Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Tinh thần quý tộc biến mất và ý thức lưu manh phát triển


Tác giả: Hoàng Hà

.KD: Bạn bè trên FB gửi cho mình bài viết này. Bài viết mang tính luận thuyết nhiều hơn, nhưng rất đáng suy nghĩ. Xin đăng lên để bạn đọc chia sẻ. Dù không hiểu sao mình hơi chủ quan khi nghĩ rằng, không phải ai đọc cũng thấm nhuần tinh thần bài viết. Bởi nó đòi hỏi một phông văn hóa nhất định.
————–     
Trong khi trước đây người ta hô hào về việc xóa bỏ địa chủ phú nông, thì phương Tây xóa bỏ bần nông. Trong khi trước đây người ta tự hào về việc xóa bỏ quý tộc thì phương Tây xóa bỏ lưu manh. Đây chính là hai tư tưởng trị quốc hoàn toàn khác nhau, có thể dùng câu nói nổi tiếng để khái quát: một chế độ tốt có thể làm cho người xấu trở thành người tốt, một chế độ xấu có thể làm cho người tốt biến thành kẻ xấu. Phát động lưu manh để tiêu diệt quý tộc, cũng không thể làm cho lưu manh trở thành cao thượng, chỉ có thể làm cho lưu manh càng trở nên lưu manh hơn. Dụ dỗ, đe dọa nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến cả xã hội thành lưu manh.

tinh than quy toc

Quý tộc, bình dân và lưu manh

Nhân loại là một quần thể to lớn và phức tạp nhất trên thế giới. Nói về tính chất vốn có của tinh thần và ý thức, có thể phân thành 3 thứ bậc khác nhau: quý tộc, bình dân và lưu manh. Ba thứ bậc này được phân theo dạng hình thoi đứng, ở giữa phình to là tầng lớp bình dân, đầu nhỏ ở trên cùng là tầng lớp quý tộc, còn đầu nhỏ dưới cùng là lưu manh. Từ bình dân tới quý tộc thì không có giới hạn rõ rệt, từ bình dân tới lưu manh cũng không có giới hạn rõ rệt, nhưng lưu manh và quý tộc thì có sự khác biệt một trời một vực.
Sở dĩ được gọi là quý tộc không phải vì có nhiều của cải, cũng không phải vì có nhiều quyền lực, mà là vì họ có một tinh thần cao quý, sử sách gọi đây là tinh thần quý tộc. Người thiếu tinh thần quý tộc, thì dù giàu có không ai sánh bằng cũng chỉ là mang bản tính lưu manh mà giàu có; dù có quyền lực to đến mấy, thì cũng chỉ là kẻ độc tài chuyên chế mang bản tính lưu manh.
Sở dĩ gọi là lưu manh không phải là vì không có gì trong tay, mà là ý thức lưu manh ở bên trong nội tâm. Giai cấp vô sản đa số là người bình dân an phận thủ thường. Trong quần thể lưu manh, có người giàu, có kẻ nghèo; có bình dân, có quyền quý; có người ngốc nghếch, cũng có kẻ thiên tài.
Tinh thần quý tộc đại diện cho đỉnh cao của văn minh nhân loại, ý thức lưu manh đại diện cho sự thấp kém nhất của nhân loại. Dường như tất cả mọi người đều có suy nghĩ hướng tới sự cao thượng, và cũng có những ham muốn dục vọng thấp kém, đây chính là cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính. Nhân tính chiến thắng thú tính, thì con người hướng tới sự cao thượng; thú tính chiến thắng nhân tính, con người sẽ hướng tới sự hèn hạ bỉ ổi. Đối với đa số người bình dân, nhân tính và thú tính vẫn đang giằng co chưa có hồi kết, nên nó làm cho cả một đời vẫn cứ loay hoay quanh cao thượng và thấp kém. Đa số người dân đều là an phận thủ thường nên cả đời sẽ không có gì nổi bật. Bình dân nếu muốn siêu phàm thoát tục, thì phải hướng tới cao thượng để có hy vọng trở thành quý tộc. Còn nếu hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì sẽ trở thành lưu manh. Con người vươn tới sự cao thượng thì rất khó, và để trở thành quý tộc thì lại càng khó hơn; còn hướng tới sự thấp kém hèn mọn thì rất dễ, trở thành lưu manh thì dễ như trở bàn tay. Cũng chính vì nguyên nhân này mà xã hội nhân loại hiện nay quý tộc thì ít mà lưu manh thì nhiều.
Cao thượng và cao quý  không khác nhau về bản chất, nhưng cao thượng và cao quý lại có khoảng cách, đó là mức độ khác nhau, trạng thái khác nhau. Bình dân cũng biết cao thượng, nhưng thường chỉ có thể cao thượng trong thuận cảnh, chứ không thể “cố thủ” cao thượng trong nghịch cảnh. Nếu như trong nghịch cảnh mà có thể giữ được cao thượng, thì đó chính là trạng thái cao quý, cũng tức là đã thành quý tộc.
Nếu cao thượng đã  đạt đến trạng thái cao quý, thì tức là “phú quý mà không dâm, dưới áp lực mà không chịu khuất phục”. Đây chính là trạng thái của tinh thần quý tộc. Câu trên có hai tầng ý nghĩa. Tầng thứ nhất là giải thích đối với phú hào quyền quý: Anh giàu có rồi thì không thể dâm đãng, anh có quyền rồi thì anh không thể lấy quyền đấy để bắt người khác khuất phục. Tầng thứ hai là giải thích với tầng lớp bình dân: Anh không giàu có, nhưng anh không thể bị phú quý dụ dỗ mê hoặc để rồi từ bỏ cao thượng; anh không có quyền lực nhưng anh không thể khuất phục trước quyền lực, anh chỉ có thể tâm phục khẩu phục trước sự công bằng và chân lý. Đạt đến trạng thái này rồi, thì dù có là bình dân nhưng anh vẫn có tinh thần quý tộc.

Tinh thần quý tộc là gì?

Tinh thần quý tộc có 3 nội hàm cao quý đó là: thành tín, đạo nghĩa, ý thức trách nhiệm.
Thành tín là linh hồn của văn minh nhân loại, không có thành tín, thì không có đạo đức, cũng không có văn minh; thành tín cũng là linh hồn của phẩm cách cá nhân, không có thành tín, thì không thể có phẩm cách cao thượng. Người thiếu sự thành tín, thì hoặc là người vô lại hoặc là kẻ lưu manh. Dân tộc thiếu sự thành tín, thì chắc chắn là dân tộc ngu muội không có văn hóa. Thành tín cũng là gốc rễ của chế độ dân chủ, vì không có thành tín, thì không có dân chủ đúng nghĩa. Cụ thể, dân chủ dựa vào hiến pháp, và hiến pháp chính là khế ước của xã hội. Thành tín chính là gốc rễ của khế ước, không có thành tín thì khế ước cũng chỉ là tờ giấy vứt đi.
Quý tộc sở dĩ là quý tộc, là bởi vì quý tộc coi thành tín quan trọng hơn cả mạng sống, thành tín mang đến sự cao thượng, sự tôn nghiêm và giá trị cao quý của sinh mệnh. Ví dụ, quý tộc châu Âu thà dùng quyết đấu sòng phẳng thẳng thắn để phân thắng thua, chứ  không muốn dùng âm mưu quỷ kế để tranh cao thấp. Đây thực chất chính là thà chết để giữ lấy giá trị của thành tín. Sử quan thời Trung Quốc cổ đại thà chết chứ không muốn vì đế vương thay đổi lịch sử, cũng chính là thà chết để giữ lấy giá trị của sự thành tín.
Đạo nghĩa bao hàm nhân đạo và công đạo. Nhân đạo là tiền đề của công đạo, chính là sự tôn trọng đối với sinh mệnh của con người. Người ngay cả ý thức nhân đạo cũng không có, thì về cơ bản không thể có công đạo. Tôn thờ bạo lực chính là coi thường nhân đạo. Nhân đạo và công đạo hòa quyện sinh ra chủ nghĩa nhân quyền của nền văn minh hiện đại, sở dĩ châu Âu có thể sinh ra Công ước Nhân quyền, thực chất chính là do sự thúc đẩy của tinh thần quý tộc.
Tinh thần đạo nghĩa mang tới nhân từ, mang tới khoan dung, mang tới sự quan tâm, mang tới sự công chính. Quý tộc quan tâm tới những người yếu, các sự nghiệp từ thiện trên thế giới dường như đều do quý tộc đầu tư xây dựng, và cái mà họ dựa vào chính là tinh thần đạo nghĩa.
Tinh thần trách nhiệm chính là tinh thần dám gánh vác. Chịu trách nhiệm với lương tri của xã hội nhân loại, chịu trách nhiệm với văn hóa truyền thống của nhân loại, bảo vệ đạo đức, duy trì công bằng xã hội, bảo vệ sự phát triển hòa bình của xã hội.
Chính tinh thần trách nhiệm mang tới lòng tin và sức mạnh không gì lay chuyển được của quý tộc, một khi dân tộc rơi vào khủng hoảng, quý tộc sẽ đứng phía trước dân tộc, bảo vệ an toàn cho dân tộc. Chính tinh thần trách nhiệm này mang đến cho họ tinh thần “Prometheus cướp lửa thần trao cho nhân loại”, và tinh thần “ta không vào địa ngục thì còn ai vào nữa”. Cũng chính tinh thần này đã bảo vệ và thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển hơn.
Ba loại tinh thần này đều đến từ tín ngưỡng tôn giáo, chỉ có tín ngưỡng tôn giáo mới có thể chuyển hóa thành sức mạnh tinh thần kiên định và bền bỉ, đạt đến trạng thái cao quý.
Dù cá nhân quý tộc có tồn tại khuyết điểm này khuyết điểm nọ, nhưng quần thể quý tộc vẫn là lực lượng chủ đạo thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển.

