trước đây, tuy có khá hơn sau khi thực hiện “khoán 10”, vẫn sống nheo nhóc vì bị ăn chặn ở các khâu bán ra, mua vào (cả tư thương lẫn quốc doanh) và vì đóng góp quá sức. Trí thức không sống được bằng “chất xám”, bằng năng lực và tài năng, phải kiếm ăn bằng “tay trái”, phải “xuất khẩu lao động” để tự cứu. 

Khủng hoảng ở nước ta hiện nay mang tính chất xã hội rõ rệt với những mâu thuẫn xã hội ngày càng sâu sắc. Nghèo khổ lạc hậu cộng với bất công xã hội làm cho tình hình xã hội rất ngột ngạt, căng thẳng. 


4. Trong hoàn cảnh đó, khủng hoảng về tinh thần và tư tưởng là không thể tránh khỏi. Số đông nhân dân - nhất là lớp trẻ - mất niềm tin vào những lý tưởng ban đầu của cách mạng và chế độ. Chưa bao giờ con người sống chông chênh và lo lắng như bây giờ. Chưa bao giờ đạo đức xã hội bị xói mòn và băng hoại như bây giờ. Tội ác xẩy ra ngày càng tăng, mang những hình thức nghiêm trọng hiếm thấy. Nạn mãi dâm lan tràn hơn cả dưới chế độ cũ. Trộm cướp, trấn lột, giết người, lừa đảo... là những hiện tượng phổ biến. Các giá trị tinh thần của xã hội bị lật ngược: người ngay sợ kẻ gian, người lương thiện có năng lực sống khổ cực hơn kẻ cơ hội; xu nịnh trở thành “mốt” phổ biến. Tiếng nói của người dân không được nghe, những nỗi oan của người “thấp cổ bé miệng” không được giải, mọi ý kiến xây dựng chân thành bị coi là “xấu” chỉ vì khác ý kiến chính thống. Năng lực sáng tạo về khoa học và nghệ thuật vẫn bị kìm hãm nặng nề. Chán nản và dửng dưng với tình hình đất nước là nét chủ yếu của tâm lý xã hội hiện nay. Sức chống cự đối với những “tiêu cực xã hội” ngày càng suy giảm. 



5. Khủng hoảng có khía cạnh quốc tế của nó. Thế giới đang chuyển mình mạnh mẽ trên con đường văn minh ngày càng cao của loài người. Quốc tế hóa sản xuất và đời sống tăng lên nhanh chóng. Một loạt nước vốn lạc hậu đang vưn lên trình độ những “nước công nghiệp mới” (NICs). Xu thế dân chủ hóa phát triển rộng rãi và mạnh mẽ. Trong khi đó, nước ta vẫn sống trong thế cô lập với thế giới bên ngoài. Khoảng cách giữa nước ta và các nước khác (kể cả các nước trong khu vực) tăng thêm một cách đáng lo ngại. Chưa có những biện pháp mạnh bạo, có hiệu quả để đưa nước ta hòa nhập với cộng đồng thế giới, nhất là về kinh tế và khoa học - kỹ thuật. Tính chất lạc hậu và, nói như một nhà nghiên cứu, tính chất lạc điệu của nước ta càng nổi bật lên, tạo thành một sức ép tinh thần lớn đối với nhân dân, nhất là lớp trẻ và giới trí thức. Nỗi nhục đất nước lạc hậu cũng nặng nề như nỗi nhục mất nước trước đây. Những biến động ở một loạt nước trong “hệ thống xã hội chủ nghĩa” trước đây đặt ra những câu hỏi không dễ dàng giải đáp về triển vọng phát triển của chủ nghĩa xã hội. Nhưng những phản ứng giản đơn hóa, theo tư duy cũ kỹ, đối với những quá trình mới mẻ ấy càng làm cho nước ta lạc điệu hơn, tự tách mình khỏi các quá trình chung của thế giới và, cuối cùng, làm cho nhiều người trong nước mất phương hướng trong công cuộc đổi mới hiện nay. 



6. Những mặt khủng hoảng nói trên tạo thành một cục rối khó gỡ, vì rất khó tìm thấy đầu mối. Nhưng ở một nước mà tất cả các mặt đời sống xã hội và cá nhân đều do một bộ máy lãnh đạo và quản lý chung chi phối như ở nước ta, thì tất cả các mặt khủng hoảng của xã hội đều được phản ảnh, kết tụ ở mặt chính trị. Khủng hoảng ở nước ta hiện nay tập trung nhất ở khủng hoảng chính trị


Khi mọi mặt đời sống xã hội và cá nhân đều phục tùng một trung tâm là bộ máy “Đảng - Nhà nước”, thì rõ ràng bộ máy đó phải chịu trách nhiệm trước tiên và toàn bộ về tình trạng khủng hoảng (cũng như trước đây Đảng và nhà nước được dân chúng tôn làm người lãnh đạo tuyệt đối trong chiến đấu chống ngoại xâm). 

Đảng duy trì địa vị độc tôn quá lâu, biến sự lãnh đạo của mình là một tất yếu khách quan trong đấu tranh giải phóng dân tộc thành chế độ Đảng trị là một áp đặt chủ quan. Chủ trương hòa hợp dân tộc và thực hiện các quyền dân chủ của nhân dân, như đã hứa hẹn trong những năm chiến đấu chống xâm lược, đã không được thực hiện, làm triệt tiêu sớm sự phấn khởi của nhân dân sau khi vừa giành được thắng lợi. Những thái độ biệt phái, độc tôn, kèm theo những biện pháp “chuyên chính” tràn lan, kể cả với những bạn đồng hành cũ cũng như với những người trong đội ngũ, đã biến sự lãnh đạo của Đảng thành một sự áp đặt độc đoán lên toàn xã hội. Tệ quan liêu, chuyên quyền có điều kiện lộng hành. Cộng thêm vào đó là trình độ thấp kém của không ít người lãnh đạo các cấp của Đảng, sự thoái hóa biến chất nhanh chóng của nhiều người trong bộ máy quản lý và lãnh đạo càng làm cho Đảng mất uy tín vốn có. Trong khi đó, những nhân tố lành mạnh trong bộ máy và trong đội ngũ Đảng bị gạt bỏ hoặc bị vô hiệu hóa. Dân chủ trong Đảng và trong xã hội chỉ còn là thuần túy hình thức. Tóm lại, từ chỗ Đảng là lãnh tụ được nhân dân thừa nhận, Đảng đã làm suy yếu vai trò đó trong thực tế. Đảng đứng lên trên nhân dân và không hề chịu sự kiểm soát của nhân dân. Mất dân chủ trong Đảng và trong xã hội là nguồn gốc chủ yếu dẫn tới chỗ làm yếu sức mạnh của Đảng, làm khủng hoảng trở nên trầm trọng hơn, càng khó tìm thấy lối thoát hơn (đặc biệt đối với số đông nhân dân vốn quen chờ đợi thụ động những quyết định của lãnh đạo). 

Trong những điều kiện đó, không thể nói tới một nhà nước pháp quyền vì luật pháp được vận dụng một cách tùy tiện và các công dân không được bảo đảm bình đẳng trước pháp luật. Chưa nói tới luật pháp vừa thiếu, vừa không phù hợp với những chuẩn mực luật pháp quốc tế (đặc biệt về các quyền con người trong Hiến chương Liên hợp quốc về các quyền con người mà nước ta đã ký). Xã hội gần như sống trong trạng thái không có luật pháp. Chỉ cần nhắc tới một sự thật cũng đủ thấy: cho tới nay đã phát hiện hơn 10.000 vụ tham nhũng, nhưng chỉ mới đưa ra xét xử vài chục vụ và cũng không xét xử đến nơi đến chốn. Chính đó là một yếu tố tăng thêm tình trạng khủng hoảng của xã hội. 


7. Xem xét một cách khách quan, từ sau Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong xã hội đã xuất hiện một số thay đổi theo chiều hướng tích cực. Lạm phát bị đẩy lùi, thị trường có nhiều hàng hóa, kinh tế thị trường bắt đầu phát huy những tác dụng có lợi cho sự ổn định và phát triển kinh tế, các thành phần kinh tế khác nhau bắt đầu được khuyến khích, việc mở cửa hợp tác với nước ngoài được chú trọng hơn. Không khí xã hội bắt đầu cởi mở hơn. Trong nhân dân bắt đầu nhen lên những hy vọng mới. 


Nhưng những hy vọng vừa nhen nhóm ấy bị nguội lạnh dần vì lại xuất hiện những khó khăn mới trong đời sống kinh tế và xã hội và vì những chủ trương hạn chế dân chủ trở lại. Tình trạng khủng hoảng, do đó, càng trở nên trầm trọng hơn, nan giải hơn. Có thể nói khủng hoảng chỉ dịu bớt ở một vài biểu hiện của nó (lạm phát, thiếu hụt hàng hóa...), nhưng những biểu hiện chủ yếu của nó trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đã nói ở trên vẫn nặng nề, thậm chí có chiều hướng tăng lên


8. Nguyên nhân của khủng hoảng là gì? 


Trong các văn bản chính thức, có nói nguyên nhân của khủng hoảng là do: “nguồn gốc lịch sử sâu xa để lại và hậu quả của nhiều năm chiến tranh, song nguyên nhân chủ yếu là do chúng ta đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình mang nặng tính giáo điều, rập khuôn và chủ quan duy ý chí” (Dự thảo chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đến năm 2000). Nói như vậy, đúng nhưng chưa đủ, chưa thật rõ. 

