Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 7 tháng 7, 2017

Phạm Xuân Nguyên: ĐƠN GỬI BÍ THƯ THÀNH ỦY VÀ CHỦ TỊCH TP HN



Phạm Xuân Nguyên

Hôm thứ sáu (23/6/2017) tôi đã trực tiếp đưa gửi đơn này đến thường trực cơ quan thành ủy Hà Nội (4 Lê Lai) và văn phòng tiếp nhận giấy tờ của UBND Hà Nội (12 Lê Lai), không qua đường bưu điện. Hôm nay, thứ sáu (7/7/2017), sau hai tuần, tôi không nhận được hồi âm nào. Vậy tôi đưa lên fb cho mọi người biết chuyện.


Hà Nội ngày 21 tháng 6 năm 2017


ĐƠN ĐỀ NGHỊ


          Kính gửi: 

                Ông Hoàng Trung Hải, Bí thư Thành ủy Hà Nội, 
                Ông Nguyễn Đức Chung, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội,
Tôi là Phạm Xuân Nguyên, Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Hà Nội (HLHVHNTHN) khóa XI và Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội (HNVHN) khóa XI đã tuyên bố từ chức và ra hội ngày 13/6/2017 (văn bản đã gửi đến Thành ủy). Tôi là một đảng viên 35 năm tuổi đảng, hiện đang sinh hoạt tại chi bộ Viện Văn học thuộc đảng bộ Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam.

Tôi viết đơn này gửi tới hai ông đề nghị giải quyết một việc liên quan đến ông Bằng Việt, Chủ tịch, Bí thư đảng đoàn HLH VHNTHN, ủy viên Ban chấp hành HNVHN, một đảng viên thuộc diện Thành ủy quản lý.

Trên báo "Người Hà Nội" số 50 ra ngày 9/12/2016 có đăng bài viết của ông Bằng Việt nhan đề "Khôi phục lại phong cách làm việc tập thể vì lợi ích chung ở Ban chấp hành khóa tới của Hội Nhà văn Hà Nội". Bài báo đó nói về tôi ở tư cách Chủ tịch HNVHN với nội dung có nhiều sự bịa đặt, xuyên tạc và vu cáo. Trong đó nghiêm trọng nhất là câu này:

"Đồng chí Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội dù không tuyên bố gì, nhưng lại âm thầm tổ chức lực lượng và địa bàn hoạt động cho “Văn đoàn độc lập” ngay trong lòng Hội Nhà văn Hà Nội, đóng vai “ người hai mặt”, vô hiệu hóa tối đa vai trò điều hành của Ban Chấp hành Hội, bỏ qua sự chỉ đạo của Hội Liên hiệp."

Đây là một sự vu cáo chính trị trắng trợn và bỉ ổi đối với tôi. Tại một cuộc họp của Thường trực HLHVHNTHN cuối năm 2016, sau khi bài báo ra, tôi đã nói thẳng với ông Bằng Việt rằng đó là một sự "ngậm máu phun người" và tôi có thể khởi kiện ông ta về sự vu cáo này. Ông Bằng Việt khi đó đã thấy mình có lỗi và tỏ ý sẽ sửa lỗi trên báo. Nhưng trên báo “Người Hà Nội” ở số 1+2 (1611+1612) ra ngày 1/1/2017 ông ta đã mượn cách trả lời phỏng vấn về công việc của HLHVHNTHN để nói lên một lời xin lỗi thế này:
“Bài đó in ở số 50 báo NHN (ra ngày 9/12/2016), thì chỉ dăm ngày sau, tôi nhận được cú điện thoại của nhà thơ Như Mạo. Anh nói: “Có thể anh đã chịu nhiều bức xúc và nhiều sức ép quá, về chuyện đại hội HNVHN chậm trễ đến cả năm trời, mà trách nhiệm cứ chỉ quy về mình! Nhưng cần gì phải viết, in ra những điều đó… Ở tuổi chúng mình, những điều đó là không nên chấp!” Tôi thực sự giật mình về câu trách của nhà thơ Như Mạo. Anh bây giờ quen vui chim chóc, cây cảnh thiên nhiên, cách nghĩ quả đã ngộ dần ra siêu thoát! Nhân đây, tôi xin được thưa với độc giả và bạn bè gần xa, nếu như trong bài ở trên, thấy có câu nào căng thẳng và có ý thắt buộc, vốn không nằm trong bản chất và cách xử sự quen thuộc của tôi, cũng như do sơ suất mà đẩy tới khía cạnh liên tưởng sai lệch về người khác nữa, thì cũng cho tôi được phép hết sức cáo lỗi”.

Đây lại là một thái độ vô trách nhiệm, muốn lấp liếm cho qua chuyện của ông Bằng Việt. Trong bài viết ông ta đã chỉ đích danh “đồng chí Chủ tịch HNVHN” nhiều lần để quy kết, vu cáo nhiều việc, nhưng khi xin lỗi thì ông ta lại mượn lời nhà thơ Như Mạo để giật mình, rồi “nhân đây”, và không dám nói thẳng về tôi mà lại nói là “người khác nữa”. Tôi gọi đó là thái độ hèn nhát, “gắp lửa bỏ tay người”, đến khi bị phát hiện thì phủi tay chạy làng. Trong cuộc họp thường trực HLHVHNTHN nói trên tôi đã bày tỏ thái độ rất phẫn nộ và gay gắt với ông Bằng Việt, nhưng khi ấy vì công việc chung của HNVHN đang trong quá trình chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ mới nên tôi đã giữ im lặng. Bây giờ khi tôi đã từ chức và ra hội, tôi thấy cần phải làm sáng tỏ việc này, vì danh dự của HNVHN, của BVĐVĐĐL và của cá nhân tôi. 