Tinh thần quý tộc thúc đẩy văn minh nhân loại phát triển

Trong mỗi cá nhân đều tồn tại cuộc chiến nhân tính và thú tính, và nó làm cho cả một đời cứ loay hoay giữa cao thượng và thấp kém: thượng đế kêu gọi con người hướng đến cao thượng, ma quỷ dụ dỗ con người hướng đến sự thấp kém; người cao quý cao thượng thì gần quý tộc hơn, người hướng tới thấp kém bỉ ổi thì gần với lưu manh hơn; hoặc có thể nói, người gần với quý tộc thì trở nên cao thượng, kẻ gần với lưu manh thì trở nên thấp kém. Tục ngữ gọi hiện tượng này là “gần mực thì đen, gần đèn thì sáng”.
Mở rộng ra, một dân tộc cũng tồn tại cuộc chiến giữa nhân tính và thú tính, điều này thực chất là cuộc chiến giữa văn minh và vô văn hóa, cũng là cuộc chiến giữa quý tộc và lưu manh. Một dân tộc do quý tộc chủ đạo, thì sẽ mang đến sự tiến bộ cho nền văn minh; do lưu manh chủ đạo thì sẽ lùi lại về không có văn minh, đây không phải là sức sản xuất vật chất bị thụt lùi, mà là sự thụt lùi về văn minh tinh thần, về văn hóa, đạo đức. Điều này đã được chứng minh bởi lịch sử.
Lịch sử phát triển của nhân loại là do quý tộc chủ đạo, do đó nhân loại mới từ không văn minh mà hướng đến văn minh, nhưng trong quá trình lịch sử phát triển lâu dài, có lúc cũng bị lưu manh kiểm soát, lưu manh chiếm cứ địa vị chủ đạo, kết quả làm cho văn minh bị thụt lùi, do đó, tiến trình phát triển của văn minh nhân loại mới xuất hiện nhiều khúc khuỷu, tiến lùi.
Ý thức tinh thần của con người là thể đa diện phức tạp, tức có ý thức giữ gìn cao thượng, thì cũng có ham muốn tình cảm thấp kém. Tuy nhiên, con người hướng tới cao thượng lại giống như leo núi, rất khó; còn hướng tới thấp kém lại rất dễ, giống như đang ngồi cầu trượt. Do đó mà xã hội nhân loại từ trước đến nay lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc.
Xã hội nhân loại trước giờ lưu manh vẫn nhiều hơn quý tộc, vậy sao quý tộc có thể chiếm địa vị chủ đạo trong sự phát triển của xã hội? Điều này quyết định bởi thái độ của tầng lớp bình dân: tầng lớp bình dân ủng hộ quý tộc, thì quý tộc chiếm thượng phong, tức chiếm vị trí chủ đạo, và dân tộc này sẽ duy trì nền văn minh cao thượng; tầng lớp bình dân mà ủng hộ lưu manh, lưu manh chiếm thượng phong, tức lưu manh chiếm vị trí chủ đạo, thì dân tộc này sẽ duy trì sự thấp kém không văn minh. Đây chính là nguyên nhân cơ bản các dân tộc khác nhau có tiến trình văn minh và mức độ văn minh khác nhau.
Dân tộc ủng hộ quý tộc, quý tộc dễ chiếm thượng phong; dân tộc ủng hộ lưu manh, lưu manh dễ chiếm thượng phong. Nếu lưu manh chiếm thế thượng phong, chiếm vị trí chủ đạo, thì tất nhiên sẽ mê hoặc và dụ dỗ nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, ép buộc nhiều người hơn nữa biến thành lưu manh, cuối cùng biến thành một đại quốc lưu manh, văn hóa đạo đức sẽ bị thoái lui toàn diện, xã hội sẽ đổ vỡ.

Sáng tạo văn minh và sáng tạo lịch sử

Thành tựu văn minh nhân loại dường như đều là quý tộc sáng tạo, từ tư tưởng triết học thời viễn cổ, tín ngưỡng tôn giáo, lòng tin đạo đức, đến văn hóa nghệ thuật thời trung cổ,  đến khoa học tự nhiên thời cận đại, cho đến cơ chế dân chủ thời hiện đại, tư tưởng mở ra thời đại mới của lịch sử nhân loại, dường như đều là quý tộc sáng tạo ra. Có thể nói thế này, không có quý tộc, thì không có văn minh nhân loại. Không cần tìm đâu xa, chỉ cần tìm những nhà triết học, văn học, nghệ thuật, tư tưởng, thần học, khoa học vĩ đại trên thế giới, có ai không phải là quý tộc?
Quý tộc không chỉ sáng tạo văn minh, mà còn sáng tạo ra lịch sử. Những nhà quý tộc thời cận đại của châu Âu, họ đã sáng tạo ra “Quân chủ lập hiến”, sáng tạo “Tuyên ngôn độc lập”, sáng tạo “Tuyên ngôn nhân quyền”, anh hùng  dân tộc Ấn Độ Mahatma Gandhi đã sáng tạo ra “Cách mạng phi bạo lực”, Martin Luther King của Mỹ sáng tạo ra “Tôi có một ước mơ”, họ đem những tư tưởng văn minh này vào thực tế, sáng tạo ra lịch sử huy hoàng, trở thành những cột mốc cho nhân loại hướng tới văn minh.

Sáng tạo lịch sử khác sáng tạo văn minh

Từ trước tới nay, lưu manh không biết sáng tạo lịch sử, chỉ biết sáng tạo sự ngang tàn bạo ngược. Tuy vậy lưu manh cũng có thể sáng tạo lịch sử, nhưng lưu manh không thể sáng tạo lịch sử của văn minh, chỉ có thể sáng tạo lịch sử của sự phá hoại, sáng tạo lịch sử tàn sát. Lưu manh từ trước giờ chỉ biết sáng tạo bạo lực, sáng tạo chiến tranh, sáng tạo sự hoang đường, sáng tạo tai nạn.
Nếu một dân tộc mà nhóm người lưu manh giữ vai trò chính trong thời gian dài, thì sẽ trở thành dân tộc “ỷ mạnh hiếp yếu”, trở thành một dân tộc hung bạo, trở thành một dân tộc hủ bại biến chất.
Đạo lý như thế này, lẽ nào còn cần ai chứng minh sao?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tuần tới nhà báo Lê Duy Phong được tại ngoại?



FB Hợp Nguyễn Tuấn
Bữa nhậu 23h đêm và cuộc điện thoại của TBT báo GDVN Nguyễn Tiến Bình về việc bắt giữ nhà báo Lê Duy Phong.

Tôi có thói quen khi đi nhậu là vứt điện thoại vào trong bóp và quên luôn nó đi. Đêm nay cũng vậy, sau trận nhậu với anh em Kim Sơn (Ninh Bình), tôi cầm điện thoại và thấy cuộc gọi nhỡ cùng 2 tin nhắn của anh Nguyễn Tiến Bình, TBT báo GDVN. Sau đó anh có gọi điện lại cho tôi...

Tôi và anh Tiến Bình chơi với nhau từ những năm cuối 2000. Anh Tiến Bình nói tôi và anh có chút hiểu lầm, nhưng tôi không quan tâm đúng sai và xếp mối quan hệ đó sang một bên để tiếp tục cuộc sống.

Anh Bình tâm sự với tôi rất nhiều liên quan đến vụ CA Yên Bái bắt giữ quân của anh - nguyên Nhà báo Lê Duy Phong. Trong đó anh nhấn mạnh một số vấn đề:

1: Anh khẳng định Duy Phong đang bị oan? Ông Sáng, Giám đốc Sở KHĐT tỉnh Yên Bái đang phủ nhận việc đưa cho Duy Phong 200 triệu đồng như cáo buộc của cơ quan điều tra. Và hiện tại CA Yên Bái đang tập trung làm rõ vụ Duy Phong nhận 50 triệu đồng trên bàn nhậu.

2: Ngay sau khi CA Yên Bái bắt giữ Lê Duy Phong thì các điều tra viên có xuống báo GDVN làm việc và thu một ổ cứng (CPU) máy tính để phục vụ công tác điều tra. Buổi làm việc giữa BBT báo GDVN và cơ quan điều tra diễn ra khoảng 1h đồng hồ.

3: Sau đó cơ quan điều tra có triệu tập một CTV (tôi tạm giấu tên), của Duy Phong lên làm việc.

4: Anh Bình khẳng định hiện anh và mọi người trong BBT cũng như PV báo GDVN chưa một ai bị cơ quan điều tra triệu tập.

5: Anh Bình cho biết, qua kiểm tra sao kê của Ngân hàng thì trong tài khoản của Duy Phong không có số tiền lớn hơn 1,6 tỉ đồng?

6: Không hề có danh sách 29 Nhà báo, phóng viên. Không hề có chuyện 11,6 tỉ đồng trong tài khoản của Duy Phong?

7: Không có chuyện anh hay bất kể cán bộ nào của báo DGVN bị triệu tập lên làm việc.

