Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Tại sao không trấn yểm cho chết hết bọn bán nước hại dân?


1- Có người hỏi Thầy ơi! Ông Quan Công không hiểu tiếng Việt ông Cao Biền không hiểu tiếng việt mình khấn tiếng Việt sao ông ấy hiểu?
2- Có người hỏi thánh nào uy lực cao? thánh nào giỏi tại sao?
3- Làm sao ông Quan Công có thể đến nước ta? Làm sao biết ông ấy đi hay chưa?
4- Làm sao thầy dám động đến Cao Biền và Quan Công?

Tôi xin trả lời:
1- Thưa các bạn. Khi người mất lâu rồi mà được dân chúng thờ cúng nhiều, họ sẽ tự "thông linh" họ sẽ hiểu được vạn sự, chúng ta cúng Phật bằng tiếng Việt tại sao Phật hiểu vì Phật thông linh. Tương tự như vậy bất kỳ vị thánh thần nào thông linh họ cũng hiểu được mọi ngôn ngữ, thậm chí tâm mình nghĩ sao thì họ đã hiểu.

2- Thánh cao hay thấp là do con người sùng tín và thờ cúng, vị nào được nhiều người sùng tín thì uy lực của vị đó sẽ ngày càng cao.

Ví dụ:

Thượng Đế hoặc các vị Thần vốn không phải là người trần mắt thịt mà tự sinh ra từ khi tạo lập vũ trụ theo khái niệm của con người thì họ là những vị thần cao nhất. Cho nên Thượng Đế luôn luôn cao nhất trong tất cả mọi đạo pháp.

3- Các vị là người trần mắt thịt được giác ngộ, hoặc họ là nguyên thần của các vị thần tiên giáng thế bằng xương bằng thịt, sau do tu luyện đắc pháp được người dân kính trọng mà phong thánh. Ai được nhiều người dân sùng tín tôn thờ thì người đó hiển thánh bậc cao.

Ví dụ:

Đức Phật cũng có khoảng gần 2 tỷ người sùng tín.

Đức Chúa cũng có hơn 2 tỷ người sùng tín.

Do vậy mức độ và uy lực của Phật và Chúa phi thường cao hơn mọi vị thánh khác.

4- Tại sao các vị thánh Trung Quốc có uy lực vượt trội?

Vì họ được nhiều người tôn thờ, với dân số 1,4 tỷ họ có lợi thế, ngoài ra còn các nước như Việt Nam, Đài Loan, Singapore, Malaysia, Indonesia, v.v.... cũng tôn thờ nên uy lực của họ cành mạnh.

Trong khi đó các vị Thánh của Việt Nam chỉ với dân số hơn 90 triệu, mà trong đó không phải ai cũng thờ, các nước khác họ ít thờ hoặc không thờ các vị Thánh của Việt Nam thì uy lực về tâm linh của các vị thánh nước ta sẽ bị hạn chế.

5- Khi dân chúng thờ cúng, tín ngưỡng và sùng bái ai đó thì người đó được hiển thánh trên quốc gia đó một cách tự nhiên, chúng ta thờ Phật ở Việt Nam thì Phật sẽ ở Việt Nam, tương tự như vậy khi dân chúng thờ Quan Công hay Khổng Tử v.v... thì họ đương nhiên sẽ hiển linh tại Việt Nam.

Khi làm phép tiễn Quan Công thì làm sao để biết Quan Công đồng ý đi hay không?

Khi bạn đến chùa, đến đền, v.v... bạn muốn hỏi điều gì thì bạn thường xin quẻ hoặc gieo quẻ để hỏi, bạn sẽ căn cứ vào quẻ để biết thần tiên có đồng ý hay không, tương tự như vậy khi làm lễ tiễn Quan Công tôi cũng gieo quẻ để hỏi, và đó là cách sòng phẳng nhất giữa dương gian và âm gian.

6- Cao Biền hay Quan Công cũng là người như tôi, cũng sinh lão bệnh tử chẳng khác nhau điều gì, khi họ chết đi thì họ được nhiều người thờ cúng mà hiển thánh.

Riêng Cao Biền ông ấy luyện các pháp thuật của đạo giáo, nên biết trấn yểm, nhưng ông ấy chuyên làm những việc đại nghịch nên sau này đã bị Lưu Khuông Thì chém chết, do vậy ông ta cũng chưa phải được xếp vào hàng thánh thần, mà chỉ là một ông đạo sỹ đơn giản.

7- Về phần tôi:

Tại sao tôi dám làm những chuyện này?

Thứ nhất: tôi có niềm tin vào Thượng Đế và các vị Thần Tiên, các vị mà tôi tôn vinh là sư tổ của tôi, các vị không phải là người trần mắt thịt, mà các vị tự sinh ra trong nguyên thuỷ của vũ trụ, đó là đức tin của cá nhân tôi.

Thứ hai: tôi là người nghiên cứu các pháp thuật của đạo giáo, tôi không nặng về mặt lý thuyết mà tôi tập chung vào việc thực hành và chiêm nghiệm tất cả những thành quả của việc thực hành đó, những pháp thuật cao nhất của Cao Biền cũng chỉ nằm trong những pháp thuật mà tôi đã học được và thực hành, chính vì vậy khi phá trấn của Cao Biền tôi hoàn toàn tự tin là mình chiến thắng.

Thực tế chứng minh rằng: từ ngày 10-10 năm 2016 khi tôi làm phép bắt các thuộc hạ của Cao Biền đến nay mọi vấn đề liên quan đến Cao Biền đối với tôi đều bình an.

Việc làm lễ hoà giải và tiễn Quan Công về Trung Quốc là dựa vào giấc mơ báo mộng của hai vị vua nổi tiếng nhất Nhà Trần đó là Trần Nhân Tông và Trần Thánh Tông.

Các vị báo rằng cách đây gần 3 tháng có hai người thầy phong thuỷ Trung Quốc đã sang Việt Nam trấn yểm họ dựa vào pháp lực của Quan Công làm hộ pháp để làm hại nước ta!

Liên hệ thực tế tôi biết có hai người đó sang Việt Nam thật, thậm chí họ còn muốn gặp tôi, nhưng không hiểu vì lý do gì họ chỉ sang 3 ngày rồi về mà không đến gặp tôi?! Cũng nên lưu ý rằng tất cả bọn họ đều đi bằng visa du lịch thông thường.

Tôi đã làm lễ xin phép tại điện kính thiên và xin làm việc này, tôi làm theo mọi sự chỉ dẫn về mặt tâm linh chứ không phải tự mình quyết định.

Trong quá trình hành lễ, Tôi không xúc phạm Quan Công và cũng không phỉ báng ông ấy, tôi chỉ muốn thực hiện theo điềm báo của các vị Hoàng Đế Việt Nam, điều đó hoàn toàn chính nghĩa và hợp pháp về mặt tâm linh. Chính vì đức tin ấy mà tôi dám làm những việc có thể gọi là "tày đình về mặt tâm linh"!

Tôi có sợ không?

Tôi không sợ, vì tôi tin Thượng Đế và các vị Sư Tổ của tôi đủ pháp lực để giúp tôi thực hiện những việc mà mình muốn làm.

Vậy mục đích của việc làm và đưa lên mạng xã hội để làm gì?

Xin thưa rằng:

Mục đích của việc làm là xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm và sự báo mộng của các vị tiên đế, tôi làm việc này để giải quyết những bất ổn về mặt tâm linh.

Còn đưa lên mạng xã hội là vì tôi muốn truyền đi thông điệp với tất cả mọi người rằng: Cái gì cũng có giới hạn của nó, không phải Phật Thánh cứ thờ cúng mà xin là được, và mọi người cũng đừng có quá sợ Phật Thánh, đừng sợ đến mức nói cũng không dám phạm tên huý, các vị đó họ đơn giản như chúng ta vậy thôi, họ có chính kiến của họ, họ biết đúng sai, họ biết mọi điều và họ có lòng tự trọng cao hơn con người, vì họ là thánh, họ tôn trọng lẽ phải và công bằng.