Ban vận động thành lập "Văn Đoàn Độc Lập" (BVĐVĐĐL) ra đời ngày 3/3/2014 với tiêu chí xây dựng một nền văn học Việt Nam nhân bản. Tôi là người tham gia BVĐVĐĐL ngay từ đầu. Lập tức nó bị coi là một "tổ chức" đối lập nguy hiểm và những người tham gia BVĐ bị o ép mạnh để bắt rút khỏi BVĐ. Nhưng cho đến nay vẫn không có một văn bản chính thức nào của Đảng về BVĐ phổ biến đến tận chi bộ cho đảng viên biết mà chỉ toàn nói miệng. Đến nỗi vì không có văn bản nên khi chi bộ Viện Văn học được lệnh kiểm điểm tôi về việc này các đảng viên đều nói không biết BVĐVĐĐL là gì và phải kiểm điểm cái gì. Ngay cả người cấp trên xuống chỉ đạo cuộc họp đó cũng không nắm rõ BVĐVĐĐL là gì. Trong khi đó, BVĐVĐĐL từ khi tuyên bố ra đời là hoạt động công khai, ra trang mạng “Văn Việt” đăng tải các sáng tác, nghiên cứu phê bình, dịch thuật văn học cũng như các công trình biên khảo khác của người Việt trong và ngoài nước. Từ năm 2016, “Văn Việt” đã tổ chức giải thưởng trao cho các bài đăng trên đó. Lần trao giải Văn Việt thứ nhất (3/2016, tại TPHCM) cơ quan an ninh đã ngăn chặn và cản trở (không cho làm tại nơi đã định, cắt điện ở nơi chuyển đến). Nhưng lần trao giải thứ hai (3/2017, tại TPHCM) thì cơ quan an ninh đã không can thiệp thô bạo như trước, để cho cuộc trao giải diễn ra công khai và yên ổn. Giải đặc biệt của lần trao giải thứ nhất đã trao cho công trình biên khảo “Vua Gia Long và người Pháp. Khảo sát về ảnh hưởng của người Pháp trong giai đoạn triều Nguyễn” của nhà nghiên cứu Thụy Khuê ở Pháp và công trình này đã được in ra thành sách tại nhà xuất bản Hồng Đức ở trong nước năm 2017. 

Còn đối với tôi, tôi luôn nói rõ mình là người tham gia BVĐVĐĐL, nhưng tôi không hề rủ rê, vận động ai khác tham gia. Đây là quyền lựa chọn của mỗi người. Ông Bằng Việt lúc đầu cũng nhìn nhận BVĐVĐĐL và việc tôi tham gia vào đó theo hướng này. Ngay đầu tháng 4/2014, khi chủ trì một cuộc họp theo chỉ đạo của thành phố giữa Thường trực HLHVHNTHN và BCH HNVHN kiểm điểm tôi về việc này, ông Bằng Việt cũng chỉ phát biểu nhẹ nhàng, cởi mở, không quy kết gì nặng nề và cũng không muốn có biện pháp gì mạnh về tổ chức ở Hội đối với tôi. Và lãnh đạo thành phố cũng đã vẫn để tôi làm Chủ tịch HNVHN đến hết nhiệm kỳ rồi mới tìm cách loại tôi khỏi nhiệm kỳ mới. Cũng như ở Viện Văn học, từ khi có BVĐVĐĐL tôi vẫn là một trưởng phòng và một đảng viên hàng năm được đánh giá tốt. 

Sự thật về BVĐVĐĐL và tôi là thế. Chỉ đến khi chuẩn bị đại hội HNVHN khóa mới ông Bằng Việt mới quay ngoắt thái độ. Bằng bài viết này ông ta đã thực sự có hành động vu cáo tôi. Ông ta đã:

- Một Chủ tịch Hội đương nhiệm viết bài nói xấu, vu khống một Phó chủ tịch Hội đương nhiệm đăng trên tờ báo của chính Hội mình trong quá trình chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ.

- Một ủy viên BCH đương nhiệm viết bài nói xấu, vu khống một Chủ tịch Hội đương nhiệm đăng trên tờ báo của chính Hội mình trong quá trình chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ.

Trong một diễn biến tương tự, ở Viện Văn học, PGS. TS Nguyễn Đăng Điệp (Viện trưởng) và PGS. TS Lưu Khánh Thơ cũng bị vu là tham gia BVĐVĐĐL trước một cuộc bầu bán. Tại cuộc họp của chi bộ Viện Văn học về chuyện này tôi đã nói rõ đó là sự vu oan giá họa cho hai người đó, ở đây chỉ có tôi là người tham gia BVĐVĐĐL. Chi bộ Viện Văn học đã đề nghị đảng ủy Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam làm rõ vụ việc này. Và anh Nguyễn Đăng Điệp vẫn đã được bổ nhiệm lại chức vụ Viện trưởng Viện Văn học nhiệm kỳ 2016 - 2020. Liên hệ hai sự việc ở Hội và ở Viện, tôi ngờ rằng ở đây có một âm mưu dùng BVĐVĐĐL làm cái cớ vu cáo để loại trừ nhau.