Vấn đề không phải là đã xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình không đúng, mà đã phạm sai lầm cả khi đặt ra nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc nước ta sau năm 1954, khi vừa giải phóng miền Bắc, và sau đó mở rộng nhiệm vụ ấy ra cả nước sau chiến thắng 1975 giải phóng cả nước, với chiến lược chung là cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội. Đây là một ngộ nhận lịch sử: một đất nước vừa trải qua hàng chục năm chiến tranh giải phóng dân tộc, chưa kịp bình thường hóa đời sống nhân dân, chưa thực hiện được bao nhiêu những nhiệm vụ cách mạng dân chủ, cũng chưa có những tiền đề cần thiết về vật chất và xã hội để xây dựng chủ nghĩa xã hội; ở một đất nước như vậy mà chúng ta lại vội vàng đặt ra nhiệm vụ chiến lược “cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội”. Nói cách khác, khi đặt ra nhiệm vụ này, đã xuất phát từ một sơ đồ lý luận trừu tượng (làm xong cách mạng dân tộc dân chủ, chuyển ngay sang cách mạng xã hội chủ nghĩa theo lý luận “cách mạng không ngừng”), mà không xuất phát từ hoàn cảnh cụ thể lịch sử của nước ta lúc đó. Đã thế, khi xây dựng chủ nghĩa xã hội, lại theo một mô hình mà ngày nay chúng ta gọi là “chủ nghĩa xã hội nhà nước”, “chủ nghĩa xã hội tập trung quan liêu”, trong thực tế không dính dáng gì tới chủ nghĩa xã hội cả, mà là nhà nước hóa tất cả theo một kế hoạch và một sự lãnh đạo tập trung quan liêu.

Sau ngày giải phóng đất nước, nếu xuất phát từ tình hình thực tế lúc đó, đáng lẽ phải làm cho bằng được mấy nhiệm vụ sau đây: 


Thứ nhất, bình thường hóa đời sống nhân dân và đời sống xã hội sau hàng chục năm chiến tranh. Sức dân đã cạn kiệt, phải khôi phục một cuộc sống bình thường cho nhân dân, bù đắp những hy sinh và thiệt hại của nhân dân trong chiến tranh và nâng mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân lên một trình độ cần thiết. Điều đó đã không được thực hiện. Cả di chúc của Hồ Chí Minh về mặt này cũng không được coi trọng. Nhân dân bị tiếp tục động viên quá căng thẳng vào những kế hoạch xây dựng mới, qui mô quá lớn và mang tính chất phiêu lưu. Xin nhớ rằng ngay hiện nay, gần 16 năm sau chiến tranh, những nơi bị chiến tranh tàn phá vẫn chưa được xây dựng lại bao nhiêu, có nơi các bà mẹ liệt sĩ vẫn chui ra chui vào những túp lều tạm bợ. Sức dân sau chiến tranh chưa được bồi dưỡng. Những thương tích chiến tranh trên cơ thể và tâm hồn người dân chưa lành lặn. Những nghiên cứu gần đây cho thấy tình trạng suy thoái giống nòi thật đáng lo ngại: khoảng một nửa dân số, nhất là trẻ em, bị suy dinh dưỡng, khoảng 10% dân số mắc các chứng tâm thần, trọng lượng trẻ sơ sinh dưới mức trung bình, năng lực trí tuệ của trẻ em giảm sút. Tất cả những vấn đề đó chưa được nêu lên và giải quyết tận gốc. 



Thứ hai, phải xây dựng một xã hội công dân đúng theo nghĩa của nó. Xã hội Việt Nam, trong những chế độ phong kiến và thực dân trước đây là một xã hội “thần dân”, trong đó mọi người dân không có quyền gì, chỉ phục tùng bộ máy thống trị, phục tùng nhà nước phong kiến và thực dân. Nhân dân làm cách mạng và tiến hành kháng chiến lâu dài không chỉ để giành độc lập cho tổ quốc, mà còn giành dân chủ và tự do cho chính mình. Trong kháng chiến, người dân nén lại những yêu cầu về dân chủ, tự do lại, tập trung mọi lực lượng giải quyết nhiệm vụ giành độc lập dân tộc. Lẽ ra, sau khi kháng chiến thành công, phải chuyển một cách nhanh chóng sang xã hội công dân, trong đó mỗi người dân là người chủ thật sự của đất nước, mọi quyền lực là của nhân dân. Nhưng 45 năm sau cách mạng, quyền lực chỉ thuộc về nhân dân trên danh nghĩa, trong thực tế là thuộc bộ máy Đảng - Nhà nước. Xã hội chịu sự chi phối của một bộ máy cầm quyền vốn từ nhân dân mà ra, nhưng dần dần biến thành một bộ máy quan liêu, đứng lên trên nhân dân. 


Nói cách khác, nguyên nhân sâu xa nhất của tình trạng khủng hoảng là sau khi giành được độc lập, nhân dân chưa có hạnh phúc và tự do, đúng như những tiêu ngữ ban đầu được đề ra trong Cách mạng tháng Tám 1945: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Năm xưa, khi cách mạng mới thành công, Hồ Chí Minh đã dự cảm rất sâu sắc: “Nước độc lập mà dân không có tự do, hạnh phúc, thì độc lập không có ý nghĩa gì”. Khủng hoảng bắt nguồn chính ở điểm này: những lý tưởng của cuộc cách mạng đã bị thực tiễn đi ngược lại, phản lại. Chiều sâu của khủng hoảng trước hết là ở sự hẫng hụt trong nhân dân, người làm nên thắng lợi của cách mạng và kháng chiến, đối với các mục tiêu tự do, hạnh phúc, dân chủ lẽ ra họ được hưởng, dù chỉ một phần. 


9. Trong bối cảnh lịch sử thế giới, có thể xem xét nguyên nhân khủng hoảng hiện nay ở nước ta cả ở những nguyên lý của chủ nghĩa xã hội đã được thực hiện như đấu tranh giai cấp, chuyên chính vô sản, chế độ sở hữu xã hội dưới hình thức nhà nước hóa, v.v... Khủng hoảng ở nước ta gắn với chính bản thân chủ nghĩa xã hội, và ở một mức độ nào đó, là một bộ phận của sự khủng hoảng đó. Vấn đề không phải ở những lý tưởng giải phóng lao động, giải phóng con người của chủ nghĩa xã hội, mà là ở những con đường, những phương tiện, những biện pháp đạt tới những lý tưởng đó. Khó có thể vượt qua khủng hoảng ở nước ta nếu vẫn giữ nguyên cách hiểu về chủ nghĩa xã hội như đã có cho đến nay. (Đây là một vấn đề vô cùng trọng yếu về lý luận và thực tiễn của chủ nghĩa xã hội, có ý nghĩa quyết định vận mệnh lịch sử của nó, xin bàn ở một dịp khác). 



10. Tóm lại, khủng hoảng ở nước ta hiện nay là khủng hoảng toàn diện, tổng thể của chế độ xã hội chúng ta, ở ngay những nền tảng của nó. Đó là điểm xuất phát chủ yếu để tìm lối ra. 




Lối ra 



11. Cuộc khủng hoảng này có lối ra không? 


Xin trả lời: có. Vấn đề chỉ là sớm hay muộn, phải trả giá ít hay nhiều. Trong những điều kiện của nước ta hiện nay, chỉ cần Đảng và nhân dân cùng nhau tìm kiếm một lối ra thích hợp, với tinh thần chủ động, có thể sớm thoát khỏi khủng hoảng và xã hội khỏi phải trả giá nặng nề. 

Nếu không làm được như vậy, cuối cùng sẽ phải trả giá đau đớn đối với nhân dân cũng như đối với chính bản thân Đảng. Trong triển vọng này, sẽ xẩy ra mấy khả năng: 

  • Hoặc là những bùng nổ không kiểm soát được chỉ có lợi cho những thế lực đen tối trong xã hội; 

  • Hoặc là đất nước rơi vào chứng hoại thư, đi tới sự sụp đổ nguy hiểm; 

  • Hoặc là khủng hoảng vẫn kéo dài triền miên, chế độ xã hội do cách mạng thiết lập bị dần dần biến chất, những lý tưởng của cuộc cách mạng nhân dân bị hoàn toàn phản bội.
Cần khẳng định: trong hoàn cảnh thế giới và đất nước hiện nay, chúng ta có đủ những tiền đề và điều kiện cần thiết để thoát khỏi khủng hoảng


  • Về mặt quốc tế, chúng ta đang chịu nhiều sức ép mạnh mẽ từ bên ngoài, nhưng đồng thời các quá trình quốc tế hóa kinh tế, tiến bộ khoa học - công nghệ, cũng như dân chủ hóa đời sống xã hội đang tạo ra những điều kiện chưa từng có để giúp ta nhanh chóng khắc phục khủng hoảng, vượt qua tình trạng lạc hậu, hòa chung vào những trào lưu văn minh hiện đại. Nước ta cần hợp tác với các nước khác, trong khi các nước khác cũng cần hợp tác với nước ta. Ngay cả những nước thi hành chính sách bao vây, cấm vận cũng đang dần dần từ bỏ chính sách lỗi thời đó, phù hợp với xu thế chung của thời đại chuyển từ đối đầu sang đấu tranh, đối thoại và hợp tác. 

