Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

“Cơn mê” thủy điện

 nghèo?



Văn Công Hùng
(Dân Việt) Có cái gì phía trong việc xây dựng thủy điện ấy mà ai ai cũng muốn xông vào để làm, bất chấp tất cả. Như tỉnh Quảng Nam có 42 thủy điện mà vẫn muốn xây thêm.

Đến bây giờ, sau khi cả nước ta cơ bản đã phủ đầy nhà máy thủy điện ở chỗ nào có khả năng ngăn nước làm thủy điện, thì người ta mới phát hiện ra rằng, thủy điện không hay như nhiều người đã từng tưởng.

Thủy điện không thân thiện với môi trường mà hủy hoại môi trường rất ghê, nó không an toàn mà gây ra rất nhiều “tiềm năng nguy hiểm”, nó cũng không thân thiện mà đang bị dân kêu rất dữ, thậm chí là quyết liệt phản đối.

Chả cứ dân, nhiều hội đồng nhân dân các tỉnh, thậm chí cả trên diễn đàn Quốc hội, nhiều lần vấn đề thủy điện đã được mang ra mổ xẻ, và chủ yếu là, kêu về thủy điện, phản đối phát triển nóng thủy điện.

Có cảm giác bây giờ ai cũng có thể làm thủy điện, cứ có tiền là làm thủy điện. Cũng có người bảo, không nhất thiết người bỏ tiền làm thủy điện phải phân biệt thế nào là roto thế nào là stato, đâu là cửa nhận nước đâu là đập tràn, mà đã có đội ngũ kỹ thuật lo, mình chỉ việc bỏ tiền là xong.

Là xong, nên mới xảy ra những vụ như ở Đăk Mek, Đăk Glei, Kon Tum, người ta đã sử dụng nhiều loại vật liệu khác thay cho bê tông cốt thép, kết quả là 109 mét tường ở đập thượng lưu bị vỡ, một người chết, đến mấy năm chưa xử lý xong hậu quả.

Hay như vụ đập thủy điện Ia Krêl 2 (xã Ia Dom, Đức Cơ, Gia Lai) vỡ không chỉ một lần mà đến 2 lần, tàn phá không biết bao nhiêu tài sản của dân.

Thủy điện An Khê Ka Nak thì liên tục lên diễn đàn hội đồng nhân dân tỉnh Gia Lai và cả Quốc hội, mà một đại biểu quốc hội của Gia Lai là ông Huỳnh Thành đã phải thống thiết mà rằng, đây là “sai lầm thế kỷ”.

Nó khiến con sông Ba hùng vĩ vắt ngang Tây Nguyên, sổ xuống sông Đà Rằng giờ cạn khô đáy, lòng sông trở thành nơi bò gặm cỏ và ô nhiễm khủng khiếp, khiến cả vùng hạ lưu, trong đó có thị xã An Khê giờ thành những vùng khô khát.

Nhưng không hẳn chỉ khô khát, bởi thi thoảng, “hứng chí” nửa đêm thủy điện lại xả nước phát, cả thị xã lại chìm trong “biển nước”...

Đã từng vì xả lũ bất ngờ mà 2 cô giáo ở huyện K’bang trên đường đi dạy bị lũ cuốn trôi, nhà nước tốn rất nhiều công và của để tìm được xác 2 cô. Cả 2 cô giáo đều còn rất trẻ, dẫu mưa gió nhưng vẫn đi vào trường dạy, và nước xả từ thủy điện An Khê Ka Nak ào ào xả xuống, họ đã không kịp chạy thoát thân khi đang đi trên đường.

Ngoài 2 cô giáo chết tức tưởi trong vụ này thì rất nhiều gia đình chỉ kịp chạy tháo thân mà không kịp mang theo gì, tất cả tài sản bị nhấn chìm dưới nước, không kể xiết gia súc, hoa màu, lúa má...

Tỉnh Quảng Nam, nghe nói giờ là địa phương có nhiều thủy điện nhất nước, thì năm nào đến mùa lũ là cả tỉnh lại thon thót vì đến mấy quả bom nước lơ lửng trên đầu, trong đấy “vĩ đại” nhất là 2 quả bom Phú Ninh và Sông Tranh.

Năm nào xong mùa lũ lại cũng có những bài báo ca ngợi sự thông minh can đảm của một đồng chí lãnh đạo nào đó đã bình tĩnh khôn khéo, trong những giờ khắc quyết định đưa ra những mệnh lệnh sáng suốt để cứu hàng vạn dân không bị nhấn chìm trong bom nước. Năm nào xong mùa lũ cũng có những tiếng thở hắt ra để reo lên: Thoát rồi...

Và cũng té ra, để làm thủy điện, rừng đã phải “hy sinh” rất nhiều, và theo đấy, môi trường văn hóa của khu vực ấy cũng bị biến đổi theo hướng tiêu cực rất ghê.

Chỉ một ví dụ nhỏ thôi: Những ngôi làng tái dịnh cư thủy điện, đố ai nghĩ đấy là làng, và cho các ông bà làm nên những “ngôi làng” ấy vào ở, họ có dám ở không?

Tôi là người chứng kiến từ đầu quá trình xây dựng nhà máy thủy điện Ia Ly. Hồi ấy người ta giao ban hàng ngày trên công trường, hội đồng nghiệm thu nhà nước làm việc thâu đêm, cãi nhau như mổ bò để cho ra hoặc thông qua những quyết định. Cỡ vậy mà còn lo. Giờ, ai cũng làm được, cứ lủi thủi trong rừng sâu, đến lúc té le ra, như vỡ đập chẳng hạn, tai nạn chẳng hạn... mới ngồi quy trách nhiệm.

Ông Nguyễn Đình Xuân, Đại biểu Quốc hội hai khóa XI và XII có lần phát biểu: “Thủy điện đã vượt tầm kiểm soát. Phong trào làm thủy điện rầm rộ 20 năm qua, đặc biệt là 10 năm trở lại đây, chúng ta không phủ nhận những mặt có lợi của nó. Tuy nhiên tác hại của nó, đặc biệt là mất rừng ở thượng nguồn làm gia tăng lũ lụt, hạn hán bất thường ở hạ nguồn đã diễn ra nhiều hơn.