Tôi cũng muốn gửi đi thông điệp rằng "mồ cha không khóc mà đi khóc mồ người"! Nếu người dân thường thờ cúng Quan Công hay ai đó... thì còn có thể chấp nhận vì họ chỉ là người dân, nhưng nếu các vị quan chức cao cấp, thậm chí là lãnh đạo đất nước mà thờ Tướng của một nước luôn luôn tìm cách xâm chiếm nước ta, cho dù ông ấy hiển thánh, hay có biện luận gì thì cũng không thể chấp nhận về ý thức độc lập, tự chủ, tự tôn dân tộc, hay về mặt lịch sử, cũng như tâm linh, tôi tin rằng thời xưa các vị Đế Vương Việt Nam các triều đại không thờ ông Quan Công, bởi chúng ta chưa thấy thông tin nào nói về việc khai quật được những bức tượng cổ của Quan Công trong Hoàng Thành Thăng Long hoặc các khu di tích lịch sử!

Vậy tại sao tôi phải mời Quan Công về nước?

Chúng ta thừa biết lịch sử hàng ngàn năm đời nào cũng vậy, các nhà phong thuỷ Trung Quốc luôn luôn muốn làm một cái gì đó để khống chế Việt Nam, họ dựa vào uy linh của Quan Công, hay các vị khác,... để làm pháp thuật trấn yểm tại Việt Nam, cũng vì các vị đó là thánh nhân của họ, họ tín ngưỡng và tôn sùng nên trong quá trình hành pháp họ đã làm phép thỉnh mời Quan Công trợ pháp để uy lực của pháp thuật được cao hơn. Đó chính là lý do buộc tôi phải mời Quan Vũ về Trung Quốc!

Tôi làm điều này không phải để oai, hay vô bổ, mà đều có mục đích cả về mặt tâm linh và dương thế.

Cuối cùng tôi cũng xin cảm ơn đa số các bạn đã ủng hộ việc làm này của tôi, và tôi cũng nhắn nhủ các bạn chưa hiểu hết ý nghĩa của việc tôi làm thì đừng có comemt những lời bất nhã và thậm chí là hằn học cay cú, bởi tôi chẳng động đến các bạn thì các bạn đừng động đến tôi!

Chúa Giê Su nói:

"các ngươi chưa đủ tư cách phán xét người khác"!

Tôi không làm điều ác được, nên các bạn bảo tôi trấn yểm cho nó chết hết bọn bán nước hại dân, hay những gì gì đó v.v... thì tôi không thể làm được!
Tôi chỉ can thiệp những gì mà nó có hại đến lợi ích dân tộc, hoặc những gì ảnh hưởng đến tính mạng của người dân Việt Nam thì chắc chắn tôi sẽ làm, tôi không đòi hỏi các bạn phải trả tôi tiền công, mà tôi chỉ cần trái tim của các bạn đối với tôi.

Còn bất kỳ người nào có ý định bôi xấu tôi, hoặc cố tình hạ thấp uy tín của tôi trên mạng xã hội... thì các bạn sẽ tự ngẫm xem từ ngày nói xấu tôi các bạn có thấy tốt hơn không? hay ngày càng tệ hại cả về kinh tế, sức khoẻ và tinh thần?

Tôi chẳng làm gì các bạn đâu, nhưng tôi tin Thượng Đế và các vị sư tổ của tôi sẽ không cho phép bất kỳ kẻ nào động đến đệ tử của các vị.

Qua những coment tôi cũng đã thanh lọc được nhiều đối tượng không cùng chính kiến với mình và họ sẽ vĩnh viễn không có cơ hội được gặp tôi cũng như vào trang facebook của tôi.

Một lần nữa tôi cảm ơn các bạn đã đồng hành cùng tôi trong mọi sự việc của xã hội con người.

Hà nội ngày 15-7-2017

Người bạn của các bạn.
Võ sư.Gs Vs Lương Ngọc Huỳnh

(FB Lương Ngọc Huỳnh)
Lương Ngọc Huỳnh - kỳ nhân võ thuật, lương y gia khoa

NGÀY 24 THÁNG 02, 2015 - Lương Ngọc Huỳnh từng được trao tặng Huân chương Pirogov và Huân chương Vì sự nghiệp an ninh Liên bang Nga do những đóng góp to lớn của ông trong lĩnh vực y học.

Nghe danh Giáo sư, Viện sĩ (GS.VS) Lương Ngọc Huỳnh, người sáng lập môn phái Lâm Sơn Ðộng đã lâu và biết dù nay đang sống ở nước Nga xa xôi, nhưng hàng năm anh vẫn có nhiều chuyến về Việt Nam, tôi đã “săn tìm” được người đàn ông này.

GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh được Học viện An ninh Quốc gia Liên bang Nga phong hàm Giáo sư. Trước đó, ông được Viện Hàn lâm Chiêm tinh Mông Cổ phong danh hiệu Viện sĩ do đã chọn Viện Hàn lâm này để gửi đề án về cách dùng khí công nâng cao sức khỏe và hiệu quả chữa bệnh. GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh hiện là Phó Chủ tịch Học viện An ninh Quốc gia Liên bang Nga.


GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh (giữa) nhận học hàm Giáo sư của Học viện An ninh Quốc gia Liên bang Nga

Kỳ nhân võ thuật

GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh có một tuổi thơ không êm đềm. Mẹ anh đã đẻ rơi anh khi bà đang cặm cụi công việc ở chuồng trâu. Một bà hàng xóm đã nhanh chân chạy sang dùng cật nứa cắt rốn cho mẹ con anh. Đó là năm 1964. Người mẹ nhẩm tính khi sinh anh, bà mới mang thai được 7 tháng 20 ngày. Có lẽ do sinh thiếu tháng, nên người anh lúc ra đời bé tẻo teo, chỉ nặng 1,7kg. Và thật không may, mới 3 ngày tuổi anh bị nhiễm trùng uốn ván. Anh được nhanh chóng chuyển đến Bệnh viện Gồ (thị xã Sơn Tây, Hà Tây cũ). Tại đây, các bác sĩ Việt Nam và Đức đã cứu sống anh. Nhưng, di chứng để lại với anh thật thảm hại - anh bị bại liệt hoàn toàn, chân tay co quắp.

Sinh ra trong một gia đình có truyền thống về võ thuật và y học, đó là sự may mắn của anh Lương Ngọc Huỳnh. Bố mẹ anh sinh được 7 người con, 6 trai, 1 gái và anh là con thứ năm. Bà nội của anh - cụ Nguyễn Thị Tỵ, người kế thừa những tinh hoa của dòng họ để lại, đã vận dụng tất cả kiến thức về khí công võ thuật lẫn y học cổ truyền để chữa bệnh cho đứa cháu nội kém may mắn. Ngày ấy, khi cậu bé Huỳnh bị bại liệt, bà nội thường xuyên vào rừng Phú Mãn, cách nhà (ở xã Đồng Quang, huyện Quốc Oai, tỉnh Hà Tây cũ) 13 cây số, để hái các lá cây thuốc Nam về sắc lấy nước cho anh uống. Không ai biết những lá thuốc ấy tên gì. Chỉ biết cùng với việc uống thuốc lá rừng, hàng ngày bà miệt mài châm cứu, bấm huyệt cho đứa cháu nội. May mắn, năm lên 4 tuổi, cậu bé Huỳnh bắt đầu chập chững biết đi - những bước đi đầu tiên của cuộc đời. Thương cháu nội ốm yếu, sau khi cậu bé Huỳnh đã biết đi, sang 5 tuổi bà nội liền truyền dạy võ, với mong muốn duy nhất: học võ người cháu sẽ có cơ thể khỏe mạnh. Bài tập đầu tiên, bà nội dạy cậu bé Huỳnh là hàng ngày xách hai viên gạch đã được cột vào dây thừng, mỗi ngày xách gạch đi mười vòng quanh sân nhà. Năm 8 tuổi, Lương Ngọc Huỳnh chính thức làm lễ nhập môn võ gia truyền của dòng họ. Bà nội cũng bắt đầu dạy cho anh châm cứu. Trước tiên là bắt anh học các huyệt đạo cơ bản. Hồi ấy, đi học cấp một trường làng, anh đã bị thầy giáo bắt để tay lên bàn đánh mấy roi vì tội... vẽ bẩn lên tay. Thầy không biết đó là những huyệt đạo bà lấy bút khoanh tròn ghi tên lên đó để anh dễ nhớ. Càng lớn lên, anh được bà nội truyền sâu những bài thuốc Nam gia truyền.

GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh từ nhỏ cũng đã sớm bộc lộ năng khiếu âm nhạc. Bố anh là người đã dạy cho anh đánh đàn bầu. Còn nhớ, năm 1972, khi máy bay B52 của Mỹ ngày đêm đánh phá Hà Nội, anh và người bố đã đi biểu diễn ở trận địa để phục vụ cho tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ bảo vệ Thủ đô, bất chấp tiếng bom rơi đạn lạc. Vì những thành tích ấy, tháng 12 năm 1972 anh đã được biểu diễn báo cáo Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng và các lãnh đạo của Nhà nước tại Nhà hát Lớn Hà Nội và vinh dự được Chủ tịch nước tặng danh hiệu “Nghệ sĩ tí hon”. “Đó chính là động lực thúc đẩy tôi cố gắng trong cuộc sống. Cũng từ đó, hàng ngày tôi đam mê tập luyện âm nhạc, bên cạnh tập luyện võ thuật và học những bí quyết về y học của dòng họ” - anh nói. Sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, anh làm đơn xung phong đi bộ đội và phục vụ trong quân đội 3 năm.Cuối năm 1988, hoàn thành nghĩa vụ quân sự trở về quê hương, đó là lúc như anh nói, cuộc sống kinh tế gia đình hết sức khó khăn. Để mưu sinh, anh mở lớp dạy võ cho thanh, thiếu niên trong làng. Dần dần nhiều em nhỏ, thanh niên các làng bên nghe tiếng anh đã tìm đến học võ. Không lâu sau, lò luyện võ của anh nổi tiếng khắp huyện Quốc Oai, rồi lan ra các huyện trong tỉnh Hà Tây cũ.

Ngày 23/9/1990 là một ngày đáng nhớ với GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh. Đó là ngày anh sáng lập ra môn phái Lâm Sơn Động khi được sự đồng ý và cho phép của chính quyền tỉnh Hà Tây (nay thuộc Hà Nội). Cùng đó, nhiều võ đường được mở ra, và chỉ ba năm sau, năm 1993, số võ sinh theo học môn phái Lâm Sơn Động lên tới 10 ngàn người. Danh tiếng của võ sư Lương Ngọc Huỳnh sớm vượt ra ngoài biên giới. Trong hai năm 1998 và 1999, anh được mời sang Pháp dạy võ tại Trung tâm Võ thuật Paris và Tổ chức Cảnh sát GINGEN, là một tổ chức cảnh sát đặc biệt tinh nhuệ nhất của nước Pháp. Đến nay, môn phái này đã đào tạo hàng trăm võ sư - huấn luyện viên Lâm Sơn Động và chữa bệnh cho hàng ngàn người ở các địa phương trong nước. Sau hơn 30 năm tu luyện võ thuật và nghiên cứu về y học, GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh đã dồn tâm trí, gửi gắm hết kinh nghiệm nghề nghiệp của mình trong hai cuốn sách “Khí công - Kungfu Lâm Sơn Động” và “Lương gia Y khoa”.


GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh (bên trái) với vị lãnh đạo Học Viện An ninh Quốc gia Liên bang Nga

Thành công ở nước Nga

Hồi ấy, hàng ngày vừa dạy võ, vừa chữa bệnh tại võ đường ở quê nhà Hà Tây, GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh vừa nghiên cứu để tìm ra những phương pháp chữa bệnh mới, hiệu quả hơn. Anh đi khắp mọi nơi tìm thầy để bổ trợ thêm kiến thức về y học cổ truyền. Lương y Lê Văn Sửu là người thầy mà anh đã theo học suốt trong vòng 6 năm.

Năm 2001, Hội Võ thuật Việt Nam tại Liên bang Nga mời anh sang làm Phó Chủ tịch thứ nhất của hội. Từ đây anh đã sống và làm việc, dạy võ, chữa bệnh cho cộng đồng người Việt ở Nga và cả công dân Nga. Ở Nga, anh học tại Trường ĐH Y khoa Matxcơva để lấy bằng bác sĩ. Đến nay, GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh có 3 trung tâm khám chữa bệnh theo phương pháp Y học cổ truyền Việt Nam tại Thủ đô Matxcơva, với trên chục bác sĩ Đông y hàng ngày bắt mạch chữa bệnh cho khoảng 50 bệnh nhân. Nhóm bệnh mà anh và cộng sự mát tay chữa, cho hiệu quả cao là các bệnh liên quan xương khớp, như thoái hóa đốt sống, thoát vị đĩa đệm, viêm khớp và cong cột sống. 

Bên cạnh là các bệnh anh và cộng sự chữa thành công liên quan hệ thần kinh, như liệt dây thần kinh mặt, thần kinh tọa, thần kinh ngoại biên, thần kinh thực vật..., bệnh rối loạn chức năng tạng phủ như gan, tụy, dạ dày, hành tá tràng... 

Anh cùng các bác sĩ trung tâm sử dụng bốn nguyên tắc cơ bản chữa bệnh, đó là:tư vấn cho người bệnh về mặt tinh thần, giúp họ không còn hoang mang, lo lắng về bệnh tật. Tiếp đến, điều trị theo phương pháp y học cổ truyền, gồm châm cứu, bấm huyệt, nắn chỉnh (với người bị bệnh cột sống, đĩa đệm, vẹo xương, cong cột sống) và uống thuốc Đông y (nguyên liệu mang từ Việt Nam sang). Hướng dẫn người bệnh tập luyện khí công phù hợp từng loại bệnh nhằm tăng hiệu quả chữa bệnh. Sau cùng là định hướng người bệnh tìm thấy giá trị đích thực của cuộc sống để quyết tâm chữa khỏi bệnh. 

Phần lớn bệnh nhân người Nga, các nước ở Nga tìm đến trung tâm của anh đều có một cảm giác đặc biệt. Họ không thể lý giải nổi, vì sao không dùng máy móc hiện đại như siêu âm, chụp Xquang, xét nghiệm, mà các bác sĩ Đông y Việt Nam (chỉ dùng phương pháp Tứ chẩn) lại xác định đúng bệnh của họ đang mắc phải (đã được Tây y chẩn đoán, kết luận). Điều đó khiến họ rất ngạc nhiên.

Thành công ở nước Nga, GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh hàng năm vẫn đều đặn trở về Việt Nam để có những đóng góp tích cực và hiệu quả cho đất nước. Anh hiện đồng thời là Viện phó Viện Y học cổ truyền Phương Đông, trực thuộc Hiệp hội Khoa học Đông Nam Á của nước ta. “Hiện tại, tôi đang làm việc với Trung tâm Cai nghiện Gia Minh (Thủy Nguyên, Hải Phòng) để nghiên cứu các phương pháp cai nghiện hiệu quả nhất cho các nạn nhân xã hội. Bên cạnh kết hợp với Trường đại học Nguyễn Trãi tiến tới thành lập Viện Nghiên cứu ứng dụng thực hành về y học và võ thuật Lâm Sơn Động” - GS.VS. Huỳnh cho biết. Bên cạnh, anh cũng đang tham gia huấn luyện môn võ thuật phái Lâm Sơn Động cho lực lượng cảnh vệ Việt Nam. Với mong muốn truyền đạt kiến thức cho thế hệ trẻ, hiện GS.VS. Huỳnh đang dồn tâm sức để viết hai cuốn sách “Lương gia mạch học” và “Trường thi sử toàn thư” - viết về lịch sử Việt Nam và thế giới hoàn toàn bằng thơ.

GS.VS. Lương Ngọc Huỳnh từng được Ủy ban giải thưởng Quốc gia Liên bang Nga trao tặng Huân chương Pirogov (Huân chương cao nhất về Y học của Liên bang Nga) và Học viện An ninh Quốc gia Liên bang Nga trao tặng Huân chương Vì sự nghiệp an ninh Liên bang Nga.