  • Ở trong nước, những nhân tố mới đã hình thành ở một mức độ đáng kể: ý thức xã hội chuyển động mạnh mẽ theo hướng đoạn tuyệt với những sai lầm cũ về nhận thức và thực tiễn xã hội, đặc biệt nổi lên trong mấy năm đổi mới hai quá trình tiến bộ có liên quan mật thiết với nhau là sự hình thành từng bước một nền kinh tế thị trưòng và sự mở đầu dân chủ hóa các mặt đời sống xã hôị. Có thể nói trong lịch sử dân tộc, chưa có thời kỳ nào có những biến đổi sâu sắc, đụng tới những nền móng xã hội như hiện nay. Tuy có những bước đi khúc khuỷu, vòng vèo, gay go, nhưng xu thế đổi mới là không thể đảo ngược. Hiệu quả kinh tế, đời sống ổn định và cải thiện, công bằng xã hội, các quyền dân chủ và tự do cá nhân, luật pháp và kỷ cương - đó là những nguyện vọng thấm sâu trong tất cả các tầng lớp nhân dân đông đảo. Những lực lượng ủng hộ đổi mới có ở khắp nơi, nhưng vì chưa có một sự động viên có hiệu quả, dựa trên những phương hướng và chủ trương đủ tin cậy, nên chưa phát huy được tác dụng quyết định, chưa đủ sức đè bẹp xu hướng bảo thủ đang tồn tại dai dẳng và đang cố bám lấy những vị trí chủ đạo trong xã hội (thậm chí có nơi còn phản kích quyết liệt chống các lực lượng đổi mới). Chỉ cần một sự lãnh đạo sáng suốt, có những chủ trương mạnh bạo nhưng không phiêu lưu, những biện pháp hợp lòng dân, là có thể dấy lên cao trào quần chúng rộng lớn thúc đẩy đổi mới căn bản các mặt đời sống xã hội.

12. Có hai điểm cần làm rõ: 


  • Có người lo ngại nếu đẩy mạnh quá trình đổi mới, dân chủ hóa, thì sẽ dẫn tới hỗn loạn như ở các nước Đông Âu. Thật ra ở các nước đó, dân chủ hóa từ lâu đã trở thành một yêu cầu chín muồi của xã hội, nhưng do lãnh đạo không nhận thức ra nên đã lâm vào thế đối phó bị động, đưa ra những biện pháp nửa vời, không chủ động và triệt để trong việc lãnh đạo quá trình này. Bài học lớn của các nước Đông Âu không phải là bài học kìm giữ và bị động đối phó đối với dân chủ hóa và đổi mới, mà là bài học về tính chủ động trong việc thực hiện dân chủ hóa và đổi mới từng bước, vững chắc theo hướng triệt để. 

  • Gắn liền với điều đó, có người lo ngại Đảng sẽ bị tước bỏ sự lãnh đạo đối với xã hội. Thật ra, chỉ có đảng nào không gắn bó với nhân dân, biến sự lãnh đạo của mình thành chế độ đảng trị và cố bám giữ lấy nó, thì triển vọng sụp đổ là không thể tránh khỏi. Còn những đảng đã cùng với nhân dân chiến đấu và hy sinh trong hàng chục năm đấu tranh giải phóng, có uy tín lớn về mặt lịch sử - như Đảng Cộng sản Việt Nam - lại tự đổi mới căn bản về tư duy lý luận, về đường lối chính trị và về tổ chức đội ngũ của mình, từ bỏ chế độ đảng trị; những đảng như vậy có thể duy trì và tăng thêm vị trí và tác động của mình trong quá trình đổi mới và dân chủ hóa ngày càng triệt để.

13. Khắc phục khủng hoảng là nhiệm vụ cấp bách nhất, đồng thời cũng là chuẩn bị mảnh đất tốt cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Chủ nghĩa xã hội được coi là định hướng phát triển của xã hội nước ta nhằm đi tới một xã hội bảo đảm công bằng xã hội, bảo đảm sự phát triển tự do và toàn diện của toàn xã hội. Nhưng chừng nào chưa xây dựng được những quan niệm rõ ràng và chính xác về nội dung của chủ nghĩa xã hội, về những yếu tố cấu thành của nó, về những con đường và biện pháp có hiệu quả để đi tới chủ nghĩa xã hội (sau khi mô hình “chủ nghĩa xã hội nhà nước” đã phá sản), thì chừng đó chưa nên đặt xây dựng chủ nghĩa xã hội thành nhiệm vụ trực tiếp, cũng chưa nên nói tới một thời kỳ quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội nếu không muốn tự mình trói tay mình. 


Phải chăng như thế là bỏ mất phương hướng triển vọng? Không. Bản thân quá trình khắc phục khủng hoảng đã chứa đựng những yếu tố có ý nghĩa cơ bản đối với sự phát triển lâu dài của đất nước theo hướng chủ nghĩa xã hội. Bởi vì, chủ nghĩa xã hội chỉ có thể nảy sinh và được xây dựng trên nền tảng một xã hội phát triển bình thường  lành mạnh, trên nền tảng những giá trị văn minh chung của loài người đã được lịch sử kho nghiệm: xã hội công dân, kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền, dân chủ v.v... 


14. Một chương trình khắc phục khủng hoảng có hiệu quả phải là một chương trình toàn diện, tổng thể, đồng bộ. Không thể khắc phục khủng hoảng một cách riêng rẽ ở lĩnh vực nào. Có người quan niệm quá đơn giản rằng chỉ cần khắc phục khủng hoảng trong lĩnh vực kinh tế là có thể khắc phục được khủng hoảng nói chung. Không ai xem nhẹ lĩnh vực kinh tế, đó là lĩnh vực quyết định toàn bộ đời sống xã hội, xét đến cùng. Nhưng hiện nay, các lĩnh vực đời sống xã hội tác động trực tiếp lẫn nhau đến mức khó tách riêng ra. Hơn nữa, có khi phải giải quyết ở một khâu khác mới có thể giải quyết được ở khâu kinh tế (chẳng hạn, phải tách Đảng ra khỏi các chức năng nhà nước, phải tách nhà nước ra khỏi các chức năng quản lý và điều hành kinh tế, mới có thể có một sự vận hành có hiệu quả của guồng máy kinh tế xã hội). 



15. Chương trình khắc phục khủng hoảng có những mục tiêu rõ ràng của nó. Có thể hình dung những mục tiêu đó như sau: 


  1. Nền kinh tế quốc dân hoạt động bình thường, chặn được lạm phát và tốc độ tăng giá, thiết lập được kinh tế thị trường. 

  2. Kỷ cương xã hội được phục hồi, luật pháp được hoàn thiện và có hiệu lực vững chắc, nhất là nạn tham nhũng và buôn lậu và những tội phạm hình sự nghiêm trọng được trừ bỏ về cơ bản. 

  3. Công bằng xã hội được lập lại phù hợp với trình độ xã hội hiện có, theo nguyên tắc “sống bằng nguồn thu nhập chính đáng và hợp pháp của mỗi người” (do lao động, kinh doanh, lợi tức về vốn và các hoạt động hợp pháp khác). 

  4. Những nền tảng của xã hội công dân được thiết lập; quyền sở hữu của công dân được xác lập và tôn trọng; các quyền dân chủ và tự do cá nhân do Hiến pháp qui định được thực hiện nghiêm túc; công dân thật sự làm chủ nhà nước của mình. 

  5. Hòa bình của đất nước được giữ vững, các quan hệ hợp tác với các nước khác được thiết lập và phát triển theo tinh thần hòa hiếu, cùng có lợi.
Tóm lại, đó là một trạng thái bình thường và lành mạnh của đời sống xã hội mà chúng ta cùng nhau cố gắng đạt tới vào giữa những năm 90 này. 


16. Một chương trình như vậy phải là kết quả công sức, là kết tinh trí tuệ của mọi người, trước hết của những chuyên gia giỏi trog các lĩnh vực khác nhau mà ta không thiếu. Có những bài toán thật hóc hiểm (vốn, hòa nhập thị trường thế giới, ngăn chặn sự xuống cấp về y tế, giáo dục...) nhưng nếu biết tập hợp và tôn trọng đầy đủ những “bộ óc” lớn của dân tộc, ta sẽ có một chương trình khắc phục khủng hoảng với những biện pháp tối ưu. Có thể coi đó là một trong những bước đi quan trọng nhất của quá trình dân chủ hóa. Không ai một mình (một cá nhân hay một tập thể nhỏ) thay thế được trí tuệ chung của dân tộc. ở đây chỉ xin gợi ý một số điểm về kinh tế, xã hội, tinh thần và tư tưởng, quan hệ quốc tế và chính trị. 