8: Anh Bình khẳng định, nếu ai đó cung cấp cho anh danh sách 29 Nhà báo liên quan đến vụ Duy Phong thì anh sẽ mời bia cả đời. Sau đó anh đính chính lại là mời bia cả đời nó khó nhưng mời bia cả năm thì anh sẵn sàng.

9: Anh Bình cũng khẳng định sẽ đánh cược là sang tuần tới Duy Phong được tại ngoại và vụ việc sẽ được cơ quan CSĐT Bộ CA rút hồ sơ về Bộ điều tra. Còn Duy Phong sai phạm hành chính đến đâu thì báo GDVN sẽ xử lí đến đó.

Anh Bình nói rằng, thời gian qua Báo GDVN có đăng tải một số bài viết liên quan đến các biệt phủ tại Yên Bái và chị Tr... có xuống xin báo GDVN gỡ bài nhưng BBT không gỡ. Cả anh Th...anh T. đều nhất trí không gỡ bài vì đó là trách nhiệm thông tin của báo chí.

P/S: Tôi nói rằng những điều tôi nói chỉ mang tính chất tham khảo bởi những gì chúng ta nghe được chỉ là "nghe" và chưa ai được nhìn thấy hồ sơ của cơ quan điều tra. Và nếu có nhìn thấy những trang A4 có chữ kí hẳn hoi chắc đó đã là sự thật???

Anh Tiến Bình đồng ý để tôi viết những dòng này lên trang fb của tôi. Anh nói, anh và người trong báo GDVN chưa hề bị cơ quan điều tra triệu tập làm việc. Và không hề có chuyện như dư luận đang đồn thổi về anh.

Chào thân ái anh Tiến Bình, chúc anh mạnh khỏe.

Hà Nội: 0h38 phút ngày 13/7/2017.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Trung Quốc có thể làm bá chủ thế giới ?


Quân đội Trung Quốc tại cảng quân sự Trạm Giang, Quảng Đông ngày 11/07/2017.

Mùa hè đến, trang bìa các tuần báo Pháp được dành cho những đề tài nhẹ nhàng. L’Obs nói về cách « Ăn uống tốt hơn », Le Point dành hẳn cho chuyên đề New York, còn L’Express mô tả « Cuộc sống mới thường nhật tại điện Elysée » của tân tổng thống Emmanuel Macron. Liên quan đến châu Á, hồ sơ của Le Courrier International tuần này đặt câu hỏi « Trung Quốc, bá chủ thế giới ? ».
Trong một thế giới bất định mà nước Mỹ đang dần dà rút lui, Trung Quốc bỗng dưng có vẻ đáng tin và biết điều hơn. Cam kết về khí hậu, rồi đến dự án đầu tư cơ sở hạ tầng khổng lồ dọc theo « Con đường tơ lụa mới », Tập Cận Bình sẽ là người đứng đầu một đất nước viễn kiến, một mô hình mới cần phải theo ?

Trump đã nhường đại lộ thênh thang cho Tập

Trước hết, tờ báo Pháp trích dịch một số báo nước ngoài để tìm cách lý giải « Làm thế nào Donald Trump đã nhường lại cả một đại lộ cho Trung Quốc ». Thứ nhất, theo The New York Times, thì qua việc từ bỏ Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP), mà người tiền nhiệm Obama đã mất năm năm để tạo dựng. 

Donald Trump và Tập Cận Bình tại G20 ở Hambourg ngày 08/07/2017.
Cây bút xã luận Thomas Friedman sau một chuyến đi châu Á đã nhận xét : « Trump không phải là nhà thương lượng tài ba, mà là một người vô tích sự đã làm giảm sút ảnh hưởng Mỹ tại khu vực này, giúp cho Trung Quốc tìm lại sức mạnh. Nay ông Trump cố gắng một mình một ngựa điều đình với Bắc Kinh việc mở cửa cho thương mại, thay vì với tư cách nước đứng đầu cả một khối 12 quốc gia dựa trên các giá trị Mỹ, và chiếm đến 40% trọng lượng kinh tế thế giới. Khó thể tưởng tượng ra điều gì ngu ngốc hơn ».

Động thái thứ hai, là quyết định rút khỏi hiệp định khí hậu Paris. Theo trang Politico, đây là « món quà mang tính chiến lược to lớn nhất dành cho Trung Quốc, đang khao khát lấp đầy khoảng trống mà Washington bỏ lại ». Nhưng Bắc Kinh có xứng đáng không ? Trung Quốc vẫn đang là nước thải khí carbonic nhiều nhất hành tinh, và còn xuất khẩu, tài trợ cho khoảng một trăm nhà máy điện chạy bằng than đá tại các nước liên quan đến « Con đường tơ lụa mới ».
Thứ ba, là có thái độ nhập nhằng về Biển Đông. Chuyên gia hàng hải Mark J.Valencia trênStraits Times nhận định khu vực này là nơi cạnh tranh nhằm thống trị về quân sự. Ông Trump tuy vẫn tiếp tục chính sách bảo vệ tự do hàng hải của ông Obama, nhưng lại là một chiến lược « tùy cơ ứng biến ».

Bắc Kinh không thể bỏ lỡ dịp may

« Tất cả tập hợp lại phía sau Bắc Kinh », đó là lời kêu gọi của Trịnh Vĩnh Niên (Zheng Yongnian), đăng trên tờ Lianhe Zaobao của Singapore cho rằng, cộng đồng quốc tế chờ đợi Trung Quốc đóng vai trò lãnh đạo trong thế giới toàn cầu hóa. Theo nhà chính trị học gốc Hoa này, phương Tây đang gặp khủng hoảng, thế nên chiếc ghế « anh cả » dành cho Bắc Kinh là logic.

Tác giả cho rằng Trung Quốc không nên bỏ qua cơ hội tuyệt vời để nhảy lên hàng đầu trên trường quốc tế. Xu hướng hiện nay -  tập trung cho tăng trưởng trong nước - tại Hoa Kỳ và các nước phương Tây, là do chưa giải quyết xong những khó khăn nội tại từ làn sóng toàn cầu hóa thứ nhất. Nhưng hiện tượng này sẽ không kéo dài, và phương Tây một lần nữa sẽ quay lại với toàn cầu hóa.

Theo ông Trịnh Vĩnh Niên, nay đã trở thành nền kinh tế thứ nhì thế giới và cường quốc thương mại hàng đầu, nếu Trung Quốc không đủ năng lực thì còn ai khác ? Trung Quốc đã từng cất cánh nhờ vào đầu tư nước ngoài trong hai thập niên cuối của thế kỷ 20. Cho dù ngày nay vẫn còn cần đến tư bản ngoại quốc để nâng tầm kỹ nghệ, tuy nhiên một số lãnh vực đang bão hòa, sản xuất thừa khiến Bắc Kinh cũng nên đầu tư ra nước ngoài.

Tác giả khuyến dụ, cần phải có một cái nhìn thực dụng thay vì chìm đắm vào ý thức hệ, vì trật tự kinh tế thế giới tự do có lợi cho Trung Quốc. Trong quá khứ, các nước phương Tây cũng đã từ giai đoạn thiếu vốn chuyển sang dư thừa, và để giải quyết, họ dùng chính sách ngoại giao đại bác, buộc các nước khác mở cửa để khai thác nguồn lợi thiên nhiên, và thế giới trở thành thị trường của mình. Nhưng thời buổi thực dân đã qua lâu rồi. 

Nếu trước đây, phương Tây dùng đến sức mạnh quân sự để giải quyết vấn đề trật tự kinh tế, thì nay hầu hết các nước tuân thủ những quy định và luật lệ của các định chế quốc tế như Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Trung Quốc nay là thành viên và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong các tổ chức này, nên cần phải tranh thủ.

Con đường tơ lụa mới : Kế hoạch Marshall kiểu Trung Hoa ?

Liên quan đến dự án « Một vành đai, một con đường », viết tắt là OBOR và được mệnh danh là « Con đường tơ lụa mới », nguyệt san Hồng Kông Chengming cho đây là « Một sự bành trướng không hề là dòng sông êm đềm ». Kế hoạch khổng lồ này nhằm đánh bóng cho quyền lực Trung Quốc, nhưng Bắc Kinh sẽ rơi vào khoảng không bất định.

Tờ báo nhận định, OBOR (One Belt, One Road) là công trường xây dựng cơ sở hạ tầng quy mô nhất trong lịch sử nhân loại, thu hút nhiều nước phương Tây như Anh, Pháp, Đức, Úc tham gia vào Ngân hàng Đầu tư Cơ sở Hạ tầng Châu Á (AIIB theo tiếng Anh, BAII theo tiếng Pháp) do Trung Quốc thành lập. Thực tế thì Tập Cận Bình muốn để lại dấu ấn trong lịch sử, muốn qua OBOR mở rộng được ảnh hưởng, khiến Bắc Kinh hất cẳng Mỹ càng sớm càng tốt để trở thành lãnh đạo thế giới, đồng thời giảm căng thẳng trong nước.

Dự án « Một vành đai, một con đường » thường được coi là một loại kế hoạch Marshall của Trung Quốc, vì đây là chương trình duy nhất có thể đem ra so sánh. Tuy nhiên, sức mạnh và ảnh hưởng của Trung Quốc hiện nay thua xa Hoa Kỳ thời hậu chiến. Hơn nữa, OBOR phức tạp hơn kế hoạch Marshall rất nhiều, và cần đầu tư đến 890 tỉ đô la, so với Marshall là 130 tỉ đô la nếu tính theo giá trị bây giờ.