Nam Hoàng
http://suckhoedoisong.vn/luong-ngoc-huynh-ky-nhan-vo-thuat-luong-y-gia-khoa-n92440.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhiều cảnh sát cơ động làm ngơ một cách kỳ lạ khi nhìn giang hồ truy sát dân?


Vụ truy sát hai anh em ruột tại quán bia diễn ra trước sự chứng kiến của nhiều Cảnh sát Cơ động TP. Hải Phòng, nhưng họ đứng nhìn và làm ngơ một cách kỳ lạ khiến người dân bất bình.

Hiện trường vụ truy sát.
Sau khi xảy ra vụ việc, trao đổi với PV báo Người đưa tin, anh K., chủ quán bia 290 bức xúc: “Nói ra càng thêm bực bội anh ạ. Cả đời tôi chưa thấy chuyện bất công đến thế bao giờ. Lúc đó khoảng 2h30 sáng ngày mồng 3, có bốn người khách đang ngồi uống bia tại quán. Từ phía cầu vượt Lạch Tray có 7 xe gắn máy lao tới. Thấy bốn vị khách này là chúng lao vào đâm chém.

Cùng lúc đó, xe của Cảnh sát Cơ động cũng có mặt tại hiện trường. Hơn chục Cảnh sát Cơ động TP. đi trên 6 xe, tay có cả lá chắn, nhưng họ chỉ đứng nhìn bọn giang hồ lao vào đâm chém khách, mà không hề có động thái gì. Chỉ cần họ hô một tiếng, hay nổ súng chỉ thiên thì chắc nạn nhân không bị nặng đến thế. Đằng này họ làm ngơ”.


Nói về nguyên nhân vụ việc, anh C. cho biết thêm, trước khi xảy ra đâm chém, nghe đâu nạn nhân tên C. có xích mích với bạn bè cùa Cảnh sát cơ động. Sau đó thì bị bọn giang hồ đến đâm chém tới tấp nhằm đoạt mạng. Theo quan sát của anh K. và nhiều thực khách trong quán, một người trong nhóm giang hồ này còn đứng ngay cạnh xe của Cảnh sát cơ động để chỉ đạo.

“Đến 6h sáng, phía Công an quận Ngô Quyền (HP) có gọi tôi sang lấy thông tin. Tôi chỉ bảo cái này đúng ra các anh hỏi các chiến sĩ bên Cơ động là biết tường tận nhất. Họ đứng đó, chứng kiến vụ việc từ đầu đến cuối. Chứ thấy người ta mang dao kiếm vào là tôi bảo nhân viên cất hết dao đi, rồi chạy ra đứng ở ngoài đường đứng. Lúc đấy những người uống bia bỏ chạy hết chỉ còn 4 người nhà anh Tuấn ngồi đấy. Lúc đội kia chém khách trong quán tôi, lực lượng cơ động vẫn đứng nguyên bên đường để nhìn”, anh C nói.

Cũng có mặt tại hiện trường, chứng kiến vụ việc từ đầu tới cuối, anh N, nhân viên phục vụ quán bia bên cạnh quán 290 Lạch Tray cho hay, khi nhóm giang hồ hơn chục người kia vác dao kiếm và phóng lợn vào chém anh C. và anh T., có hai xe cơ động đứng ở đèn đỏ, mười mấy anh Cảnh sát cơ động khác đứng đằng sau một xe đặc chủng, sau đó mấy xe máy chở cảnh sát cơ động cũng tới.


Nạn nhân C. được đưa đi cấp cứu ở bệnh viện.

Lúc đó anh T. bị chém vẫn cố gắng chạy ra bảo: Các anh bảo vệ dân kiểu này à? Cảnh sát cơ động vẫn không nói gì và chỉ đứng nhìn. Một lúc sau có 2 người cầm lá chắn xuống, nhưng cũng mặc kệ.

Tại bệnh viện Việt Tiệp Hải Phòng, nơi nạn nhân Nguyễn Mạnh C. đang được cấp cứu trong tình trạng nguy kịch, chúng tôi có cuộc trao đổi với nạn nhân Nguyễn Anh T. (anh trai của nạn nhân C.).

Khuôn mặt xen lẫn đau đớn, mệt mỏi và chưa hết bàng hoàng, anh T. cho biết, trên đường đi ra Lạch Tray, anh em anh có gặp một cán bộ CSCĐ TP tên Lăng. Sau khi chào hỏi nhau, anh Lăng có nói: “Anh T. ơi, anh bảo C. nhà anh có va chạm với đội bạn em tên Linh đấy”. Do không biết đầu đuôi câu chuyện, anh Tuấn chỉ bảo để anh hỏi C. xem như nào.

Khi đến quán bia 290 Lạc Tray, anh T. có gọi em mình ra, đang định hỏi đầu đuôi câu chuyện thì nhìn thấy 2 xe cơ động lượn đi lượn lại một vòng quanh quán bia đó, nghĩ chắc cơ động xuống hỏi mình công việc gì. Tiếp theo là một xe Uoát cũng của bên cơ động đỗ ở đấy.

Sau 5 đến 10 phút thì có hơn chục thanh niên đi khoảng 4-5 xe máy tay cầm dao, kiếm, tuýp sắt, phóng lợn lao vào 2 anh em anh T. đâm chém khiến C. ngã gục. Anh T. vào can ngăn cũng bị chúng chém xẻ cổ, toác đầu.

“Quá sợ hãi, tôi lao về phía mấy anh Cơ động cầu cứu, nhưng họ cứ đứng đó nhìn. Hoảng quá, bàn tay đầy máu, tôi lao vào ôm chặt lấy họ hét ầm lên: Các anh là Cảnh sát cơ động mà đứng đây không làm gì à! Người thì bị thương, người có hung khí như kia các anh đứng ở đây làm cái nhiệm vụ gì ở đây?
Đúng lúc đó có một người ở trong đội đi cùng hơn 10 người vào chém anh em tôi bảo với mấy anh cơ động: Đây toàn là người nhà không bắt. Nghe đến đây, tôi quay lại thì bị chém tiếp 2 nhát vào đầu, sau đó tôi bất tỉnh ko biết gì nữa”, anh T. cho biết.

Trao đổi với báo Người đưa tin, một cán bộ Phòng hình sự CA TP. Hải Phòng cung cấp thông tin, mặc dù quận Ngô Quyền chưa báo cáo, nhưng vụ việc xảy ra rất nghiêm trọng, lại có liên quan đến một đồng chí Cảnh sát cơ động, nên phòng đã cử cán bộ vào cuộc điều tra. Hiện các đối tượng trong nhóm côn đồ chém người đã bỏ trốn. Phòng cũng nhận được thông tin, vụ chém diễn ra trước sự chứng kiến của hơn chục chiến sĩ Cảnh sát cơ động, có cả lá chắn, nhưng không làm gì.

Như tin tức báo Người đưa tin đã đưa, vào khoảng 3h sáng ngày mồng 3/6, tại quán bia vỉa hè (290 đường Lạch Tray, Ngô Quyền, TP. Hải Phòng), hai anh em anh T. và C. đang ngồi ăn đêm, uống bia cùng 2 người khác, bỗng nhiên có 7 chiếc xe máy, mỗi xe chở thêm 1 người đi từ phía chân cầu vượt Lạch Tray tới. Không nói không rằng, chúng lao vào đâm chém tới tấp.

Anh C. bị chém gục, thấy vậy anh T. lao vào can ngăn cũng bị chém nhiều nhát vào đầu, cổ… ngất xỉu.

Nguồn: Nguoiduatin.vn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Định hướng và chủ nghĩa thân hữu


Nguyễn Vũ, 14/7/2017, (TBKTSG) - Một mặt đường lối kinh tế luôn được khẳng định là xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; mặt khác trong thực tế, các hình thức của một nền kinh tế đậm chất chủ nghĩa thân hữu lại bị phơi bày qua các vụ án tham nhũng, doanh nghiệp sân sau... gây không ít cản ngại cho quá trình xây dựng một nền kinh tế nội địa vững mạnh, không phụ thuộc quá nhiều vào khu vực có vốn đầu tư nước ngoài như hiện nay. Vì sao có nghịch lý này?