Từ những điều nói trên, tôi đề nghị hai ông:

- Cho biết ý kiến trên đây của ông Bằng Việt về tôi liên quan đến BVĐ VĐĐL có phải do ông ta tiếp thu từ lãnh đạo thành phố hay do chính ông ta nghĩ và nói ra.

- Nếu đó là ý kiến cấp trên mà ông Bằng Việt chỉ là người truyền đạt, như ông ta đã từng truyền đạt chỉ đạo của Thành ủy về việc chuẩn bị đại hội nhiệm kỳ tới là phải loại tôi ra khỏi BCH mới, thì tôi muốn được biết chính thức ý kiến đó của Thành ủy và tại sao.

- Nếu đó là do ông Bằng Việt nghĩ và nói ra thì tôi đề nghị hai ông chỉ đạo cho các cơ quan chức năng của thành phố điều tra về cái gọi là "âm thầm tổ chức lực lượng và địa bàn của VĐĐL ngay trong lòng HNVHN" mà ông ta vu cho tôi để làm rõ trắng đen, vạch trần sự vu cáo đê hèn của một công dân với một công dân, của một đảng viên với một đảng viên, của một văn nhân với một văn nhân. Hành động này của ông Bằng Việt còn là sự xúc phạm đến cả Thành ủy và UBND thành phố.

Tôi mong sớm nhận được câu trả lời của hai ông về ý kiến trên đây nói về tôi, mà tôi coi là một sự vu cáo chính trị nguy hiểm và độc ác, của ông Bằng Việt - một đảng viên do Thành ủy quản lý. Tôi muốn có một kết luận của Thành ủy là ông Bằng Việt có phải vu cáo chính trị cho tôi hay không.

Trân trọng cám ơn hai ông.
Phạm Xuân Nguyên

 



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Rặt một phường nói láo!


NGƯỠNG MỘ GƯƠNG LAO ĐỘNG CỦA ÔNG PHẠM SỸ QUÝ
Sau tấm gương lao động của ông Trần Văn Truyền, cựu Tổng Thanh tra Chính phủ, ông Nguyễn Sỹ Kỷ, Phó trưởng Ban Nội chính tỉnh Đắc Lắc và nhiều tấm gương khác của các quan đầu tỉnh chạy xe ôm vất vả để xây biệt thự, hiện trong cả nước đang nổi lên một “ngôi sao sáng” về tinh thần lao động quên mình để vươn lên làm giàu, khiến chúng ta thật sự cảm động và ngưỡng mộ. Đó là tấm gương lao động quên mình của ông Phạm Sỹ Quý, Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường Yên Bái, em trai bà Phạm Thị Thanh Trà, Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái….
Nhờ tinh thần lao động quả cảm và sáng tạo ấy mà ông Phạm Sỹ Quý đã sở hữu trong tay khối tài sản khủng và đặc biệt là biệt phủ rất hoành tráng, bề thế rộng hơn 13.000 m2 với tổng giá trị tài sản lên tới cả trăm tỷ đồng….
Trả lời báo chí, ông Quý đã mở lòng: “Đây là kết quả của cả một quá trình tôi lam lũ đi làm từ thời trẻ, nỗ lực vươn lên làm đủ thứ nghề như mua chổi đót, lá chít từ trên này xuống Hà Nội bán. Đã có những lúc tôi lạc trong rừng, ngủ trong rừng, ăn nhầm lá ngón rồi lắng nghe nhạc rừng, tâm hồn vui phơi phới, tôi cười một mình và cất tiếng hát vang. Từ ngày xửa xưa tôi còn làm men nấu rượu, làm bánh kẹo, làm giá đỗ, nuôi gà, nuôi lợn, tôi làm việc đến chai sần và thối cả móng tay. Năm thứ 3 đại học, tôi cùng chung với bạn mở xưởng đóng giày ở Ngã Tư Sở. Mọi người đừng nhìn tôi bằng hình ảnh hôm nay mà nên tìm hiểu cả quá trình”.
Ôi thương và ngưỡng mộ qúa, tuổi thơ của ông Quý quả là dữ dội và cay đắng. Chắc hẳn đây là một minh chứng rõ nhất cho truyền thống lao động cần cù của dân tộc ta. Đây cũng khẳng định câu “kiến tha lâu đầy tổ”, “năng nhặt chặt bị” của cha ông.
Tôi đề nghị Tổng Liên đoàn Lao động VN tặng ngay cho ông Phạm Sỹ Quý bằng “Lao động sáng tạo” và nên phát động đoàn viên công đoàn và người lao động trong cả nước học tập tấm gương làm giàu chân chính của ông. Đề nghị ông Quý làm ngay báo cáo thành tích để báo cáo điển hình trong Đại hội Thi đua yêu nước toàn quốc và làm giàu chính đáng vào cuối năm nay. Ông Quý cũng sẽ được Tổng Liên đoàn LĐ VN và báo Lao động tuyên dương và tặng quà trong chương trình: Vinh quang Việt Nam sắp tới…
Hiện trong cả nước xuất hiện rất nhiều tấm gương nuôi lợn, buôn chổi đót (đặc biệt là các quan đầu tỉnh) mà có tiền xây biệt phủ siêu khủng. Hầu hết các quan có tài sản khủng và biệt phủ siêu khủng đều kê khai tài sản do nuôi lợn. Chả trách vừa rồi Chính phủ phải kêu gọi nhân dân cả nước “giải cứu lợn”. Hóa ra lợn nhiều, lợn thừa không phải do nông dân nuôi mà là các quan nuôi….
Ha ha ha. Nếu không có vụ Yên Bái và biết bao vụ việc quan các tỉnh tham nhũng, vơ vét tài sản đất đai, tranh giành quyền lực thì tôi không biết đâu là sự nghiệp CNH, HĐH đất nước….
Sau chuyến đi về Yên Bái, tôi càng hiểu rằng: Mùa xuân đất nước đã và đang lụi dần, tan dần, lòng dân xuống dần, người dân Yên Bái cứ nghèo mãi, khổ mãi.…có lẽ đã và đang bắt nguồn từ chính những con người dối trá, ma mãnh, những biệt phủ siêu khủng, những bộ máy công quyền tỉnh thành thối nát, mục rỗng như thế này….