Hiện nay, các công trình thủy điện đã vượt quá tầm kiểm soát của các cơ quan nhà nước, nhiều công trình kém chất lượng, hồ đập không an toàn. Tôi cho rằng chúng ta phải rà soát lại xem phải làm gì để bớt đi những rủi ro đối với những đập thủy điện đã làm rồi.

Vì một công trình thủy điện chỉ có tuổi thọ nhất định, thường là 50 năm. Trên thế giới có những công trình thủy điện đã phải tháo dỡ trước hạn để trả lại đất rừng và sự thông suốt cho dòng sông...

Rõ ràng tính rủi ro của thủy điện rất lớn và điều này cần phải tính trong đánh giá chi phí lợi ích của quốc gia khi thực hiện các công trình thủy điện.

Vừa qua, một số thủy điện đã gây tác động xấu như mùa khô thì không xả nước khiến đồng bằng thiếu nước, ngược lại mùa lũ thì xả ồ ạt khiến người dân không kịp đối phó...

Lưu ý là có nhiều công trình thủy điện lẽ ra thuộc thẩm quyền của Quốc hội chứ không phải là của các cơ quan khác. Tuy nhiên bằng cách nào đó, chủ đầu tư đã lách luật để dự án của họ không đưa ra Quốc hội. Do đó, Quốc hội cần lắng nghe ý kiến cử tri, các nhà khoa học đối với những sự việc như vậy"…

Mới nhất, thấy có tờ báo thông tin, đã có 42 thủy điện, Quảng Nam vẫn muốn xây thêm”. Mới thấy, té ra cái sức hút của thủy điện nó vẫn ghê gớm đến như thế nào, tưởng “phong trào” ấy đã qua rồi, như xi măng lò đứng, như mía đường... một thời, nhưng không phải thế, vẫn còn nhiều người đam mê lắm...

Có lần thấy một vị lãnh đạo thắc mắc: Không biết có cái gì ngoài đường mà ai cũng muốn làm cảnh sát giao thông để ra ngoài đường làm việc cực khổ. Giờ thấy có thể áp cả câu hỏi ấy vào thủy điện: Có cái gì phía trong việc xây dựng thủy điện ấy mà ai ai cũng muốn xông vào để làm, bất chấp tất cả...
Phần nhận xét hiển thị trên trang

ĐỌC SÁCH – 8 lý do để đọc sách



[ĐỌC SÁCH – 8 lý do để đọc sách] Tôi là một người yêu sách, yêu văn học và yêu đọc sách. Đọc sách đối với tôi như một công việc tôi phải làm mỗi ngày trước khi đi ngủ. Hồi nhỏ thì tôi đọc truyện tranh. Lớn hơn một chút thì tôi đọc truyện Nguyễn Nhật Ánh. Khi vào đại học tôi đọc sách kinh tế, chính trị và tài chính. Còn bây giờ tôi đọc tổng hợp. Tôi không bao giờ nghỉ việc đọc sách. Nên tôi sẽ giải thích vì sao bạn nên đọc sách.
Nhưng trước hết tôi xin kể về tôi. Tôi sinh năm 1989, khi tôi lớn lên thì chưa có iPhone, Ipad và mạng internet thời đó rất chậm kiểu dial up. Vì thế nên sách là cách tiếp cận thông tin duy nhất. Thời đó, nhà tôi là một trong những nhà may mắn có đủ điều kiện để mua sách. Hồi đó tôi rất mê truyện Nguyễn Nhật Ánh và tôi đã mua và đọc hết. Rồi mấy em gái hàng xóm thấy tôi mau sách nên thường xuyên mượn. Thời tôi, nếu bạn muốn nói chuyện với đám con gái thì bạn phải đọc sách. Vì đó là cách bạn giao lưu với người khác.
Nhưng bây giờ thì khác nhiều. Các bạn trẻ có thể mua sách với giá thấp, thậm chí đọc chùa trên mạng nữa. Đã vậy nhiều cuốn cổ điển đã được chuyển đổi thành văn đọc audio, bạn có thể nghe miễn phí trên Youtube. Quá sướng rồi còn gì. Nhưng tiếc thay, văn hóa đọc sách ở Việt Nam lại quá ít, quá mong manh. Nên tôi sẽ đưa các bạn những lý do vì sao bạn nên đọc sách.
  1. Đọc sách là cách bạn nạp kiến thức. Bạn có thể đọc những bài báo trên mạng hay những status trên Facebook. Nhưng nếu bạn muốn hiểu tận vấn đề thì bạn phải đọc sách. Tôi lấy kiến thức của tôi từ sách. Như Milton Friedman, FA Hayek, Robert Spencer hay George W. Bush. Sách là kho tàng kiến thức của nhân loại.
  2. Đọc sách khiến bạn suy ngẫm và suy tư về vấn đề và cuộc sống.
  3. Đọc sách là cách bạn học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước. Bạn muốn biết cách Buffet đầu tư ra sao? Vậy hãy tìm tiểu sử ông ta. Bạn muốn hiểu về cuộc khủng hoảng kinh tế? Hãy tìm những cuốn sách về sự kiến đó. Bạn muốn hiểu về Ronald Reagan? Hãy tìm hồi ký của ông ta mà đọc.
  4. Đọc sách là cách bạn giao lưu với người khác. Sống trong thời điện tử và mạng internet thì chúng ta có quá nhiều thông tin về bàn tán. Nhưng tất cả đều quay trở về những cuốn sách chính.
  5. Đọc sách là giúp bạn động não. Thật đấy, khi đọc thì đầu óc bạn luôn bị lôi cuốn và liên tục hoạt động.
  6. Đọc sách giúp bạn viết đúng chính tả. Vì bây giờ chúng ta gõ phím nhiều nên khi viết tay chúng ta hay viết sai chính tả. Nhờ sách nên tôi đã phần nào giải quyết vấn đề này.
  7. Đọc sách giúp bạn có lý luận khi học ở trường. Bạn hãy thử viết một bài luận mà không cần đọc sách xem. Bạn sẽ lấy những lập luận của bạn từ đâu? Bạn sẽ lấy những logic để củng cố lời nói của mình từ đâu? Chỉ từ sách.
  8. Đọc sách giúp bạn quên thời gian. Nếu bạn không có gì làm thì đọc sách là cách giúp bạn thư giãn hiệu quả nhất.
Nếu bạn muốn làm một con người thành công trong cuộc sống thì bạn phải liên tục tìm hiểu, luôn học hỏi. Và cách hiệu quả nhất chính là sách. Hãy đọc để học hỏi từ những người đi trước, để hiểu góc nhìn khác, để hiểu thế giới xung quanh mình và để hiểu chính bản thân mình. Rất buồn vì bây giờ nhiều bạn trẻ lại coi thường chuyện đọc sách. Tôi thậm chí biết hàng chục người tốt nghiệp đại học mà chỉ đọc vài cuốn sách. Vậy sau này trong đời bạn sẽ lấy kiến thức từ đâu? Cho nên, nếu bạn muốn thay đổi thế giới thì hãy đọc sách. Sách là kho tàng kiến thức cho nhân loại và cho chính bản thân bạn.
Ku Búa @ Cafe Ku Búa