17. Về kinh tế, tiếp tục xây dựng một nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó. Có hai vấn đề cần giải quyết sớm để cho kinh tế thị trường hoạt động bình thường và lành mạnh: 



  1. Thay đổi các quan hệ sở hữu: Trước hết, sắp xếp và chấn chỉnh toàn bộ hệ thống sở hữu nhà nước. Trừ những ngành, những cơ sở kinh tế nhà nước có ý nghĩa quyết định đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân (ngân hàng phát hành, giao thông vận tải chiến lược, bưu điện, các trung tâm năng lượng lớn, công nghiệp quốc phòng...), cần thực hiện việc chuyển sở hữu nhà nước thành sở hữu cổ phần và sở hữu tư nhân đối với những phần còn lại. (Thật ra, sở hữu cổ phần về thực chất cũng là sở hữu tư nhân nhưng được xã hội hóa ở một mức độ nhất định). Làm như vậy để có những người chủ sở hữu thật sự, chấm dứt tình trạng vô chủ “cha chung không ai khóc” cũng như tình trạng lũng đoạn sở hữu nhà nước vì lợi ích riêng của những người điều hành nó. Đó chính là cơ sở để trừ bỏ tệ tham nhũng và lãng phí vô cùng nghiêm trọng hiện nay. Theo tính toán, khu vực sở hữu nhà nước ở những nước công nghiệp phát triển chỉ chiếm khoảng 25 - 30% tổng sản phẩm quốc dân, mới bảo đảm có hiệu quả. ở nước ta, với trình độ phát triển kinh tế thấp hơn, có lẽ tỉ lệ ấy còn thấp hơn. Quá trình “phi nhà nước hóa” này được thực hiện sao cho cuối cùng những người lao động trong khu vực nhà nước (trừ những cơ sở quốc doanh còn duy trì) có quyền sở hữu của chính bản thân mình, trước hết là những người đã đóng góp nhiều cho chiến đấu và xây dựng đất nước nhưng hiện nay “tay trắng”. Một đạo luật về sở hữu là hết sức cần thiết để bảo đảm sở hữu tư nhân vĩnh viễn và không bị xâm phạm, tạo điều kiện thu hút vốn trong nước để phát triển kinh tế (các chủ sở hữu tư nhân sẵn sang bỏ vốn kinh doanh mà không sợ bị tước đoạt trong tưong lai).

    Đối với nông dân, thực hiện quyền có (droit de possession) ruộng đất lâu dài, kể cả quyền thừa kế và chuyển nhượng, để nông hoàn toàn làm chủ mảnh đất của riêng họ. Giải thể các hợp tác xã cũ. Lập các hợp tác xã mới theo nhu cầu và nguyện vọng của nông dân (các hợp tác xã theo chiều dọc: tín dụng, mua bán, kỹ thuật... mà không phải theo đơn vị hành chính). Nhà nước hỗ trợ cho nông dân về tín dụng (lập ngân hàng tín dụng nông nghiệp cho các hộ nông dân vay vốn). 

  2. Sức lao động là hàng hóa được trả theo đúng giá trị của nó. Đối với những người làm công ăn lương, thi hành chế độ tiền lương theo đúng giá trị sức lao động. Bảo đảm tiền lương trung bình bù đắp được những hao phí lao động, những nhu cầu giải trí, nghỉ ngơi, nuôi con để tái sản xuất sức lao động. Tạm thời có thể lấy mức lương khởi điểm qui định hồi tháng chín 1955 (88 kg gạo). Cải cách triệt để chế độ tiền lương theo nguyên tắc “gắn tiền lương với hiệu quả cuối cùng của lao động”. Chống chủ nghĩa bình quân. Trên cơ sở tính đúng tiền lương, sắp xếp lại lao động, giảm mạnh biên chế, tăng cường kỷ luật lao động nghiêm ngặt. Đối với những người không bố trí được việc làm ở nơi làm cũ, thực hiện chế độ trợ cấp thôi việc ở mức họ có thể sinh sống độc lập với mức thu nhập tối thiểu cần thiết. Bảo đảm lương hưu theo mức lương chung, coi đó là sự đền bù xứng đáng đối với những lão thành trong chiến đấu và lao động.
Lấy đâu ra tiền để làm những việc này? Theo tính toán của một số chuyên gia, chỉ cần sắp xếp lao động hợp lý, loại bỏ các khoản “tiêu cực phí” (tiếp khách, quà cáp, phết phẩy...), loại bỏ tham nhũng và lãng phí, cộng thêm với sự hỗ trợ tín dụng của ngân hàng ban đầu, là có thể căn bản giải quyết được vấn đề. Kéo dài chế độ tiền lương như hiện nay, không thể nào bảo đảm hiệu quả kinh tế, không thể nào củng cố được kỷ luật và kỷ cương lao động, xã hội vẫn phi gánh chịu một khoản “trợ cấp xã hội” khổng lồ. 


18. Về mặt xã hội, mấy điểm quan trọng nhất là: 


  1. Giải quyết việc làm cho những người thất nghiệp và những người đến tuổi lao động. Con đường chủ yếu để tạo ra nhiều việc làm là phát triển kinh doanh sản xuất và dịch vụ theo kiểu cá thể và hợp tác (dựa trên sở hữu tư nhân dưới hình thức riêng lẻ, hợp tác hoặc góp cổ phần), được nhà nước hỗ trợ về phương hướng kinh doanh, đào tạo nghề nghiệp và tín dụng. Cần tính đến chiến lược xuất khẩu lao động theo nguyên tắc kinh doanh, do các công ty nhà nước và tư nhân đảm nhận, được nhà nước bảo trợ về pháp lý. 

  2. Bằng mọi cách khắc phục những vi phạm công bằng xã hội, đặc biệt chống tham nhũng, chống kinh doanh bất hợp pháp. Phá vỡ và trừ bỏ các mafia, trừng trị nhanh chóng và đúng luật pháp tất cả những kẻ tội phạm, coi tội phạm kinh tế là tội phạm quốc gia nghiêm trọng và nhất thiết tước đoạt lại tài sản của nhà nước và nhân dân bị chiếm đoạt. 

  3. Chuẩn bị kỹ lưỡng và thực hiện cải cách về nhà ở thuộc nhà nước quản lý. Quỹ nhà ở phải được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, chống đặc quyền đặc lợi. Nhà nước cấp quyền sở hữu về nhà ở cho những người lao động từng đóng góp xứng đáng vào kinh tế quốc dân, có tính đến công lao trong chến đấu và lao động. Công khai hóa việc phân phối nhà ở và tư nhân hóa nhà ở. Kiên quyết lấy lại nhà ở quá tiêu chuẩn chung từ những kẻ đặc quyền đặc lợi và chiếm dụng bất hợp pháp. Dành những nguồn lực cần thiết để xây dựng nhà ở cho các gia đình liệt sĩ, thương binh nặng chưa có nhà ở tử tế (trong thời hạn năm năm).

19. Trong lĩnh vực tinh thần và tư tưởng, điều quan trọng nhất là bảo vệ và phát huy năng lực trí tuệ của giới trí thức. Tuyển chọn và bồi dưỡng nhân tài phải là quốc sách hàng đầu. Bảo đảm quyền sở hữu về trí tuệ (công trình khoa học, tác phẩm nghệ thuật, phát minh sáng chế). Tôn trọng tự do tư tưởng và tự do sáng tác. Đặc biệt, phải tôn trọng tự do báo chí. Báo chí có quyền thông tin, bàn luận về tất cả các vấn đề của đời sống quốc tế và trong nước, trừ những điều bị luật pháp cấm (bí mật quốc gia thật sự). Bảo đảm tính độc lập của báo chí. Cho phép xuất bản những tờ báo do các tập thể côg dân chủ trương. Một không khí tự do tư tưởng lành mạnh sẽ là một lực thúc đẩy sự phát triển có hiệu quả, một bảo đảm vững chắc để xây dựng xã hội công dân. 



20. Trong lĩnh vực quan hệ quốc tế, trước hết phải bằng mọi cách phá thế cô lập của nước ta trong khu vực cũng như trên thế giới. Chính sách đối ngoại xuất phát từ những lợi ích quốc gia và lợi ích an ninh trong vùng và trên thế giới, không xuất phát từ những quan niệm thuộc hệ tư tưởng, nhất là quan niệm “hai phe” theo kiểu đấu tranh giai cấp “ai thắng ai” (những quan niệm về hệ tư tưởng là của các cá nhân, các tổ chức chính trị và xã hội, mà không thuộc quốc gia), không để những bất đồng về hệ tư tưởng biến thành những trở ngại về quan hệ quốc tế của nước ta. Thực hiện chính sách đối ngoại hòa hiếu với tất cả các nước trên cơ sở cùng có lợi, đồng thời giữ vẹn tình nghĩa đối với nhân dân các nước đã từng giúp ta trong đấu tranh giải phóng và xây dựng đát nước. Không để ai can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta, cũng không can thiệp vào công việc nội bộ của nước ngoài, kể cả Lào và Campuchia. 


Chủ động tạo ra những tiền đề và điều kiện hòa nhập vào nền kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương và thế giới, thu hút các nguồn đầu tư và công nghệ hiện đại từ nước ngoài bằng nhiều hình thức: lập các “khu kinh tế tự do” (chẳng hạn, Hải Phòng, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh), đầu tư vốn, liên doanh, v.v... Nhưng cần nhớ rằng đầu tư nước ngoài phải có thời gian khá dài mới có hiệu quả và kèm theo đó là những khoản đầu tư đối ứng của ta về cô cấu hạ tầng, do đó, vấn đề không phải là thu hút đầu tư nước ngoài càng nhiều càng tốt, mà là thu hút như thế nào cho hợp lý. (Nhân đây, xin nhắc lại kinh nghiệm đau xót là trong mười mấy năm qua, đã sử dụng không có hiệu quả những khoản đầu tư và tín dụng nước ngoài, kết quả là gánh những món nợ to lớn, không dễ gì trang trải). 