Vấn đề nằm ở chỗ cách hiểu hay đúng hơn, cách cố tình lý giải cụm từ “định hướng xã hội chủ nghĩa” theo cách khác nhau. Nếu ai cũng hiểu đó là “một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” với sự nhấn mạnh ở vế sau có các cụm từ “công bằng, dân chủ, văn minh” thì ắt mọi việc đã khác, đã tốt hơn bội lần.

Lúc đó doanh nghiệp sẽ vận hành theo đúng các quy luật của thị trường và nhà nước sẽ lo chuyện “định hướng” sao cho các vấn đề an sinh xã hội, cạnh tranh bình đẳng, cơ hội việc làm được một nhà nước pháp quyền chịu trách nhiệm bảo đảm.


Thiết nghĩ để giải quyết đến gốc rễ vấn nạn chủ nghĩa thân hữu, nên minh định thật rõ câu chuyện định hướng. Trước hết định hướng là chuyện nhà nước, chuyện của người vạch chính sách.

Thế nhưng không ít người cố tình hiểu chuyện định hướng theo cách ưu ái hết cỡ cho doanh nghiệp nhà nước bởi đó là cánh tay nối dài của Nhà nước, sẽ giúp nhanh chóng hoàn thiện các mục tiêu nhà nước đặt ra. Cho dù đó là cách hiểu tích cực nhất, nó cũng đã triệt tiêu môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực kinh tế và để lại nhiều hệ lụy xấu cho doanh nghiệp nhà nước như chúng ta đã thấy trong thập niên qua.

Đáng nói hơn là cách hiểu, thôi thì nay không còn doanh nghiệp nhà nước tốt để ưu ái, vậy ta hãy ưu ái cho các doanh nghiệp thân quen, các doanh nghiệp luôn “đồng hành, hỗ trợ”, các doanh nghiệp dễ bảo, các doanh nghiệp khi cần “xã hội hóa” đều có mặt. Từ đó đến chỗ ưu ái cho doanh nghiệp sân sau, doanh nghiệp của chồng, của vợ chỉ là một bước ngắn.

Và đây cũng là quá trình sa vào con đường tham nhũng quyền lực của không ít quan chức. Cấp đất cho doanh nghiệp nhà nước thực hiện một dự án nằm trong kế hoạch phát triển tổng thể của địa phương là chuyện quá dễ dàng. Rồi khi doanh nghiệp nhà nước thất bại, có ưu ái mấy cũng không làm nổi bất kỳ dự án nào, bỗng xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân nhanh nhẹn, hiệu quả, biết chiều lòng thì việc cấp đất, giảm thuế cũng sẽ dễ dàng chẳng kém. Đó là con đường đi vào chủ nghĩa tư bản thân hữu của không ít quan chức đã hay chưa bị pháp luật sờ đến.

Thiết nghĩ để giải quyết đến gốc rễ vấn nạn chủ nghĩa thân hữu, nên minh định thật rõ câu chuyện định hướng. Trước hết định hướng là chuyện nhà nước, chuyện của người vạch chính sách. Doanh nghiệp chỉ cần biết đến các quy luật thị trường, còn lại các mối quan hệ, giữa doanh nghiệp với nhau hay giữa chủ doanh nghiệp với người lao động, hãy để hệ thống luật pháp chi phối, điều chỉnh.

Thứ hai, định hướng xã hội chủ nghĩa phải được diễn dịch thành những mục tiêu xã hội và dân sinh thật cụ thể theo từng giai đoạn, từng thời kỳ. Một khi đã có những mục tiêu xã hội và dân sinh như thế, ví dụ giải quyết việc làm để kéo tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới một mức nào đó hay trợ cấp chăm sóc y tế cho những người ở một độ tuổi nào đó, chúng ta sẽ dễ đánh giá một địa phương, một vùng có đạt định hướng hay chưa bằng con đường định lượng rõ ràng, minh bạch.

Thật ra cũng có những lúc chính sách vĩ mô của nước ta cũng đã đề ra các mục tiêu xã hội rõ ràng như thế và trở thành điểm son cho cộng đồng thế giới khi nhanh chóng xóa đói giảm nghèo cho hàng triệu người dân. Nay cũng cần các mục tiêu cụ thể không kém và chọn mục tiêu nào sẽ là nền tảng của một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Và có làm như thế, mới không còn chỗ cho các cách hiểu dẫn tới chủ nghĩa thân hữu nấp bóng dưới các cụm từ mỹ miều, mà thực chất là bảo vệ các nhóm lợi ích.

Mời xem thêm

Chấm dứt “chủ nghĩa thân hữu” mới mong tư nhân mạnh lên

Chủ nghĩa thân hữu đằng sau hợp đồng PPP
http://www.thesaigontimes.vn/162447/Dinh-huong-va-chu-nghia-than-huu.html
Phần nhận xét hiển thị trên trang

GHI CHÉP



Nếu chỉ thơ thôi
anh sẽ không mảnh đất cắm dùi
và vớ vẩn..không có nhà để ở
người đời xem anh như đồ dở hơi!
thiên hạ trọng phú quý, nghèo, ai người mến mộ?
Cảm ơn tiền nhân đã dạy anh tự ngày bỡ ngỡ:
nhà văn An nam sống đời như nào?
từ thời cụ Tản Đà người quê anh đã tỏ
không chịu thổi sáo cung đình bằng cành đu đủ
chỉ còn đường buôn gió, là thôi!
Nếu chỉ thơ thôi
vừa vinh quang vừa buồn hết nói!
anh đâu có là siêu nhân?
vẫn kiếp người cần mặc cần ăn..
cần tự do, thiếu khí trời để thở
Thì thôi đi làm thợ, làm thầy..
cuốc đất trồng cây..
sống đời gian nan trên mặt đất này
không tự đập sống lưng mình để thở!
chen vào, thêm bớt, cuộc say!
Chỉ thơ thôi..
tình yêu và hy vọng
tâm tư rồi dãi bày,
ngày nông nhàn, chờ công, đợi việc
như thường tình, hứng chí.. sớm nay!

Phần nhận xét hiển thị trên trang



Bài trên VHNA.