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chênh Vênh - Lê Cát Trọng Lý [Official]

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyên mẫu Phạm Xuân Nguyên


MAI ANH TUẤN
TP - Dường như ở ông, Phạm Xuân Nguyên, luôn có những trạng thái đối nghịch, tuy không đến mức khó hiểu nhưng chưa chắc đã dễ dàng nắm bắt.

Người ta có thể  mất vài giây sau lần gặp đầu tiên để nói rằng ông thật trẻ trung, năng hoạt, xôm trò, tinh anh, hồn nhiên, những tính cách tuyệt đối không gây hại gì mà chỉ làm người đối diện cảm thấy yêu thêm, vui lây, khoái hơn. Người ta cũng không chần chừ gì để khen ông lắm tài, tài ăn nói, tài dịch thuật, tài giao thiệp kết bạn, tài xuất hiện trên báo chí truyền thông, tài rong chơi khắp chốn mà ngay cả đầu xanh tuổi trẻ cũng khó lòng bì kịp. Người ta còn thể tất cho ông mọi điều, khi ông thất hẹn, thất thố, lỡ lời, lắm lời, khi mọi cuộc bung xung lẫn nghiêm ngắn của văn chương đều có tiếng của ông, khi lí ra ông chọn mặt gửi vàng thì lại cả nể nhận thêm đồng thau, khi cần dứt khoát viết hẳn một đòn dài hơi, công phu đích đáng thì ông vui vẻ tham góp một chút gọi là. Nhưng rút cuộc, sau chừng ấy cảm nhận, dường như, không dám quyết tất cả mọi người mà ít nhất là tôi, thấy khuyết thiếu những quan sát thật cụ thể, kĩ càng về ông. 

Khá nhiều lần Phạm Xuân Nguyên đọc chơi mà thực ra rất tâm đắc bài Tự cao của Nguyễn Công Trứ: “Trời đất cho ta một cái tài/Giắt lưng dành để tháng ngày chơi…”. Khẩu khí ngắn gọn, thiên về tự khẳng định bản thân của Nguyễn Công Trứ tuy hơi chói tai với những ai xoàng xĩnh nhưng lại cực kỳ hấp dẫn, thậm chí trở thành nguyên tắc ứng xử với những ai không chỉ có tài mà còn ý thức được về tài, ỷ tài, nhân đó hoàn tất dăm ba việc “trong tầm tay” đặng không hổ thẹn trước trời đất. Cố nhiên, Phạm Xuân Nguyên dù cả gan đến mấy cũng chẳng dám tự so tài với bậc tiền bối đồng hương, người mà nhìn ở chiều kích nào cũng hấp dẫn và hiện đại đến độ ngỡ ngàng, nhưng riêng khoản văn chương chữ nghĩa, có lẽ họ Phạm biết mình hưởng lộc đôi phần nên thành ý cung kính muốn noi theo cổ nhân tinh thần sống luống sao ghê gớm: “Ai say ai tỉnh ai thua được/Ta mặc ta mà ai mặc ai”(1). Mê Nguyễn Công Trứ, Phạm Xuân Nguyên cũng thường mượn lời Tản Đà, nhất là Tản Đà của giang hồ ăn chơi: “Trời sinh ra bác Tản Đà/Quê hương thời có cửa nhà thời không/Nửa đời Nam, Bắc, Tây, Đông/Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt li”. Nhiều người thoáng nghe đã vội nghĩ ông mượn thơ xưa để thảng thốt cho mình…

Đã đành chuyện đồng khí tương cầu chỉ người trong cuộc mới thấu nhưng tôi đoan chắc, khi tỏ lòng ngưỡng vọng các bậc nhà nho là hiện thân của tài và tình, của tự kiêu mà không ít ngậm ngùi, của cười xòa mặc kệ sự đời mà chẳng nỡ thờ ơ, của cao vọng nghiệp lớn nhưng biết lượng sức mình rời xa danh lợi, Phạm Xuân Nguyên hẳn đã phác cho mình một mẫu hình thích hợp, trước để trú thân, sau nữa là để chính mình có thể trở thành nó nếu nhân duyên rộng lượng. Vẫn theo hình dung của tôi, kiểu nhà nho tài tử không hẳn đã tàn khép sau chung cục thất bại của Nho giáo trước sự lấn lướt của văn hóa phương Tây đầu thế kỉ XX, trái lại, nó vẫn lên men trong những biến thể khác nhau ngay cả khi phải chịu điều tiếng nhẫn nhịn, cam phận hòa tan “bản sắc” cho qua cơn dâu bể. Thời thế hôm nay, lạ thay, lại kích thích sự hồi quang của nhà nho tài tử, không chỉ vì xã hội đã bớt ngặt nghèo hơn với các cá tính mạnh, đã biết tôn trọng rồi đâu đó là dung dưỡng các bậc chân tài văn chương có chỉ số hạnh kiểm vừa phải, mà sâu xa còn bởi, chính trong sự lừng khừng của văn đàn, không ra hồng cũng chẳng chuyên, không hẳn tiết tháo trượng phu cũng chẳng xem thường nghĩa khí, không dám tự do nhưng chẳng bao giờ quy củ, không đổi mới đến cùng nhưng lúc nào cũng tỏ ra cấp tiến, nên người ta thực sự dễ xiêu lòng trước những cá nhân thực tài đến với văn chương không vì gì khác ngoài chính nó, ngoài niềm vui thú với văn nhân và văn cách. Phạm Xuân Nguyên trước sau đi theo kiểu ứng xử đó và ông cũng chẳng mưu cầu nào lớn hơn ngoài chuyện được nhẹ nhõm, ngao du trần đời và được đọc, viết về chữ nghĩa. 