21. Trong lĩnh vực chính trị, thực hiện bằng được hai yêu cầu sống còn đối với đất nước lúc này: hòa hợp dân tộc, đoàn kết toàn dân để phát huy sức mạnh mọi mặt của nhân dân, trước hết là sức mạnh trí tuệ và thực hiện đầy đủ quyền lực của nhân dân


Những biện pháp cần làm ngay trước mắt là: 

  • Xóa bỏ cừu hận trên một đất nước đã trải qua hàng chục năm chiến tranh, không phân biệt đối xử về nguồn gốc xuất thân, quá khứ chính trị của mỗi người. Tất cả mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và về cơ hội tiến thân. Thù địch chỉ được đáp lại bằng thù địch, khoan hòa sẽ được đáp lại bằng tin cậy. Tất nhiên phải hết sức cảnh giác đối với những hành vi phá hoại đất nước, nhưng không được kết luận ai là kẻ thù khi chưa bị tòa án chính thức kết án trên cơ sở những bằng chứng có giá trị pháp lý. 

  • Trong một thời gian dài, do nhiều nguyên nhân phức tạp, đã xẩy ra nhiều vụ án oan, nhiều vụ trù dập không xét xử, làm cho không khí xã hội thêm phần căng thẳng. Tất cả những vụ án này phải được xem xét lại và xử lý đứng pháp luật, một cách công bằng và công khai. Ai có tội phải có án xác đáng, ai không có tội phải được minh oan và bồi thường, và ai lạm dụng luật pháp cũng phải bị xem xét về trách nhiệm. 

  • Cần hoàn thiện hệ thống luật pháp của nước ta theo hướng xây dựng một xã hội công dân, một nhà nước pháp quyền để đất nước được cai trị bằng pháp luật mà không phải bằng ý chí của bất cứ ai. Trong công việc này, cố gắng làm cho luật pháp nước ta theo sát những chuẩn mực luật pháp quốc tế, nhất là những hiến chương do Liên hợp quốc - mà ta là một thành viên - thông qua.

22. Dân tộc ta không hèn kém gì, năng lực trí tuệ và tiềm năng của cải rất dồi dào. Nếu xây dựng được một khối hòa hợp dân tộc thật sự, thì đất nước sẽ ra khỏi khó khăn hiện nay và vươn kịp trình độ văn minh chung của loài người. Con đường chủ yếu đưa tới đó là, và chỉ có thể là, tiến hành đối thoại bình đẳng, dân chủ giữa những quan điểm và ý kiến khác nhau để cùng nhau tìm kiếm những thỏa thuận tối ưu về lối ra khỏi khủng hoảng và về sự phát triển lâu dài của đất nước. Tình hình đất nước và thế giới đòi hỏi những hiểu biết hoàn toàn mới mẻ để có thể thích nghi và hành động có hiệu quả. Mỗi người có chỗ mạnh chỗ yếu của mình. Không một ai, dù tài giỏi đến đâu, có thể tự mình nắm được những chân lý cuối cùng. Xóa bỏ độc quyền chân lý là một yêu cầu bức bách về chính trị. Cần tạo ra những điều kiện dân chủ, bình đẳng và công khai cho việc thảo luận, tranh luận những vấn đề thuộc quốc kế dân sinh, để người dân tự mình phân biệt cái đúng và cái sai, lựa chọn cái đúng. Như vậy, sẽ tập hợp được những nhân tố chính trị lành mạnh trong đời sống xã hội. Không một ý kiến nào bị bỏ quên cả - đó là mệnh lệnh của đất nước lúc này. 



23. Then chốt của việc khắc phục tình trạng khủng hoảng hiện nay là giải quyết đúng đắn vị trí của Đảng trong xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam có công lớn trong quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, công lao đó được mọi người thừa nhận. Nhưng điều tai hại cho Đảng cũng như cho cả dân tộc là do những hoàn cảnh lịch sử khách quan và do những quan niệm không đúng, Đảng tự đồng nhất với quyền lực nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng biến thành chế độ đảng trị. 


Cần chuyển giao quyền lực chính trị từ các cơ quan lãnh đạo của Đảng sang các cơ quan đại diện quyền lực nhân dân. Quá trình này được thực hiện từng bước, tránh rơi vào “khoảng trống quyền lực” cũng vô cùng tai hại. Để thực hiện điều này, nên tuyên bố xóa bỏ điều 4 trong Hiến pháp qui định về mặt pháp lý vai trò của Đảng là “lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội”. Sự lãnh đạo của Đảng đối với xã hội chỉ được thực hiện bằng phương pháp thuyết phục. 


24. Mặt trận Tổ quốc đứng ra triệu tập một Đại hội quốc dân mới (theo kinh nghiệm Đại hội quốc dân ở Tân Trào truớc Tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945) bao gồm đại biểu của các tầng lớp nhân dân, những xu hướng khác nhau trên cơ sở yêu nước, cùng nhau bàn bạc, tìm kiếm một lối thoát tối ưu ra khỏi khủng hoảng. Một chương trình khắc phục khủng hoảng được vạch ra và thông qua tại Đại hội này, coi như cương lĩnh chung khẩn cấp của toàn dân. Đại hội này nên mời những đại biểu các giới Việt kiều ở nước ngoài tham dự. 


Quốc hội thảo luận và phê chuẩn Chương trình khắc phục khủng hoảng để văn kiện này có hiệu lực pháp lý đầy đủ. Căn cứ vào những đề nghị của Đại hội quốc dân, Quốc hội thành lập Chính phủ liên hiệp quốc dân bao gồm những người đủ năng lực và tín nhiệm để điều hành thực hiện chương trình. Thành viên chính phủ gồm cả đảng viên và những người không phải đảng viên. 

Chuẩn bị và tiến hành bầu cử Quốc hội mới theo tinh thần hòa hợp dân tộc, đoàn kết toàn dân. Trong Quốc hội mới, Đảng chỉ cần bảo đảm cho mình một nửa số đại biểu, hoặc một đa số tương đối, để thể hiện đầy đủ tinh thần hòa hợp dân tộc. 

Chính phủ liên hiệp và Quốc hội liên hiệp thật sự là trung tâm tập hợp mọi lực lượng yêu nước để khắc phục khủng hoảng và tiến tới xây dựng một nước Việt Nam với những lý tưởng ban đầu của cuộc cách mạng nhân dân là Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Trong lịch sử, khi vận nước gặp hiểm nghèo ngay sau Cách mạng tháng Tám 1945, Đảng cũng đã từng thực hiện chủ trương liên hiệp rộng rãi như vậy và đã thành công tốt đẹp. Bài học quí báu đó của chính cách mạng Việt Nam ngày nay có ý nghĩa thực tiễn hơn bao giờ hết. 

Tình hình hiện nay đòi hỏi Đảng, trước hết là ban lãnh đạo của Đảng, có một sự lựa chọn táo bạo và không phải không đau đớn, chủ động thực hiện những thay đổi căn bản của chính bản thân Đảng để cùng với nhân dân thoát khỏi khủng hoảng. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng tỏ Đảng từng có một bản lĩnh như vậy. 


*


Khủng hoảng đã kéo quá dài. Tình hình đất nước không cho phép kéo dài thêm. Trong vòng 5 năm tới, nếu không ra khỏi khủng hoảng, một sự sụp đổ là không thể tránh khỏi. Ngược lại, nếu thoát ra được, thì sẽ có một đà tiến mới để phát triển mạnh mẽ, đưa đất nước tới những triển vọng tốt lành. 

Tháng Giêng - tháng Ba 1991 
Nguồn: Những bài viết của Nguyễn Kiến Giang trong thập niên 90 được đăng rải rác trên báo chí trong ngoài nước, được chuyền tay hoặc chưa công bố, nay được tập hợp thành loạt bài “Suy tư 90” cho bản đăng chính thức trên talawas, với sự hiệu đính cuối cùng của tác giả.
http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=6970&rb=0505


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bắc Kinh thay đổi chiến lược ở Biển Đông


Lập trường mới của Trung Quốc dường như thể hiện một bước đi quan trọng tiến đến tuân thủ UNCLOS, và như vậy cũng tuân thủ phán quyết. Điều có ý nghĩa nhất là nó loại bỏ những cơ sở để Trung Quốc phản đối các nước khác đánh cá và khoan dầu khí ở những vùng rộng lớn của Biển Đông. Vẫn còn một khoảng cách giữa quan điểm của Bắc Kinh với việc tuân thủ toàn diện phán quyết của tòa quốc tế, nhưng rõ ràng là họ không trắng trợn và cố tình vi phạm phán quyết.

Sáu nước châu Á có các tuyên bố chủ quyền chồng lấn ở Biển Đông
Trong một bài viết đăng trên tạp chí Nikkei Asian Review hôm 12/7, ông Bill Hayton nhận định Trung Quốc đã âm thầm đổi chiến lược sau phán quyết hồi năm ngoái của Tòa trọng tài Quốc tế về Biển Đông.

Ông Hayton là nhà nghiên cứu tại Chatham House (Viện nghiên cứu Quốc tế Hoàng gia Anh), và cũng là tác giả của cuốn "Biển Đông: cuộc đấu giành quyền lực ở châu Á.

VOA xin giới thiệu các trích đoạn chính trong bài viết của ông dưới đây.