Trang cuối cuốn Hải ngoại huyết thư in thạch bản ở Tokyo, năm 1909 (xem cụ thể ở đây)
I. Việt Nam và Nhật Bản là “cùng trong một họ da vàng” (Á tế Á ca), đồng văn đồng chủng, có quan hệ bang giao lâu đời, tuy có lúc không vui nhưng gần đây thì rất tốt đẹp. Người Nhật đầu tiên có mặt ở Việt Nam là Abe Nakamorô ( tên Trung Quốc là Zhao Xeng: Triệu Hành) làm quan với nhà Đường, đời Huyền Tông, năm 776, được cử sang An Nam đô hộ phủ làm quan Tả tán kỵ thường thị (1).
Đến đầu thế kỷ XV, có một ít người Nhật đến buôn bán ở Việt Nam. Thời kỳ Toyotomi Hidaxosi (1536 – 1598) cầm quyền, một thương nhân Nhật Bản tên là Bạch Tần Hiển đưa 5 thuyền lớn đến buôn bán ở Cửa Việt thuộc Thuận Hóa, gặp nạn, được chúa Nguyễn Hoàng cứu hộ tận tình, lại có thư gửi Mạc Phủ Đức Xuyên, do đó cũng có thư phúc đáp của Mạc Phủ Đức Xuyên, đều thể hiện quan hệ bang giao rất hữu hảo. Đến thế kỷ 16, 17, Nhật Bản là nước buôn bán lớn nhất ở Việt Nam. Không chỉ đến buôn bán mà còn lập phố để sinh sống, cả ở Đàng Trong và Đàng Ngoài. Hội An của Đàng Trong, Phố Hiến của Đàng Ngoài là hai địa điểm có người Nhật sinh sống, làm ăn và để lại nhiều dấu ấn nhất cho tới ngày nay.
Về phía Việt Nam, người đầu tiên có mặt ở Nhật Bản, có thể là công chúa Ngọc Khoa (?) do chúa cha Nguyễn Phúc Nguyên gả cho một người Nhật là Ararak Shotarô ( Hoàng Mộc Thái Tôn Lang, được mang họ nhà chúa), năm 1620. Công chúa theo chồng về Nhật. Mất năm 1645. Còn mộ ở Nagasaki. Con cháu vẫn giữ được tấm gương soi của công chúa đem từ Việt Nam về quê chồng. Năm 1695, có 9 người ở Hội An đi thuyền vào Gia Định làm phu dịch, bị bão, trôi dạt sang Nhật Bản, được người Nhật cứu hộ, chăm sóc chu đáo, sau đó gửi qua tàu Trung Quốc trả về Việt Nam. Chúa Nguyễn Phúc Chu đã có thư cảm ơn tới Trương Kỳ Trấn thủ vương của Nhật Bản, lời lẽ rất chân thành, thắm thiết và kèm theo tặng phẩm là hai bức tranh mà tới nay dòng họ Chava ở Nagoya còn giữ được : - Một bức của họa sĩ đời Minh vẽ Phật Bà Quan Âm ngồi trên tảng đa, bốn bề sóng vỗ. Theo truyền ngôn, trên đường về lại Nhật gặp bão, song nhờ có bức tranh nên gió yên biển lăng, người chủ được an toàn – Một bức tranh có tên là Giao Chỉ quốc mậu dịch hải đố mô tả con đường hàng hải từ Nhật Bản đến Việt Nam và nhiều phong cảnh của Việt Nam, nhất là khu phố Nhật ở Quảng Nam – Đà Nẵng (2)
Đặc biệt, phong trào Đông du của Việt Nam trên đất Nhật Bản từ năm 1905 đến năm 1908 là hiện tượng để lại âm vang tốt đẹp nhất trong lòng nhân dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản.
II.  Phong trào Đông du dù kết thúc đáng buồn do phía chính quyền Nhật Bản gây nên, nhưng vẫn là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc của Việt Nam dưới thời bị thực dân Pháp đô hộ. Không ít người Việt Nam hôm nay vẵn nghĩ nhiều và không phải không tiếc cho phong trào Đông du một khi nghĩ đến con đường đi của đất nước vốn không phải là chuyện đơn giản trong nhận thức của mọi người theo nhịp thời gian. Việc nghiên cứu phong trào Đông du một cách khách quan, sâu sắc, toàn diện, vẫn là một yêu cầu cần thiết và thiết thực. Phong trào Đông du mà cũng là cuộc giao duyên giữa Việt Nam và Nhật Bản, ở phần tốt đẹp, đã có nhiều mặt liên quan đến cuộc sống Việt Nam trong đó có văn chương Việt Nam. Bản tham luận có nhan đề Văn chương Việt Nam một lần nở hoa trên đất Phù Tang tại cuộc Hội thảo khoa học quốc tế do Trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh với sự tài trợ của Japon Foundation-Nhật Bản tổ chức, chính là nhằm làm rõ thêm giá trị và ý nghĩa của một loại thành quả hấp dẫn trong cuộc giao duyên Việt-Nhật dù không trọn vẹn nhưng vẫn là tốt đẹp này. Điều đặc biệt là sự nở hoa về văn chương được nói đến ở đây trước hết lại là thành quả của chính vị lãnh tụ Đông du của Việt Nam là Phan Bội Châu vốn cũng là của các phong trào cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX nói chung. Nhận định về cuộc đời cách mạng của mình, Phan Bội Châu đã viết: “Đời tôi một trăm thất bại không một thành công”. Riêng với công cuộc Đông du (1905–1908) thì Phan lại cho là “thời kỳ đắc ý nhất” của đời mình. Đúng thế! Đây không chỉ là “thời kỳ đắc ý nhất” của Phan Bội Châu mà còn là của phong trào cứu quốc của dân tộc Việt Nam trước thời đại cách mạng vô sản. Công cuộc Đông du diễn ra trên đất nước Nhật Bản lúc này đang là hiện tượng kinh ngạc của thế giới, thần kỳ của châu Á. Bởi Nhật Bản từ một xứ sở nằm chơi vơi giữa biển Đông, toàn đảo với đảo, thiên nhiên không đãi ngộ gì đáng kể về tài nguyên; vậy mà trước đà tấn công áp đảo của phương Tây, bằng bản lĩnh cao cường và phi thường của mình, tiến hành cuộc Duy tân Minh Trị, với khẩu hiện “tinh thần Nhật Bản, kỹ thuật phương Tây”, đã giữ vững được độc lâp. Không những thế, còn trở thành một cường quốc, vừa đánh thắng nước Nga Sa hoàng trong chiến tranh Nga – Nhật (1905). Trong khi, các nước khác của Á châu, trừ Thái Lan, đều mất chủ quyền cho bọn tư bản phương Tây trên con đường tìm kiếm thị trường. Cả đến nước Trung Hoa khổng lồ quen thói bắt nạt các nước xóm giềng, cũng mất mát,  điêu đứng không nhỏ. Phong trào Đông du của Việt Nam buổi đầu được nước Nhật hào hùng như thế ủng hộ nên phát triển sôi nổi, khả quan, sao lại không là “đắc ý nhất”! Mà điều “đắc ý nhất” ở đây là từ phong trào Đông du trên đất nước Nhật Bản, cách mạng Việt Nam có sự chuyển biến về đường lối. Chuyển từ chỗ chưa thoát ra khỏi ảnh hưởng của đường lối cần vương là chỉ biết chống thực dân xâm lược giành độc lập dân tộc mà chưa nghĩ gì đến việc thay đổi chế độ xã hội, sang đường lối quân chủ lập hiến vốn là thuận theo đà tiến bộ của thế giới đã được thực tiễn nhiều nước chứng minh, tiêu biểu là Nhật Bản và Anh quốc. Sự chuyển biến về đường lối này đã tạo cho phong trào cách mạng của Việt Nam bước qua giai đoạn tự khép kín trong phạm vi quốc gia dễ cho kẻ thù khống chế, tiêu diệt, sang giai đoạn mở rộng ra phạm vi khu vực, tiếp nữa là toàn cầu, sẽ có thêm nhiều sự hỗ trợ này khác.