Quả là ông thích nói chữ, chơi chữ, thích họa văn, họa người theo lối ứng khẩu của dân gian. Ở điểm mà óc hài hước và sắc sảo thường phải nổi bật này, Phạm Xuân Nguyên không khác ông đồ xứ Nghệ. Nhưng khi cần thẳng thắn tranh luận, lên tiếng bảo vệ lẽ phải, ông trở nên xông xáo, quyết liệt rất đúng khí chất kẻ sĩ hiện đại. Nhìn vào cái cách ông làm bạn văn chương với những thân danh từng chịu nhiều món quà số phận, viết về họ không chỉ một mà nhiều bài; nhìn lại tinh thần sớm đối thoại, hợp lưu của ông với văn học hải ngoại; nhìn thêm cử chỉ tôn trọng, ghi nhận của ông với văn học miền Nam trước 1975, tôi cho rằng ông còn là người không bận tâm đến thị phi ác ý, miễn sao có thể tìm biết và khẳng định giá trị văn chương tiếng Việt một cách rộng nhất. Thành thử, nếu không có Phạm Xuân Nguyên thì hẳn nhiên, nhiều hội ngộ văn nhân sẽ kém vui, song sẽ còn thấy lúng túng, khó xử vì chẳng mấy ai nhanh nhập tư thế chuyện trò văn chương đúng kiểu Việt nội địa như ông, nghiêm túc, cởi mở, hòa hợp hòa giải mọi thứ mà cũng lan man hết mức. Ông còn hơn người ở điểm không học hàm học vị nên chẳng gây cảm giác quan phương hay hàn lâm nửa mùa, mà chủ yếu và sâu lắng hơn là cảm giác tin cậy, cận nhân tình.

Vì thế, đọc ông không khó hiểu. Bởi lối viết phê bình của ông, theo tôi, là sự nối dài của lối phê bình phong cách tác giả. Đọc ông cũng không bắt gặp những trúc trắc ý tưởng, những phát hiện khác thường, những đề đạt riêng khác. Ông nhiều thông tin và do chỗ, có lẽ, ở ngoài đời được tiếp xúc nhiều nhà văn, nên ông có những thông tin mang tính tư liệu theo kiểu “điểm chơi”, “thông báo chơi” cho mọi người thích thú. Phê bình của ông còn pha tự sự, kể chuyện rất linh hoạt và dí dỏm. Nhưng điều khiến tôi ngạc nhiên hơn cả là trong hai tuyển phê bình của ông, Nhà văn như Thị Nở (2014) và Khát vọng thành thực (2017), ông ít khi nhắc hay vận dụng một lí thuyết phương Tây nào, cho dù ông đã là dịch giả của nhiều tác phẩm, tiểu luận, công trình nước ngoài quan trọng, từ M. Kundera (Sự bất tử; Bản nguyên; Chậm rãi), Jorge Amado (Hải trình ven bờ), đến J.F. Lyotard (Hoàn cảnh hậu hiện đại), G. Bataille (Văn học và Cái ác)…Tôi không nghĩ ông ngại lí thuyết mà hẳn vì ông muốn nó thẩm thấu trong cách nghĩ, diễn đạt ngắn gọn, giản dị của mình. Một lí thuyết thời thượng là hậu hiện đại mà giờ đây ai cũng liến thoắng được, thật như trò đùa, nếu muốn có phát ngôn trọng lượng, lại trích dẫn từ sách dịch của ông! Trong khi ông, khác với nhiều người, đặc biệt là một số nhà nghiên cứu trẻ luôn xúng xính, nhanh nhảu chua đủ tên lí thuyết như thể đọc thông biết tuốt, lại tỏ ra chừng mực và hạn hữu lắm mới bàn về nó. Nói vậy để thấy ông không chỉ nỗ lực chống lại tình thế đơn ngữ của thế hệ sinh cuối thập niên 1950 cùng mình, mà còn nhắc nhở lớp hậu sinh kiên tâm nhưng phải luôn tỉnh táo trước những ngã rẽ tri thức rất đa dạng của đời sống nghiên cứu. Tôi cứ hình dung ông dịch, giới thiệu nhiều tiểu luận cốt để ai thích thì đọc, nghi ngờ thì đối thoại, đồng điệu thì trích dẫn, còn sự thể ấy với ông, rút cuộc cũng là cuộc chơi và bỏ mặc đằng sau lời tán thưởng hay quy kết, ông thõng tay chuẩn bị nối tiếp một cuộc rong chơi sách vở phía trước.