Một năm trước, Trung Quốc vô cùng giận dữ trước thất bại lớn về mặt pháp lý khi tòa án quốc tế ở La Haye phán rằng hầu hết các tuyên bố chủ quyền của Bắc Kinh về các quyền hàng hải và tài nguyên ở Biển Đông đều không phù hợp với luật pháp quốc tế.

Ngay sau phán quyết, Thứ trưởng Ngoại giao Trung Quốc Lưu Chấn Dân đã hai lần tuyên bố phán quyết đó " chỉ là tờ giấy lộn" và "sẽ không một ai thực hiện cả". Nhưng sau một năm, theo nhiều cách, Trung Quốc đang tuân thủ phán quyết này.

Biển Đông là nơi diễn ra các vụ tranh chấp rắc rồi nhất trong khu vực, với những tuyên bố chủ quyền đối chọi nhau của Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Đài Loan, và các nước khác.

Có bằng chứng cho thấy, bất chấp những tuyên bố to tát, chính quyền Trung Quốc đã thay đổi hành vi. Tháng 10/2016, ba tháng sau khi có phán quyết, Bắc Kinh cho phép các tàu thuyền Philippine và Việt Nam tiếp tục đánh cá tại Bãi Scarborough, phía tây Philippines.

Đáng chú ý hơn, Trung Quốc đã tránh khoan dầu khí ở những vị trí sai so với những ranh giới vô hình quy định trong Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật Biển (UNCLOS).

Mặc dù phán quyết của tòa năm 2016 chỉ có tính ràng buộc đối với Trung Quốc và Philippines, hành vi của Trung Quốc đối với Việt Nam cũng đã thay đổi.

Lần cuối Trung Quốc đưa giàn khoan dầu vào một khu vực mà Việt Nam tuyên bố chủ quyền là năm 2014. Vụ này đã kết thúc với sự bẽ mặt về chính trị, bạo động chống Trung Quốc đã xảy ra, và là một thất bại lớn đối với Bắc Kinh về ngoại giao khu vực. Kể từ đó, các giàn khoan Trung Quốc vẫn ở ngoài các vị trí gây tranh cãi.


Người Việt xuống đường biểu tình chống việc Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, ngày 11/5/2014.

Các kết luận quan trọng nhất của phán quyết là, thứ nhất, “đường lưỡi bò” của Trung Quốc không thể đại diện cho một tuyên bố hợp pháp về làm chủ các tài nguyên biển. Thứ hai, phán quyết kết luận rằng không có thực thể nào trong quần đảo Trường Sa, hay Bãi Scarborough, là "đảo đầy đủ". Phán quyết này đồng nghĩa là Trung Quốc không có quyền tuyên bố làm chủ các tài nguyên hải sản, dầu khí bên ngoài vùng 12 hải lý quanh bất kỳ thực thể nào thuộc quần đảo Trường Sa hoặc Bãi Scarborough.

Có những dấu hiệu rõ ràng từ cả lời nói lẫn hành động của Trung Quốc cho thấy Bắc Kinh đã âm thầm thay đổi lập trường pháp lý tổng thể của họ đối với Biển Đông.

Nhà nghiên cứu Úc Andrew Chubb lưu ý về một bài báo quan trọng ở Trung Quốc vào tháng 7 năm ngoái nêu khái quát về quan điểm mới, do các nhà lý luận pháp lý của Đảng Cộng sản Trung Quốc viết. Quan điểm mới về tuyên bố của Trung Quốc gồm ba phần: tuyên bố làm chủ tất cả các đảo đá và các bãi cạn bên trong đường lười bò; tuyên bố về "quyền lịch sử" đối với tất cả vùng biển bên trong những đường vẽ quanh các nhóm đảo gần "sát nhau" (nghĩa là các nhóm nhỏ các thực thể bên trong quần đảo Trường Sa); và tuyên bố làm chủ nhưng không độc quyền về đánh bắt cá ở những ngư trường truyền thống của ngư dân Trung Quốc.

Lập trường mới của Trung Quốc dường như thể hiện một bước đi quan trọng tiến đến tuân thủ UNCLOS, và như vậy cũng tuân thủ phán quyết. Điều có ý nghĩa nhất là nó loại bỏ những cơ sở để Trung Quốc phản đối các nước khác đánh cá và khoan dầu khí ở những vùng rộng lớn của Biển Đông.

Việt Nam đã tận dụng được điều này với việc cho phép hãng Talisman Việt Nam tập trung khoan tìm dầu ở mép cực đông của vùng đặc quyền kinh tế của mình.

Về tổng thể, bức tranh cho thấy Trung Quốc cố gắng làm cho tầm nhìn của họ về trật tự hợp lý của khu vực (với tư cách là chủ sở hữu hợp pháp của mọi đảo đá và bãi cạn bên trong đường lưỡi bò) phù hợp với các quy định quốc tế được đông đảo các nước thông hiểu.

Không hề coi đó là "tờ giấy bỏ đi", Trung Quốc nhìn nhận phán quyết của toà rất nghiêm túc. Vẫn còn một khoảng cách giữa quan điểm của Bắc Kinh với việc tuân thủ toàn diện phán quyết của tòa quốc tế, nhưng rõ ràng là họ không trắng trợn và cố tình vi phạm phán quyết.

(theo Nikkei Asian Review)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư liệu:

Tiền, vàng và nước mắt
Tưởng Năng Tiến - Chừng mười năm trước, tôi tình cờ đọc được một bài báo ngắn (“Tuần Lễ Vàng 1945”) của Trà Phương – trên trang Vnexpress, số ra ngày 13 tháng 10 năm 2010 – mà cứ cảm động và bâng khuâng mãi. Xin ghi lại nguyên văn, cùng hình ảnh, để chia sẻ với mọi người:
Bà quả phụ Trịnh Văn Bô
“Sau khi giành độc lập, đất nước gặp nhiều khó khăn về tài chính, 4/9/1945 Bác Hồ đã phát động Tuần lễ Vàng kêu gọi mọi người ủng hộ ngân sách quốc gia. Trong tuần lễ này, giới công thương có đóng góp nhiều nhất.

Một số bức ảnh về Tuần lễ Vàng đã được Nhà sử học Dương Trung Quốc sưu tầm trong một chuyến công tác tại Pháp mới đây. Theo ông Dương Trung Quốc, ngay sau khi từ chiến khu lần đầu tiên về Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chọn nơi ở và làm việc tại ngôi nhà số 48 phố Hàng Ngang. Đây là nơi ở của nhà tư sản Trịnh Văn Bô, một người thuộc vào hạng giàu nhất Việt Nam lúc bấy giờ.

Bác chọn nhà một tư sản giàu có vì tin vào nhân dân của mình. Không chỉ người nghèo mà cả người giàu cũng khao khát độc lập, tự do. Và cách mạng cần đến sự ủng hộ và tham gia của cả người giàu lẫn người nghèo.”

Một cụ già tám mươi tuổi mang tới một gói lụa điều, bên trong là nén vàng gia bảo nặng mười bảy lạng. Ảnh & chú thích: Vnexpress

Chỉ có điều đáng tiếc (nho nhỏ) là nhà báo Trà Phương cho biết quá ít về gia đình nhà tư sản Trịnh Văn Bô. Đang lúc rảnh nên tôi xin phép được chép lại (đôi trang) của một nhà báo khác, để rộng đường dư luận:

Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.

Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.

Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập.

Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.

Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”. Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS như Archimedes Patti và Allison Thomas. Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con. Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.

Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.

Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều. Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.

Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được. (Huy Đức. Bên Thắng Cuộc, tập II. OsinBook, Westminster, CA: 2013).

Câu chuyện thượng dẫn tuy hơi cay đắng nhưng kết cục (không ngờ) lại vô cùng có hậu, theo như bản tin của Vnexpress (“Bộ Tài chính đôn đốc trả nợ tiền vay dân trong 2 cuộc kháng chiến”) số ra ngày 19 tháng 7 năm 2017:

“Đây là những khoản nợ từ công phiếu kháng chiến, phát hành trong các năm 1948, 1949, 1950, 1951, 1952; công trái quốc gia, phát hành năm 1951; công trái Nam-Bộ, phát hành năm 1947, 1958; công phiếu nuôi quân phát hành năm 1964 và những khoản vay khác (tiền hoặc lương thực) do các cơ quan chính quyền từ cấp huyện trở lên vay theo lệnh của cấp trên để mua sắm vũ khí, nuôi quân.”

Thiệt là tử tế và quí hóa quá xá Trời. Tôi rất tâm đắc với hai chữ “đôn đốc” trong tiêu đề của bản tin thượng dẫn: “Bộ Tài Chính Đôn Đốc Trả Nợ Tiền Vay Dân Trong Hai Cuộc Kháng Chiến.” Nghe sao có tình, có nghĩa hết biết luôn.

Nhà nước sòng phẳng, đàng hoàng, và tử tế đến như thế nên khi quốc khố trống rỗng và nợ công ngập đầu – như hiện nay – thì chuyện huy động vàng trong dân chắc… cũng dễ  thôi. 