Các nước được hưởng kế hoạch Marshall nằm tập trung trong một khu vực địa lý, sở hữu một nền công nghiệp phát triển, một hệ thống an sinh và an ninh công cộng tốt, cũng như môi trường văn hóa có chất lượng, bên cạnh đó là khả năng trả nợ. Còn Trung Quốc thì ngược lại, cho đến nay vẫn chưa dám ca ngợi khả năng sinh lợi, chẳng hạn như hàng mấy chục tỉ đô la đổ vào Venezuela chẳng mang lại lợi lộc gì. 

Hội nghị AIIB lần 2 tại Hàn Quốc, 16/06/2017.
Nguy cơ xung đột, ô nhiễm, độc tài : Bắc Kinh khó tranh bá đồ vương

Financial Times có đăng ý kiến cá nhân của một số quan chức cao cấp Trung Quốc, coi OBOR là một chiếc bẫy mà Bắc Kinh có nguy cơ sa vào : tranh chấp quốc tế, mất vốn đầu tư, xung đột khu vực. Trong số những quốc gia mà « Con đường tơ lụa mới » chạy qua, có nhiều nước nghèo, cơ sở hạ tầng tồi tệ, căng thẳng chủng tộc và tín ngưỡng. 

Chẳng hạn như hành lang kinh tế Trung Quốc-Pakistan, một trong những công trường quan trọng nhất của OBOR được Bắc Kinh tài trợ 62 tỉ đô la, đã gây phẫn nộ cho Ấn Độ vì chạy qua vùng Cachemire tranh chấp giữa Ấn và Pakistan. Trong diễn đàn « Con đường tơ lụa mới » gần đây, Trung Quốc đã ký thỏa thuận xây dựng hai nhà máy thủy điện lớn nằm trên thượng nguồn sông Indus tại Cachemire trị giá 27 tỉ đô la, và thế là Bắc Kinh rơi vào trung tâm xung đột Ấn-Pakistan. Cùng với nhịp độ phát triển của OBOR, những khó khăn loại này sẽ xuất hiện ngày càng nhiều. Liệu Trung Quốc đã có chuẩn bị chưa ?
« Một ngân hàng phục vụ cho vấn đề khí hậu ? » Trang Chinadialogue có trụ sở ở Luân Đôn đặt câu hỏi. Bắc Kinh cam đoan sẽ đóng vai trò đầu tàu trong việc áp dụng hiệp định khí hậu Paris. Nhưng không có gì bảo đảm rằng ngân hàng AIIB được thành lập để tài trợ cho « Con đường tơ lụa mới » thực sự là « xanh ». Trong hội nghị thường niên lần thứ hai từ 16-18/6 vừa qua, AIIB vẫn nêu ra khả năng tài trợ cho các nhà máy nhiệt điện dùng than đá với một số điều kiện, gây lo ngại cho các tổ chức bảo vệ môi trường.

« Chủ nghĩa bảo hộ và sự độc tài » cũng khiến giấc mộng tranh bá đồ vương của Trung Quốc khó trở thành hiện thực, theo tác giả Guan Jian của nguyệt san Dongxiang ở Hồng Kông, mà việc giải Nobel hòa bình 2010 Lưu Hiểu Ba bị tù tội cho đến chết là ví dụ mới nhất, khiến Bắc Kinh bị thế giới chỉ trích.
Trung Quốc muốn trở thành bá chủ thế giới, hay nước lãnh đạo toàn cầu hóa ? Nhà phê bình Xu Zigan trên tờ Minh Báo (Ming Pao) của Hồng Kông cho rằng đây là hai việc khác nhau. Theo chỉ số KOF về toàn cầu hóa của Trung tâm nghiên cứu trạng huống ở Thụy Sĩ, Trung Quốc đứng thứ 71/187 nước trong năm 2017, tức là chỉ ở mức trung bình. Còn muốn là « lãnh đạo thế giới », thì phải hùng mạnh về quân sự, nhưng Trung Quốc còn thua xa Hoa Kỳ. Về kinh tế, thì cần phải có đồng tiền chuyển đổi quốc tế.

Tổng thống Thái Anh Văn giám sát cuộc tập trận thường niên Han Kuang của Đài Loan ngày 27/05/2017.
Thái Anh Văn, người không ngại đương đầu với Trung Quốc

Cũng về châu Á, tuần san L’Express trong loạt bài mùa hè đã khắc họa chân dung của nữ tổng thống Đài Loan « Thái Anh Văn, người nổi dậy ».

Không giống với các nhà lãnh đạo nữ khác ở châu Á như bà Aung San Suu Kyi của Miến Điện hay Indira Gandhi của Ấn Độ, người phụ nữ đầu tiên trở thành tổng thống Trung Hoa Dân Quốc không xuất thân từ một gia đình có truyền thống chính trị hoặc quân sự. Học tập ở Hoa Kỳ, đoạt được bằng tiến sĩ ở một trường đại học danh giá Luân Đôn, năm 1998 bà Thái Anh Văn về nước, làm cố vấn cho chính phủ Đài Bắc trong việc thương lượng gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới và bắt đầu tham gia chính trường.

Trở thành tổng thống, bà tỏ ra can trường trước áp lực ngày càng mạnh mẽ của Trung Quốc. Hai trong số những đồng minh cuối cùng của Đài Loan là Sao Tomé-et-Principe và Panama vừa cắt đứt quan hệ ngoại giao, lượng du khách từ Hoa lục giảm đến 42%, và lần đầu tiên một nhà hoạt động nhân quyền Đài Loan bị Bắc Kinh bắt giam. Mười tám tháng sau khi đắc cử, tỉ lệ tín nhiệm của bà Thái Anh Văn đã bị giảm sút, tuy nhiên có đến trên 56% mong muốn nữ tổng thống không nhường bước trước Bắc Kinh.

Cảnh sát chống bạo động dùng vòi rổng giải tán biểu tình tại Hambourg ngày 09/07/2017.
G20 ở Hambourg : Vừa tốn kém vừa chẳng được gì

Tại châu Âu, nhật báo Đức Der Spiegel ở Hambourg phân tích « Các lý do thất bại của G20 ». Hội nghị thượng đỉnh các cường quốc diễn ra trong hai ngày 7 và 8/7 vừa qua mang lại ấn tượng xấu với các vụ đụng độ giữa cảnh sát và người biểu tình.

Theo tờ báo, một thành phố như Hambourg không sẵn sàng để tổ chức một sự kiện như thế. Những người biểu tình đến từ khắp châu Âu tự cho là nhà đấu tranh chính trị cực tả, chống phát-xít, chống tư bản…nhưng thực ra chỉ nhằm phá hoại theo kiểu côn đồ. Lực lượng cảnh sát bị quá tải, đôi khi sử dụng đến bạo lực. 

Rốt cuộc thì chẳng được gì : Hoa Kỳ không động móng tay để chống biến đổi khí hậu, tự do mậu dịch thì chẳng ai cãi…Tóm lại theo Der Spiegel, một cuộc hội nghị qua truyền hình cũng đủ. Đã hẳn là cách đây một năm không ai đoán trước được G20 sẽ phải đón tiếp một nhân vật như Donald Trump, nhưng có lẽ cần nghĩ ra một phương cách nào khác để gặp gỡ và trao đổi, thay vì bắt cả một thành phố làm con tin, cứ như bị phong tỏa trong thời chiến.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cùng với phu nhân và tổng thống Pháp Emmanuel Macron tại Paris ngày 14/07/2017.
Macron và Trump, tương đồng và khác biệt

Một hồ sơ khác trên Le Courrier International được dành cho « Macron và Trump, hai địch thủ tốt nhất ». Chuyến viếng thăm nước Pháp nhân dịp Quốc khánh 14/7 của tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump chứng tỏ ý hướng xích lại gần nhau của hai nguyên thủ, mà trên lý thuyết thì tất cả đều trái ngược. Nhưng báo chí Mỹ cho rằng các lợi ích chung và một số điểm giống nhau sẽ gắn kết cặp đôi khó hình dung được này.

Trong bài « Liên minh của những đối nghịch », tạp chí Foreign Policy nhắc lại cú bắt tay dữ dội và lời kêu gọi « Làm cho trái đất vĩ đại trở lại » của Emmanuel Macron sau khi Donald Trump rút nước Mỹ « vĩ đại trở lại » của ông ra khỏi hiệp định khí hậu Paris. Hai vị tổng thống Pháp-Mỹ hết sức khác biệt. 

Các quân nhân Mỹ trong quân phục Đệ nhất Thế chiến diễu hành tại Paris nhân Quốc khánh Pháp 14/07/2017.
Cho dù từng làm việc trong lãnh vực tư nhân, nhưng Emmanuel Macron đã nghiên cứu triết học và có thể dẫn thuộc lòng những câu của Molière, còn Donald Trump nguyên là ngôi sao truyền hình thực tế, thích dùng ứng dụng Twitter ngắn gọn. Tầm nhìn thế giới cũng đối nghịch. Macron ủng hộ châu Âu, tự do mậu dịch ; còn Trump muốn đóng cửa biên giới, theo chủ nghĩa bảo hộ và « nước Mỹ trước hết ».