Riêng với Phan Bội Châu, người lãnh tụ Đông du, ngoài sự đắc ý chung, còn có những điều đắc ý khác. Dĩ nhiên khác mà cũng là chung. Trước hết là sự thay đổi môi trường hoạt động từ chỗ ở trong nước bị theo dõi,vây bủa, tính mạng như treo đầu sợi tóc, sang được Nhật Bản là được tự do hoạt động, tự do tư tưởng, tự do giao tiếp, tự do phát ngôn. Đành rằng cuối cùng thì Phan đã bị các nhà cầm quyền Nhật Bản trục xuất trong khi giải tán Đông du, nhưng trong mấy năm còn là hữu nghị thì Phan cũng đã có không ít điều vui, đặc biệt là có những người bạn quí Nhật Bản như: Asaba Sakitarol (Thiển Vũ Tả Hỷ Thái Lang), Kashiwabara Buntarol (Bá Nguyên Văn Thái Lang), Migazuki Toten (Cung Kỷ Thao Thiên), Inukai, Okuma… kể cả bạn Trung Hoa bấy giờ đang sống ở Nhật Bản, tiêu biểu và có ảnh hưởng lớn đối với Phan là Lương Khải Siêu. Trong thời kỳ “đắc ý nhất” này của Phan Bội Châu, lại không thể không nói nhiều đến sự “đắc ý” về văn chương vốn là một khả năng ưu việt, một vũ khí thiết cốt nhất không thể thiếu trong cuộc đời cách mạng của Phan. Rõ ràng là trên đất nước Phù Tang, ngòi bút của Phan Bội Châu mặc sức mà tung hoành, mà nở hoa.
III. Có thể là hai bài thơ có nhan đề Đông du ký chư đồng chí đã mở đầu cho văn chương Đông du của Phan Bội Châu. Nhưng tác phẩm đáng coi là mở đầu thực sự là Việt Nam vong quốc sử, vì nó thuộc loại có tiếng vang, có ảnh hưởng nhất trong văn nghiệp của Phan Bội Châu nói chung. Lời nói đầu của tác giả cho biết chính nhờ sự khích lệ của Lương Khải Siêu mà tác giả vượt qua được trạng thái “muốn viết đoạn sử mất nước… mà cơ hồ không viết nổi chữ nào”, để có tác phẩm này. Việt Nam vong quốc sử đã làm rõ nguyên nhân và sự thật về Việt Nam mất nước, biểu dương những anh hùng cứu quốc, vạch trần tội ác của thực dân Pháp, vẽ ra tương lai đất nước để phấn đấu. Sự có mặt của Việt Nam vong quốc sử đã nâng thế bút của Phan Bội Châu lên một tầm cao hơn trước. Bởi ở đây, viết không chỉ là với người Việt Nam mất nước, mà còn cho cả thế giới biết về Việt Nam mất nước, đặc biệt còn như cho cả nước Trung Hoa vẫn tự phong là “hoa hạ”, quen thói ngão nghễ với chủ nghĩa Đại Hán nhưng lúc này đã như một con voi già nằm khểnh để cho các chú sói từ chân trời Tây đến róc rỉa. Một độc giả Trung Hoa ( không rõ tên) trong bài Cảm tưởng sau khi đọc Việt Nam vong quốc sử của Sào Nam Tử đã viết (1906) : “…Than ôi ! tôi đọc sách này, trăm nỗi băn khoăn, không thể không vì người Việt mà đau buồn lo sợ! Thế nhưng tôi không phải riêng vì người Việt mà lo sợ. Tôi lại tự lo sợ cho mình hơn là lo sợ cho người Việt”(3). Việt Nam vong quốc sử được in ở Nhật Bản ngay trong năm 1905. Trung Quốc cũng in năm 1905 và 1906 thì tái bản. Nói đến tác dụng tuyên truyền của văn thơ Phan Bội Châu, thường đã phải lấy Việt Nam vong quốc sử làm dẫn chứng số một. Đã có những câu chuyện rất cảm động về ảnh hưởng của Việt Nam vong quốc sử  trong đời sống Việt Nam trong thời mất nước (chuyện về Nguyễn Thiện Thuật, về Lê Khiết sau khi đọc Việt Nam vong quốc sử).
Hải ngoại huyết thư (Thư viết bằng máu từ ngoài nước) gồm tiền biên và tục biên, viết năm 1906, đăng trên Vân Nam tạp chí , ngay sau đó in thành sách lưu hành ở Nhật và gửi về trong nước.Từ Long Lê Đại dã diễn nôm theo thể song thất lục bát để dùng làm tài liệu phổ biến trong trường Đông Kinh Nghĩa thục (1907)và khắp cả nước. Đây là một bài phú có qui mô bề thế tới mức hầu như chưa từng có với nội dung xa hẳn loại phú trường ốc của chính Phan Bội Châu trước đó bởi ở đây tất cả chỉ là chuyện cần thiết cho công cuộc vận động cứu nước. Tác phẩm vạch trần tội ác âm mưu diệt chủng dân tộc Việt Nam của thực dân Pháp bằng hai phương thức: dương bác (bóc lột công khai) và âm toan (mưu toan bí mật). Cùng là tội lỗi của vua quan nhà Nguyễn đã không dám chống Pháp xâm lược, chịu giảng hòa với chúng, để mất nước, để “dân đói dân tàn mặc dân” trong khi mình thì “cơm ngự thiện bữa ngàn quan”, sống xa hoa và nịnh bỡ lẫn nhau. Cuối cùng , tác phẩm kêu gọi đoàn kết toàn dân chống giặc cứu nước cứu nòi. Với Hải ngoại huyết thư cũng như Việt Nam vong quốc sử, Phan Bội Châu là người đầu tiên có ý thức xây dựng mặt trận đoàn kết dân tộc một cách rộng rãi chống thực dân Pháp giành độc lập. Từ Hải ngoại huyết thư, nhiều thanh niên ưu tú của đất nước đã lên đường Đông du và sau Đông du thất bại vẫn kiên trì đấu tranh cứu nước. Triệu Trực Trai, người Trung Hoa trong Lời giới thiệu Hải ngoại huyết thư trên Vân Nam tạp chí đã nhiệt liệt ca ngợi tác phẩm có “lời lẽ bi ai thống thiết…đối với kẻ mưu khôi phục lại đất nước thật là tường tận rõ ràng…Than ôi! những ai sắp là người Việt Nam mà chưa phải là Việt Nam, cũng nên lấy đó làm gương… tình trạng nước ta (tức Trung Hoa – NĐC) cũng có thể lấy đó làm tin”. Ý kiến của Triệu Trực Trai thêm một lần cho thấy phạm vi, tầm vóc ảnh hưởng của ngòi bút Phan Bội Châu được viết trên đất Phù Tang bấy giờ là thế nào, hẳn là không dễ có.
Tân Việt Nam cũng được viết trên đất nước Nhật Bản tại Bính Ngọ Hiên, Hoành Tân. Đây là một tác phẩm chính luận có ý nghĩa cắm mốc lớn trên con đường phát triển tư tưởng chính trị của Phan Bội Châu theo hướng xây dựng một nước Việt Nam mới: độc lập, dân chủ, giàu mạnh như Nhật Bản và các nước châu Âu. Về mặt văn chương, nó cũng là một cái mốc trong sự phát triển tư duy và bút pháp chính luận của tác giả. Đặt Tân Việt Nam vào lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam, cũng sẽ thấy đây là một mốc lớn đáng ghi nhớ bởi nó là bản phác thảo đầu tiên cho đất nước mô hình một xã hội dân chủ tư sản.
Sùng bái giai nhân (Tôn thờ người đẹp) viết năm 1907 với bút danh Quốc Nhân Sào Nam Tử, được Sở in chữ rời Namili Tokyo ấn hành. Đây là tác phẩm mở đầu cho một thể loại đáng nói trong văn nghiệp Phan Bội Châu: truyện anh hùng, truyện danh nhân. Trước Đông du, không ít danh nhân lịch sử đã có mặt trong phú và thơ của Phan Bội Châu nhưng chủ yếu vẫn là danh nhân trong sử sách Trung Hoa. Nay, với Sùng bái giai nhân, vừa viết về danh nhân Việt Nam, vừa viết về danh nhan thế giới dưới hình thức thể truyện do đó mà nhân vật đã có hình hài, tiểu sử, cốt truyện, thành chân dung hẳn hoi. Tác giả đã sử dụng thể loại này với ý thức nêu gương cụ thể cho mọi người noi theo mà đứng lên cứu nước, dám làm việc lớn ở đời. Riêng truyện Mẹ Lân, ngoài ý nghĩa biểu dương người yêu nước còn có ý nghĩa mở đầu cho quan điểm tiến bộ về phụ nữ và cũng là hình tượng phụ nữ rất đẹp, rất mới trong văn nghiệp của Phan Bội Châu. Với động cơ nêu gương anh hùng, Phan Bội Châu, khi nghe tin trong nước, tại Hà Nội, vào đêm 27 – 6 – 1908 , có vụ đầu độc binh lính Pháp mà bị đàn áp đẫm máu, sau ba tháng, đã cho ra đời tác phẩm Hà Thành liệt truyện (Truyện về các kiệt sĩ ở Hà Thành).