Tưởng Năng Tiến

Phần nhận xét hiển thị trên trang

10 CHÂN DUNG NHÀ VĂN (2)


Trần Nhương




Trích trong Khúc khích với văn nhân . NXB Hội Nhà văn 2016

11- ĐOÀN THỊ LAM LUYẾN

Lam Luyến suốt đời lưu luyến ai
Chồng em chồng chị những bi hài
Bỏ Lỡ một thì con gái ấy
Dại yêu, Châm khói (1) cứ yêu hoài
Bã trầu têm lại sao thương vậy ? (2)
Người ấy thơ này có mấy ai !

(1) Những chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của Đoàn Thị Lam Luyến
(2) Chị có câu thơ “Thản nhiên em nhận bã trầu về têm”


12 – ĐOÀN TỬ HUYẾN

Đông có nét đông, Tây nét tây
Cớ sao ông tóm cả trong tay ? (1)
Dịch thuật rõ là tay cự phách
“Diệt thù” hàng loạt ả lăn quay
Bố già tâm địa Trái tim chó
Sáu mươi ngọn nến cháy lắt lay
Trò chơi, Nguyệt thực và nhiều nữa
Kỳ lạ thế đáy cuộc đời này (2)
Ham vui hòa thượng thích đủ thứ
Hát mãi mà sao chưa mỏi tay
Bây giờ thế sự tành bành quá
Ông đếch thèm nghe lũ chúng mày…(3) -

(1) - Ông là Giám đốc Trung tâm ngôn ngữ văn hóa Đông Tây.
(2)- Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm dich của Đoàn Tử Huyến.
(3) - Hiện Ông bị xuất huyết não hay quên


13 - GIANG NAM

Tên bác chính hiệu Nguyễn Sùng
Bút danh rất oách, rất khùng: Giang Nam
Qua bao nhiêu chức, phẩm hàm
Văn nghệ làm tổng còn làm phó ty (1)
Quê hương từ đó anh đi 
Nhớ chim. nhớ bướm nhớ gì nữa anh (2)
Hạnh phúc từ nay chưa thành
Vở kịch cô giáo thì đành sắm vai
Người giồng tre ấy đơn sai
Để măng không mọc ra ngoài vì răng ?
Sông Dinh thì khuyết mùa trăng 
Giao thừa ánh chớp (3) nhì nhằng cả đêm
Quê hương ngày ấy có em
Chăn trâu vẫn được lên tiên phiêu bồng (4)

(1)- Nhà thơ Giang Nam kinh qua nhiều chức vụ như phó ban Tuyên huấn, 
phó TTK Văn nghệ giải phóng, TBT báo Văn nghệ, phó ty thông tin Khánh Hòa…
(2)- Câu thơ của ông được nhiều người yêu mến:” Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm”.
(3)- Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của Giang Nam.
(4)- Ông có câu thơ nổi tiếng “Ai bảo chăn trâu là khổ”

14HÀ ĐÌNH CẨN

Đích danh Lập Thạch là quê
Mà ông lập nghiệp ở đê La Thành (1)
Cũng từng nhà báo nổi danh
Cũng từng suốt nẻo chiến tranh tung hoành (2)
Thứ phi vẫn ngọt cơm canh
Trò đùa người lớn vẫn hành hạ ông
Đường gập ghềnh núi lại sông
Câu thơ nhặt được (2) mà không mần gì
Đa tài đa cả xiêm y
Chú gà cứng cựa ngứa nghề gáy vang…(3)

(1) - Hà Đình Cẩn quê Lập Thạch, Vĩnh Phúc, nổi nghiệp tại Hà Nội
(2)- Ông vốn là phóng viên Báo Quân đội nhân dân, sau chuyển ngành làm 
TBT Tạp chí Nhà văn, Giám đốc NXB Sân Khấu. Mới đây đã hạ cánh an toàn.
(3) - Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của HĐC
(3 )- Ông tuổi con Gà.


15- HỒ ANH THÁI

Họ Hồ tên Thái đệm Anh
Danh gia vọng tộc liệt oanh giống nòi
Chủ tịch nhà văn Hà Nòi ( Nội ) (1)
Uỷ viên khoá bảy cái Hòi (Hội) Nhà văn (2)
Phía sau vòm trời ...ái ân
Người và xe chạy dưới ánh trăng bét nhè
Chàng trai ở bến đợi xe
Lũ con hoang ấy ti toe lên đồng
Mảnh vỡ của bọn Đàn ông
Hình như Trong dải sương hồng hiện ra (3) 
Nghệ An gốc gác quê choa (4)
Địa linh nhân kiệt đều qua... Cửa Lò...

(1) Nhà văn Hồ Anh Thái từng là Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội.
(2) Ông từng là Uỷ viên BCH Hội Nhà văn Việt Nam (khoá VII)
(3) Các chữ in đậm nghiêng dưới là tên tác phẩm của Hồ Anh Thái.
(4) Quê ông ở Nghệ An, nơi có Cửa Lò nổi tiếng.


16- HOÀNG CÔNG KHANH

Hoàng Công tên bác là KhanhTù nội, tù ngoại bác thành vĩ nhân (1)Sơn La một thuở cùm chân (2)Do mình xấu số nên thành nhà văn !
Đôi mắt màu tím bồ quân
Sao Khuê vằng vặc mây vần vẫn tươi
Cung phi Điểm Bích tót vời
Ngũ Bồ bến nước (3) để đời nêu danh
U chín mươi cái xuân xanhTay vẫn rê chuột tung hoành enter (4)Thơ tình vẫn viết ngẩn ngơMấy cô hàng xóm vẫn chờ sang chơi… 

(1)- Hồi Pháp cai trị nhà văn Hoàng Công Khanh bị chúng bỏ tù tại nhà tù Sơn La- đó là 
tù ngoại. Sau này, vào những năm 60 thế kỷ trước nhà văn bị tù thời ta- đó là tù nội.
(2) Hồi tù Sơn La, nhà văn bị giam cùng phòng với đồng chí Tô Hiệu.
(3)- Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của Hoàng Công Khanh. 
Năm qua vở Cung phi Điểm Bích của ông là vở diễn ăn khách nhất, được huy chương Vàng.
(4)- Sinh thời, khi gần 90 tuổi ông vẫn viết văn bằng computer


17- HOÀNG MINH TƯỜNG

Cuộc đời bao nỗi truân chuyênNhân duyên mấy bận vẫn nguyên khối tìnhCông danh lắm thác nhiều ghềnh
Văn nghệ, Du lịch đánh đoành chạch lươn (1)
Những người ở khác cung đường
Bình minh đến sớm chán chường Con hoang
 hỗn mangCánh 
Thời của thánh thần ngu ngơ
Vừa in đã đánh búa sua bao đòn
Nguyên khí (2) đỏ chót như son
Xem ra sinh hạ vẫn còn ngắc ngơTrời cho lắm bến nhiều đò (3)
Hiền Phương bến ấy hẹn hò trăm năm...

(1) - Nhà văn Hoàng Minh Tường học ĐHSP từng làm công tác giáo dục rôi về làm 
Trưởng ban văn xuôi báo Văn nghệ, làm phó TBT báo Du lịch, phó TBT tạp chí 
Thuỷ sản. Ông từng là phó trưởng ban Sáng tác Hội Nhà văn Việt Nam.
(2) - Các chữ in đậm nghiêng là tên một số tác phẩm của Hoàng Minh Tường. 
Tiểu thuyết Thời của thánh thần vừa xuất bản đã bị phạt “vi cảnh”.
(3)- Cung Thê của ông có sao Lưu Hà nên hai ba đận, nên mấy loại con.


18- HOÀNG NHUẬN CẦM

Nhuận Cầm cóc phải nhuận tràng
Bác sĩ Hoa Súng (1) họ Hoàng tài ba
Xúc xắc mùa thu đã qua
Đằng sau cánh cửa một tòa thiên nhiên
Pháp trường trắng lốp đêm đêm
Còng lưng mỏi gối có lên được đèo ? 
Lầm lỗi nào cũng phăng teo
Nhà tiên tri (2) chỉ thích yêu tiên huyền
Làm thơ, viết kịch, đóng phimĐàn gì cũng gảy nổi chìm tiếng tơ
Con xúc xắc của mùa thu
Có còn xúc xắc tít mù nữa không???

(1)- Vai sắm của Hoàng Nhuận Cầm trên VTV
(2)- Các chữ in đầm nghiêng là tên tác phẩm của Hoàng Nhuận Cầm

19- HOÀNG QUỐC HẢI

Bác tung Bão táp cung đình
Thăng Long nổi giận thất kinh văn đàn
Vương triều sụp đổ nát tan
Trắng án Thị Lộ nỗi oan dài dài
Thôi thì 
Tám triều vua Lý (1) hôm mai kiếp người
Kẻ sỹ một đóa hoa tươi
Bông hồng năm ấy suốt đời đa mang (2)Sự đời bao nỗi dọc ngangBao lời gan ruột ai màng mà chiThôi về viết tiếp sử thi
Từ Pháo đài Láng bắn đì đọp chơi…(3)

(1)- Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của nhà văn Hoàng Quốc Hải. Vừa qua 
bộ tiểu thuyết lịch sử Bão táp cung đình của ông được Giải thưởng Bùi Xuân Phái.
(2)- Phu nhân Hoàng tiên sinh là nhà thơ Nguyễn Thị Hồng
(3)- Hiện nay gia đình nhà văn Hoàng Quốc Hải ở tại phố Pháo đài Láng

20- HOÀNG VIỆT HẰNG

Một mình khâu những lặng im
Tự tay nhóm lửa để tìm bình an
  
Chuông vọng thân phận đàn bà
Một mình gánh vác bằng ba bốn người
Vệt trăng và cánh cửa (1) cài
Mặc cho hoa nguyệt bên ngoài nguyệt hoaMột mình và một mình ta
Việt Hằng trăng ấy vẫn là trăng xưa…

(1)- Các chữ in đậm nghiêng là tên tác phẩm của Hoàng Việt Hằng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

THÀY BÓI...XEM QUAN


TTC


CUỘC ĐỜI VẤT VẢ LẦN HỒI KIẾM ĂN
THÔI ĐỪNG PHỤC VỤ NHÂN DÂN
VỀ LAO ĐỘNG VƯỢT KHÓ KHĂN LÀM GIẦU
Tranh Tuổi trẻ cười, thơ Trương Tuần

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phát hiện lá CHỮA KHỎI UNG THƯ GIAI ĐOẠN CUỐI mọc đầy ở Việt Nam ít người biết


phat-hien-la-chua-khoi-ung-thu-giai-doan-cuoi-myeva-vn

Chuyện về bệnh nhân chữa khỏi ung thư nhờ ăn lá cây mảnh cộng đang gây xôn xao toàn châu Á. Liệu nó có thực sự mang trong mình khả năng vi diệu đó không?