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao Đài Loan đông xe máy nhất thế giới nhưng vẫn không tắc đường?


BT/Theo Thời Đại
Đài Loan là nơi có mật độ xe máy đông nhất thế giới với khoảng 375 xe trên mỗi km2. Số liệu của JAMA cho thấy trong 10 năm qua, bình quân mỗi 1,8 người dân Đài Loan sở hữu 1 chiếc xe máy và nơi này có khoảng 12,8 triệu chiếc xe máy trên tính đến năm 2015.

Trong khi đó, số liệu của Bộ giao thông vận tải Đài Loan lớn hơn nhiều với 14,7 triệu chiếc xe máy đăng ký, chiếm 69% tổng số phương tiện đăng ký tại đây. Như vậy với 24 triệu dân thì bình quân cứ 10 người có gần 7 chiếc xe máy. Số liệu này ở Việt Nam thấp hơn nhiều khi bình quân 10 người có gần 5 chiếc xe máy.

Dẫu vậy, tình hình giao thông tại Đài Loan lại khá tốt với chất lượng không khí không quá ô nhiễm. Vậy nguyên nhân vì đâu khu vực này có thể kiểm soát tốt được hệ thống giao thông và chất lượng môi trường như vậy?

Vương quốc xe máy

Mặc dù vẫn có rất nhiều xe hơi so mức sống cao nhưng xe máy dường như đã trở thành biểu tượng văn hóa của Đài Loan khi hàng trăm nghìn chiếc xe lưu thông trên đường phố mỗi ngày. Tình hình căng thẳng đến mức Đài Loan phải cấm nhập khẩu xe máy phân khối lớn vào đây từ năm 2002.

Hầu như hộ gia đình nào tại Đài Loan, dù giàu hay nghèo cũng có ít nhất một chiếc xe máy. Hệ thống đóng phí và đăng ký dễ dàng khiến người dân nơi đây yêu thích xe máy còn hơn cả ô tô.

Tuy nhiên, việc có quá nhiều xe máy khiến chất lượng không khí của Đài Loan đi xuống nghiêm trọng. Tại những thành phố như Kaohsiung, chỉ số ô nhiễm không khí lên tới 87,44 PM và người đi đường phải đeo khẩu trang trước sự ô nhiễm nặng.

Trên thực tế chính quyền Đài Loan đã nhận thức được vấn đề này từ thập niên 1990 khi cho phát triển dòng xe điện vào năm 1992, nhưng doanh số bán loại xe này rất thấp do người dân đã quen loại xe truyền thống.

Ngoài ra, chính quyền cũng thiết lập chuẩn khí thải mới cho xe máy vào năm 1991 và tất cả các xe mới đều phải đạt chuẩn này để có thể được cấp phép lưu thông.


Năm 1993, Đài Loan áp dụng hệ thống kiểm tra khí thải I/M. Trong khoảng tháng 2-5/1993, chính phủ đã kiểm tra, rà soát 113.000 chiếc xe máy và khoảng 30% đã bị loại do không đạt tiêu chuẩn khí thải. Trong khoảng tháng 12/1993-5/1994, 142.000 chiếc xe đã được kiểm định và 27% bị loại. Chương trình I/M này hiện vẫn được áp dụng rộng rãi tại Đài Loan cho đến hiện nay.

Những chiếc xe không đạt tiêu chuẩn này sẽ phải đi thay bộ lọc khí thải mới, tốn khoảng 20 USD nhằm đạt tiêu chuẩn môi trường đề ra.

Chống ùn tắc giao thông

Khoảng 1 thập niên trước đây, tình hình giao thông của Đài Loan cũng tệ hại không kém nhiều nước hay sử dụng xe máy. Nguyên nhân chính là do tình trạng đỗ xe máy tràn lan trên vỉa hè, lòng đường, gây ùn tắc giao thông. Thêm vào đó, hệ thống biển báo và quy hoạch giao thông còn kém khiến tỷ lệ tai nạn tăng cao.