Tuy vậy, Macron không phải là Hillary Clinton, và cũng là khuôn mặt mới trong chính giới, cũng thực dụng như ông Trump. The Washington Examiner nhấn mạnh, việc tổng thống Pháp mời đồng nhiệm Mỹ dự lễ Quốc khánh là đánh trúng vào tâm lý thích những gì liên quan đến quân sự của Donald Trump. Ông Trump được làm khách mời danh dự trên lễ đài thủ đô nước Pháp, trong lúc ở Mỹ ông đang lao đao vì hồ sơ Nga, và bị cô lập trên trường quốc tế. 

Khi triển khai phi cơ tiêm kích, xe tăng, bộ binh, Macron thỏa mãn một Donald Trump đang đòi hỏi NATO phải tăng ngân sách quốc phòng. Hai bên cũng đồng ý sẽ « chung sức đáp trả », nếu Bachar Al Assad lại sử dụng đến vũ khí hóa học. Tờ báo Mỹ nhắc lại, Paris từng rất bực tức khi bị ông Obama cho leo cây vào tháng 8/2013, khi các phi cơ Pháp đã sẵn sàng cất cánh tấn công Syria ; và kết luận với ông Trump, Macron nhắm vào quan hệ đối tác xây dựng hơn là đối đầu.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lưu manh kẻ chợ


Nguyễn Trọng Tạo - Bọn lưu manh chính trị không cần biết anh là thù hay là bạn, anh là ngu hay là thông… miễn là “chính” tao “trị” mày nếu mày không giống tao. Đó là bọn ăn cắp tài năng, ăn cắp nhân cách, ăn cắp cái gì mày làm ra mà tao có thể ăn được, cho mày trắng tay, mày èo uột, mày chết đi thì tao mới tồn tại. 
Chợ. Người kẻ chợ. Nói chợ và người kẻ chợ như một văn minh của vùng, của xứ. Chợ là trung tâm giao lưu buôn bán. Chợ văn minh. Chợ buôn gian bán lận. Và cứ thế phát triển thành trung tâm “buôn gian bán lận”… văn minh.

Khi nhỏ tôi ở làng, đi chợ chỉ thấy vui. Vui với sản vật lạ, sản vật quen. Vui với người lạ, người quen. Và mặc cả để khỏi bị lừa. Nhưng dù mặc cả vẫn bị lừa. Vì người quê dù có khôn mấy cũng thua cái khôn của người kẻ chợ.

Thực ra, chợ không phải là nơi làm chính trị. Nhưng khi nó phát triển, kẻ chợ lại chính là trung tâm kinh tế-chính trị-văn hóa.

Nguyễn Tuân đi thực tế thường lấy chợ làm tâm điểm. Nhưng ông cũng bị chính trị chốn kẻ chợ làm cho hoảng loạn, đến mức phải bức tử tác phẩm của mình, viết bài tự kiểm thảo tựa đề “Nhìn rõ sai lầm”, để “nhận tội” và chối bỏ Vang bóng một thời, ông “thú tội” bị ma dẫn lối, quỷ đưa đường, nên đã viết phần giữa, Chùa đàn, tức tâm sự của nước độc, trước 1945 theo mạch yêu (ma) ngôn… (TK).

Văn Cao về thủ đô làm cách mạng, viết ra Tiến quân ca (sau thành Quốc ca) cũng bị chính trị “giam lỏng” 30 năm, cho đến lúc Đổi mới, mới in ra tập thơ Lá.

Ai đã làm nên những việc ấy chốn kẻ chợ? Đó chính là lực lượng “lưu manh chính trị”.

Bọn lưu manh chính trị không cần biết anh là thù hay là bạn, anh là ngu hay là thông… miễn là “chính” tao “trị” mày nếu mày không giống tao. Đó là bọn ăn cắp tài năng, ăn cắp nhân cách, ăn cắp cái gì mày làm ra mà tao có thể ăn được, cho mày trắng tay, mày èo uột, mày chết đi thì tao mới tồn tại.

Hôm kia, ngồi với một vị cố vấn, anh bảo tôi nên ủng hộ cho ông z. Tôi bảo ông z. cũng hay, cũng gian hùng như Tào Tháo. Tôi hỏi lại anh bạn, hay là nước ta đang cần một Tào Tháo? Anh bạn cười, bảo cần người hơn cả Tào Tháo. Ôi, gian hùng hơn cả Tào Tháo thì nước mình làm gì có?

Lại thấy một lũ súc sinh mấy tuần nay dạng mồm thành loa tố cáo đồng nghiệp với bọn lưu manh. Bọn này mong bọn lưu manh lưu ý đến để có thể kết nạp vào hội lưu manh, nhưng anh cố vấn nói với tôi, cái bọn súc sinh ấy quá giàu trí tửơng bở. Vì bọn súc sinh chưa biết chính trị là gì.

Chính trị phải biết nói năng lịch sự, cao siêu, nói 1 hiểu 10, nói mười lấy 1. Cái bọn súc sinh thì nói nghìn cũng chỉ mong có xíu, một xíu xíu xoa đầu: Chú được đấy. Nhưng sau “được đấy” là gì? Là cứ bật loa cho nó sủa.

Tự dưng quay ngả nào cũng thấy chó sủa. Cổng ngõ nào của nhà người tử tế cũng khóa cả, sao chó cứ sủa. Thì ra không phải chó nhà sủa, mà, chó ngoài cổng sủa.

Cả cái chợ đầy tiếng chó sủa. Mà không phải sủa trăng. Đêm nay tối mịt.

Thì ra chốn kẻ chợ quá nhiều bọn lưu manh tự sủa mình.

Chiều buồn buồn,

NGUYỄN TRỌNG TẠO
(Chiếu Làng)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc khổ nạn của Lưu Hiểu Ba


Cuối những năm 1960, Mao Trạch Đông, người cầm lái vĩ đại của Trung Quốc, đã khuyến khích trẻ em và thanh thiếu niên đấu tố thầy cô và bố mẹ mình, đả đảo “ngưu quỷ xà thần,” và “làm cách mạng.” Trên thực tế, điều này đồng nghĩa với việc đóng cửa trường học ở Trung Quốc. Trong những thập niên sau đó, nhiều người đã lên án việc tước bỏ giáo dục của cả một thế hệ.
Lưu Hiểu Ba (Liu Xiaobo), chủ nhân giải Nobel Hòa bình năm 2010, người bị kết án 11 năm tù vì “kích động lật đổ” chính phủ Trung Quốc vừa qua đời hôm thứ Năm (13/07/2017), đã thể hiện một con đường khác. Ông Lưu, sinh năm 1955, mới 11 tuổi khi các trường học đóng cửa, nhưng ông vẫn tiếp tục đọc sách, ở bất cứ đâu ông tìm được. Không có giáo viên dạy ông về việc chính phủ muốn ông nghĩ về cái mình đọc như thế nào, ông bắt đầu tự mình suy nghĩ—và ông thích điều đó. Mao vô tình đã dạy cho ông một bài học đi ngược lại chính mục đích của Mao là biến trẻ em thành “hồng tiểu binh.”

Nhưng trải nghiệm này chỉ giải thích một phần tính độc lập kiên cường của ông Lưu. Nó có vẻ còn là một phẩm chất bẩm sinh. Nếu có gien nào quyết định tính thẳng thắn thì rất có thể ông Lưu đã mang gien ấy. Trong những năm 1980, khi đang học thạc sĩ ngành văn học Trung Quốc, ông đã có tiếng là một “con ngựa ô” vì bài bác gần như mọi nhà văn Trung Quốc đương thời: ngôi sao văn học Vương Mông thì ba phải chính trị; các nhà văn “tìm về nguồn cội” như Hàn Thiếu Công thì quá lãng mạn về giá trị của truyền thống Trung Hoa; ngay cả những anh hùng lên tiếng vì nhân dân như Lưu Tân Nhạn cũng vẫn sẵn lòng đặt niềm tin vào các nhà lãnh đạo Cộng sản “tự do” như Hồ Diệu Bang. Không có ai đủ độc lập. “Tôi có thể tóm gọn vấn đề của các nhà văn Trung Quốc trong một câu,” Lưu Hiểu Ba viết năm 1986. “Họ không thể tự mình sáng tác—đơn giản là họ không có khả năng—vì chính cuộc đời họ cũng không thuộc về họ.”

Ông mang tính thẳng thắn theo mình ra cả nước ngoài. Tại một cuộc hội thảo về điện ảnh Trung Quốc tại Đại học Oslo năm 1988, ông đã ngạc nhiên khi biết các nhà Hán học châu Âu không nói được tiếng Trung (mà chỉ đọc được) và còn quá ngây thơ khi chấp nhận ý nghĩa đãi bôi trong những tuyên bố của chính phủ Trung Quốc. “Chín mươi tám phần trăm [bọn họ] là vô dụng,” ông nhận xét (còn cuộc hội thảo thì “nhàm chán tột cùng.”) Từ Oslo ông đến New York, đến Đại học Columbia, nơi ông phát cáu khi nghe các nhà lý thuyết hậu thực dân dạy bảo ông về cảm giác của việc là “kẻ khác” nhược tiểu. Không phải ông mới là người nên nói cho họ biết sao?

