Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 9 tháng 7, 2017

Mỗi năm, gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài


HỒ MAI
(VNF) - Phần lớn người Việt di cư sang các nước phát triển trên thế giới. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

Theo số liệu của Tổ chức Di cư quốc tế (IMO) lấy từ nguồn dữ liệu của Vụ Liên hiệp quốc về vấn đề kinh tế và xã hội (UN DESA), từ năm 1990 đến năm 2015 có 2.558.678 người Việt Nam di cư ra nước ngoài. Như vậy tính trung bình trong 26 năm, mỗi năm có khoảng gần 100 nghìn người Việt di cư ra nước ngoài.

Hầu hết người Việt Nam di cư đến các nước phát triển, trong đó tập trung đông nhất là ở Mỹ (hơn 1,3 triệu người), Pháp (125,7 nghìn người), Đức (gần 113 nghìn người), Canada (182,8 nghìn người), Úc (227,3 nghìn người), Hàn Quốc (114 nghìn người),...

Tại các nước Đông Âu, và một số nước châu Á như Lào, Campuchia, Malaysia mỗi nước có khoảng trên 10.000 người Việt di cư đến đây. Cũng theo tổ chức này, trong năm 2015, 2,67% công dân Việt Nam sinh sống tại nước ngoài.

Trong ấn bản "Migration and remittances factbook 2016" về di cư và kiều hối của các quốc gia trên thế giới, Ngân hàng Thế giới cho biết, Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia di cư ra nước ngoài nhiều nhất khu vực Đông Á - Thái Bình Dương tính đến năm 2013.

Trong năm 2015, Bộ Tư pháp cho biết đã trình Chủ tịch nước giải quyết 4.974 hồ sơ xin nhập, xin trở lại, xin thôi quốc tịch Việt Nam (giảm 1.524 hồ sơ so với năm 2014), trả lời 2.673 trường hợp tra cứu quốc tịch theo đề nghị của các cơ quan.

Tính chung trong 5 năm qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu, trình Chủ tịch nước cho phép hơn 40.000 trường hợp xin nhập, trở lại và thôi quốc tịch Việt Nam; trả lời tra cứu, xác minh hơn 15.000 trường hợp từ các cơ quan và các Sở Tư pháp gửi về.

Theo một báo cáo của Cục Lãnh sự - Bộ Ngoại giao Việt Nam, chưa có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại di cư lại diễn ra với quy mô lớn như hiện nay. Quy luật cung - cầu về sức lao động, dịch vụ, chênh lệch về mức sống và thu nhập, các điều kiện về an sinh xã hội,… đã thúc đẩy các luồng di cư từ Việt Nam ra nước ngoài. Số lượng người Việt Nam đang lao động, học tập và sinh sống ở nước ngoài hiện đã lên đến con số nhiều triệu người. Các hình thái di cư của công dân Việt Nam ngày càng đa dạng và phức tạp, quy mô di cư ngày càng gia tăng. 

Từ những năm 90 của thế kỷ 20 đến nay, đặc biệt là từ những năm 2000, do chính sách mở cửa của Nhà nước trong quan hệ đối ngoại cũng như do ảnh hưởng của quá trình toàn cầu hoá, số người Việt Nam ra nước ngoài định cư ngày càng đông. Họ ra nước ngoài để đoàn tụ gia đình hoặc làm ăn, kinh doanh, đi du học rồi ở lại. Cũng có nhiều trường hợp kết hôn với công dân nước ngoài rồi theo chồng ra nước ngoài định cư.

Theo tài liệu "Quốc tịch và Luật Quốc tịch Việt Nam" của Hội đồng phối hợp công tác phổ biến, giáo dục pháp luật của Chính phủ, ở các nước phương Tây, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tại các nước tư bản phát triển chiếm số lượng lớn nhất, khoảng 4/5 tổng số người Việt Nam ở nước ngoài trên toàn thế giới.

Người Việt Nam ở khu vực này phần đông đã có quốc tịch nước sở tại do thủ tục xin nhập quốc tịch các nước này ít phức tạp, không đòi hỏi phải xin thôi quốc tịch gốc, chỉ cần đáp ứng các tiêu chuẩn theo luật nhập cư là có thể được nhập tịch.

Riêng đối với Cộng hoà liên bang Đức, pháp luật về quốc tịch của Đức quy định người nước ngoài muốn nhập quốc tịch Đức thì phải thôi quốc tịch mà họ đang có. Do đó, hàng năm, số người Việt Nam định cư ở Đức xin thôi quốc tịch Việt Nam khá nhiều.

Như vậy, ngoại trừ số người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã xin thôi quốc tịch Việt Nam để nhập quốc tịch nước sở tại thì hiện nay, còn nhiều người vừa có quốc tịch Việt Nam, vừa có quốc tịch nước ngoài.

Việc họ vẫn còn quốc tịch Việt Nam khi đã được nhập quốc tịch nước ngoài là do nước mà họ định cư công nhận 2 quốc tịch hoặc chấp nhận 2 quốc tịch trên thực tế. Trong khi đó, trong cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài này vẫn có một bộ phận chỉ có quốc tịch Việt Nam mà chưa được nhập quốc tịch nước sở tại.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhận thức và hiểu biết về lịch sử và văn hóa của ông Bí thư Quận ủy Hải Châu - Đà Nẵng

Tôn Ngộ Không bị nhốt ở Đà Nẵng (?!)

Trịnh Đình Nghi 

CSTC - "Trước đây tôi đọc thì tôi chưa nghĩ, chưa biết ngọn núi Ngũ Hành. Bây giờ xem phim "Tôn Ngộ Không" thì tôi hình dung cũng có thể trước đây - cách đây hơn 500 năm Tề Thiên Đại Thánh có khi bị đè ở trong ngọn núi Ngũ Hành ở Ngũ Hành Sơn". Đó là phát biểu của ông Võ Văn Thương, Bí thư Quận ủy Hải Châu - Đà Nẵng tại kỳ họp lần thứ 14 khoá 8 (2011-2016).

Không sốc mới là lạ, một ông Bí thư Quận ủy mà đưa ra ý tưởng xây dựng khu văn hóa tâm linh như thế này: "Sắp tới chúng ta kêu gọi đầu tư Dự án khu công viên văn hóa tâm linh Ngũ Hành Sơn. Mà tôi nhớ không nhầm là trước đây, hồi trước giải phóng, có tiểu thuyết "Tề Thiên Đại Thánh".

Ông Thương còn khẳng định thêm: "Bây giờ xem phim "Tôn Ngộ Không" thì tôi hình dung cũng có thể trước đây - cách đây hơn 500 năm Tề Thiên Đại Thánh có khi bị đè ở trong ngọn núi Ngũ Hành ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng)". Trời ạ ! Nói như thế thì trước đây Đà Nẵng thuộc Trung Quốc à ông Bí thư Quận ủy? Thật không thể hiểu nổi! 

Đã thế ông còn đề nghị ông Giám đốc Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch (VH-TT và DL): "Khách du lịch Trung Quốc đến đây rất là nhiều, nếu bây giờ đề nghị Giám đốc Sở tìm lại cuốn sách "Tề Thiên Đại Thánh" thì tôi tin chắc rằng hình vẽ đó giống y năm ngọn núi Ngũ Hành".

Phát biểu của ông Bí thư Quận ủy đã gây "sốc" cho các đại biểu HĐND thành phố. Có đại biểu còn bịt mồm cười (giấu tên, chắc cùng quận) nói rằng: "Tôi không hiểu sao ông ấy lại có cái suy nghĩ liên tưởng như vậy".