Nhận thức được vấn đề, Đài Loan quyết tâm tìm biện pháp cải thiện, Kể từ năm 2000, người đi xe máy phải trả phí đỗ xe cho hầu hết mọi nơi và bất kỳ trường hợp vi phạm nào cũng sẽ bị phạt nặng. Thông thường người dân sẽ phải trả tới 6.000 NT (197 USD) cho phí đỗ xe hàng tháng hoặc 100 NT (3,3 USD) cho mỗi giờ đỗ xe bên ngoài. Dẫu vậy, mức phí đỗ xe tại Đài Loan khá biến động tùy khu vực và đôi khi chúng khiến người dân thà chọn phương tiện công cộng hơn là dùng xe máy.

Ban đầu, chính phủ Đài Loan đã thí điểm từng khu vực và gặp phải phản đối quyết liệt từ người dân, nhưng nhận thức được những mặt tích cực từ việc thu phí xe, kế hoạch này dần dần được chấp thuận và hiện đã áp dụng trên 60% khu vực.


Để thực hiện được điều này, chính quyền Đài Loan đã quy hoạch rõ ràng khu đỗ xe máy với ô tô, làm giảm lượng xe máy đỗ bừa bãi xuống lòng đường hay vỉa hè. Mặt khác, ý thức của người dân cũng góp phần lớn cho thành công này khi mọi người có thể đỗ xe mà không cần khóa và thậm chí để cả tuần, miễn là trả phí đầy đủ mà không sợ mất.

Bên cạnh đó, Đài Loan còn thực hiện phân làn xe máy, ô tô rõ ràng nhằm giảm thiểu tình trạng tai nạn giao thông.

Thủ tục nhanh gọn, xử phạt nhanh chóng, đóng phạt thuận tiện

Có một điều khá thú vị là dù xe máy khiến nhiều thành phố trở nên ùn tắc nhưng Đài Loan, nơi có mật độ xe máy đông nhất thế giới lại không giới hạn việc mua bán, đăng ký xe máy của người dân. Mặc dù khuyến khích những phương tiện công cộng như xe buýt hay tàu điện ngầm nhưng chính quyền nơi đây lại tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động mua bán đăng ký xe máy.

Thủ tục hành chính đăng ký xe tại Đài Loan khá đơn giản, người nước ngoài chỉ cần bằng lái xe và thị thực (visa) còn công dân thì chỉ cần chứng minh thư là mua được xe. Nếu muốn mua bán xe cũ, 2 bên chỉ cần ra cơ quan đăng ký và tiến hành thủ tục trong 10 phút để sang tên.

Nguyên nhân chính là dù có thu nhập khá cao, khoảng 30.000 USD/năm nhưng xe máy vẫn là phương tiện thuận tiện nhất với người dân trong việc di chuyển. Do diện tích có hạn nên việc sử dụng ô tô đi lại không mấy thuận tiện với người dân.

Bởi vậy, thay vì cấm xe máy hay thắt chặt việc mua xe, Đài Loan lại tăng cường chính sách giáo dục cũng như cấp bằng lái xe cho người tham gia giao thông. Các kỳ thi sát hạch bằng lái xe ở Đài Loan không hề dễ dàng trong khi rất nhiều khóa học nhằm nâng cao ý thức tham gia giao thông được tổ chức. Những biển báo chỉ dẫn cũng được Đài Loan nghiên cứu kỹ lưỡng nhằm tạo sự dễ dàng, thuận tiện khi di chuyển.


Bằng những chính sách này, ý thức của người dân được nâng cao khi tham gia giao thông. Tại các ngã tư, người Đài Loan thường tấp qua lề trái phải tùy vào hướng muốn rẽ để nhường đường cho phương tiện đi thẳng. Hệ thống biển báo tín hiệu cũng được chấp hành nghiêm chỉnh, qua đó giảm tình trạng chen lấn, tắc đường hàng giờ đồng hồ. Bởi vậy không có gì lạ khi mật độ xe máy Đài Loan đông và đôi khi người dân phải di chuyển chậm trong giờ cao điểm nhưng tuyệt nhiên không phải chờ hàng tiếng đồng hồ do nhưng vụ chen lấn vượt đèn đỏ ở các ngã tư hay đi lấn làn.

Mặt khác, hệ thống xử phạt của Đài Loan cũng rất tinh gọn. Các camera giao thông sẽ ghi hình biển số xe vi phạm và gửi giấy phạt về địa chỉ chủ xe trong vòng 3 ngày, qua đó răn đe những người cố tình vi phạm luật giao thông. Sau 10 ngày, số tiền phạt sẽ tăng dần lên nếu chủ xe không nộp và họ sẽ bị tịch thu xe sau 1 năm kể từ ngày thông báo. Tất nhiên là hầu hết người dân Đài Loan đều chấp hành nghiêm quy định bởi ngoài tính tự giác và ý thức cao, quy trình nộp phạt ở đây cũng vô cùng đơn giản.

Nếu như tại nhiều nước phát triển, người dân có thể thanh toán tiền phạt qua chuyển khoản ngân hàng hoặc đến kho bạc nộp thì người dân Đài Loan có thể đóng tiền phạt tại những cửa hàng tiện lợi như 7-Eleven có mặt trên khắp cả nước. Nói cách khác, họ có thể đóng phạt như việc mua thẻ điện thoại trả trước vậy.

Với hình thức này, hệ thống giao thông của Đài Loan được đảm bảo khi hạn chế được tình trạng tham nhũng, gia tăng ngân sách cũng như khiến người dân chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật khi tham gia giao thông.