“Cái hèn của người cầm bút” (1988) thuộc số bài viết đầu tiên của Phạm Xuân Nguyên(2). Không khí đổi mới của năm tháng đó hẳn cho phép ông nói rất đúng cái bệnh “sợ hãi, nơm nớp cho số phận mình”, “tự bắt mình bẻ cong ngòi bút” đang trầm trọng trong văn giới đương thời. Giờ đây, sau khi đọc hầu hết những gì ông viết, nhất là một số bài tranh luận/phê bình gây chú ý (Núi xanh núi vàng; Hội chứng Babylone; Much Ado About Nothing; Phê bình văn học hiện nay: cái thiếu và cái yếu; Giải thưởng không thành giải thưởng…), tôi nghĩ, chẳng cần đến phút nới lỏng của thời thế, ông vẫn phát biểu thẳng thắn và mạnh mẽ, vượt qua “cái hèn” lẩn khuất đâu đó trong mỗi người, và cũng để minh chứng rằng càng co vào an toàn, yên trí với phận vị xuôi chiều, lảng tránh sự thật thì người cầm bút càng trở nên nhạt nhẽo, nếu không muốn nói là cạn kiệt ý tưởng sáng tạo. Chính bởi năng lực theo dõi tình hình văn học và dám bộc lộ quan điểm riêng trước nhiều vấn đề, hiện tượng mới, phức tạp mà Phạm Xuân Nguyên vừa được tiếng là ngự sử văn đàn vừa bị gán vào hình ảnh hoạt náo viên làng văn nghệ! Tuy thế, chỉ cần đọc lại cuốn sách mà ông biên soạn (Đi tìm Nguyễn Huy Thiệp, 2001), tôi nghĩ ông có con mắt xanh khi chọn những gì xứng đáng và đặc biệt, cố gắng bảo đảm sự xuất hiện của các giá trị ấy không bị o bế hay méo mó đi.

“Mình tự làm hèn mình”, từ xưa đến nay, là điều mà các nhà nho tài tử rất tối kỵ. Ẩn sâu dưới những tuyên ngôn ngất ngưởng, những nếm trải lạc thú trần thế, kiểu con người này bao giờ cũng cứng cỏi, khí khái lạ lùng. Nhìn Phạm Xuân Nguyên trong dạng hình nhà nho tài tử tái sinh, ngay cả khi trừ đi tất cả lớp sơn biến màu để thích ứng với xã hội hiện đại, cơ hồ ông vẫn vừa vặn khuôn “tài mệnh tương đố” lắm lúc không thể san nhường cho ai. Phàm đã thế, mượn tiếng “hề” trong các bài phú mà cánh “tài tử đa cùng” thường sở đắc, tôi thành thực tấm tắc trước những trải nghiệm trong văn chương lẫn đời sống của ông. Văn chương vẫn là chốn trổ tài, còn đời sống vốn ngắn ngủi và muộn phiền, hà tất phải ngậm ngùi cho phải lẽ?!

-----------------------------
1 Một bình luận ngắn của Phạm Xuân Nguyên về bài thơ này, xem thêm: “Cái tài giắt lưng” đăng trên Tuổi Trẻ, số Tết Tân Mão 2011, bản điện tử tại: http://phamxuannguyen.vnweblogs.com/a278825/cai-tai-giat-lung.html

2 Xem bản đăng lại trên trang điện tử của tạp chí Sông Hương tại đây.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chiến tranh không đùa với ai cả!


>> Đừng biến du lịch sinh thái thành “con tin”
>> Kiểm tra tài sản 1000 quan chức: TBT Trọng ‘đụng tường’?
>> Kết luận của Thủ tướng về việc sân golf trong sân bay Tân Sơn Nhất


Lê Thị Hương/Infonet
“Chiến tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc thế nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ…”

“Bởi chiến tranh đâu phải trò đùa”

Bố em, 18 tuổi vào bộ đội. Năm đó là 1974, chiến tranh đã vào hồi cuối, bố là lớp tân binh nên còn huấn luyện chán chê để rồi tuyển lựa "đi B". May mắn thay, bố chưa đến đợt đi B thì chiến tranh kết thúc, 1977 bố giải ngũ trở về, cưới vợ.

Tháng 8/1978, chị cả em ra đời, sau đó chỉ một tháng, chú Tư - em trai ruột của bố em, có lệnh gọi nhập ngũ. Chú vừa nhát vừa hiền, lại vừa cưới vợ nên bố xin đi thay chú. Đất nước đang cần người đã có kinh nghiệm, đơn tình nguyện của bố được chấp thuận ngay. Mẹ em, chị và ông bà tiễn bố lên đường.

Vài tháng sau, bố đi K (chiến trường Campuchia). Chuyến tàu đưa bố đi từ ga Hải Phòng, đơn vị bố có hơn 40 người Hải Phòng, vào đến Quảng Trị còn 14 người. Họ nhảy tàu vì đi B thì sẵn sàng nhưng đi K thì khác.

Thời gian đầu còn có chút tin bố về nhà, càng về sau càng biền biệt. Mấy năm sau có giấy báo tử gửi về, bà nội khụy xuống trước thềm nhà. Suốt tháng trời bà mê man chỉ đòi chống gậy đi tìm con, bà bảo bố em không thể nào chết được.

Mẹ ôm chị gái em từ căn nhà riêng về ở với ông bà vì chị ốm quá, lên sởi mủ xanh mủ vàng đã có lần thiếp đi, chú mang ra góc giường đặt, mẹ khóc ngất, bỗng thấy cánh tay chị vời lên, mẹ lại ôm chị, chăm nuôi bú mớm. Những năm tháng ấy, bố vẫn biền biệt bên kia, không hay biết gì về tình cảnh bi đát của con thơ, mẹ già.

Rồi bố bị thương trong một lần đi họp giao ban buổi tối: đạp trúng mìn, bàn chân dập nát, đồng đội đưa về trạm quân y dã chiến giữa cánh đồng hoang. Sợ tiếp tế đến không kịp, bác sĩ y tá cưa chân cho bố, cưa sống, đồng đội hát quốc ca bao nhiêu vẫn không át nổi tiếng gào thét.

Rồi 2 ngày sau bố mới được chuyển về Sài Gòn bằng trực thăng, lần này nằm viện, cưa thêm một lần nữa vì vết cưa cũ bị nhiễm trùng. Điều dưỡng thêm vài năm nữa 1/3 chân phải của bố đã không còn, một mảnh đạn găm ở đùi và hai tai bị điếc nhẹ.

Bố về nhà với giấy chứng thương 2/4, mất sức 65%. Nhưng còn về được đã là đại phúc cho cả nhà mình, bố kể hồi mới sang được 1 tháng, chính tay bố đã phải gói hài cốt của bạn mình để trực thăng mang về.

Ngày bố về, nét mặt dữ dằn hơn, những cơn đau mê sảng thỉnh thoảng vẫn trở lại, chị em nhất định không nhận bố vì sợ cái nạng và cái chân gỗ bố tháo ra lắp vào mỗi sáng tối. Ngay cả đến đời con trai của chị, cháu ngoại của bố, mỗi lần nhìn cái chân ấy nó đều khóc thét.