Thưa ông Bí thư Quận ủy,  theo sách “Tây Du Ký” của Ngô Thừa Ân thì con khỉ Tôn Ngộ Không là nhân vật không có thật, núi Ngũ Hành Sơn trong “Tây Du Ký” cũng là do Ngô Thừa Ân nghĩ ra, vì Phật tổ muốn nhốt con khỉ ấy theo yêu cầu của thiên đình nên Phật xòe bàn tay của mình bảo Tôn Ngộ Không nhảy lên rồi úp bàn tay xuống, thế là thành năm ngọn núi nhốt con khỉ Tôn Ngộ Không trong đó. 

Còn danh thắng Ngũ Hành Sơn nằm cách trung tâm Đà Nẵng khoảng 8km về phía Đông Nam, thuộc phường Hòa Hải, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng thì còn có tên gọi là núi Non Nước với 5 ngọn núi đá vôi nhô lên trên một bãi cát ven biển, trên một diện tích khoảng 2km2 gồm: Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn (lớn, cao và đẹp nhất), Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Núi Non Nước gắn liền với truyền thuyết rùa nhờ ấp trứng từ thời văn hóa Champa ông nhá, ông về đọc lại đi.

Bởi nghe câu chuyện nực cười, tưởng đùa nhưng có thật này, muốn chia sẻ với ông một điều, Việt Nam ta nếu nói về văn hóa tâm linh thì ngoài tứ bất tử ra không thiếu gì thần thánh linh thiêng, nếu nói về lịch sử thì chúng ta không thiếu những danh nhân, những anh hùng. Và nếu nói về văn hóa ngàn năm chúng ta có biết bao nhiêu điển tích văn hóa, trong đó có cả văn hóa tâm linh. Ngay như núi Non Nước (Ngũ Hành Sơn) đó, thì truyền thuyết rùa nhờ ấp trứng và nhiều truyền thuyết khác nữa, nhưng chắc chắn không có câu chuyện Tôn Ngộ Không bị đè ở đây. Ông cần đọc lại, nghiên cứu lại văn hóa tổ tiên mình cho kỹ,  đừng đi "rước bát hương" nhà hàng xóm về thờ theo kiểu mượn thánh thần như sở thích sính hàng ngoại.

Văn hóa là mục tiêu, là động lực của phát triển. Những năm gần đây, đường lối, chủ trương của Đảng và cơ chế chính sách của Nhà nước về phát triển văn hóa nói chung và văn hóa tâm linh nói riêng đã rất được coi trọng, quan tâm và thông thoáng. Văn hóa cũng là cốt lõi, là linh hồn, là cốt cách, tư thế và niềm tự hào của một dân tộc. Hiện nay có không ít những cá nhân, doanh nghiệp tư nhân xây chùa để kinh doanh, xây dựng các khu du lịch tâm linh để làm thương mại một cách tùy tiện, bá đạo, lai tạp, vay mượn đã và đang làm méo mó dị dạng và mất đi bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc.

Giữ gìn, xây dựng và phát triển văn hoá phải dựa trên nền tảng truyền thống tốt đẹp và phải bằng những con người hiểu biết về văn hoá. Văn hóa không thể tính toán qui ra và đánh đổi bằng tiền, càng không thể vì lý do kinh tế mà bất chấp hậu quả. Khủng hoảng kinh tế có thể khắc phục trong một thời gian ngắn nhưng khủng hoảng văn hoá thì phải mất một thời gian dài, có khi hàng thế hệ mới khắc phục được. Vì vậy nó cần được ngành chức năng có chỉ đạo sát sao, sự thẩm định kỹ càng và quản lý chặt chẽ tránh tình trạng lệch lạc khi sự việc đã rồi.

Câu chuyện và ý tưởng của ông Bí thư Quận ủy Hải Châu - Đà Nẵng có thể chỉ như một "sự cố" phát ngôn, nhưng qua đó thấy rằng: Nhận thức và hiểu biết về lịch sử và văn hóa là vô cùng quan trọng, nhất là đối với những người làm công tác lãnh đạo quản lý văn hóa. Một ý tưởng ngây ngô nực cười như vậy, chắc chắn không bao giờ nhận được sự đồng tình của nhân dân, những người yêu và thấm nhuần văn hóa Việt, nhưng nó là “bia miệng” để đời nhắc nhở rằng, một khi nhân dân đã bầu anh vào vị trí nào đó, hãy cố gắng mà thể hiện sự hiểu biết của mình bằng những phát ngôn chuẩn mực.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Dân không chỉ “chán rồi” mà còn “khiếp sợ”…!


Bùi Hoàng Tám 
(Dân trí) - Một khi tham nhũng, tiêu cực gia tăng mà đơn tố cáo tham nhũng, tiêu cực lại giảm thì đó là một bi kịch bởi cách đây hàng mấy trăm năm, Nhà bác học Lê Quý Đôn đã cảnh báo 5 nguy cơ mất nước: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt”.

Tại hội thảo “Bước đầu tiếp cận kết quả 10 năm thực hiện Luật Phòng chống tham nhũng (PCTN) qua một số lĩnh vực” do Viện Chính sách công và pháp luật phối hợp với Tổ chức Hướng tới Minh bạch vừa tổ chức tại Hà Nội, một vấn đề bức xúc tiếp tục được đặt ra, đó là bảo vệ người tố cáo.

Một thực tế là hiện nay, đơn thư tố cáo tham nhũng, tiêu cực của người dân gửi đến các cơ quan chức có thẩm quyền có chiều hướng giảm.

Vì sao lại có hiện tượng này? Ở đây chỉ có 2 nguyên nhân. Một là tham nhũng đã “tuyệt chủng” ở Việt Nam và hai là người dân không tố cáo nữa.

Nguyên nhân thứ nhất, chắc chắn là tham nhũng ở ta đến lúc này là chưa “tuyệt chủng”. Việc đẩy luig cũng vẫn còn ở mục tiêu phấn đấu và hình như chưa có tài liệu nào nói đến khi nào thì đạt được.Trong thực tế cũng như tại các bản báo cáo, tham nhũng, tiêu cực thậm chí ngày càng tinh vi và nghiêm trọng.

Vậy thì có lẽ, không có gì khác ngoài nguyên nhân thứ hai, đó là người dân không tố cáo nữa.

Việc người dân không tố cáo có thể bởi hai lý do.

Thứ nhất, là “người ta chán rồi” như lời của nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Tại phiên thảo luận về công tác phòng chống tham nhũng năm 2013 tại UB Thường vụ Quốc hội ngày 18/9/2013, ông Hùng nói nguyên văn: “Người dân nào mà không muốn đấu tranh phòng, chống tham nhũng, hay vấn đề là người ta chán rồi? Người ta đấu tranh mãi, góp ý mãi, đưa lên báo mãi nhưng không có tác dụng gì…”.

Đúng là không chán sao được khi những đơn thư tố cáo của người dân gửi đi luôn rơi vào sự biệt vô tăm tích. Thậm chí không nhận được dù chỉ là dòng hồi âm tối thiểu: “Chúng tôi đã nhận được…”?

Không chán sao được khi có những lá đơn gửi đi tố cáo lại quay về với chính người bị tố cáo để rồi người tố cáo nơm nớp sống trong tâm trạng sợ bị trả thù của người có quyền, có chức?

Không chán sao được khi chính các đại biểu Quốc hội cũng phải kêu lên rằng mình chỉ là “người chuyển đơn thư” như lời than vãn của cựu Đại biểu Nguyễn Lân Dũng?

Không chán sao được khi những vụ án trật tự xã hội càng điều tra thì đối tượng liên quan càng nhiều, sự việc càng to ra trong khi đó với vụ án tham nhũng thì ngược lại, càng làm thì càng thu hẹp, vụ việc càng “teo” lại như lời phát biểu của bà Lê Thị Nga.

Không chán sao được khi một vụ trộm vài triệu đồng thì bị xử tù giam nhưng tham nhũng tiền tỉ thì lại xử hành chính, đặc biệt là “người dân mất lòng tin vì có án tham nhũng được chỉ đạo làm xẹp xuống….” như lo ngại của Chủ tịch Hội đồng dân tộc Ksor Phước.

Không chán sao được khi “có địa phương, gần 90% bị cáo tham nhũng được xử án treo” như lời của ông Nguyễn Mạnh Cường, Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp Quốc hội.

Không chán sao được khi ngay trong báo cáo của Thanh tra Chính phủ về tham nhũng cũng hết sức sơ sài đến mức Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đánh giá là còn “nhẹ hơn đánh giá trong nghị quyết của Trung ương”.

Hành xử với tham nhũng như vậy, tất nhiên là “người ta chán”.

Song, dân không chỉ chán mà có thể còn khiếp sợ. Người tố cáo vẫn không hoặc chưa được bảo vệ hữu hiệu như đánh giá tại cuộc hội thảo nói trên.

Trong khi đó, đối tượng tham nhũng luôn đầy sức mạnh và “hành vi trả thù, trù dập người tố cáo tham nhũng thường rất tinh vi” như lời của ông Phạm Anh Tuấn - Phó trưởng Ban Nội chính Trung ương.

Họ tinh vi bởi họ hầu hết là những người có chức vụ, quyền hạn hoặc có thế lực trong xã hội.

Họ có sức mạnh bởi họ có rất và rất nhiều tiền từ tham nhũng.

Họ có sức mạnh bởi họ có “bầy đàn”. Tham nhũng hiện nay không thể chỉ một người mà phải nhiều và thậm chí cả một bộ máy.

Họ tinh vi bởi họ thường là những người có trình độ nên rất nhiều mưu mô.

Họ có sức mạnh bởi họ dám táng tận, không từ bất cứ thủ đoạn nào.

Trong khi đó, người lương thiện thì thường là không có đủ mọi thứ, từ quyền lực, tiền bạc, mưu mô, bầy đàn… và hiện tại, họ chưa có cả một cơ chế bảo vệ hữu hiệu.

Vì thế, cần phải có một cơ chế đặc biệt để bảo vệ để công cuộc phòng chống tham nhũng hiệu quả.

Một khi tham nhũng, tiêu cực gia tăng mà đơn tố cáo tham nhũng, tiêu cực lại giảm thì đó là một bi kịch bởi cách đây hàng mấy trăm năm, Nhà bác học Lê Quý Đôn đã cảnh báo 5 nguy cơ mất nước: “Trẻ không kính già, trò không trọng thầy, binh kiêu tướng thoái, tham nhũng tràn lan, sĩ phu ngoảnh mặt”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tư duy thực dụng dẫn đến lối sống thực dụng của người Việt



Lê Thanh Hải























TTVN - Tôi cùng một đám bạn học cấp 3, trong một đêm lửa trại, đã chia sẻ với nhau về ước mơ của mình. Mỗi người ấp ủ những ước mơ khác nhau như sẽ làm cô giáo, nhà sinh vật học, kiến trúc sư, bác sỹ và có bạn muốn trở thành ca sỹ chuyên nghiệp… Còn tôi luôn tin rằng mình sẽ là kỹ sư chế tạo ô tô. Hơn 20 năm sau, trong một bữa tiệc gặp mặt, không ai trong đám bạn đó kể cả tôi, còn nhắc lại điều mình từng mơ ước. Những gì chúng tôi bàn luận là về mức giá của những căn hộ chung cư cao cấp, sự khác biệt giữa các loại xe Mercedes, BMW, Audi hay Lexus, nhận xét về các khu resort mà mình đã từng đi nghỉ hay dở như thế nào… Sau buổi gặp, tôi tự hỏi phải chăng con người ta càng lớn thì càng tư duy thực dụng hơn..?!

Lúc còn nhỏ, không biết tự lúc nào tôi có ước mơ là mình sẽ trở thành kỹ sư chế tạo ô tô, có lẽ vì con trai đứa nào cũng thích ô tô. Năm tháng trôi đi, tôi đã trưởng thành và sau khi lập gia đình tôi lại ước mơ có được ô tô, và không còn nghĩ đến việc trở thành kỹ sư ô tô nữa! Ước mơ của tôi đã thay đổi, ‘trở thành‘ chuyển sang ‘có được’. Tạm chưa nói đến việc rồi tôi có được ô tô hay không, nhưng thử bàn xem tại sao tôi không tiếp tục ước mơ trở thành một cái gì đó, có thể không phải là kỹ sư ô tô, thì có thể là trở thành một người đàn ông bản lĩnh, một người cha mẫu mực, một chủ doanh nghiệp hay sẽ là vị tổng thống đầu tiên của VN,… đại loại như thế, thay vì thế tôi chỉ nghĩ tới những gì mình muốn có được, mình muốn sở hữu?!

Hầu hết những năm tháng có thể làm việc hiệu quả nhất của mình, tôi đã tập trung mọi nỗ lực và tâm trí vào việc làm như thế nào để đạt được nhiều hơn những thành tựu về vị trí công việc, để có thêm sự sở hữu về vật chất, như nhà cửa, xe cộ và các tiện nghi khác, bởi tôi và những người bạn của mình đều tin rằng như vậy là thành công. Và vì quá bận rộn để ‘có được’ nhiều hơn và nhiều hơn nữa, nên tôi không còn để ý đến việc mình đã và đang trở thành con người như thế nào.

Tôi đã từng đạt được vị trí công việc mà không ít người bạn của mình mơ ước, là quản lý kinh doanh dự án (project sales manager) trong một tập đoàn đa quốc gia, với mức lương tháng cao hơn mức thu nhập mà một kỹ sư mới ra trường có thể phải làm việc và tích luỹ trong vài năm mới có được. Tôi đã lần lượt đạt được các tiêu chí mà người ta thường cho là một người thành công cần có, như nhà 3 tầng, xe 4 bánh, và những chuyến đi du lịch ở khu nghỉ 5 sao… Tôi không phủ nhận là tất cả những thứ đó đều đã mang lại cho tôi và gia đình mình sự thoả mãn, những niềm vui và sự thuận tiện hơn cho cuộc sống. Cho tới một ngày, tôi chợt hỏi, sau này các con của mình khi nghĩ về cha của chúng, chúng sẽ nghĩ gì? Liệu chúng có thấy tự hào về những công việc tôi đã làm? Liệu chúng có coi tôi là tấm gương về lối sống và đạo đức?

Nói tới đây, chợt nhớ câu chuyện về cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, khi kết thúc nhiệm kỳ, tại phiên họp cuối cùng trên cương vị người đứng đầu Chính phủ (23/06/2016), trong lời chia tay các thành viên Chính phủ, ông đã nhắn nhủ các cộng sự cùng nghỉ và chính mình là sẽ ‘ráng làm người tử tế’. Lời này nhẽ ra cần có trong lễ nhậm chức! Bởi vì, để làm một quan chức tốt, một cán bộ lãnh đạo tốt, trước hết cần phải là một công dân tốt. Người xưa chẳng từng dạy “Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Rất tiếc, hầu hết các vị lãnh đạo khi còn tại vị (đương chức, đương quyền), thường quên mất hoặc bỏ qua việc ‘tu thân’. Phải chăng họ cũng giống một người dân thường như tôi, chỉ chăm lo tới việc có được nhiều hơn, sở hữu nhiều hơn…?

Lối tư duy thực dụng, không chỉ thể hiện trong lối sống của một bộ phận của xã hội, mà thực tế là nó càng ngày càng đi sâu hơn vào mọi góc ngách của cuộc sống trong xã hội chúng ta hôm nay. Từ cách mà chúng ta đưa ra những lựa chọn, như chọn trường cho con, chọn vợ gả chồng, chọn bạn để chơi, chọn công việc để làm v.v…, đều ẩn chứa trong đó sự mưu cầu về lợi ích, nếu không phải để dễ bề thăng tiến hơn thì cũng là cơ hội để có được nhiều lợi ích về kinh tế hơn. Khi cần nhờ ai giúp đỡ một việc nào đó, chúng ta thường sẽ nghĩ ngay đến việc mình sẽ phải trả ơn họ như thế nào. Nếu có ai giúp mình một việc gì đó mà chưa trả ơn, chưa hậu tạ được thì cảm thấy áy náy… Thiết nghĩ, ấy là do mỗi người đều nghĩ như vậy, mà lâu dần nó hình thành một lối tư duy theo cách ‘có đi có lại’.

Giao tiếp giữa con người với con người trong các mối quan hệ ở xã hội hôm nay cũng đang bị thực dụng hoá triệt để. Hầu như các lễ sinh nhật, mừng thọ, đám cưới, đám ma, tân gia v.v…, không còn là dịp để người ta chia sẻ với nhau niềm vui, nỗi buồn hay sự mất mát, mà thường được tận dụng để trả ơn về một việc gì đó, hoặc đầu tư ‘quan hệ’ cho dự án sắp tới. Thế mới có chuyện khi ông Trịnh Xuân Thanh còn làm Chủ tịch HĐQT PVC, công ty con PVC-ME đã lập “quỹ đen” hơn 80 tỷ đồng với nhiều khoản chi khác thường, trong đó có 550 triệu tiền “sinh nhật bố sếp Thanh“. Mỗi dịp Tết đến hầu như các cơ quan từ các tỉnh thành và địa phương đều tấp nập cử người về Hà Nội chúc tết và biếu quà tới các cơ quan bộ và trung ương, đã thành một cái lệ không thể thiếu. Ai cũng biết các khoản tiền mua ‘quà biếu’ đó là từ ngân sách, và suy cho cùng là từ tiền đóng thuế của dân. Chính vì vậy, trước dịp Tết Nguyên đán Đinh Dậu 2017, Chính phủ đã có chỉ thị gửi xuống tới tất cả các cơ quan trong bộ máy hành chính từ trung ương tới địa phương nhắc nhở việc thực hiện nghiêm không chúc Tết, tặng quà lãnh đạo, yêu cầu các địa phương không về Hà Nội chúc Tết Chính phủ, các bộ, ngành. Hiệu quả của việc thực thi chỉ thị này như thế nào, hẳn chỉ có người trong cuộc mới rõ (?!)

Hầu hết các ngày lễ truyền thống trong năm, đều đã trở thành cơ hội để người ta tất bật biếu tặng nhau những món quà nặng về vật chất, nhưng ít về tinh thần. Tết trung thu không còn là dịp để con trẻ được chơi thoả thích với đèn ông sao, được ngắm chị Hằng Nga mà đó là dịp để người lớn tìm mua những hộp bánh sang trọng và đắt tiền để đi biếu ‘người lớn’. Ngày 20-11 không còn là ngày để thể hiện văn hoá ‘tôn sư trọng đạo’ của người Việt, mà là dịp để phụ huynh kết nối với thầy cô với mong muốn con mình sẽ được quan tâm, được ưu ái hơn. Nhớ khi xưa, mỗi dịp tới ngày hiến chương các nhà giáo, tụi học trò chúng tôi háo hức hẹn nhau cả lớp cùng tới thăm nhà thầy cô, chỉ với một bó hoa mà cả thầy và trò đều thấy vui lắm! Khi con người trong xã hội đã quá chú trọng vào ‘văn minh vật chất’ thì ‘văn minh tinh thần’ tất yếu sẽ bị xem nhẹ và thực tế là đang tụt dốc..!!

“Người không vì mình trời tru đất diệt” là câu nói không ít người thường dùng để biện minh cho lối sống thực dụng, chỉ tập trung vào thu vén lợi ích cá nhân của mình. Nói cách khác, làm gì trước tiên cũng phải vì cái lợi. Người ta vẫn thường khuyên nhau, ‘đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn’. Còn việc làm đó của mình có làm tổn hại tới ai hay không, thì ít người thực sự nghĩ tới. Từ những việc nhỏ như sẵn sàng đổ rác của nhà mình ra đường, hoặc xây nhà thì cố gắng tận dụng vỉa hè hay đường đi của chung thêm từng centimet đất. Và cũng bởi vì lối tư duy đó, nên khi thấy ai đó làm một việc tốt, hoặc vì người khác mà làm một việc gì đó thì họ sẽ nghi ngờ và cho rằng hẳn người đó có động cơ cá nhân nên mới làm như vậy. Ở tầng lớp xã hội cao hơn, lối tư duy thực dụng sẽ gây tác động lớn hơn. Không ít các chính sách, những hoạch định dự án được thông qua chỉ vì lợi ích trước mắt mà bỏ qua hoặc trả giá bởi lợi ích lâu dài. Không ít cán bộ lãnh đạo ở địa phương cũng như trung ương, chỉ chú trọng đến lợi ích cục bộ của địa phương mình, hoặc của ngành mình, mà có thể làm tổn hại đến lợi ích quốc gia, hoặc lợi ích của cộng đồng dân cư tại địa phương, như vụ việc Formosa Hà tĩnh gây ô nhiễm nghiêm trọng toàn bộ khu vực biển miền trung, hoặc dự án xây dựng sân golf cạnh sân bay Tân Sơn Nhất. Khởi đầu từ dự án đầu tư của một doanh nghiệp của Bộ Quốc phòng và sau đó được tư nhân hóa cho một nhóm cá nhân. Bộ Quốc phòng cũng tham gia làm kinh tế, chẳng phải là hệ quả của lối tư duy thực dụng hay sao?

Nếu vẫn theo cách tư duy thực dụng đó, làm sao chúng ta có thể giải thích được hành động của James Joseph Kendall (35 tuổi, quốc tịch Mỹ), được người dân thủ đô Hà Nội gán cho biệt hiệu ‘Ông Tây nhặt rác’. Một nhân vật từng khiến cộng đồng mạng xôn xao với hình ảnh ông cất công nhặt sạch rác ở khắp các cung đường, sông hồ Hà Nội. Không dừng lại ở Hà Nội, vị khách đặc biệt này còn vượt quãng đường hàng trăm cây số để có mặt ở bến đò Thuận Tình tham gia tour vớt rác của Công ty du lịch Hội An Kayak vào những ngày Chủ nhật. Hay câu chuyện về Paul George Harding (68 tuổi) một cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam, mở lớp dạy tiếng Anh miễn phí và thực hiện hàng loạt các hoạt động tình nguyện vì cộng đồng, cặm cụi gỡ bỏ quảng cáo, rao vặt trên đường phố Hà Nội. Tôi tin rằng cả hai ‘ông Tây’ này làm những việc đó chẳng phải vì danh mà cũng không vì lợi, mà đơn giản là vì sự thiện tình và lòng nhân ái dành cho cộng đồng Việt Nam, đồng thời qua đó họ cũng muốn làm gương cho dân ta noi theo.

Thực lòng, khi biết những câu chuyện trên, là người dân đất Việt, tôi không khỏi thấy chạnh lòng, một cảm giác chua xót. Hà Nội và Hội An, hay dù ở nơi nào trên mảnh đất hình chữ S, đều là tổ quốc và quê hương của chúng ta. Vì sao chúng ta không tự biết giữ gìn cho nó được sạch, được đẹp như nó vốn có, để hôm nay những con người từ vạn dặm xa xôi đến đây làm những việc nhặt rác và gỡ bỏ quảng cáo rao vặt thay chúng ta…?! Con người của chúng ta hôm nay thực dụng tới mức họ chỉ cần biết trong nhà mình sạch là được, còn ra ngoài ngõ hay trên đường phố, ở chốn công cộng thì có thể xả rác mà không thấy ngượng tay. Đi tới đâu, làm việc gì cũng chứng kiến những người Việt tìm cách ‘chen ngang’ để sớm được việc cho mình. Lối tư duy thực dụng và coi trọng lợi ích cá nhân đang làm cho chúng ta trở nên ‘lùn đi’ trong sự phát triển chung của thế giới. Lịch sử nhân loại đã cho thấy, một dân tộc biết coi trọng cuộc sống tinh thần, tín ngưỡng, biết đề cao các giá trị văn hoá và đạo đức, sẽ không bao giờ là nghèo và sẽ luôn có được sự tôn trọng thích đáng của bạn bè năm châu.

Câu hỏi cần đặt ra là, cách tư duy thực dụng dẫn đến lối sống thực dụng, đang mang tính phổ biến trong xã hội hôm nay, là từ đâu mà hình thành nên? Bởi lẽ, văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam vốn không có cách tư duy đó, mà ngược lại luôn dạy con người ta sống biết thương người, biết vì người khác. Thể hiện qua những câu nói trong dân gian như, ‘Lá lành đùm lá rách’, ‘Bầu ơi thương lấy bí cùng tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn’,… Vậy mà hôm nay nhiều người có thể thờ ơ, thậm chí vô cảm khi biết tin về các dự án đang gây ô nhiễm môi trường, xảy ra ở hầu hết các tỉnh có khu công nghiệp. Có thể là vì, sự việc đó xảy ra ở chỗ khác, chứ không phải ở nơi mình đang ở (?!) Hoặc những vụ việc vi phạm nhân quyền, đàn áp tín ngưỡng, mổ cướp nội tạng mà cả thế giới đang cùng lên án mạnh mẽ, thì người Việt lại ít quan tâm, các phương tiện thông tin đại chúng hầu như không đề cập đến. Phải chăng là vì những chuyện đó xảy ra ở Trung Quốc hay quốc gia nào khác, chứ không phải Việt Nam (?!) Tại sao rất ít người dám lên tiếng hay bộc lộ quan điểm của mình? Một trong những lý do là những vấn đề này thường được cho là ‘nhạy cảm’, và dễ bị chụp cái mũ ‘làm chính trị’. Khi con người ta phải sống trong môi trường xã hội luôn có sự hoài nghi, định kiến và áp đặt, thì họ đã chọn im lặng, chỉ lo chuyện của mình, và chỉ lên tiếng khi quyền lợi của mình bị xâm phạm. Tuy nhiên, không phải tất cả mọi người đều như vậy. Nơi này nơi kia, đã xuất hiện những con người dám lên tiếng, dám đấu tranh với các hiện tượng tiêu cực hay bất công trong xã hội. Nhưng rồi, sớm hay muộn, họ đều phải hứng chịu những thiệt thòi thậm chí tai họa. Do vậy, mới có câu ‘đấu tranh tránh đâu‘, là một thực tế đáng buồn đang diễn ra…!  — Martin Luther King từng nói: “Trong thế giới này, chúng ta không chỉ xót xa vì những hành động và lời nói của người xấu mà còn cả vì sự im lặng đáng sợ của người tốt”.

Trong dịp sinh nhật gần nhất của con gái mình, hiện đang là sinh viên năm cuối tại Mỹ, tôi đã không khuyên cháu cố gắng học để tốt nghiệp loại giỏi hay xuất sắc, sẽ dễ bề xin việc sau này. Thay vì vậy, tôi chỉ nhắc cháu, con hãy tập trung giúp mình trở thành người mà con muốn trở thành, giúp mình có những phẩm chất và năng lực mà con muốn có. Những hành trang đó, quyết định con có thể làm được những gì sau khi ra trường. Những thứ còn lại, bằng cách này hay cách khác, cuộc sống sẽ mang đến cho con những gì con xứng đáng. Việc quan trọng đầu tiên khi con bước ra xã hội, cần học cách phân biệt được ‘đúng – sai’, ‘tốt – xấu’ và ‘thiện – ác’… Sẽ có những khó khăn và thử thách đang chờ con ở phía trước, nhưng bố tin là con sẽ vượt qua được, nếu con tìm thấy lý do sống lớn hơn bản thân mình. Đại văn hào Mỹ, Mark Twain từng nói: “Con người ta có hai ngày quan trọng nhất trong cuộc đời. Một là ngày ta được sinh ra và hai là khi ta biết ta sinh ra trên cõi đời này để làm gì”. Bố mẹ đã cho con ngày thứ nhất, còn ngày thứ hai, con cần tự mình đi tìm!

Cuối cùng, tôi đã kịp nhận ra rằng trong cuộc sống luôn có sự hiện hữu của luật ‘Nhân-Quả’, vấn đề chỉ là thời gian. Khi xưa bố tôi cũng thường dạy ‘sống sao được vậy’. Do vậy, người thực dụng nhất chính là người phải biết sống cho phù hợp với những chuẩn mực đạo dức, cố gắng trở thành người có giá trị trong xã hội, và họ sẽ có được những gì họ ‘xứng đáng’..!!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

TIẾT LỘ VỀ VỤ MẤT CẮP ẤN VÀNG Ở BẢO TÀNG LỊCH SỬ





Chuyện của một chứng nhân

Xuân Ba 
Nhân đọc bài về nhà sử học Lê Văn Lan từng bị ngồi tù oan nửa năm trong Hỏa Lò… Không rõ lắm chuyện vài bạn bè, đồng nghiệp của nhà sử học Lê Văn Lan do GATO mà xúc xiểm này khác đã đẩy ông vào lòng lao lý thật hư thể nào? 

Nhưng chợt nhớ năm đã lâu ( 2005) tôi có gặp một nhân chứng từng bị coi là thủ phạm chính của vụ mắt cắp ấn ở Bảo tàng lịch sử. Xin chép lại chuyện này ngõ hầu mua vui cho bạn đọc của Tễu Blog.
… Căn nhà ông Đỗ Huyến ở làng Xuân Đỉnh đã có hơn trăm lẻ mấy tuổi thuộc nhà thờ một chi họ Đỗ. Hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung (người có công trong việc sáng lập Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam) một thời gian dài đã ở đây cùng với ông bố. Cụ thân sinh Nguyễn Đỗ Cung là Nguyễn Đỗ Mục cùng nhóm giao du lẫn dịch thuật với cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Bà cụ thân sinh Nguyễn Đỗ Cung là chị ruột cụ thân sinh ông Huyến. Nên ông với hoạ sĩ Nguyễn Đỗ Cung là con cô con cậu. 

Họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung viết thư cho bạn là Văn Tiến Dũng. 
 
Tôi có thằng em là Đỗ Phạm Huyến ở làng Xuân Đỉnh. Năm 1943, nó đã tham gia Hội truyền bá quốc ngữ. Năm 1944 tham gia hoạt động Việt Minh ngoại thành rồi sau toàn quốc kháng chiến thì ở khu 10 Phú Thọ làm công tác đoàn thể. Nhờ ông gửi nó vào Vệ quốc đoàn... 
 
Được sự giới thiệu của ông Văn Tiến Dũng, ông Huyến theo nghiệp binh đến khi giải phóng Thủ Đô. Sau khi  chuyển ngành về Bộ Văn hoá, thạo tiếng Pháp lại biết cả chữ Hán nên ông được chọn vào tổ tiếp quản nhà Viễn Đông Bác cổ. 
 
Người ta dẫn ông xuống phố Hàng Chuối, nơi có một cơ sở của Bộ Tài chính đóng. Một khu biệt thự. Dưới biệt thự là một tầng hầm. Chật cứng khoảng mờ tối ấy là những hòm gỗ, thùng sắt... Tại đây ông Huyến mới được biết đó là những vật báu của Triều đình nhà Nguyễn mà chính quyền cách mạng tiếp thu trước kia nay trên quyết định chuyển những báu vật này từ Bộ Tài chính sang nhà Viễn Đông bác cổ tức Bảo tàng lịch sử bây giờ! Nhiệm vụ của ông Huyến và một người nữa là phải tiếp nhận cụ thể từng món một. Ông không biết những hòm, những thùng nằm dưới tầng hầm ở phố Hàng Chuối này bao lâu rồi nhưng các báu vật này từng được lưu giữ ở nhiều nơi trong cuộc kháng chiến trong đó có Liên khu V. 
 
 
Khoản đầu tiên là các loại ấn. Lớn, nhỏ đều cú. Nhưng phổ biến cỡ 10 kilôgam (khi đó chưa có loại cân đặc biệt của Bộ Tài chính nên không thể đo chính xác được trọng luợng, chất lượng từng loại ấn một) loại nhỏ hơn 7 rồi 5, 3, 2 rồi 1 kilôgam. Loại ấn bằng ngọc, những bích ngọc, bạch ngọc, thanh ngọc... được phân loại đánh số riêng. Bao nhiêu ấn mỗi loại, ông Huyến không nhớ hết nhưng mỗi ông vua, mỗi một hoàng tử hoàng hậu đều có ấn cho riêng mình. Thái hậu chi bửu, Hoàng tử chi bửu rồi Hoàng hậu chi bửu vv... Các thứ kim ấn hình thù kích cỡ khác nhau nhưng ông Huyến biết tất cả đều bằng vàng. Vàng 10, vàng 9, non hơn thỡ 8,5 tuổi. Trên có luỡng long hoặc độc long để làm núm thứ thì màu nâu thứ thì nâu đen, thứ vàng choé Tất thảy mọi thứ đều được kê biên đánh số cẩn thận! 
 
Ngày nối ngày miệt mài đánh vật với những báu vật như thế ông Huyến chả dám hé răng với ai nhiệm vụ đặc biệt của mình bởi ông đã được dặn dò kỹ lưỡng từ trước! Kế đó là những đỉnh, chậu, bát, hộp… là những đồ thờ cúng trong đó có cành vàng lá ngọc. Và đặc biệt là những bộkim sách. Việc tất tả bấn bíu nhưng ông Huyến vẫn bị ám ảnh bởi những hàng chữ nổi vuông thành sắc cạnh bằng vàng trên những tờ vàng lá nâu xỉn hoặc chói lói. Gáy của những cuốn kim sách ấy được đính lại bằng những khuyên cũng bằng vàng. Gia phả hoàng tộc. Những lời giáo huấn của vua. Đôi khi một bài thơ cổ hoặc thơ của người trong hoàng tộc... 

Hơn một tháng đẵng đẵng bên những hòm châu báu như thế để tới cái ngày kiểm đếm, bàn giao xong giữa hai bên. Những thùng báu vật được lặng lẽ chở đến một cái kho của Bảo tàng lịch sử. 

Đúng vào dịp Quốc khánh năm 1961, trên có quyết định trưng bày không phải tất cả mà một số đồ báu vật để nhân dân lao động Thủ đô và miền Bắc CNXH với chủ ý, qua những hiện vật này mà phần nào thấy được sự xa xỉ của triều đình phong kiến nhà Nguyễn nói riêng cũng như giai cấp thống trị bóc lột nói chung!

Có lẽ bây giờ trong tâm trí nhiều người vẫn còn lưu lại cuộc triển lãm độc đáo đó tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam. Nhưng ngoài những người trong cuộc không ai có thể biết được một sự cố khủng khiếp đó xảy ra!

Tại gian trưng bày, một sớm thu, người phát hiện ra một cái ấn vàng mà ông Huyến nghe nói là của Nam Phương Hoàng hậu đã không cánh mà bay!

Ông Huyến lúc này lại là người phụ trách phòng kiểm kê bảo quản của Bảo tàng lịch sử Việt Nam!

Mặc cho những sự trần tình này khác nhưng ông vẫn bị tống thẳng vào Hỏa Lò. 

Phải thuộc cỡ trọng tội nên chỗ giam ông chính là gian cấm cố ông Hoàng Văn Thụ năm xưa. 
 
Ba tháng nằm trong xà lim tối. Luôn cả ba tháng như thế, bất chợt nửa đêm có khi về sáng hay giữa trưa ông Huyến đều bất thần được gọi đi cung. Ngoài những cuộc gọi hỏi liên miên, người ta còn cho mời những đồng chí công an gác cổng một số Sứ quán nước ngoài tại Hà Nội đến để nhận mặt ông với hy vọng mong manh biết đâu họ chợt có lần nào đó thấy ông Huyến đem cái ấnấy bán cho người nước ngoài!?

Ba tháng xà lim tối rồi tám tháng ở xà lim sáng. Mười một tháng nằm xà lim cả thảy. Rồi ông được chuyển sang chế độ giam thường.

Ông Huyến đếm tính từng ngày trong Hoả Lò. Vậy là đã 23 tháng...

Một sáng nọ người ta nhã nhặn mời ông về... nhà mình! Thì ra người ta đó tóm được kẻ ăn cắp chiếc ấn!

Gian trưng bày triển lãm báu vật, cửa giả tuềnh toàng nên ban đêm chúng mò mũ vào dễ dàng. Có chủ đích ăn cắp ấn đâu mà định khoắng thứ khác nhưng chả có đành thử quơ đại một cái ấn nặng chịch mà chẳng biết nó là thứ chi!

May mà chỉ một cái...

Thời gian trong tù, ông Huyến không biết một vụ trộm thứ hai đã xảy ra cũng tại gian trưng bày sau vụ thứ nhất hơn nửa năm.

Số là sau khi ẵm cái cục nặng chịch hình thù quái gở ấy, bọn trộm trém cho nó một nhát. Rồi nhiều nhát búa khác, Và mang một mảnh đem đi thử!

Trời đất ơi, vàng! Vàng thật! Đợi một thời gian thấy êm êm bởi các nhà chức trách đã tóm được thủ phạm chính là ông Huyến và đã giam cứng trong Hoả Lò! Mà chắc chả có hướng điều tra nào khác nên chúng táo tợn mò vào một lần nữa.

Hoà trong dòng người tham quan, một thằng đợi đến khi đóng cửa, tót lên máng nước ém ở đấy. Đợi đến đêm thì ra tay. Chắc đợi lâu quá nên hắn thoải mái như ở nhà bèn làm ngay một bãi gần chỗ núp trước khi ẵm một cái ấn khác.

Sáng hôm sau người nhà Bảo tàng hoảng tam tinh khi phát hiện vụ trộm. Chả lẽ ông Huyến từ Hỏa Lũ độn thổ ra để thực thi vụ này? Nhưng chả khó khăn gì, người ta phát giác ra bãi phân khốn kiếp của thằng trộm kia...

Chết cho hắn là mảnh giấy chùi đít là một lá thư! Lá thư? Chứ sao, thư của một người nhà ở quê gửi cho hắn. Bên an ninh, tài thế, đã tìm được cái địa chỉ từ mảnh giấy nhoè nhoẹt bẩn thỉu ấy! Thằng cầm đầu cũng như đồng bọn bị tóm.

… Ông Huyến có kể lại cái đoạn sau khi ra tù được ông Bộ trưởng Văn hóa Hoàng Minh Giám thân mời lên, pha trà cho uống động viên an ủi này khác. Rồi ông Huyến được phục chức trưởng phòng, giữ nguyên Đảng tịch. Tiền lương ông được truy lĩnh nhưng oái oăm phải trừ vào số tiền cơm tù 23 tháng trong Hoả Lò!? Bây giờ ông Huyến nhớ lại đâu như mười mấy đồng một tháng...

Ngó cái xương bả vai của ông khó nhọc lên xuống theo nhịp thở, tôi tưởng như nỗi nhọc nhằn của ông vào cái thời điểm máy bay Mỹ đánh phá ác liệt Thủ đô Hà Nội được trao nhiệm vụ đưa những báu vật ấy từ Bảo tàng lịch sử sơ tán lên Việt Bắc. Trước khi đi lại phải kiểm kê lại bàn giao. Khi yên hàn đưa chúng về Hà Nội cũng thế. Việc trông coi bảo vệ đã có anh em bộ đội nhưng ông phải có trách nhiệm ở lỳ tại đó cùng với họ. Năm 1979, chiến sự biên giới phía Bắc, ông lại phải tháp tùng lũ báu vật ấy từ Bảo tàng lịch sử trên một toa tàu đặc biệt để chuyển vào phía Nam ngộ nhỡ ngoài này xảy ra sự gì!

Bình Trị Thiên khu Năm ra Hà Nội. Hà Nội Thái Nguyên. Thái Nguyên Hà Nội. Hà Nội thành phố Hồ Chí Minh. Thành phố HCM- Hà Nội.

Những hòm báu vật gập gềnh bất trắc dằng dặc trên đường thiên lý ấy cấm có suy suyển đi tẹo nào cho đến khi ông Huyến về hưu năm 1992.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tài sản nhà Thứ trưởng hàng trăm tỷ đồng: Do đâu mà có?



Bích Diệp 
Dân Trí - Thử tưởng tượng, trong khi khu dinh thự và khối tài sản kê khai của vị Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái khoảng vài ba chục tỷ đồng đã khiến dư luận trầm trồ, kinh ngạc, bàn ra tán vào trong suốt nhiều ngày qua thì tài sản cổ phiếu quy ra được của gia đình Thứ trưởng Kim Thoa còn gấp nhiều lần con số đó.

Lương Thứ trưởng cả năm không bằng một góc tiền cổ tức

“Những vi phạm, khuyết điểm của Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa được xác định là nghiêm trọng, đến mức phải xem xét thi hành kỷ luật” – đây là một trong những nội dung quan trọng mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương vừa đưa ra sau khi hoàn thành chương trình làm việc tại kỳ họp thứ 15.

Một trong những điểm vi phạm của bà Thoa mà Ủy ban Kiểm tra Trung ương xác định đó là: Trong thời gian giữ các chức vụ Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Công ty Bóng đèn Điện Quang, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐQT, Tổng giám đốc Công ty cổ phần Bóng đèn Điện Quang (tháng 1/2004 - 5/2010), bà Hồ Thị Kim Thoa đã mua cổ phần vượt mức quy định; chuyển nhượng cổ phần không đúng quy định của Điều lệ của công ty.

Không chỉ vậy, Uỷ ban Kiểm tra Trung ương còn nhận định, trong thời gian dài, bà Thoa nhiều lần kê khai tài sản, thu nhập không đúng, không đầy đủ theo quy định về kê khai tài sản, thu nhập, vi phạm quy định về những điều đảng viên không được làm.

Trên thực tế, tài sản quan chức Nhà nước mà người dân có thể quan sát biến động qua giá cổ phiếu thì trường hợp như Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa không nhiều, rất hiếm. Và cũng rất hiếm có vị quan chức Nhà nước nào mà khối tài sản “trông thấy được” của gia đình lên tới hàng trăm tỷ đồng (chứ chưa đề cập đến những khoản thu nhập khác, những tài sản nhà và đất)!

Thử tưởng tượng, trong khi khu dinh thự và khối tài sản kê khai của vị Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Yên Bái khoảng vài ba chục tỷ đồng đã khiến dư luận trầm trồ, kinh ngạc, bàn ra tán vào trong suốt nhiều ngày qua thì tài sản cổ phiếu quy ra được của gia đình Thứ trưởng Thoa còn gấp nhiều lần con số đó.

Theo báo cáo quản trị năm 2016 của Bóng đèn Điện Quang, gia đình Thứ trưởng Bộ Công Thương Hồ Thị Kim Thoa hiện đang nắm giữ tổng cộng 11,8 triệu cổ phiếu DQC, chiếm 34,12% vốn điều lệ doanh nghiệp này.

Hiện, thị giá DQC ở mức 49.600 đồng/cổ phiếu sau khi sụt giảm 1,8% vào hôm qua (3/7). Như vậy, tính ra, khối tài sản cổ phiếu của gia đình vị Thứ trưởng đang vào khoảng trên 585 tỷ đồng (riêng tài sản của bà Thoa xấp xỉ 84 tỷ đồng) - một con số không hề nhỏ.

Việc sở hữu cổ phiếu không đơn thuần chỉ là để nhìn vào những con số tài sản biến động trên thị trường cho “đẹp mắt” mà còn gắn với quyền lợi “tiền tươi thóc thật” của cổ đông – đó chính là cổ tức.

Tổng mức chi trả cổ tức năm 2016 của Bóng đèn Điện Quang là 30% bằng tiền mặt (sau 3 đợt chi trả), tức là cứ sở hữu 1 cổ phiếu thì nhận 3.000 đồng. Với tổng sở hữu 11,8 triệu cổ phiếu nói trên, riêng cổ tức năm 2016 mà gia đình Thứ trưởng nhận được là 35,4 tỷ đồng (riêng cá nhân Thứ trưởng với sở hữu 1,7 triệu cổ phiếu tại doanh nghiệp, nhận được 5,1 tỷ đồng).

Với mức lương của Thứ trưởng hiện chỉ trên dưới 10 triệu đồng/tháng (chưa phụ cấp, ăn trưa…) thì khoản cổ tức tiền tỷ của Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa có thể coi là mơ ước của nhiều đồng cấp khác, nhất là khi hiện tại, bà Thoa đã hoàn toàn chỉ đóng vai trò cổ đông của doanh nghiệp này, không phải tham gia bất cứ công việc điều hành nào và không phải chịu trách nhiệm về hoạt động làm ăn kinh doanh của doanh nghiệp.

Nói cách khác, chỉ tính về mặt kinh tế mà nói thì đối với nữ Thứ trưởng, làm cổ đông của Điện Quang “sướng” hơn nhiều so với “ngồi ghế” Thứ trưởng phải lao tâm khổ tứ nhiều bề, “quan trên nhắm xuống, người ta trông vào”!

Doanh nghiệp của Nhà nước, hậu cổ phần hóa thành “công ty gia đình”?!

Thế nhưng, giàu thì đâu có tội! Một quan chức giàu có bằng chính tài năng, sự nỗ lực của cá nhân và gia đình thì rất đáng khuyến khích và cổ vũ chứ không nên chỉ trích, soi mói!

Vấn đề tài sản của gia đình Thứ trưởng Thoa sẽ chẳng có gì đáng nói, nếu như Bóng đèn Điện Quang không từng là một doanh nghiệp Nhà nước và sau cổ phần hóa thì những cổ đông lớn, những vị trí chủ chốt trong dàn lãnh đạo lại thuộc về những người trong cùng một gia đình quan chức.

Bản thân bà Thoa sau khi rời ghế Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc Bóng đèn Điện Quang để bước vào con đường chính trị thì lại phụ trách những công việc liên quan đến doanh nghiệp cũ. Một chuyên gia tài chính từng phân tích: Đơn giản như việc, chỉ cần các doanh nghiệp ngành công thương được yêu cầu ưu tiên mua hàng của Điện Quang là cũng có thể tạo sự không bình đẳng trong cạnh tranh! Thành ra, từ một doanh nghiệp Nhà nước, hậu cổ phần hóa, nhìn vào Bóng đèn Điện Quang, người ta có cảm giác doanh nghiệp này mang hơi hướng của một “công ty gia đình”.

Thế rồi, những câu hỏi khác cũng được đặt ra: Tiền đâu mà Thứ trưởng và gia đình bà ngày xưa gom được nhiều cổ phần DQC đến vậy? Việc bổ nhiệm người nhà vào những vị trí quan trọng của doanh nghiệp này có khuất tất gì không?v.v.

Trong một lần trả lời về vấn đề này, một đại diện của Bộ Tài chính có lý giải: “Thời điểm bà Thoa mua cổ phần của Công ty Điện Quang là thời kỳ khuyến khích mọi người mua cổ phần, những Đảng viên, lãnh đạo doanh nghiệp phải gương mẫu đi đầu trong việc này. Còn sau thời kỳ đó, mọi việc diễn biến ra sao chúng ta cần kiểm tra từng bước một” (báo Dân Việt, ngày 16/03/2017).

Song, e rằng, lý giải của vị này chưa thật sự thuyết phục được dư luận. Bởi sở hữu cổ phần doanh nghiệp cổ phần hóa là một quyền lợi, đúng hơn là đặc quyền đặc lợi chứ không phải trách nhiệm, nghĩa vụ. Doanh nghiệp nào cũng khuyến khích kiểu đó thì có tránh khỏi việc các nhóm lợi ích tìm cách dìm giá cổ phiếu, cố tình định giá thấp để thâu tóm doanh nghiệp với giá rẻ hay không?!

Cho nên, người viết thiết nghĩ rằng, thay vì trông cậy hoàn toàn vào sự trung thực của quan chức trong kê khai tài sản, hệ thống quản lý Nhà nước cũng cần phải có những chế tài nhất định và kiểm soát chặt chẽ công tác cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước. Nếu thực sự có những lỗ hổng trong công tác cổ phần hóa thì cần nhìn thẳng vào thực tế và rút kinh nghiệm. Dân giàu thì nước mạnh, nhưng sự giàu mạnh đó chỉ thực sự mang đến lợi ích chung trên cơ sở minh bạch, rõ ràng và bình đẳng!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Mét vuông mấy nhà báo?




TRÍ QUÂN 
TP - “Không kể Hoàng Sa thì Đà Nẵng có 0,85 người làm báo/1km2, còn kể cả Hoàng Sa thì có 0,65 người làm báo/1km2”. Phát biểu của ông Bùi Quang Thanh, giám đốc Sở Thông tin & Truyền thông Đà Nẵng tại kỳ họp HĐND thành phố hai ngày trước đang khiến báo giới dở cười dở mếu về “thân phận” của mình!

Một khi đã nhân chia ra con số nhà báo lẻ đến hai số thập phân trên mỗi cây số vuông, thì đây hẳn có ẩn ý, chứ không phải nói theo suy nghĩ bất chợt. Con số chứng minh mật độ “chắc chắn đứng đầu cả nước” của báo chí tại Đà Nẵng cũng được lãnh đạo Sở này công bố, đó là Đà Nẵng hiện có hơn 109 cơ quan báo chí, với hơn 800 người làm báo, trong đó 400 nhà báo được cấp thẻ.

Ý kiến trên được chủ tọa kỳ họp HĐND thành phố chia sẻ: “Bây giờ Đà Nẵng được cả nước quan tâm, chúng tôi đang bị đặt dưới không những kính lúp mà kính hiển vi nữa”.

Nhớ tại cuộc gặp mặt nhà báo nhân ngày 21/6 mới đây, khi đối diện với Bí thư và Chủ tịch thành phố này, tôi đã chia sẻ về tính chất quyết liệt, đeo bám đến cùng của các nhà báo miền Trung đứng chân tại đây. Với những động đất thủy điện Sông Tranh 2, di dời nhà máy thép Việt Pháp ở Quảng Nam, biệt phủ Hải Vân, tòa nhà trung tâm hành chính, cầu chui sông Hàn cho đến Sơn Trà ở Đà Nẵng gần đây... Báo chí ở Đà Nẵng cũng tiên phong dấn thân vào bão lũ, đối mặt giàn khoan 981 của Trung Quốc với vòi rồng, đâm va giữa Hoàng Sa… Để thấy rằng cần sẵn sàng đối diện và cởi mở với báo chí trong việc cung cấp, trao đổi mọi thông tin lớn nhỏ, cũng như đối thoại công khai, trực tiếp và thẳng thắn khi cần thiết. Như truyền thống vốn có của Đà Nẵng.

Thực ra, những câu chuyện nhà báo đứng chân tại Đà Nẵng phản ánh không có gì cá biệt, so với bổn phận và trách nhiệm của báo chí trước hiện thực ở mọi nơi. Cũng như với báo chí, truyền thông trên thế giới. 

Câu chuyện cũng không phụ thuộc vào nhà báo và số lượng nhà báo, mà là thông tin. Tính nhất quán về thông tin đưa ra của đông đảo báo chí trong một vụ việc cụ thể nào đó đều xuất phát từ yêu cầu chính đáng phản ánh những gì là sự thật và gần với sự thật nhất. Là lăng kính của sự thật và bản chất vấn đề, chứ không phải kính lúp hay hiển vi.

Thực tế, hiện có không ít địa phương mà lãnh đạo các cấp ngành suốt cả tuần, cả tháng không thấy xuất hiện trên mặt báo, đài. Cả việc tốt cũng như chưa tốt. Vậy địa phương đó sống và làm ăn thế nào? Nếu không có cái hạn chế để phê phán thì cũng phải có thành quả gì đó để cổ vũ, biểu dương chứ! Tồn tại theo kiểu “lịm dần” bị báo chí bỏ quên như vậy, chỉ có thể do không làm gì cả. Không làm gì thì lấy đâu ra chuyện để nói.

Mật độ nhà báo bao nhiêu là vừa? Câu hỏi và câu trả lời sẽ đều vô nghĩa. Bởi thời mạng xã hội lên ngôi bây giờ, không thể ngồi đếm mỗi cây số vuông có bao nhiêu nhà báo.


Phần nhận xét hiển thị trên trang