Rõ ràng, một hệ thống biển báo giao thông rõ ràng, thuận tiện cùng ý thức của người dân đã góp phần rất lớn cho thành công của Đài Loan, nơi đông xe máy nhất thế giới nhưng lại có hệ thống giao thông an toàn, văn minh và hiệu quả.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đất quốc phòng, ranh giới nào? ( Liên hệ với SB Miếu Môn xem sao? )


Tác giả: GS.TSKH Đặng Hùng Võ
.Như vậy, có thể thấy khái niệm về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được quy định ngày càng chặt chẽ hơn trên nguyên tắc:
(1) mục đích quốc phòng, an ninh phải được xác định “thuần túy” gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất nước; (2) mọi diện tích đất do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sử dụng vào mục đích làm kinh tế hoặc quốc phòng, an ninh kết hợp làm kinh tế đều không được coi là đất quốc phòng, an ninh.
Nói cách khác, đất đai do các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang sử dụng đều không thuộc phạm vi đất quốc phòng, an ninh, được coi là đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp (Đặng Hùng Võ)
—————-.
 Những ngày qua, vấn đề sử dụng đất quốc phòng thu hút sự quan tâm của người dân. TTCT giới thiệu bài viết của GS.TSKH Đặng Hùng Võ, nguyên thứ trưởng Bộ Tài nguyên và môi trường, nhằm cung cấp thêm thông tin liên quan vấn đề này.
 Đất quốc phòng, ranh giới nào ?
Đường Võ Nguyên Giáp (Q.Sơn Trà, Đà Nẵng) trước đây có nhiều đơn vị quân đội đóng quân. Sau thời gian chính quyền Đà Nẵng thuyết phục, năm 2005 quân đội đã đồng ý di dời các đơn vị để có đất cho TP phát triển -Hữu Khá
Câu hỏi lớn nhất được đặt ra đối với khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng là: mục đích gì được gọi là mục đích quốc phòng?
Tất nhiên câu trả lời không hề đơn giản, vì mục đích quốc phòng khá đa dạng và phức tạp. Ví dụ một đơn vị quốc phòng sử dụng đất để xây dựng nhà máy sản xuất vũ khí thì có đúng mục đích quốc phòng hay không?
Hay một đơn vị quốc phòng sử dụng đất nông nghiệp ở vùng cao, vùng xa, vùng sâu, nơi vắng dân cư vừa để bảo vệ đất nước vừa được thụ hưởng nông sản thì có gọi là cho mục đích quốc phòng hay không?
Vậy nên sử dụng đất vào mục đích quốc phòng hay kinh tế vẫn không thể có một ranh giới thực sự rõ ràng. Luật đất đai (LĐĐ) đã có thay đổi đáng kể trong góc nhìn về cách quản lý và sử dụng đất quốc phòng, nhưng đều chưa đạt được những tiêu chí hợp lý.
 Đất quốc phòng, ranh giới nào ?
 