Bố mất cả tháng giời chỉ để làm quen và ôm con gái mình vào lòng mà không làm nó sợ. Đúng, em là gái, em chỉ nhìn những thứ xung quanh mình, em nhìn thấy chiến tranh và hậu quả của nó trong suốt 18 năm sống bên bố, những lần sợ hãi đến run rẩy khi bố em mắt vằn tia máu lên nóng giận vì những điều không lớn lao gì, khi bố em những đêm rên rỉ trong vô thức vì mảnh đạn trong người, khi bố em có những lần đi xe máy hơi quẹt xe đã ngã vì không thể dùng chân giả mà chống như người ta được.

Bố em chưa một lần than vãn gì về chiến tranh, kêu ca gì về sự đãi ngộ của nước nhà cho những người thương bệnh binh như bố, bố vẫn bươn trải bán buôn ngược xuôi để nuôi con học hành.

Em nhớ mãi một lần lớp 11, em học kém bị bố đánh, đánh xong bố nói rất nhiều, nhưng có một câu em không thể nào quên được, bố bảo: "Chị em chúng mày đang đi học bằng tiền xương máu của tao đấy con ạ". Đúng, chúng em từ Cấp 1 cho đến hết Đại học đều được miễn học phí vì bố là thương binh.

Bao nhiêu năm em sống trên đời là bấy nhiêu năm em thấy mẹ chăm bẵm bố em từ miếng cơm, phích nước, ấm trà, là thấy mẹ chịu đựng đủ sự nóng nảy của bố do thay đổi tâm tính từ lúc trở về.

Có đôi lần ai đó nói đến chiến tranh, mẹ em chỉ lơ đãng nói một điều: "Kể cả có chiến tranh, thằng HA (em trai em) nhà này cũng không bị gọi đi nhập ngũ đâu, nó con một, bố lại thương binh yếu đuối thế kia".

Các bạn có thể cười rằng mẹ suy nghĩ hạn hẹp và ích kỷ, nhưng nếu các bạn đã từng vùi cả tuổi xuân của mình để chờ chồng, nuôi cha mẹ già con thơ và dành cả cuộc đời để xoa dịu những vết thương chiến tranh, các bạn sẽ dễ cảm thông cho mẹ em biết chừng nào. Chiến tranh không đùa với ai cả, cũng không phải cứ hạ súng thì đã là kết thúc thế nên, còn hòa bình được ngày nào, hãy cố mà gìn giữ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

VỤ ÁN TỶ ĐÔ: Trịnh Vĩnh Bình kiện Nhà nước CHXHCNVN


Các bạn nên theo dõi vụ này. Thông tin trên mạng khá nhiều. Đây là trường hợp điển hình nhà nước VN sẽ thua kiện và thiệt hại rất lớn. Có đồng chí lãnh đạo hồi làm thứ trưởng trực tiếp giải quyết vụ này (2004-2006) đã nói với tôi: "xót xa vì ta thua toàn diện". Tiếc là vụ này cũng như vụ VNA hay liên đoàn bóng đá VN thua kiện, mọi tổn thất đều đổi lên đầu người dân nên đám quan chức chẳng sợ gì cả, cứ thản nhiên vô trách nhiệm khi các đối tác kiện. Sau vụ này, biết đâu sẽ có vô số vụ kiện khác đòi tài sản, đất đai mà nhà nước VN đã tịch thu, quốc hữu hóa...
VỤ ÁN TỶ ĐÔ
Luân Lê - Đến gần đây tôi mới để ý và tìm hiểu về vụ kiện có lẽ là chưa từng có tiền lệ trong lịch sử, đó là việc một cá nhân khởi kiện một chính phủ của một quốc gia ra tòa án, trọng tài quốc tế để xét xử. Đó là vụ án Trịnh Vĩnh Bình kiện Nhà nước CHXHCNVN về bồi thường thiệt hại về kinh tế (tài sản) và quyền liên quan đến nhân thân mà ông này bị xét xử theo luật pháp Việt Nam trong cùng một vụ án hình sự vào cuối những năm của thập niên 1990s.
Nhà nước Việt Nam nên nhớ cho vụ kiện hãng hàng không VNA (Vietnam Airlines) đã từng thua kiện tại tòa án ở Ý bởi nguyên đơn là một luật sư người nước này. Và hãng hàng không VNA vì chủ quan và nghĩ rằng một vụ kiện ở nước ngoài như vậy là không đáng kể và cũng không ảnh hưởng gì tới họ mặc dù có phán quyết của tòa án đi nữa, nên VNA đã hầu như im lặng trước tất cả các thông báo và triệu hồi tố tụng của tòa án ở Ý gửi sang với các yêu cầu phản hồi cũng như cung cấp chứng cứ chứng minh cho chính bị đơn. 


Nhưng chính suy nghĩ "ao làng" này đã khiến VNA phải trả một cái giá quá đắt khi bị đóng băng tài khoản và các hoạt động bay, khai thác hành khách ở Pháp, khi luật sư này đã yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án của tòa án ở Ý tại quốc gia được mệnh danh là kinh đô ánh sáng. Và tất nhiên, VNA đã phải móc hầu bao để chi trả khoảng 8 triệu Mỹ kim (tám triệu đô-la Mỹ) để thực hiện bản án mà tòa đã tuyên cho nguyên đơn người Ý kia.

Nay lại xuất hiện một vụ kiện nữa, lớn hơn rất nhiều lần vụ tranh chấp kinh tế về hàng không với doanh nghiệp quốc doanh vừa nêu trên. Doanh nhân Hà Lan gốc Việt kiện Nhà nước CHXHCNVN yêu cầu bồi thường phần tài sản đã bị tịch thu vào năm 1999 và việc bắt giam oan sai. Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định về khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Hà Lan năm 1994, và có các điều kiện về bảo hộ, bảo đảm tài sản và việc tham gia giải quyết tranh chấp theo thủ tục tòa án hoặc trọng tài.