Mùa xuân năm 1989, hai trải nghiệm, đầu tiên ở New York và sau đó ở Bắc Kinh, đã thay đổi sâu sắc dòng chảy tư duy và cuộc đời ông. Ông vừa viết xong cuốn Chính trị Trung Quốc đương đại và phần tử trí thức Trung Quốc, khám phá một số cách thức mà nền văn minh phương Tây có thể là “một công cụ để phê phán Trung Quốc.” Nhưng khi sang phương Tây, ông nhận ra mô hình ấy không rõ ràng đến thế. Các vấn đề như khủng hoảng năng lượng, bảo vệ môi trường, vũ khí hạt nhân, và cái mà ông gọi là “thói nghiện lạc thú và thương mại hóa” là các vấn đề của con người, không chỉ riêng phương Đông hay phương Tây. Hơn nữa, chuyến thăm Bảo tàng Mỹ thuật Metropolitan ở New York đã làm ông tỉnh ngộ: chưa ai giải quyết vấn đề tinh thần của “sự bất toàn của cá nhân.” Ngay cả nhà văn vĩ đại của Trung Quốc hiện đại là Lỗ Tấn, với các tác phẩm phơi bày rất rõ sự chai cứng tinh thần, đạo đức giả, mê tín dị đoan, và sự bạo tàn, cũng không thể, theo ông Lưu, đi bước tiếp theo và “đấu tranh với bóng tối.” Lỗ Tấn đã cố, trong những bài thơ văn xuôi của ông, nhưng cuối cùng phải chùn bước; ông “không thể đối đầu với nỗi sợ hãi đơn độc của nấm mộ” và “không tìm được giá trị siêu việt nào để giúp mình đi tiếp.”

Cuốn Chính trị Trung Quốc đã được gửi đến nhà xuất bản, nhưng ông Lưu vẫn quyết định viết thêm một “Lời bạt,” và, với sự trung thực đặc trưng, ông dùng nó để làm suy yếu chủ đề chính của cuốn sách. Để làm “một người chân thực,” ông viết, giờ đây ông sẽ phải “tiến hành đồng thời hai phê bình”: một phê bình về Trung Quốc, vẫn dùng phương Tây như một thước đo, và một phê bình về chính phương Tây, và ở đây ông sẽ phải bắt đầu lại, từ đầu, nghĩ lại mọi thứ. Ông hoàn thành tiểu luận này vào tháng 3 năm 1989 với lời kết, “lời bạt này đã làm tôi kiệt sức.”

Tháng 4, ông lên máy bay từ New York về Bắc Kinh, không phải vì kiệt sức mà vì ông đã đọc được tin tức về các cuộc biểu tình đòi dân chủ của sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn và cảm thấy có trách nhiệm phải hỗ trợ họ. “Tôi hy vọng,” ông viết, “mình không phải kiểu người làm tư thế anh hùng rồi bắt đầu chau mày do dự khi đứng trước cửa địa ngục.”

Ở Bắc Kinh, lý tưởng của các bạn sinh viên đã làm ông cảm động. Ông giúp lên kế hoạch một cuộc tuyệt thực và tự mình tham gia. Cách tiếp cận của ông là không đối đầu, gần giống Gandhi. Trong “Tuyên bố tuyệt thực ngày mùng 2 tháng 6” ông viết rằng “xã hội dân chủ không được xây dựng trên thù hận và đối địch, mà được xây dựng trên sự tham vấn, tranh luận, và bỏ phiếu… [và trên] sự tôn trọng lẫn nhau, khoan dung, và sẵn sàng thỏa hiệp.” Chưa đầy hai ngày sau ông Lưu đã có cơ hội đưa lời nói của mình vào thực tiễn. Khi xe tăng bắt đầu lăn bánh về Quảng trường Thiên An Môn và chắc chắn những người cản đường sẽ bị sát hại, ông Lưu cùng bạn là Chu Đà và Hầu Đức Kiện đã thương lượng với quân đội nhằm cho phép sinh viên ở Quảng trường Thiên An Môn rời khỏi đó một cách an toàn. Không thể biết có bao nhiêu mạng sống đã được cứu nhờ thỏa hiệp này, nhưng chắc chắn phải đến hàng chục và có lẽ hàng trăm người.

Nhưng sau đó, ông Lưu làm một chuyện mà sau này ông coi là “sai lầm” làm ông ăn năn cả đời. Ông đã tìm kiếm nơi trú ẩn tạm thời ở nhà một nhà ngoại giao nước ngoài. Sau đó ông nghe nói những người khác—chủ yếu là dân thường—đã ở lại đường phố để giúp đỡ những người bị thương hoặc vẫn đang bị bắn. Họ đã mạo hiểm mạng sống để giúp đỡ, và khi chính phủ tuyên phạt những người tham gia “bạo loạn phản cách mạng,” những người dân thường ấy đã bị đối xử hà khắc hơn cả các sinh viên biểu tình. Nhiều người nhận án tù từ 18 đến 20 năm, một số bị tử hình. Bản thân ông Lưu bị đưa đến nhà tù Tần Thành, một cơ sở cao cấp giam giữ đối thủ chính trị của các nhà lãnh đạo cấp cao, và ở đó chỉ trong 19 tháng—“chán chết, nhưng chỉ thế thôi.”

Ông Lưu cảm thấy bị ám ảnh bởi những “hồn ma chưa siêu thoát” của Thiên An Môn, bóng ma phiền muộn của các sinh viên cũng như công nhân mà tuổi đời của họ mãi mãi dừng lại vào đêm họ ra đi. Ông viết rằng mình có thể nghe thấy tiếng khóc oán thán của họ—“yếu đuối, bất lực, đau lòng”—vọng lên từ lòng đất. Năm nào vào ngày kỷ niệm cuộc thảm sát ông cũng làm một bài thơ tưởng nhớ họ. “Lời sau cùng” của ông tại phiên tòa tháng 12 năm 2009 mở đầu: “Tháng 6 năm 1989 là bước ngoặt lớn trong cuộc đời tôi.” Tháng 10 năm 2010, khi bà Lưu Hà vợ ông báo tin ông được trao giải Nobel Hòa bình, ông nói, “Giải thường này là dành cho những bóng ma phiền muộn.”

Sau khi được thả khỏi nhà tù Tần Thành năm 1991, ông bị cấm xuất bản ở Trung Quốc và bị đuổi việc ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh—dù sinh viên ở đó vẫn luôn yêu mến các bài giảng của ông. Ông bắt đầu kiếm sống bằng cách viết bài cho các tạp chí ở Hồng Kông, Đài Loan, và nước ngoài. Sự trỗi dậy của mạng Internet ở Trung Quốc đầu những năm 2000 đã làm gia tăng đáng kể lượt người đọc các tiểu luận của ông, không chỉ ở ngoài Trung Quốc mà còn ở trong nước, khi các người bạn nước ngoài tìm cách vượt qua “Phòng hỏa Trường thành” của chính phủ và đưa các bài viết trở về Trung Quốc. Trước năm 1989, tiểu luận của ông chủ yếu viết về văn chương Trung Quốc đương đại, nhưng giờ đây ông nói về các chủ đề trong lĩnh vực lịch sử, chính trị, và xã hội, cho thấy một nền tảng kiến thức phong phú. Ông còn bắt đầu làm thơ. Sự rộng lớn của các chủ đề trong thơ và tiểu luận của ông có thể gây sửng sốt: Khổng tử, Kant, Thánh Augustine, nông dân ở Giang Tô, vận động viên Olympic, sự hài hước ở Trung Quốc và Tiệp Khắc, khiêu dâm và chính trị, cuộc cách mạng Internet, việc Obama đắc cử, một con chó con bị giết, quan hệ quốc tế, Đức Dalai Lama, “phép lạ kinh tế” của Trung Quốc, và nhiều chủ đề khác nữa.

Nhất quán với triết lý “không có kẻ thù” mà ông theo đuổi sau năm 1989, giọng điệu mạnh mẽ trong các bài viết trước đây giờ đã dịu xuống. Nhưng sự thẳng thắn tuyệt đối—khả năng không thẳng thắn không được của ông—vẫn không thay đổi. Đến giữa những năm 2000, Lưu Hiểu Ba thường được xem là nhà bất đồng chính kiến hàng đầu của Trung Quốc. Mùa xuân năm 2008, một số người bạn của ông bắt đầu ấp ủ ý tưởng soạn thảo một bản tuyên ngôn công dân, kêu gọi bầu cử tự do và chính phủ hợp hiến ở Trung Quốc. Họ gọi nó là “Hiến chương 08,” nhằm ca ngợi “Hiến chương 77” của Václav Havel và Tiệp Khắc. Ban đầu Lưu Hiểu Ba không tham gia, nhưng đến mùa thu, khi bản dự thảo đang được tiến hành và động lực đang lên, ông đã góp sức mình vào dự án. Ông biên tập bản thảo và cố gắng loại bỏ những từ ngữ khiêu khích không cần thiết mà có thể khiến người ta từ chối ký. Sau đó ông đã nỗ lực xin chữ ký—không chỉ từ các nhà bất đồng có tiếng mà từ cả giới công nhân, nông dân, quan chức nhà nước, và những người khác sẵn sàng tập hợp dưới một mái nhà chung để đòi hỏi một xã hội cởi mở và tự do hơn. Bản Hiến chương dùng ngôn ngữ ôn hòa. Phần lớn nó đã xuất hiện trong các văn kiện của Trung Quốc và Liên Hợp Quốc. Nhưng một số dòng, như “chúng ta phải bãi bỏ đặc quyền độc quyền hóa quyền lực của một đảng,” rõ ràng đã vượt quá những gì mà các nhà cai trị Trung Quốc có thể tiêu hóa.