Khung pháp luật về quản lý và sử dụng đất quốc phòng
Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng chưa được quy định cụ thể trong LĐĐ đầu tiên năm 1987.
Tiếp theo trong LĐĐ 1993, khoản 1 điều 65 quy định cụ thể về sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh bao gồm đất để đóng quân; đất làm căn cứ quân sự; đất xây dựng các công trình quân sự, an ninh; đất làm sân bay, ga, cảng quân sự; đất làm kho tàng cho các lực lượng vũ trang; đất làm trường bắn, thao trường, bãi thử vũ khí; đất xây dựng nhà trường, bệnh viện, nhà an dưỡng của lực lượng vũ trang và đất sử dụng làm các công trình công nghiệp, khoa học, kỹ thuật phục vụ quốc phòng, quốc phòng kết hợp làm kinh tế.
Tuy nhiên, mục đích cuối cùng có nội dung “phục vụ quốc phòng kết hợp làm kinh tế” lại không được thống nhất nhìn nhận.
Khoản 1 điều 89 của LĐĐ 2003 đưa ra quy định về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh với hai điều chỉnh so với LĐĐ 1993:
(1) bổ sung mục đích sử dụng đất làm nhà công vụ của lực lượng vũ trang nhân dân và đất làm trại giam giữ, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng do Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý;
(2) bỏ cụm từ “quốc phòng kết hợp làm kinh tế” trong mục đích sử dụng “đất làm các công trình công nghiệp, khoa học và công nghệ phục vụ trực tiếp cho quốc phòng, an ninh”.
Như vậy, LĐĐ 2003 đã có góc nhìn “khắt khe” hơn với đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh. LĐĐ 2013 vẫn giữ nguyên quy định về đất quốc phòng, an ninh như LĐĐ 2003 và được quy định tại điều 61 và điều 148.
Điều 61 quy định về phạm vi áp dụng cơ chế nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, trong đó không áp dụng cho trường hợp đất để sử dụng vào mục đích “quốc phòng kết hợp làm kinh tế”.
Như vậy, có thể thấy khái niệm về đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh đã được quy định ngày càng chặt chẽ hơn trên nguyên tắc:
(1) mục đích quốc phòng, an ninh phải được xác định “thuần túy” gắn với nhiệm vụ bảo vệ đất nước; (2) mọi diện tích đất do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang sử dụng vào mục đích làm kinh tế hoặc quốc phòng, an ninh kết hợp làm kinh tế đều không được coi là đất quốc phòng, an ninh.
Nói cách khác, đất đai do các doanh nghiệp thuộc lực lượng vũ trang sử dụng đều không thuộc phạm vi đất quốc phòng, an ninh, được coi là đất sản xuất nông nghiệp hoặc đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
 Đất quốc phòng, ranh giới nào ?
Để có con đường Phạm Văn Đồng (Q.Sơn Trà) thông ra biển rộng và đẹp như hôm nay, nhiều đơn vị quân đội đã di dời đi nơi khác để Đà Nẵng có quỹ đất làm đường, chỉnh trang đô thị -Hữu Khá
Câu chuyện sử dụng đất 
quốc phòng
Đất quốc phòng được hình thành tự nhiên như một câu chuyện lịch sử. Năm 1954 khi giải phóng miền Bắc và năm 1975 khi giải phóng miền Nam, quân đội nhân dân ta đã tiếp quản và sử dụng tất cả đất đai do quân đội thực dân và quân đội chế độ cũ chiếm đóng.
Từ đó biến động tăng giảm không nhiều. Đến năm 2000, tổng diện tích đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh của cả nước là 191.680ha (không có số liệu tách riêng đất quốc phòng và đất an ninh), trong đó đất an ninh do các đơn vị thuộc Bộ Công an sử dụng chỉ chiếm khoảng 10%, chủ yếu là đất sử dụng vào mục đích quốc phòng.
Theo LĐĐ 2003, đất quốc phòng và đất an ninh được tách riêng thành hai loại riêng biệt. Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng có biến động qua các năm (xem biểu đồ).
Trong tổng diện tích đất quốc phòng như bảng trên, diện tích đất quốc phòng tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc duyên hải miền Trung từ Đà Nẵng tới Bình Thuận, chiếm tới khoảng 50% tổng diện tích đất quốc phòng.
Xét về mặt biến động, diện tích đất quốc phòng được tăng thêm trên 70.000ha trong giai đoạn 2000 – 2005, tiếp tục tăng khoảng 36.000ha trong giai đoạn 2005 – 2010 và giảm khoảng 43.000ha trong giai đoạn 2010 – 2015.
Diện tích đất quốc phòng tăng nhiều trong giai đoạn 2000 – 2010 vì các lý do chủ yếu bao gồm: (1) bổ sung các diện tích đất trước đây do quân đội sử dụng thực tế nhưng chưa đưa vào thống kê đất quốc phòng; (2) Nhà nước giao thêm đất quốc phòng để sử dụng làm sân bay, cảng biển, trường bắn vũ khí hiện đại và nhiều nhu cầu sử dụng khác vào mục đích quốc phòng…
Bên cạnh diện tích đất quốc phòng tăng mạnh, cũng có một số diện tích đất quốc phòng giảm do Bộ Quốc phòng giao lại cho chính quyền địa phương để sử dụng vào mục đích dân sự, cụ thể bao gồm: (1) đất quốc phòng đã giao cho gia đình quân nhân để xây dựng nhà ở, đã thành khu dân cư phù hợp quy hoạch, nay chuyển giao cho địa phương quản lý;
(2) đất quốc phòng nhưng phù hợp với mục đích phát triển kinh tế, bảo tồn di tích văn hóa, lịch sử… được giao lại cho các địa phương sử dụng;
(3) được cho phép chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để bổ sung ngân sách cho các đơn vị thuộc lực lượng quân đội.
Trong giai đoạn 2010 – 2015 đất quốc phòng giảm khá mạnh, trong đó lý do chủ yếu là Chính phủ quyết định chuyển một phần diện tích thuộc một số hải đảo khác về loại đất sử dụng cho mục đích dân sự.