Ông Trịnh Vĩnh Bình (người nước ngoài) đã khởi kiện vụ án này vào năm 2003, đến năm 2005 thì có vẻ như đã có thể thương lượng được nên các thủ tục giải quyết vụ việc đã được đình hoãn mà không có thông tin gì khác. Đến năm 2013, ông Trịnh Vĩnh Bình lại tiếp tục có đơn kiện Nhà nước CHXHCNVN ra trọng tài quốc tế ở Stokholm, Thụy Điển. Và ông này yêu cầu phía Việt Nam phải bồi thường một con số lên tới khoảng 1 (một) tỷ USD.

Việc khởi kiện tại trọng tài quốc tế là một hành vi rất khôn ngoan và đầy tính toán, bởi Việt Nam đã tham gia Công ước New York 1958, hiện nay có 130 quốc gia là thành viên. Và mỗi một phán quyết trọng tài, có tính chung thẩm - tức có hiệu lực ngay, sẽ có hiệu lực thi hành đối với không chỉ quốc gia chịu phán quyết mà có thể được thi hành tại bất kỳ quốc gia nào là thành viên của công ước này. Điều này bắt buộc Việt Nam phải tham gia một cách tích cực và chủ động trong việc bảo vệ quyền lợi của mình, nếu không sẽ mất quyền phản đối và quyền tự bảo vệ trong thủ tục tố tụng trọng tài.

Việc xem xét trước hết là về thẩm quyền trọng tài, sau đó đến luật áp dụng cho thỏa thuận trọng tài (đương nhiên Hiệp định song phương giữa Hà Lan và Việt Nam là không cần xem xét đến hiệu lực nữa), luật áp dụng để giải quyết về mặt nội dung của vụ án và cuối cùng là quy tắc tố tụng trọng tài nào sẽ được áp dụng để tố tụng.

Theo các thông tin thì ông Trịnh Vĩnh Bình đã thuê một hãng luật lớn ở Mỹ để theo đuổi vụ kiện. Còn phía Việt Nam đã sử dụng hãng luật của Pháp để tư vấn và đại diện pháp lý. Vụ kiện sẽ được mở vào ngày 21/08/2017 tới đây để xét xử yêu cầu của nguyên đơn đối với các đòi hỏi về bồi thường thiệt hại đối với tài sản và việc chống lại bản án hình sự mà ông Bình cho rằng oan sai và là vi phạm về quyền nhân thân đối với ông này.

Nếu không theo sát và tiếp tục tư duy coi thường luật pháp quốc tế, dùng chính trị để chi phối xét xử, không thận trọng trong các tranh chấp vượt ra ngoài ranh giới quốc gia, thì cái giá phải trả sẽ vô cùng lớn. Nếu không thể bảo vệ được mình trong vụ kiện, thì trước hết là thiệt hại tài sản là một con số khổng lồ đối với ngân khố đang cạn kiệt, và hơn thế là các cơ hội đầu tư quốc tế cũng sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng về sau này.

https://www.facebook.com/luatsuluanle/posts/1955488524694923

Vu Hai Tran : Vụ Trịnh Vĩnh Bình, quan chức Việt nam nào chịu trách nhiệm quyết?

Mấy hôm nay, trên một số trang mạng xã hội đề cập về vụ Trịnh Vĩnh Bình (một người Việt có quốc tịch Hà lan, từng đầu tư ở Việt nam, sau đó bị kết án và tịch thu hầu hết tài sản tại Việt nam) kiện Việt nam, đòi 1 tỷ USD tiền bồi thường. Thông thường Bộ Tư Pháp sẽ đại diện và chịu trách nhiệm cho phía Việt nam, nhưng không thấy báo chí Việt nào đăng tải.

Cách đây hơn 10 năm, tôi cũng nhận được một đề nghị của một quan chức cao cấp (nay là một sếp lớn có hàm bộ trưởng), phân tích về việc Trịnh Vĩnh Bình kiện. Tôi nói rằng nếu Việt nam và Hà lan có hiệp định nào đó, ông Bình có thể căn cứ vào hiệp định để kiện, và nếu bị kiện, tiền thuê luật sư và tiền bồi thường nếu bị tuyên thua sẽ khủng lắm, vì vậy tốt nhất là dàn xếp, tuy nhiên do không nắm hổ sơ, nên không thể bình luận gì thêm. Sau đó, được biết đã có vụ giàn xếp giữa nguyên đơn và bị đơn. Nay ông Bình tiếp tục kiện, chắc hẳn có lý do. Tôi sẽ có bài viết chi tiết về vụ kiện này.

Tuy nhiên, tôi cũng chưa rõ quan chức Việt nam nào được trao thẩm quyền đại diện và quyết định trong vụ kiện này, nghe nói sắp được tranh tụng trong tháng tới. Hy vọng Bộ Tư pháp chú tâm vào vụ kiện này, mởi các luật sư (hoặc cựu luật sư như Lê Công Định) hiểu biết về xét xử của Trọng tài quốc tế và luật quốc tế tham vấn (cho dù đã thuê hãng luật quốc tế đại diện), đừng có sĩ diện, không có ngày tai hoạ thua kiện lại đổ ập xuống.

Bạn nào biết thêm thông tin, cho mọi người biết nhé! (Nhiều bạn FB của tôi là các quan chức trong nhiều cơ quan trung ương, chắc có thông tin)

Tran Mai Lai Lạ nhỉ, vụ này nổi đình nổi đám những năm 2004-2006, VN thua toàn diện... Mấy năm nay ông Bình lại kiện tiếp mà các luật sư lừng danh ko biết nhỉ ? Chỉ đến lúc sắp xử mới biết ? Thông tin trên mạng cũng khá nhiều mà. Vụ này cũng như vụ VNA hay liên đoàn bóng đá VN thua kiện, mọi tổn thất đều đổi lên đầu người dân nên đám quan chức chẳng sợ gì cả, cứ thản nhiên vô trách nhiệm khi các đối tác kiện. Sau vụ này, biết đâu sẽ có vô số vụ kiện khác đòi tài sản, đất đai mà nhà nước VN đã tịch thu, quốc hữu hóa...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung tướng mới về hưu có máu 'sửu nhi, húng chó"

Làm đến chức to như thế thì chắc chắn ông Liêm rất khôn; không hiểu hôm đấy ông tướng lỡ ăn nhầm phải cái gì mà sinh chuyện. Là quân nhân, lại cấp cao như thế, lỡ đi quá tốc độ thì chấp nhận dừng xe rồi xuống xin một câu là được đi. Quân đội cũng cùng lực lượng với công an, công an chẳng bao giờ bắt lỗi công an, nên cũng chẳng bắt lỗi bộ đội. Chuyện nhỏ thành chuyện to, giờ người ta suy diễn, đám quân đội, công an, đại biểu QH... có chức có quyền đều hống hách, coi pháp luật như phân như rác. Về hưu còn như thế thì hồi đương chức không biết còn khủng khiếp tới nhường nào.