Việt Nam quốc sử khảo viết năm 1908, Nhà xuất bản Shoransha ấn hành năm 1909, cũng được bí mật chuyển về lưu hành trong nước. Tác phẩm cho thấy một nét mới trong ngòi bút của Phan Bội Châu là việc khai thác sức mạnh tinh thần cùng với những bài học trong lịch sử dân tộc. Có thể nói ở đây, Phan Bội Châu đã viết sử không lấy mục tiêu sử học làm chính. Cái chính là mượn sử để luận giải cho những vấn đề mà công cuộc cứu nước đang đặt ra với đất nước, với nhân dân đương thời. Ở đây, thông qua một trình độ hiểu biết lịch sử dân tộc khá phong phú, bằng một khả năng biện giải sắc sảo, tác giả cứ như xoáy vào đầu óc người đọc một câu hỏi lớn buộc phải tự trả lời: Tại sao? Tại sao?…dân tộc Việt Nam ta đã có một lịch sử chống ngoại xâm vẻ vang như thế mà nay lại phải chịu sống kiếp nô lệ, lầm than.
Tuồng Việt vong thảm trạng (Thảm trạng Việt Nam mất nước) in trên Vân Nam tạp chí. Tòa soạn Ái quốc báo Bắc Kinh in lại lần thứ tư năm 1909 với tên Tân hí Việt Nam vong quốc thảm. Cũng vẫn là nội dung nói lên nỗi khổ mất nước nhưng đáng nói là được viết với hình thức tuồng cố, chứng tỏ thêm một phương diện tài năng văn chương của Phan Bội Châu đang độ tung hoành trên đất Phù Tang. Theo Đông Tùng trong Đông Tùng thi văn tập thì sau ngày Đông du thất bại, Phan Bội Châu về lại Trung Hoa rồi sang Thái Lan đợi thời, đã dịch bản tuồng này vốn bằng chữ Hán sang Nôm để diễn trong các buổi sinh hoạt của Việt kiều.
Ngoài những tác phẩm trên, trong thời Dông du, Phan Bội Châu còn viết các bức thư gồm: Thư gửi Ngài Sầm Xuyên nguyên Tổng đốc Quảng Đông, Thư kính trình Việt trấn tổng binh Lưu Uyên Đình quân môn Vĩnh Phúc, Thư gửi Bá tước Ôn Trọng Tín,Thư khuyên đồng bào trong nước giúp tiền cho thanh niên du học, Thư dâng vua Thành Thái, Thư gửi Cung kỳ Thao Thiên (Miyazaki Toten), Hòa lệ công ngôn (Gửi lời hòa cùng nước mắt), Thư gửi Phan Châu Trinh, Kính gửi ngài Tiễu Thôn Thọ Thái Lang Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản…Thêm nữa là các bài báo hoặc lời tựa đăng trên Vân Nam tạp chí gồm: Bàn về cuộc chiến tranh Nga – Nhật, Ai Việt điếu Điền (Thương nước Việt Nam xót tỉnh Vân Nam), Độc Nhật Bản tính thôn Trung Quốc chi sách chí tự văn ký(Bài ký nhân đọc bài tựa của cuốn sách Chính sách thôn tính Trung Quốc của Nhật Bản, Lời tựa của cuốn sách Khóc thương người xưa, Lời bạt viết cho tập sách Viễn hải qui hồng của Nguyễn Thượng Hiền, Đề tỉnh quốc dân hồn (Gọi tỉnh hồn quốc dân). Về thơ phú, ngoài Đông du ký chư đồng chí (Gửi các đồng chí khi Đông du), còn có Ai Việt Nam (Thương xót Việt Nam), Phổ cáo Lục tỉnh văn (Bài văn phổ cáo Lục tỉnh), Kính cáo toàn quốc phụ lão (Kính cáo phụ lão cả nước), Kính quốc nhân (Kính thưa mọi người trong nước), Bài ca kêu gọi phụ nữ, Đông Dương quốc âm ca (Bài ca về Đông Dương bằng quốc âm), Nam Hải bô thần ca (Bài ca của người biển Nam xa quê hương vì việc nước)…
Đúng là với Phan Bội Châu trong mấy năm hoạt động ở đất nước Phù Tang, đã có sự lên ngôi của văn chương trên phương diện tư tưởng và tư thế sáng tác: tự do viết để cứu nước cứu nòi, viết cho đồng bào của mình đọc đã đành, còn viết cho nhân dân thế giới đọc, viết bằng đủ thể loại : văn xuôi, văn vần, thơ, phú, truyện, ký, ký pha truyện, chính luận, sử, tiểu phẩm, thư, tự, bạt, tuồng, thể tài bác học, thể tài dân gian… Dĩ nhiên, bởi viết trên đất Nhật Bản nên đã phải sử dụng Hán nhiều hơn Nôm và do yêu cầu của công tác tuyên truyền vận động cách mạng một cách trực tiếp nên đã thiên về văn chương chính luận.
Trên đất Phù Tang, thuộc phong trào Đông du, bên cạnh văn chương của Phan Bội Châu, Hoàng giáp chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền đến sau nhưng cũng góp thêm những bông hoa tươi thăm. Đó là các tác phẩm : Viễn hải qui hồng (Chim hồng từ biển xa bay về) được Nhà sách Quan Căn Thạch, Đông kinh, Nhật Bản xuất bản bằng ba thứ chữ: Hán, Nôm, Quốc ngữ trong năm 1908 và các tác phẩm: Xuất dương di đồng bào thư (Thư đưa đồng bào) vừa Hán vừa diễn Nôm, Đông học thư thân ca (Bài ca của học sinh Đông du) nguyên văn chữ Nôm. Trong lời bạt cho Viễn hải qui hồng, Phan Bội Châu đã viết: “Ý nghĩa tinh tế của bài diễn từ thật là đầy đủ. Đó là mưu kế cho lưu học sinh nước ta, là mưu kế cho người nước ta, là mưu kế cho non sông Tổ quốc ngàn vạn năm sau. Tất cả là đây! Tất cả là đây! Đỉnh Thần tiên sinh(4) của chúng ta đã ban ơn cho chúng ta nhiều lắm”. Một học sinh Đông du về sau được sách Việt Nam nghiã liệt sử của Đặng Đoàn Bằng mệnh danh là “kỳ Nam tử”( người Việt Nam kỳ lạ), còn Phan Bội Châu thi khen có “văn chương khoa cử rất hay” là Nguyễn Đức Công ( Hoàng Trọng Mậu )- cũng để lại những dòng bình phẩm và lời bạt cho Việt Nam quốc sử khảo của Phan Bội Châu. Riêng Phan Châu Trinh không tham gia Đông du nhưng từng sang Nhật hội kiến với Phan Bội Châu và về sau, hồi sống trên đất nước Pháp đã có tác phẩm Giai nhân kỳ ngộ đáng được xem là một hiện tượng thăng hoa của văn tài Phan Châu Trinh, một hiện tượng hồi sinh xinh đẹp của thể loại truyện thơ Việt Nam mà chính là phóng tác từ nguyên tác của tác giả Nhật Bản là Sài Tử Lang  đã được chuyển dịch sang Trung văn.   
                                            X
                                       X         x
Đúng là trên đất nước Phù Tang, ở thời Đông du, văn chương Việt Nam đã một lần nở hoa. Nó là sản phẩm  của tâm hồn, trí tuệ, tài năng  dựa trên cơ sở lòng yêu nước và chí khí quật cường cứu nước của người Việt Nam nhưng cũng là sản phẩm của cuộc giao duyên Việt–Nhật vốn “cùng trong một họ da vàng, đồng văn đồng chủng, ở một tình huống tốt đẹp. Hẳn là người Việt Nam và người Nhật Bản đã, đang và sẽ mãi mãi trân trọng, nâng niu, thích thú với những bông hoa văn chương tươi thắm đó.
                                                     Tân Mão , trọng thu (10-2011)
                                                             Yên Hòa thư trai
 Chú thích:
(1)        : Dựa theo sách Lịch sử Nhật Bản. Phan Ngọc Liên (chủ biên), NXB Văn hóa – Thông Tin,1995.
(2)        :  Theo sách đã dẫn.
(3)        Xem Phan Bội Châu toàn tập. Tập II, NXB Thuận Hóa, Trung Tâm Văn hóa ngôn ngữ Đông Tây,tr 9.
(4)        Đỉnh Thần: biệt hiệu của Hoàng giáp chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền.

https://www.vanhoanghean.com.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van-hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/van-chuong-viet-nam-mot-lan-no-hoa-tren-dat-phu-tang

Phần nhận xét hiển thị trên trang