Cây mảnh cộng ( hay còn gọi là cây xương khỉ): Thuốc chữa ung thư đang được săn lùng ráo riết
Có 1 loại cây mọc dại tự nhiên chẳng mấy ai thèm để ý, bỗng chốc trở thành tâm điểm của sự chú ý và được người dân toàn Châu Á săn lùng ráo riết. Thậm chí còn có người còn bay sang tận Malaysia để gặp đúng người đã nhờ nó mà “thoát chết” xác nhận lại.
Bà Vương Tú Cầm ( bệnh nhân người Trung Quốc bị ung thư buồng trứng giai đoạn 3, sau 10 tháng phát hiện thì bệnh chuyển biến xấu và sang ung thư giai đoạn cuối.
Một ngày, bà nhận được thư điện tử của một người bạn có nhắc về chuyện ông Lưu Liên Huy ở Malaysia (cũng bị ung thư) đã vượt qua được giai đoạn khó khăn nhất nhờ ăn lá mảnh cộng trong 13 ngày.
phat-hien-la-chua-khoi-ung-thu-giai-doan-cuoi-myeva-vn
Cây mảnh cộng còn có tên khác là cây xương khỉ hay cây mảnh cộng
Nghe tin, bà Vương đã ngay lập tức mua vé máy bay đi Penang, sau đó di chuyển đến Taiping (Malaysia) để tìm ông Lưu với hy vọng mình cũng sẽ tìm được may mắn giống như người cùng cảnh ngộ, dù chưa biết thực hư ra làm sao.
Khi gặp được ông Lưu, bà không chỉ được người này nhiệt tình hướng dẫn cách ăn loại rau này cho đúng, mà còn được động viên là yên tâm rồi bệnh nhất định sẽ đỡ. Bà Vương đã ở lại Malaysia và ăn mảnh cộng liên tục 10 ngày, sau đó xin thêm một bọc lá để mang về nhà uống tiếp thêm 5 ngày nữa.
Trong lần hóa trị thứ 2 trước khi khi bà xét nghiệm CA125, chỉ số bệnh đã giảm 45%, khối u kích thước 4*5cm cũng đã biến mất.
Trước khi vào đợt hóa trị lần 2, bác sĩ hỏi bà có bị rụng tóc không nhưng bà Vương cho biết tóc không hề rụng như các bệnh nhân ung thư đang làm hóa trị khác.
Sang lần hóa trị thứ 3, các bác sĩ khẳng định: lần hóa trị thứ 3 sẽ rất nặng, tóc chắc chắn sẽ bị rụng, tuy nhiên, sau khi hóa trị thì tóc bà lại tiếp tục giữ được an toàn một cách đáng kinh ngạc.
Tiếp tục lần 4 hóa trị, chỉ số xét nghiệm máu CA125 của bà Vương đã trở lại bình thường, chỉ số hiện tại giảm xuống còn 16,8 (trong khi đó chỉ số an toàn của người bình thường là dưới 36).
Các bác sĩ cho biết, bệnh của bà Vương đã tiến triển theo chiều hướng rất tốt, theo phác đồ điều trị ban đầu của bệnh án là phải hóa trị 6 lần nhưng chỉ làm đến lần thứ 4 là có thể dừng lại vì hiệu quả chữa bệnh tốt ngoài mong đợi. Kết quả này hoàn toàn nằm ngoài dự kiến của các bác sĩ và mọi người.
Bà Vương cảm thấy rất biết ơn trời đất vì đã nghe bạn mà tin tưởng chữa bệnh theo cách này, đồng thời bà cũng mang một ít cây về trồng tại nhà, tiếp tục ăn thêm trong vòng 4 tuần để nâng cao tác dụng phòng bệnh.
Sau sự kiện đó, báo chí Trung Quốc cũng đã đăng tin về cây mảnh cộng có nhiều tác dụng tốt cho sức khỏe như trị chứng thấp khớp, vàng da, đau xương, rối loạn kinh nguyệt, bệnh thận…
Người bệnh có thể ăn cây mảnh cộng bằng cách ép lấy nước uống, hoặc nấu như một món canh ăn hàng ngày.
Đây chỉ là bài chia sẻ riêng của bà Vương và bà cũng cho rằng cách chữa bệnh của bà không dặ trên bất kì căn cứ hay nghiên cứu khoa học nào cả, mà chỉ là cá nhân lựa chọn trong lúc mắc bệnh hiểm nghèo.
Chuyện dùng cây mảnh cộng chữa ung thư cũng chưa được giới khoa học xác nhận.
Ngoài trường hợp của bà Vương, hiện tại ở Malaysia có rất nhiều bệnh nhân ung thư thực hiện theo cách chữa bệnh bằng lá tự nhiên này. Ông Lưu cho biết, hàng ngày có hàng trăm cuộc gọi điện hỏi mua lá mảnh cộng. Có người bệnh còn chia sẻ: “Dù không khỏi thì cũng chẳng có hại, đằng nào cũng sắp chết nên không có gì là không dám thử”.
Tác dụng chữa bệnh ung thư của cây mảnh cộng còn được bệnh nhân viết riêng 1 trang blog để chia sẻ với cộng đồng. Những trường hợp chứng minh lá mảnh cộng có thể chữa ung thư cũng được các trang mạng xã hội đưa tin nhiều.
Trên báo NewLife của Malaysia ngày 25/5/2011 cũng đã đăng tải về tác dụng của cây mảnh cộng có thể chữa ung thư với tỉ lệ khỏe mạnh lên đến 90% nếu sử dụng đúng cách từ 4-6 tuần. Nhưng đồng thời cũng khuyến cáo độc giả rằng mỗi thể trạng bệnh đều khác nhau, và ăn cây mảnh cộng không phải là một bài thuốc được giới khoa học công nhận.
Hiện tại các nhà khoa học ở Thái Lan, Đài Loan và nhiều quốc gia khác cũng đang quan tâm nghiên cứu về tác dụng của loại cây này, nhưng vẫn chưa đưa ra kết luận cuối cùng.
Cây mảnh cộng có thể tìm thấy ở Việt Nam
Cây mảnh cộng (tên khoa học là Clinacanthus nutans, có tên khác là cây bìm bịp, cây xương khỉ).
Đây là loại cây nhỏ, mọc thành bụi, chiều cao có thể dài tới 3m. Lá nguyên, cuống ngắn, lá mặt hơi nhẵn, có màu xanh thẫm. Ngày xưa, cây này mọc hoang rất phổ biến ở nhiều vùng nông thôn Việt Nam và châu Á, giờ đô thị hóa nên ít tìm thấy hơn. Hoa mảnh cộng có màu đỏ hay màu hồng, rủ xuống ở ngọn; tràng hoa có hai môi, môi dưới có 3 răng; bao phấn vàng xanh, quả hình trùy dài khoảng 1,5cm, cuống ngắn, chứa 4 hạt.
Theo y học dân gian, cây mảnh cộng có vị ngọt, tính bình, có tác dụng làm mát gan, tăng tiết mật, khử ứ, tiêu thũng, chống đau, trị mụn rộp ở mép, miệng.
Rau mảnh cộng có mùi thơm nhẹ, có thể được ăn sống (khó ăn) và chủ yếu được dùng để luộc hay nấu canh. Hiện nay, nhiều nơi dùng rau mảnh cộng để ăn kèm với lẩu hoặc nấu canh với thịt bằm, nấu với tôm hay nấu canh cua rất ngon và giàu dinh dưỡng.
Chắc nhiều người còn nhớ, mảnh cộng là loại rau rừng quen thuộc với bộ đội trong thời kì chiến tranh ở Việt Nam. Trong chiến trường ác liệt loài rau này được dùng thay cho một phần lương thực bị thiếu hụt.
Trên đây chỉ là những thông tin để mọi người tham khảo. Để xác định được rau mảnh cộng (bìm bịp, xương khỉ) có khả năng chữa ung thư được thật hay không thì còn phải chờ phản hồi từ những người có chuyên môn. Do vậy, các chị không nên tự ý dùng bừa bãi khi chưa có sự chỉ định của bác sĩ.


Phần nhận xét hiển thị trên trang