Rõ ràng công sức của ông Lưu trong bản Hiến chương 08 đã dẫn đến bản án 11 năm tù của ông vào năm sau, và giải Nobel Hòa bình vào năm sau nữa. Trong buổi tiệc Nobel tháng 12 năm 2010, một thành viên của ủy ban Nobel nói với tôi rằng ủy ban của bà nhiều năm nay đã muốn tìm một người Trung Quốc nhận giải và những sự kiện trong năm ngoái “cuối cùng đã khiến đây trở thành thời điểm thích hợp.” Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Bộ Chính trị của ông rất có thể sẽ phải khó chịu khi nhận ra giam ông Lưu là giúp mở đường cho giải thưởng này.

Có vẻ khó hiểu khi một người chủ trương “không có kẻ thù” đã thực sự bỏ công làm mềm ngôn ngữ trong bản Hiến chương lại bị chọn ra để chịu hình phạt trong cuộc đàn áp của chính phủ. Một số đồng nghiệp của ông Lưu đã bị câu lưu và thẩm vấn, và bị tịch thu máy tính, nhưng chỉ có ông Lưu bị đưa vào tù. Dù “giết gà dọa khỉ” là phương thức thường thấy trong kỹ thuật chính trị của Trung Quốc cộng sản, vẫn còn câu hỏi là vì sao họ lại chọn một con gà yêu hòa bình.

Câu trả lời có lẽ là phong trào Hiến chương bị xem là một “tổ chức” trái phép mà ông Lưu là người lãnh đạo. Những người cai trị Trung Quốc trong thời gian gần đây đã cho thấy họ có thể dung thứ những chỉ trích bằng lời nói từ quần chúng miễn là nó đến từ những cá nhân bị cô lập. Một tổ chức trái phép, dù ôn hòa đi chăng nữa, thì phải bị nghiền nát. Năm 2005 Hồ Cẩm Đào ban hành một báo cáo mật tên là “Chiến đấu một cuộc chiến không khói: Giữ các cuộc ‘cách mạng màu’ nằm ngoài Trung Quốc.” Bản báo cáo nói những người như Nelson Mandela, Lech Wałęsa, và Aung San Suu Kyi là những người nguy hiểm. Nếu các phong trào tương tự xuất hiện ở Trung Quốc, Hồ Cẩm Đào chỉ đạo, thì bắt “cá lớn” mà tha “cá bé.” Năm 2008, khi cảnh sát Trung Quốc biết người ta đang ký bản Hiến chương 08, nó chính thức bị xem là một nỗ lực nhằm kích động một cuộc “cách mạng màu.” Điều đó biến Lưu Hiểu Ba thành con “cá lớn” cần phải loại trừ. Có những dấu hiệu cho thấy ông Lưu hiểu rõ cơ chế này. Khi tham gia vào nỗ lực Hiến chương ông đã nói với các bạn mình rằng, ngoài biên tập và thu thập chữ ký, ông sẽ “chịu trách nhiệm” cho bản Hiến chương—về cơ bản là chấp nhận nguy cơ là con “cá lớn.”

Vì sao Hồ Cẩm Đào và người của ông lại quyết định đưa ra một bản án 11 năm—mà không phải là 10, 12, hay một con số khác—là một bí ẩn lúc đó và đến nay vẫn vậy. Trong nhiều phỏng đoán được đưa ra thì có một phỏng đoán là 11 năm tương đương với 4.018 ngày và có 4.024 chữ Hán trong bản Hiến chương 08. Do đó: mỗi chữ ông viết là một ngày tù, ông Lưu, và chúng tôi sẽ bỏ qua sáu chữ cuối cùng. (Đây chỉ là phỏng đoán, nhưng không phải trò đùa. Kiểu suy nghĩ nhỏ nhen và rất cá nhân này vẫn luôn phổ biến trong nền chính trị chóp bu của Trung Quốc.)

Hiến chương 08 và giải Nobel sau đó kết hợp lại dường như trong một thời gian đã mở ra một hướng đi mới cho Trung Quốc. Người Trung Quốc từ lâu đã quen với những thay đổi định kỳ giữa các khuynh hướng “tự do hơn” và “bảo thủ hơn” trong chế độ cộng sản, và thường đặt niềm tin vào quan chức cao cấp này hay quan chức cao cấp khác, nhưng bản Hiến chương 08 dường như đã nói có thể có một con đường khác để làm người Trung Quốc hiện đại.

Một khi người ta đã đọc thì khó mà tìm được người nào không đồng ý với bản Hiến chương, và chính tiềm năng lây lan này là cái làm các nhà lãnh đạo của chế độ lo lắng nhất. Đó là lý do (không phải lý do họ đưa ra nhưng là lý do thực sự) khiến họ bác bỏ bản Hiến chương, cầm tù Lưu Hiểu Ba, và lên án giải Nobel Hòa bình được trao cho ông. Nỗ lực của họ đã có hiệu quả: hầu hết người trẻ Trung Quốc ngày nay đều không biết Lưu Hiểu Ba là ai, còn những người lớn tuổi hơn biết đến ông thì lại hiểu rất rõ cái giá của việc nhắc đến ông trước công chúng.

Các biện pháp kiểm soát xã hội Trung Quốc đã được thắt chặt trong những năm gần đây, dưới sự cai trị của Tập Cận Bình—hướng đi ngược lại với những gì mà Hiến chương 08 kêu gọi. Điều này làm dấy lên câu hỏi, “Có phải bản Hiến chương đã chết? Nỗ lực ấy hóa ra công cốc sao?” Rất khó, nhưng câu trả lời của tôi là không. Tổ chức đã bị nghiền nát nhưng những tư tưởng của nó thì vẫn còn. Những nỗ lực liên tục của chính phủ—tốn công tốn sức, ăn sâu, rộng khắp đất nước, và rất tốn kém—nhằm đàn áp bất cứ thứ gì giống như những tư tưởng của Hiến chương 08 là đủ để thấy những người cai trị nhận thức khá rõ về sức mạnh liên tục của bản Hiến chương.

Nếu được nghe đích thân Lưu Hiểu Ba trả lời câu hỏi này thì thật tuyệt vời. Thế giới đã không được nghe một lời nào từ ông sau “Lời sau cùng” của ông trong phiên tòa năm 2009. Tháng 6 năm nay, ông được đưa đến một khu giam giữ ở bệnh viện Thẩm Dương với căn bệnh ung thư gan giai đoạn cuối trong mình. Ông đã đề nghị cho ông, vợ, và em trai vợ được sang Đức hoặc Hoa Kỳ để điều trị. Chính phủ Trung Quốc từ chối, nói ông Lưu đã nhận được sự chăm sóc y tế tốt nhất có thể và ông quá yếu để di chuyển. Ông qua đời hôm 13 tháng 7.

Không rõ vì sao, trong những tuần cuối đời, ông Lưu đã đồng ý từ bỏ mong muốn ở lại Trung Quốc mặc dù ông vẫn luôn không ngừng từ chối cuộc đời bên lề mà việc lưu vong tất yếu sẽ mang lại; có lẽ ông muốn dùng sức lực cuối cùng để giúp người vợ phải chịu khổ từ lâu là bà Lưu Hà và em trai bà, ông Lưu Huy, ra khỏi Trung Quốc. Nhưng suy nghĩ của những kẻ bắt giam ông thì không thể rõ ràng hơn: nó chẳng hề liên quan đến việc chăm sóc y tế mà là ngăn Lưu Hiểu Ba nói lên suy nghĩ của mình một lần cuối. Ông suy nghĩ gì trong tám năm tù? Ông đã thấy trước điều gì cho một thế giới mà nền độc tài cộng sản của Trung Quốc vẫn tiếp tục lớn mạnh?

Lưu Hiểu Ba đã được so sánh với Nelson Mandela, Václav Havel, và Aung San Suu Kyi, mỗi người trong số họ đều chấp nhận nhà tù như cái giá để theo đuổi một nền quản trị nhân đạo hơn cho tổ quốc mình. Nhưng Mandela, Havel, và Suu Kyi đều được sống để chứng kiến mình thoát khỏi các chế độ dã man đã đàn áp họ, còn Lưu Hiểu Ba thì không. Có phải điều này có nghĩa là vị thế của ông trong lịch sử sẽ không bằng của họ? Thành công của một phong trào có phải là điều cần thiết để nhà lãnh đạo của nó được xem là anh hùng?

Có lẽ. Nhưng so sánh Lưu Hiểu Ba với Tập Cận Bình có lẽ cũng sẽ hữu ích. Hai người chỉ chênh nhau hai tuổi. Trong Cách mạng Văn hóa của Mao cả hai đều không được đi học và bị đưa đến những vùng xa xôi. Ông Tập dùng thời gian để bắt đầu xây dựng một bản lý lịch sẽ cho phép ông, dựa hơi người cha cộng sản ưu tú của mình, một ngày giành lấy đỉnh cao quyền lực; ông Lưu dùng thời gian để tự đọc sách và học cách tự mình suy nghĩ. Một người thành thạo những mánh khóe và xu nịnh cần thiết để leo cao trong một bộ máy quan liêu khép kín; người còn lại học cách thách thức mọi kiểu nhận thức thông thường, chỉ giữ lại bên mình những tư tưởng có thể vượt qua phép thử của việc suy xét độc lập nghiêm ngặt. Với một người, giá trị được đo bằng quyền lực và vị thế; với người còn lại, bằng giá trị đạo đức. Trong cuộc đối đầu cuối cùng của họ, một người “thắng,” một người “thua.” Nhưng hai trăm năm nữa, ai còn nhớ tên của những kẻ bạo chúa đã giam Mandela, Havel, và Suu Kyi vào tù? Ánh sáng trong trí tuệ sắc bén của Lưu Hiểu Ba sẽ được nhớ đến, hay là sự tầm thường nông cạn trong đầu óc của Tập?

Perry Link là giáo sư ngành văn học so sánh tại Đại học California, Riverside, và giáo sư hưu trí ngành nghiên cứu Đông Nam Á tại Đại học Princeton. Cuốn sách gần đây nhất của ông là An Anatomy of Chinese: Rhythm, Metaphor, Politics (Harvard University Press, 2013).

Một phiên bản của bài dịch đã được đăng trên blog của dịch giả.


Nguồn: Perry Link, “The Passion of Liu Xiaobo,” The New York Review of Books, July 13, 2017.

Biên dịch: Nguyễn Huy Hoàng & Tram Nguyen

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Kẻ đại gian đại ác


Hai ngày nay không có thông tin gì mới về việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ ở sân bay Tân Sơn Nhất. Tự đáy lòng mình, tôi thầm cầu mong liệt sĩ sống khôn chết thiêng hãy phù hộ cho đội quy tập sớm tìm thấy các anh, mỗi người dù chỉ một mảnh xương (điều này thật khó bởi chôn không có áo quan, mà đã gần 50 năm rồi) để đưa về nghĩa trang, cho linh hồn các anh có nơi nương náu, chấm dứt cảnh lang thang vật vờ suốt nửa thế kỷ.

Có điều này tôi nghĩ nhiều người biết nhưng ngại nói ra, nhưng tôi thấy cần phải nói: Trong 2 ngày đầu tết Mậu Thân 1968 (mùng 1 và 2 tết), bộ đội hy sinh rất nhiều (không phải là thắng lợi rực rỡ, vẻ vang như lâu nay họ tuyên truyền). Dù những người chết là kẻ thù, là đối phương nhưng người Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã gom các thi thể chiến binh CS lại và chôn cất khá tử tế, dựng hẳn bia mộ rất to, ghi rõ trên bia, dường như để đánh dấu nhằm sau này dễ việc tìm kiếm. Rồi chiến tranh chấm dứt 7 năm sau đó, người CS đã chiến thắng, họ làm chủ miền Nam, tất nhiên làm chủ cả sân bay Tân Sơn Nhất.

Sau ngày 30.4.1975, không phải ai cũng có thể ra vào khu vực sân bay, nhất là nó được quân đội quản lý. Vậy có thể đặt ra câu hỏi: Ai (những ai) đã ra lệnh, đã phá 2 tấm bia mộ đánh dấu mộ tập thể chôn cất hàng trăm liệt sĩ kia. Họ phá đi để làm gì, liệu có phải nhằm xóa một dấu tích không lấy gì hay lắm đối với họ? Cứ cho là phá cũng được đi, nhưng tại sao không tiến hành cất bốc hài cốt liệt sĩ ngay lúc đó? Hàng trăm chiến sĩ mấy năm trời bị vùi trong đất, nếu lúc ấy mà cất bốc đưa về nghĩa trang có thể xương cốt vẫn còn nguyên vẹn. Vậy mà người ta nỡ lòng nào ỉm đi, xóa sạch dấu tích, để các anh nằm mãi trong đất lạnh tới nửa thế kỷ, không nén nhang, không hương khói, không vòng hoa tưởng niệm; để nhiều gia đình hàng mấy chục năm trời ngóng chờ tin tức con em mình. Nhà nước cứ tổ chức đi tìm hài cốt liệt sĩ ở khắp nơi, cả bên Lào và Campuchia nhưng ngay giữa thành phố Sài Gòn, nơi mà người ta biết từng có rất nhiều chiến sĩ hy sinh chưa tìm được thi thể thì người ta lại lờ đi không tìm.

Tôi cho rằng kẻ nào đã ra lệnh phá 2 tấm bia mộ tập thể nói trên, cố tình san lấp mộ phần chiến sĩ là những kẻ đại gian đại ác, trời không dung, đất không tha. Thiết nghĩ dù hơn 40 năm đã trôi qua nhưng tìm ra kẻ đại gian ác đó không phải là khó, để chuộc lỗi với các liệt sĩ, chỉ có điều chế độ này chẳng dại gì vạch áo cho người xem lưng.

14.7.2017
Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện vặt:


Bà Lê Mai Trang, Phó chủ tịch phụ trách văn xã, UBND quận Thanh Xuân, HN

Phó chủ tịch UBND quận Thanh Xuân: 
Bị vu oan ở quán bún?

Tầm Nhìn.net
15:02 - 14/07/2017 
Tóm tắt: Em Trang, Phó chủ tịch quận Thanh Xuân, HN và đàn em đi ăn trưa. Để xe ô tô sai quy định. Khi chủ cửa hàng bún nhắc thì em gọi bốc máy gọi 1 thằng Chủ tịch Phường và 1 thằng Trưởng công an Phường ra trông xe để em vào ăn trưa, đứa trông đằng đầu, đứa trông đằng đít xe. Camera ghi rõ, giờ em cãi đây!
Bà Lê Mai Trang, Phó chủ tịch phụ trách văn xã, UBND quận Thanh Xuân, Hà Nội cho biết: "Không có chuyện điều động các đồng chí chủ tịch phường, trưởng công an phường ra trông xe cho tôi ăn bún". 

Mới đây một tài khoản mạng xã hội Facebook đã đăng dòng trạng thái và hình ảnh bà Lê Mai Trang hiện đang giữ chức vụ Phó chủ tịch quận Thanh Xuân, Hà Nội. Nguyên văn như sau: "Cả nhà có ai biết chị này làm gì ở quận Thanh Xuân không? Khoảng 12h chị này đi ăn bún ở Nguyễn Quý Đức. Chị ấy điều động cả hệ thống chính quyền ra trông xe cho chị, quá khủng".

Ngay lập tức dòng trạng thái đã nhận được nhiều lượt chia sẻ, bình luận trái chiều của cộng đồng mạng, trong đó không ít người tỏ ra bức xúc với việc làm của bà Phó chủ tịch UBND quận Thanh Xuân.

.
 
Dòng trạng thái gây nhiều sự chú ý trên mạng xã hội

Trả lời phóng viên Tầm Nhìn, chị Đinh Hải Lý chủ quán cà phê trên đường Nguyễn Quý Đức kể lại: "Trưa ngày 7/7 trước cửa quán cà phê nhà tôi, có 2 người phụ nữ từ đâu đến, để xe chắn hết phần đường ngay khúc cua, nơi đầu ngõ có nhiều người qua lại. Tôi cùng nhiều người đã nhắc nhở họ. Tuy nhiên, họ đã không chịu di chuyển chiếc xe mà còn có động thái đôi co với mọi người. Người phụ nữ áo xanh sau này tôi mới biết là bà Phó chủ tịch quận, dùng điện thoại gọi cho ai đó trên phường, sau đó cả hai bỏ xe đi thẳng vào quán ăn gần đó. Một lát sau tại vị trí đỗ xe của 2 người phụ nữ để xe xuất hiện đồng Chủ tịch Phường và Trưởng Công an phường Thanh Xuân Bắc, cùng 1 cán bộ công an phường. Sau khi hai người phụ nữ ăn xong và ra về, một cán bộ công an phường đã xuống yêu cầu tôi lên xin lỗi vì một trong hai người phụ nữ đôi co với tôi lúc sáng là bà Phó chủ tịch quận Thanh Xuân".

.
 
Bà Lý vô cùng bức xúc trước hành động của bà Lê Mai Trang 
PCT UBND quận Thanh Xuân

Chị Phan Thị Hồng Vân địa chỉ 101 C16 Nguyễn Quý Đức cũng cho biết: "Hành vi để xe của 2 người phụ nữ chắn hết đường đi, tôi đã nhắc nhở và chỉ chỗ đậu xe cho 2 người để đảm bảo an toàn giao thông, nhưng họ không nghe".

Để tìm hiểu rõ thông tin phóng viên đã lần lượt tìm đến hai trụ sở là UBND phường Thanh Xuân Bắc và Công An phường Thanh Xuân Bắc và không được tiếp, cũng không được hẹn, gọi điện thoại thì 2 cơ quan này "đá" cho nhau. Dù theo camera ghi lại suốt thời gian bà Trang phó chủ tịch UBND quận Thành Xuân ăn bún, cả hai đồng chí lãnh đạo của phường đều có mặt gần như từ đầu đến cuối.

Tiếp đó phóng viên đã tìm đến gặp bà Lê Mai Trang Phó chủ tịch quận Thanh Xuân, Bà Trang thừa nhận người trong clip chính là mình và cho biết: "Hôm đó tôi cùng một nhân viên ở cơ quan đi ăn trưa, đấy không phải là xe của tôi, tôi không phải là người lái, sự việc tôi nghĩ là xong rồi. Không ngờ lại lên mang xã hội như thế này, hôm đó ra về xe của tôi còn bị đổ nước mắm vào xe". Bà Trang khẳng định mình không yêu cầu hai cán bộ ra trông xe cho mình ăn, thậm chí bà Trang còn yêu cầu hai vị cán bộ không được tiết lộ danh tính của mình cho dân biết.

Bà Trang cùng, cấp dưới của mình thừa nhận việc để chiếc xe như vậy là không đúng, lần sau sẽ rút kinh nghiệm.

Video clip toàn bộ sự việc. Xem tại đây.

Báo Tầm Nhìn sẽ tiếp tục thông tin

Phần nhận xét hiển thị trên trang