Ngọc Uy Phan Một ông kẹ leo đến chức Phó chính ủy Quân khu 9, Phó Chủ nhiệm ủy ban kiểm tra Quân uỷ TƯ, đại biểu QH tỉnh Vĩnh Long khoá 12, mới về hưu, đầu 2 thứ tóc mà ra đường tham gia giao thông còn máu 'sửu nhi, húng chó thì quá dại dột.

Hết bà phó quận chối gọi điện chủ tịch, công an phường ra trông xe cho bà phó ăn bát bún giờ tới lão 'tướng về hươu' làm ông trời con, thoá mạ CSGT. Có l
 mấy mươi năm nay quan cách cán bộ đều thế cả, có điều bây giờ có smartphone và mạng XH nên người dân được up date liên tục về sự tha hoá của 'đầy tớ nhân dân'.



Lâm Nguyễn Đáng khen anh cảnh sát giao thông kiên quyết xử lý vi phạm dù biết nhân vật này không phải vừa đâu.


Dương Tiến Thông Mình không nghĩ ông tướng là "vô văn hoá". Mình nghĩ tâm thế người Việt mình bây giờ có gì không ổn, bất an, dễ bị kích động. Sự cố xảy ra nhiều khi chỉ là điều vớ vẩn, không đáng. Phải chăng môi trường sống của chúng ta đang có vấn đề: các chuẩn mực sống bị đảo lộn...?!
Vụ tướng về hưu giơ thẻ dọa, lăng mạ CSGT: "Không thể bỏ qua vì dư luận rất bức xúc"

Đức Nguyên | 16/07/2017 - 
Đại tá Hạnh thông tin, ngày mai (17/7) đơn vị sẽ họp để có hướng xử lý nghiêm trường hợp một vị tướng dùng lời lẽ khiếm nhã, thách thức khi bị CSGT xử lý vi phạm giao thông. Cần Thơ: Một người đàn ông chửi bới, lăng mạ thậm tệ CSGT 

Ảnh cắt từ clip

Chiều 16/7, Công an quận Bình Thủy đã có báo cáo gửi Công an TP Cần Thơ về vụ việc một người đàn ông ngồi trong ô tô đã dùng những lời lẽ khiếm nhã, thách thức khi bị lực lượng CSGT xử lý vi phạm giao thông, kèm theo báo cáo là hình ảnh ghi tốc độ xe và video vi phạm.

Trả lời báo Tri thức trực tuyến, Đại tá Trần Ngọc Hạnh - Giám đốc Công an TP Cần Thơ thông tin thêm người đàn ông chửi bới cảnh sát giao thông ở quận Bình Thủy là trung tướng Võ Văn Liêm (Bảy Liêm, 62 tuổi), nguyên Phó chính ủy Quân khu 9, nguyên Phó chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Quân ủy Trung ương (Bộ Quốc phòng).

"Ngày mai, chúng tôi sẽ họp để có hướng xử lý nghiêm trường hợp này chứ không thể bỏ qua vì dư luận rất bức xúc", nguồn tin trên dẫn lời đại tá Hạnh.

Theo báo cáo của Công an quận Bình Thủy, vào lúc 11h30 ngày 14/7, tổ công tác gồm 6 cán bộ do Thượng úy Đinh Công Văn làm tổ trưởng, tiến hành tuần tra kiểm soát theo kế hoạch.

Trong lúc dừng để kiểm tra tốc độ trên đường Võ Văn Kiệt (hướng từ sân bay Cần Thơ về quận Ninh Kiều), tổ tuần tra phát hiện ô tô BS 64A - 027.78, do một tài xế nam chưa rõ danh tính đang điều khiển xe chạy quá tốc độ qui định từ 10 đến 20km/h (81/70km/giờ).

Khi tổ công tác ra tín hiệu dừng xe tài xế không chấp hành mà bỏ chạy với tốc độ cao.

Trung úy Nguyễn Văn Thành đã dùng môtô chuyên dụng đuổi theo và chặn được khi chiếc xe này gần vào nội đô.

Trong lúc lực lượng CSGT đang yêu cầu tài xế xuống xe xuất trình giấy tờ để kiểm tra thì người đàn ông ngồi ghế phụ tỏ thái độ không tuân thủ và liên tục dùng lời lẽ thô tục với lực lượng CSGT.

Người này còn rút ra "thẻ ngành" và lớn tiếng dọa nạt sẽ cho cán bộ CSGT "mất việc", "không còn đường nào đi" và thậm chí là "cách chức giám đốc công an".

Đại tá Trần Ngọc Hạnh cho biết cán bộ CSGT sau khi bị gây áp lực bởi những lời lẽ khiếm nhã đã tạm thu giữ giấy tờ và để ôtô trên tiếp tục di chuyển.

"Tôi đã được báo cáo về vụ việc trên và khẳng định các cán bộ, chiến sĩ làm nhiệm vụ đúng quy định", đại tá Hạnh nói trên báo Tuổi Trẻ Online.

Cũng trong tối nay PV báo Tuổi trẻ đã cố gắng liên lạc với ông Võ Văn Liêm nhưng ông Liêm chưa nghe điện thoại.

http://soha.vn/vu-tuong-ve-huu-gio-the-doa-lang-ma-csgt-khong-the-bo-qua-vi-du-luan-rat-buc-xuc-20170716230725622.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang