Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2017

Núi thiêng bật khóc


>> Các tỉ phú Trung Quốc đang bị xóa sổ bởi một cơn sốt
>> “Nín thở”... đến tháng 8
>> Quốc hội chất vấn về Sơn Trà: Vì sao Đà Nẵng không phản biện?


Trần Thị Huyền Trang





























(Dân Việt) Khi nhìn Núi Bà đầy thương tích, người dân địa phương nghẹn ngào nói rằng mình bưng chén cơm không dám và vô miệng vì bụi đá bay trắng xóa đặc sệt trong không trung, nhiều hecta ruộng chân núi nham nhở đá dăm và bột xám đến nỗi cây lúa không dám mọc, hay lỡ mọc thì không dám trổ bông, xám ngoét cả mùa màng.

Những bức ảnh dưới đây chúng tôi ghi dọc Núi Bà, tại các công trường khai thác đá ngày ngày rầm rộ làm dậy khói một vùng sơn địa, khiến người dân bột đá chan cơm, nứt nhà, chết ruộng.

Báo chí thời gian qua vào cuộc quyết liệt nhưng đâu lại vào đấy.

Núi Bà thuộc sơn mạch của Trường Sơn tráng lệ, trên trục Bắc - Nam tự dưng động lòng nhớ biển, bứt ra một nhánh phăng phăng chạy về Đông, để lại một dải hùng sơn trên đất Bình Định và trở thành vùng sinh trưởng của muôn loài sơn cầm dã thú. 

Ở đây có trăn da báo, rắn trắng mồng đỏ, cọp tàu cau, chồn hương... nhưng hiện giờ nhiều loài đã biệt bóng. 

Đây là dãy núi nổi tiếng sớm được khảo tả trong "Đại Nam Nhất Thống chí" triều Nguyễn, "Nước non Bình Định" của Quách Tấn, với 66 đỉnh cao thấp khác nhau, án ngữ vùng Đông Nam huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. 

Diện tích tự nhiên của Phù Cát là 672,470 km2 thì riêng Núi Bà chiếm khoảng 40km2, cho nên, dù là một huyện đồng bằng, nhưng Phù Cát có Núi Bà làm “đặc sản”.

Đầu thế kỷ này, người dân nơi đây vẫn còn giữ trong tâm thức những huyền thuyết thú vị về các sơn thần quyền năng. Cứ mỗi độ 13 tháng Giêng, dân Phù Cát hội tụ về An Đức làm lễ Mở mắt rừng rồi sơn dân mới được vào núi chăn dê, hái quả, kiếm củi. 

Ở khu vực dưới Hang chàng Lía, năm 2006 hãy còn một thạch trận gồm hàng trăm tảng đá mồ côi, theo các sơn dân Trần Thị Chung, Thái Văn Ca, thì ngày xưa chàng Lía gánh đá từ Núi Một xuống bày trận để ngăn quan quân nhà Nguyễn đột nhập. Chẳng may bị đứt quang gánh, một hòn văng ra án ngữ gần xóm Gò Quy, Lía chạy tới vác hòn đá lên, dậm mạnh xuống đất lấy thế, đến nay vẫn còn một tảng đất lớn hình dấu chân người. 

Lại có người kể đêm đêm từ đá núi có một đàn rết vàng kéo ra đi ăn, ăn xong lại biến vào đá núi. Núi Bà còn là một khu danh thắng với những ngôi chùa cổ vào hàng danh tự như chùa Ông Núi (tức chùa Linh Phong), chùa Ông Đá (Thiên Bửu Thạch tự)…

Có một truyền thuyết mới về Núi Bà thế kỷ XX, rằng đó là miền anh hùng cứ địa. Núi vươn mình che chở những người đi ngược chiều với dân săn ngà voi. 

Họ là những chàng trai từ miền Bắc vào, theo dãy Trường Sơn đến trú giữa núi sâu vùng Cát Sơn, phía Tây huyện Phù Cát, rồi âm thầm chuyển động về phía mặt trời mọc, về với các xã mạn Đông như Cát Trinh, Cát Tường, Cát Nhơn, Cát Hưng, Cát Tiến... 

Chuyển động về phía mặt trời mọc nhưng họ phải đi đêm để qua mắt quân thù. 

Theo chân giao liên những đêm tối trời, họ trải ni lông băng qua quốc lộ, đi đến đâu cuốn ni lông đến đấy. 

“Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng” đã trở thành yếu quyết sinh tồn của quân giải phóng. 

Tôi vẫn còn tìm thấy những khuôn bếp bằng đất nặn đã bạc màu trắng phớ trong các ngách đá trên Hang Chàng Lía tại Hòn Một, xã Cát Trinh và trong nhiều hang cách mạng khác trong lòng Núi Bà. 

Đó là dấu vết còn lại của những cánh quân giải phóng từ phía Tây băng đường về đây trú ẩn rồi dần dần chiếm lĩnh những vị trí trọng địa khác, bền bỉ nối với dân, tổ chức đánh địch thất điên bát đảo. 

Từ trong lòng những ngọn núi xanh từ Tây sang Đông Phù Cát, họ đã trỗi dậy như sấm chớp, cùng quân dân địa phương làm nên kỳ tích lịch sử vào tháng 3.1975.

Từng là mái nhà của những cánh quân giải phóng và dân quân du kích địa phương, Núi Bà trở thành khu căn cứ địa cách mạng vĩ đại của Bình Định với 22 di tích lưu giữ hồn vía cuộc kháng chiến chống Mỹ và cũng mặc nhiên, theo quy luật tàn khốc của chiến tranh, lưu giữ xương cốt bao anh hùng liệt sĩ đã hy sinh. 

22 di tích mà tôi đề cập là các hang động mà bộ đội và dân kháng chiến lập căn cứ địa, đã được xếp hạng cấp quốc gia.

Hiện nay, hang Chàng Lía ở Hòn Một và một hang Cách mạng gần Hố Giông xã Cát Trinh đã bị các đá tặc xẻ núi làm lấp miệng hang. 

Chị Vân - Phó Chủ tịch HĐND huyện Phù Cát nói rằng cha chị và nhiều liệt sĩ khác đã hy sinh ở đó. 

Hang Cách mạng và Hang Chàng Lía đã quen thuộc trong tâm thức người dân bao đời, giờ đây trước nguy cơ mất dấu. Thế nhưng thẩm định về khả năng ảnh hưởng của việc khai thác đá với các di tích kháng chiến Núi Bà, theo ngành văn hóa Bình Định, cho đến nay các hang này chưa được xếp hạng nên không thể nói là di tích bị xâm hại?!

Quá là đúng và cái đúng ấy cực kỳ vô cảm, vì một ngành gác cửa văn hóa lại không hiểu điều đơn giản rằng đối với một nơi đã là địa linh minh sử, đã thành di tích trong lòng người, thì việc xếp hạng chỉ là vấn đề thủ tục mà thôi. 

Đối với những người đã từng có thời trực tiếp gắn bó với nơi này hoặc có người thân đã từng sống, chiến đấu và hy sinh tại đây thì việc đang mất dần những di tích ấy quả là một điều khó chấp nhận. Người thừa hưởng hòa bình từ máu xương tiền nhân mà vô tâm thì hòn đá làm sao mở miệng? Bia miệng người đời liệu có tha thứ cho những kẻ tiếp tay phá dỡ hay chà đạp lịch sử?

Người dân địa phương nghẹn ngào nói rằng mình bưng chén cơm không dám và vô miệng vì bụi đá bay trắng xóa đặc sệt trong không trung. 

Rằng đường dân góp phần với nhà nước cùng làm bị xe chở đá cày vỡ nát. 

Rằng việc nổ mìn phá đá làm tường nhà bị nứt. 

Rằng nhiều hecta ruộng chân núi nham nhở đá dăm và bột xám đến nỗi cây lúa không dám mọc, hay lỡ mọc thì không dám trổ bông, xám ngoét cả mùa màng. 

Doanh nghiệp hơi tử tế (không có nhiều doanh nghiệp hơi tử tế) thì đền cho dân khoảng 4.200 VNĐ /m2. 

Tôi thực mục sở thị tập hồ sơ do xã Cát Nhơn cung cấp, trong đó có nhà được đền bù mùa vụ lên bạc triệu, tính tỷ lệ đất bị xâm hại không sản xuất được theo cấp số nhân. 

Nhưng để được đền bù, người dân đã phải kêu ngày kêu đêm trong các cuộc họp dân, mà dễ đến nửa năm mới họp một lần, rồi làm đơn kiến nghị, rồi chặn xe chở đá. 

Khi doanh nghiệp chịu đền bù, xã mời dân ra thỏa thuận. Ừ thì được một ly một lai còn hơn mất trắng. 

Thế là anh cây chết ký, anh ruộng hư ký, anh nứt tường nhà ký. 

Thảm nhất là trường hợp qua rất nhiều giấy tờ, chữ ký mà người bị thiệt hại cầm được đúng 84.000 đồng! Tức là một mùa gieo trồng đổi bằng 3 tô bún giò hoặc 8 lá bánh xèo!!!

Các công trường khai thác đá ở cát xã Cát Hưng, Cát Nhơn, Cát Tường, Cát Trinh vẫn đang tiếp tục xẻ Núi Bà. Đã có những dãy núi mất chân. Đã có những dãy núi bị vạt tận xương sống. 

Bao giờ thì vạt đến tim? Và các chú, các cô, các anh chị vĩnh viễn nằm lại trong các hang đá, thịt xương đã tan hòa trong núi, có đau không, Núi Bà ơi?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông Lưu Hiểu Ba suy hô hấp, gia đình không cho đặt ống thở?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lưu Hiểu Ba, người được giải Nobel Hòa bình, vừa qua đời


Ông Lưu Hiểu Ba, người Trung Quốc duy nhất từ trước tới nay được trao giải Nobel Hòa bình, vừa qua đời ở tuổi 61.
Ông Lưu Hiểu Ba là ai?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng Tâm - Nhóm Đồng Thuận Đâu Là Sự Thật - Việt Nam Thời Báo News

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biệt phủ GĐ sở Yên Bái chưa là gì với 6 lô biệt thự khủng, xa hoa lộng l...

Phần nhận xét hiển thị trên trang

THƠ ĐỜI TUY ĐỤC MÀ TRONG


Thu Ngân thực hiện

Trong giới văn nghệ sĩ, nhà thơ Bùi Chí Vinh là cái tên được nhắc tới với nhiều giai thoại, bởi anh có tài ứng khẩu thành thơ nhiều đề tài hóc búa do bạn bè thách đố bên chiếu rượu...
Còn trên thi đàn, thơ đời Bùi Chí Vinh người khoái cũng nhiều, người ghét cũng lắm, thậm chí là một cái gai trong mắt nhiều người vì dám nói thẳng, nói thật, tung hê hết thảy sự đời trong đục, kiểu “bức tranh vân cẩu vẽ người tang thương”. Nhưng cũng cái dáng vẻ ngang tàng, gai góc ấy khi thỏ thẻ thơ tình lại biến hóa thành trong veo không có tuổi, kiểu như: “Cô gái ơi anh nhớ em/ Như con nít nhớ cà – rem vậy mà…”.
Tự nhận mình sinh ra dưới một ngôi sao “quậy”, cầm tinh con ngựa bất kham, từng khoác áo lính một thời tuổi trẻ, nhưng có lúc phải làm đủ thứ nghề mạt lộ để sinh nhai như lời tự bạch: “Ta sinh ra gặp buổi nhiễu nhương/ Bất lương bàn luận chuyện hiền lương/ Kẻ sĩ cúi đầu làm binh sĩ/ Thơ quốc doanh cười cợt thơ Đường…”. Vài năm nay, anh chuyển sang cầm cọ vẽ tranh và đã có hai triển lãm cá nhân gây được sự chú ý trong công chúng.

Tranh Hoàng Tường

- Trước đây mọi người quen gọi anh là nhà thơ, nhưng bây giờ gọi anh là họa sĩ trẻ cũng được phải không ạ?

Cứ gọi tôi là Bùi Chí Vinh – Bình Chí Vui là được rồi. Thật ra tôi làm quen với hội họa từ nhỏ, năm chín tuổi đã đoạt giải hội họa Thiếu nhi châu Á với bức tranh màu nước Quang Trung hành quân. Nhưng rồi do cái duyên, tôi gắn bó với văn chương nhiều hơn trong một thời gian dài. Thật vây, mỗi khi làm một công việc mới nào đó tôi đều không có sự tính toán nào. Tôi tin mọi việc đều do sự sắp đặt của số phận cả, và “cùng tắc biến, biến tắc thông”.

- Bùi Chí Vinh một tay chọc trời khuấy nước mà cũng tin vào số phận sao? Cái sự “cùng tắc biến, biến tắc thông” của anh là gì vậy?

Sao lại không chứ. Tính cách nào, số phận nấy mà. Tôi tin vào số phận, vào Thượng đế, vào luật nhân quả. Nếu có niềm tin, con người ta sẽ sợ làm điều ác, điều xấu. Tôi chỉ không sợ cái ác, cái xấu khi phải đối đầu với nó thôi.
Đời tôi có những việc rất lạ mà tôi tin đó là sự trợ lực của Thượng đế. Tôi có niềm tin vào tâm linh, dù chúng ta đang sống trong thế giới duy vật. Đó là một khi cuộc sống bị đẩy vô chân tường thì tôi lại bộc lộ ra một khả năng mới và sống được bằng khả năng đó. Tôi quăng mình vào thơ một cách dữ dội nhưng rồi đến lúc chỉ được làm thơ tình để mọi người vỗ tay, hay thơ minh họa nghị quyết… tôi không thích nữa và dừng lại. Đưa đẩy thế nào tôi chuyển sang viết truyện cho tuổi mới lớn và bán vào hàng chạy nhất lúc đó cùng với Nguyễn Nhật Ánh. Khi người đặt hàng tôi viết truyện thiếu nhi là ông Nguyễn Thắng Vu, Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng qua đời thì lại có người đặt hàng tôi viết kịch bản điện ảnh. Khi những nhà đầu tư làm phim gặp khó khăn thì khả năng hội họa của tôi lại trỗi dậy. Hai triển lãm vừa qua, mỗi cái tôi bán được năm bức tranh. Là “họa sĩ trẻ” mà được như vậy cũng là thành công rồi.

- Hỏi thật, anh đã thành danh trong văn chương, khi “tay ngang” đến với hội họa, anh không sợ bị cho là lấn sân, không “biết mình biết ta” sao?

Tôi có biết gì về hội họa đâu, bỗng một ngày muốn vẽ thì cầm cọ vẽ thôi. Vẽ xong cũng không có ý định triển lãm, nhưng rồi cái duyên cứ đưa đến. Tranh của tôi không giống ai, nó là minh họa cho cái đầu, cho suy nghĩ của tôi nên có sự hồn nhiên, chân thật lẫn dữ dội, thống khổ. Mỗi người có một sứ mệnh riêng nên tôi không nghĩ là mình lấn sân. Và vì “biết mình biết ta” nên tôi chỉ dạo chơi với hội họa một cách thoải mái nhưng hết mình. Bùi Chí Vinh là thế, chơi cái gì cũng phải hết mình.

Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.

- Như vậy sau hội họa, sẽ còn điều bí ẩn nào đó đang chờ anh khám phá phải không?

Như tôi đã nói, đó là một phản xạ tâm linh nên tôi cũng không biết trước. Có thể đó là sự trở lại với văn chương, vì tôi còn nhiều dự định đang ấp ủ.
Nếu có điều kiện viết tiểu thuyết lịch sử hoặc làm kịch bản phim, tôi sẽ chọn viết về thời đại Quang Trung – Nguyễn Huệ, vì những con người anh hùng áo vải thời đó rất ly kỳ. Nó sẽ rất phong phú bởi nhiều tình tiết, chi tiết dạng giả sử, ngoại sử rất hấp dẫn, nhưng đều trên cơ sở khoa học, hợp lý mà tôi có thể tưởng tượng và làm được. Không chỉ có Nguyễn Huệ mà cả Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân, rồi sự xuất hiện của Nguyễn Hữu Chỉnh – một tài năng lớn của thời Lê – Mạc nhưng đi theo Nguyễn Huệ, Ngô Thời Nhiệm cũng vậy. Những người này có đời sống riêng rất đặc biệt, Ngô Thời Nhiệm là đệ nhất văn thần, còn Nguyễn Hữu Chỉnh là đệ nhất quân sư thời đó. Có thể thấy những nhân vật lỗi lạc nhất của Bắc Hà đều theo Nguyễn Huệ, cả những người Hoa tham gia phong trào phản Thanh phục Minh cũng theo Nguyễn Huệ. Chỉ có minh chúa mới có sức thu phục nhân tâm như thế.

- Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn Bùi Chí Vinh thì có cảm giác gì khi “đáo tuế”?

Tôi sinh năm Giáp Ngọ 1954, năm nay 2014 cũng là Giáp Ngọ, vậy là đúng 60 năm cuộc đời. Người ta thường sợ hạn năm tuổi, còn tôi lại không nghĩ vậy. Cuộc đời tôi đã trải qua quá nhiều vận hạn khắc nghiệt ở những năm khác nên đến năm tuổi, có khi tôi sẽ phục sinh, nạp đủ năng lượng để sải vó, để rong ruổi, để chinh phục những điều mới mẻ.

“Ngày ta sinh Nguyễn Huệ đã bùng hà/ Nên con – ngựa – tử – vi không người cưỡi/ Ta sút chuồng phá bỏ yên cương/ Lặng lẽ ruổi đời mình lên núi…”. Hình như kiêu hãnh và cô độc là con đường mà anh đã chọn và theo đuổi đến cùng…

Đúng rồi, vì “Chỉ có cô đơn mới đủ làm ta khóc/ Tiếng khóc của ta là tiếng hí của người/ Ta không biết ta là người hay ngựa/ Chỉ một mình Nguyễn Huệ hiểu ta thôi”… Đó là bốn câu đầu và cuối mà tôi đã viết trong bài Ngày sinh của ngựa. Bài thơ này mới nghe qua tưởng rất ngông cuồng, nhưng thật ra không phải vậy. Câu “Ngày ta sinh ra bầy rắn đã rung chuông”, tôi vừa mượn ý bài Ngày sinh của rắn của Phạm Công Thiện, nhưng hình ảnh rắn cũng để nói về một cái gì đó hiểm độc. Sự rình rập, mai phục trong bụi của rắn đối lập với hình ảnh con ngựa tung vó chạy trên đồng cỏ, càn lướt trên thảo nguyên. Trong đời tôi, Nguyễn Huệ là vị anh hùng mà tôi cảm phục, thần tượng nhất. Không chỉ là người làm nên chiến công hiển hách, chưa hề thất trận mà về mặt nhân quyền, ông có nhiều cải cách cho dân.
Thời nào cũng vậy, cách cô độc của một kẻ sĩ cầm bút đi liền với sự kiêu hãnh. Cô độc vì cảm thấy “Thế sự thăng trầm quân mạc vấn” nên phải lùi lại. Nhưng trong biểu hiện sự cô độc phải có cá tính riêng. Người cầm bút mà lúc nào cũng cười xởi lởi trong đám đông thì tác phẩm cũng mang màu đồng phục, giống với mọi người.
- Văn chương cũng là một sản phẩm của xã hội. Có ý kiến cho rằng người viết trẻ bây giờ có kỹ năng nhưng ít có vốn sống nên tác phẩm của họ cũng lơ lửng. Anh thấy nhận xét trên thế nào?
Phải nói rằng viết văn là một nghề cực nhọc, đòi hỏi không chỉ tài năng mà còn sự dấn thân, bản lĩnh của người viết. Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Tức phải tải được đạo lý, nhân nghĩa, chính trực, chứ nếu viết văn để tải cái hả hê, cái tham vọng của cá nhân thì nên chọn công việc khác hơn là viết văn. Tôi tin những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.
Bây giờ văn chương rất hỗn độn. Văn chương thậm chí tải cái ác, cái lơ lửng, khích cái tà đạo nhưng lại được một bộ phận không nhỏ cổ vũ. Có lẽ do đời sống bây giờ thực dụng, người ta không còn lý tưởng nên văn chương biến thành minh họa cho xã hội. Hơn bao giờ hết, giữa xã hội hỗn độn, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn thì văn chương càng phải làm nhiệm vụ “văn dĩ tải đạo” hơn nữa. Nhưng nhìn vào tương lai của văn học trẻ bây giờ tôi không cảm nhận được điều đó. Hiện nay tuy có rất nhiều người viết trẻ, nhưng tôi lại thấy văn học trẻ rất bế tắc. Lý do họ bị khống chế quá nhiều. Trong bản thân mỗi người có sẵn một người tự kiểm duyệt những con chữ của mình. Thế nên nhiều tác phẩm ra đời kiểu “đầu voi đuôi chuột”, mở ra vấn đề lớn nhưng kết thúc không đâu vào đâu.

Viết văn phải lương thiện, phải thực hiện đúng chức năng “văn dĩ tải đạo”. Những ai còn lương tri, còn tài năng để làm việc thiện thì người đó sẽ tồn tại cùng với lịch sử, với thời gian.

- Đời sống thực dụng, các giá trị thiện ác, chính tà lẫn lộn. Nghe thật đáng sợ, nhưng chẳng lẽ chúng ta phó mặc, không làm gì sao? Có lẽ nên bắt đầu từ giáo dục, anh có thấy như vậy không?
Thời của tôi, từ khi còn nhỏ, học tiểu học là đã được nhà trường dạy môn Đức dục. Đó là cách tập tu thân, cư xử có đạo đức, theo đạo lý, lẽ phải nhưng không giáo điều, lên gân mà hết sức đơn giản, gần gũi như thưa gởi, xin phép cha mẹ khi ra khỏi nhà, chào người lớn tuổi, gặp đám tang cúi đầu chào, nghe thấy quốc ca dù ở đâu cũng đứng nghiêm, không nhặt của rơi… Những điều rất cơ bản trong một xã hội văn minh mà một đứa trẻ cần phải biết cách ứng xử với bạn bè trang lứa, với cha mẹ, người lớn, hàng xóm, với cả người nước ngoài đến nước mình. Lên trung học, bước vào đệ thất (tức lớp 6) thì học thêm môn Công dân, mở rộng hơn dạy về cách sống yêu nước, dám dấn thân, hy sinh, nghĩ đến đất nước trước khi nghĩ đến bản thân. Nhờ những bài học Đức dục, Công dân mà một đứa trẻ khi lớn lên bên cạnh kiến thức thì đã được trang bị nền tảng văn hóa để biết cách sống đẹp. Đất nước ta đã từng có những thế hệ được thừa hưởng nền giáo dục nhân văn như thế, từ đó mới có những người sống vì lý tưởng, dám dấn thân, dám hy sinh.
Có lần tôi tham gia biểu tình và bị cảnh sát rượt, tôi phải quăng chiếc xe đang chạy trên đường Pasteur để thoát thân. Hai ngày sau quay lại thấy chiếc xe máy vẫn còn nguyên chỗ cũ. Lúc đó tôi mới 15 tuổi, tôi không cảm động hay thấy việc đó có gì đặc biệt. Vì đó là điều bình thường trong xã hội mà con người được giáo dục không được tham lam, tước đoạt của cải của người khác, dù để trước mặt. Thời tao loạn mà còn như thế. Còn bây giờ, chúng ta đã qua thời nghèo đói để biện mình cho việc “bần cùng sinh đạo tặc”, vậy mà những tin “hôi của” xảy ra khắp nơi. Hơn cả buồn là sự xót xa.
- Anh từng làm “sếp” của những tay anh chị giang hồ mà vẫn cảm hóa được họ bằng thơ kia mà.
Bởi tôi tin “nhân chi sơ, tính bản thiện”, và thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.
Sau giải phóng, tôi được phân công về công tác tại Trường Thanh niên Xây dựng cuộc sống mới ở Xuyên Mộc (Bà Rịa – Vũng Tàu) và Tân Phú (Đồng Nai) giáo dục cho thanh niên loại 4. Có những người có học thức và cả những người thất học, họ phạm pháp nhưng chưa đến mức phải ở tù nên bị thử thách, trải qua môi trường cải tạo, xây dựng cuộc sống mới ở trường này. Tôi làm tuyên huấn, trực tiếp dạy học cho họ bằng vốn sống và kiến thức mình chứ không theo giáo trình nào cả. Ở đó, tôi thấy sự ngây thơ và hướng thiện của họ còn mạnh mẽ hơn chính những cán bộ thanh niên xung phong đang giáo dục, hướng dẫn họ.
Tôi còn nhớ, có lần một học viên là giang hồ anh chị nổi tiếng vùng Tân Định bị đưa vào trường, anh này bất phục và có ý định bỏ trốn bằng vũ lực. Thấy được thái độ của anh ta, tôi làm bài thơĐiều tôi chưa chuẩn bị – là lời suy niệm của một “đại ca” dân Sài Gòn có học thức, nhưng cũng là châm ngôn của những người giảng dạy là “lấy tình thương xóa bỏ hận thù”. Liền sau đó tôi bị cấp trên nhắc nhở, cho rằng tôi đi lệch phương pháp của trường.
- “Đời sống có gì hơn quả bóng/ Tay trơn không níu được bao giờ/ Hạnh phúc có hơn gì quả bóng/ Lủng mấy lần xì hết ước mơ… Quả bóng tròn như thể công danh/ Anh chụp suốt một đời không dính…”. Có khi nào anh nghĩ đời mình trắc trở do thơ anh vận vào đời không?
Nhờ làm thơ về bóng đá mà tôi sống được đó chứ. Thời điểm sau khi bị buộc cởi áo lính là thời tôi thê thảm nhất. Đi đâu tôi cũng nghe đồn “cấp trên cấm đăng bài Bùi Chí Vinh trên báo”, còn nếu phải đăng thì “chỉ đăng thơ tình và duy nhất thơ tình mà thôi”. Tuy chỉ cấm bằng miệng chứ chẳng có văn bản nào, nhưng không nơi nào dám làm trái. Tôi phải xoay xở và nghĩ ra đề tài làm thơ về bóng đá. Thuởấy nhà báo Hồ Nguyễn phụ trách tờLong An Bóng đá và tờLong An Cuối tuần rất ưu ái tài nghệ làm thơ đa hệ và hoàn cảnh thắt ngặt của tôi bèn đề nghị mỗi số báo tôi có một bài thơ về thể thao hoặc trào phúng hài hước. Những bài thơ như một loại biên niên sử ghi chép các giải World Cup, Euro lẫn các giải vô địch Việt Nam đã giúp tôi sống được qua lúc khó khăn đó.

Thơ từ trái tim khác với thơ từ cái lưỡi.

- Lý lịch của anh rất đỏ mà cũng phải khổ sở như vậy sao?
Gia đình tôi là gia đình cách mạng. Ba tôi từng là thành viên Ban tuyên truyền thi hành Hiệp định Geneve, là một nho sĩ Bắc Hà, là đảng viên Đảng Cộng sản Pháp và đảng viên Đảng Lao động Việt Nam. Mẹ tôi cũng hoạt động trong Đặc khu ủy Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định và cũng là đảng viên Đảng Lao động. Bà từng bị bắt ở bót Catinat và ở tù chung với bà Nguyễn Thị Bình, Đỗ Duy Liên, Lan Mê Linh… Ba tôi cũng muốn hướng tôi đi theo con đường của ông, nhưng tôi vốn cầm tinh con ngựa, có máu lang bạt, nổi loạn nên không muốn đi theo lối mòn. Nhà tôi ở xóm Lách dưới chân cầu Công Lý toàn là người lao động nghèo. Lớn lên tôi thấy hàng xóm tuy nghèo nhưng là những người tử tế, cư xử minh bạch, quân tử, ngay cả tiếng chửi thề cũng khí khái chứ không bừa phứa, vô lối. Vì vậy, tuy sống ở khu bùn lầy nước đọng nhưng chất hiệp sĩ cứ ngấm vào người từ lúc nào, khoái làm anh hùng nghĩa hiệp để bảo vệ người cô thế. Trong hoàn cảnh đó, những người có lý tưởng tham gia đấu tranh rất nhanh. Năm 15 tuổi tôi đã tham gia hoạt đồng cách mạng. Và cuộc đời đã quăng quật thằng tôi không thương tiếc để tôi phải thấm thía câu thế thái nhân tình.
- Nhưng có lẽ nhờ thấm đòn mà anh cũng khôn ngoan hơn?
Một con người có khi trộn lẫn nhiều yếu tố, nhưng dù thế nào cũng trên cơ sở Chân – Thiện – Mỹ. Khi tôi phân thân ra thì tôi vẫn là tôi, không giả dối, đánh lừa mình. Phân thân không phải là biến thành diễn viên mà là để linh hoạt tồn tại như câu nói nổi tiếng của Pele: “Tại sao tôi biến thành một cầu thủ thiên tài trong bóng đá? Bởi vì tôi biết linh hoạt như một giọt thủy ngân trên sân cỏ”.
- Những biến thiên của một cuộc đời rất vô cùng. Giờ đây, nhớ về cậu bé xóm Lách ngày nào, anh có thấy hài lòng với những gì mình đã làm được trong cuộc đời chưa?
Với một thằng bé xuất thân từ xóm Lách với đủ trò thả diều, câu lươn, bắt dế… và phải kiếm kế sinh nhai từ thuở nhỏ như dạy toán, luận văn cho những đứa cùng lớp, làm lồng đèn trung thu, nhiều trò thủ công khác để có tiền… thì tôi có chút hãnh diện, nhưng cũng chưa hài lòng, bởi với đất nước có bổn phận phải làm nhiều việc. Thời nào cũng vậy, bổng lộc là xương máu tạo anh hùng. Những câu thơ cũ tôi viết từ năm 1978 giờ vẫn “nóng”: “Biên giới như người đau mới mạnh/ Giặc sang truyền dịch sốt rét rừng/ Lẽ nào ta ngồi ôm ảo ảnh/ Nhấp ngụm trà luận chuyện văn chương…”.
- Xin được chia sẻ cùng anh những nỗi niềm của một người Việt Nam.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao lại có chiến dịch bôi nhọ Ngô Bảo Châu ?!


FB Tien Zung Nguyen

















Những sự bất công ở Việt Nam xảy ra nhiều hơn cơm bữa đến mức tôi không có thời gian theo dõi chứ chưa nói đến chuyện phản ứng. Nhưng vụ GS Ngô Bảo Châu bị bôi nhọ trên mạng xã hội mấy hôm nay (một cách có vẻ được hậu thuẫn từ phía trên) khiến tôi khá “quan ngại”, bởi cũng theo đà này tất cả người tử tế và có uy tín đều sẽ lần lượt bị bôi nhọ khi dám nói lên những sự thật không làm vừa lòng chế độ.

Ngay từ khi GS Châu được giải Fields, đã có những chính sách nhằm biến GS Châu thành “hàng trưng bày” nhằm “vinh danh chế độ”, chẳng khác gì mấy so với anh Gagarin ngày xưa được chính quyền Xô Viết mang đi triển lãm khắp thế giới. Trong khi đó, theo lời của một quan chức cao cấp trong khoa học mới đây, con em của vị đó phải cho ra nước ngoài sống (chứ không chỉ để học) vì môi trường xã hội Việt Nam quá xuống cấp trong vòng có 10 năm qua, còn Viện Khoa Học và Công Nghệ bây giờ cho cả cử nhân và thạc sĩ vào nắm các vị trí lãnh đạo vì thiếu người “vừa hồng vừa chuyên”.

GS. Châu tuy được “ưu ái đặc biệt”, với một chế độ riêng chỉ dành cho quan chức (khác hẳn sự đối xử rẻ rúm dành cho các nhà khoa học nói chung), nhưng vẫn “không chịu” tự bịt mồm bịt miệng giống các quan chức ăn trên ngồi chốc (chỉ được nói xấu chế độ trên bàn nhậu thôi), mà lại viết ra những điều “chướng tai gai mắt" ở nơi có hàn chục ngàn hàng trăm ngàn dân đen theo dõi. Thế mới thành vấn đề., vậy nên mới có chiến dịch bôi nhọ GS Châu, với những lời buộc tội ngớ ngẩn, làm người ta nhớ đến đấu tố thời cải cách ruộng đất và cách mạng văn hoá.

Thực ra, những điều GS Châu nói ra, từ bô xít cho đến mẹ Nấm cho đến v.v., mới chỉ ở mức nhẹ, chẳng có gì là ghê gớm hay bí mật, ai có khả năng tự tìm thông tin và suy luận đúng đắn cũng nhận thấy được. Tuy nhiên, trong thời đại internet này, chính sách ngu dân có thể làm chậm lại sự tiến bộ của xã hội, nhưng cuối cùng thì làm sao có thể ngăn cản nổi nhu cầu văn minh hoá, tự do hoá về tư tưởng của cả trăm triệu người dân?!


Phần nhận xét hiển thị trên trang