Ngoài ra, việc rà soát hiện trạng sử dụng đất quốc phòng và quy hoạch sử dụng đất quốc phòng cũng đẩy mạnh quá trình giao lại đất sử dụng hợp lý hơn cho mục đích phát triển kinh tế cho các địa phương cấp tỉnh quản lý và bố trí sử dụng, hoặc chuyển nhượng cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư.
Suốt thời gian qua, lãnh đạo các tỉnh, TP trực thuộc trung ương đã có nhiều cố gắng trong việc thuyết phục các cơ quan quốc phòng cấp trung ương và cấp tỉnh về ba chuyện có liên quan tới đất quốc phòng.
Một là quy hoạch lại các khu dân cư do các đơn vị thuộc lực lượng vũ trang tạo lập nhằm giải quyết nhà ở cho gia đình quân nhân để giao về cho địa phương quản lý như đất ở.
Hai là chuyển giao đất có lợi thế về phát triển kinh tế, bảo tồn văn hóa, lịch sử đang là đất quốc phòng về cho các địa phương quản lý và bố trí sử dụng.
Tại Hà Nội, sau một thời gian dài triển khai, Bộ Quốc phòng đã bàn giao lại một nửa thành cổ Hà Nội cho UBND TP để bảo tồn di tích lịch sử, nhưng vẫn giữ lại một nửa để sử dụng vào mục đích quốc phòng, lấy ranh giới là đường Nguyễn Tri Phương.
Ngoài ra, đất quốc phòng thuộc khu vực sân bay Bạch Mai cũ, sân bay Gia Lâm cũ cũng đã chuyển giao một phần nhất định để phát triển hạ tầng giao thông, làm công viên…
Tại các tỉnh, thành thuộc vùng duyên hải miền Trung, các sở tài nguyên và môi trường (TN-MT) đều có nhiệm vụ trọng yếu là thay mặt UBND cấp tỉnh thảo luận, thuyết phục cơ quan quân sự cấp tỉnh giao lại nhiều bãi biển đẹp để phát triển du lịch.
Có thể lấy ví dụ điển hình là bãi biển Mỹ Khê hay bán đảo Sơn Trà tại Đà Nẵng đã được bên quân sự bàn giao lại cho địa phương phát triển du lịch.
Trong nhiều lần trao đổi riêng, anh Nguyễn Điểu, nguyên giám đốc Sở TN-MT Đà Nẵng, đã cho biết nhiệm vụ thuyết phục bên quốc phòng giao lại đất quốc phòng có lợi thế phát triển kinh tế là rất khó nhưng Đà Nẵng đã thành công, tạo lợi thế lớn trong việc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng Đà Nẵng trở thành TP hiện đại, TP đáng sống.
Ba là việc các đơn vị quốc phòng xin chuyển nhượng lại đất đang sử dụng (chủ yếu “đất vàng”) cho các nhà đầu tư dân sự để thực hiện các dự án đầu tư phát triển kinh tế.
Có thể lấy ví dụ điển hình trường hợp này là Nhà máy Ba Son của quân đội đã được chuyển nhượng cho VinGroup để phát triển nhà ở và khu đô thị mới. Những vụ chuyển nhượng tương tự với các nhà khách, khách sạn, nơi vui chơi giải trí do quân đội quản lý cũng diễn ra ở nhiều địa phương.
 Đất quốc phòng, ranh giới nào ?
Một phần Hoàng thành Thăng Long đã được Bộ Quốc phòng bàn giao cho UBND TP Hà Nội để bảo tồn di tích lịch sử -Nguyễn Khánh
Bàn thêm về chính sách 
quân đội làm kinh tế
Quân đội làm kinh tế hay không làm kinh tế không chỉ là chính sách lớn, mà còn là triết lý quốc phòng lớn, cách thức vận dụng còn phụ thuộc vào tình hình cụ thể từng giai đoạn phát triển của đất nước.
Ở VN hay ở nhiều nước châu Á khác, triết lý quân đội phát triển sản xuất trong thời bình để tự lo hậu cần cho thời chiến đã được áp dụng suốt chiều dài lịch sử nhà nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khái quát triết lý này thành một triết lý lớn hơn: mỗi người dân là một người lính bảo vệ đất nước, mỗi người lính cũng là một người dân trong sản xuất. Nền quốc phòng toàn dân được xây dựng dựa trên triết lý này.
Từ đây, cơ chế doanh nghiệp quốc phòng tham gia hoạt động kinh tế sinh lợi được hình thành và phát triển.
Khảo cứu kinh nghiệm nước ngoài cũng có thể cho thấy một số chính sách khác nhau được áp dụng. Nhà nước Trung Hoa trong thời gian vài chục năm qua cũng đã có những thay đổi mạnh mẽ trong cách nhìn về chính sách quân đội có làm kinh tế hay không.
Dưới thời Tổng bí thư Giang Trạch Dân, số lượng các đơn vị vũ trang làm kinh tế đã được thu hẹp. Tháng 3-2016, Tổng bí thư Tập Cận Bình đã có thông báo dừng toàn bộ các hoạt động dịch vụ sinh lời của các đơn vị quân đội và cảnh sát vũ trang.
Ở đây, chúng ta cần lưu ý thuật ngữ “dịch vụ sinh lời” được sử dụng để thay thế thuật ngữ “làm kinh tế”. Cốt lõi của vấn đề chính là cơ chế “sinh lời”, là nguyên nhân làm sao nhãng nhiệm vụ chính của quân đội là bảo vệ đất nước.
Những chính sách như vậy từng bước đã đưa Trung Hoa từ một nước có nền quốc phòng không mạnh trở thành đất nước có lực lượng quân sự hiện đại trên thế giới.
Tại các nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp… kinh tế quốc phòng là một lĩnh vực phát triển rất mạnh, sinh lợi cao nhưng không do lực lượng vũ trang thực hiện, mà do kinh tế tư nhân thực hiện như các ngành kinh tế khác.
Ví dụ như ở Pháp, doanh nghiệp tư nhân EADS bảo đảm sản xuất mọi loại vũ khí, máy bay quân sự, tên lửa sử dụng vào mục đích quốc phòng. Hay ở Mỹ, Tập đoàn tư nhân Lockheed Martin cũng chế tạo những vũ khí hàng không, vũ trụ cho mục đích quốc phòng.
Quân đội không làm kinh tế, mà chỉ tập trung vào nhiệm vụ luyện tập để trở thành những đội quân tinh nhuệ, sức chiến đấu cao.
Tại VN, kinh tế quốc phòng là lĩnh vực khu vực dân sự không được thực hiện, mà phải do lực lượng vũ trang thực hiện. Nếu không cho quân đội làm kinh tế quốc phòng thì sẽ không phát triển được công nghệ và kinh tế quốc phòng.
Vấn đề được đặt ra là quân đội làm kinh tế theo cơ chế nào và hạn chế trong phạm vi nào thì phù hợp. Hơn nữa, cần tìm lộ trình hợp lý để thực hiện, tạo nên hướng đi mạch lạc trong nhiệm vụ hiện đại hóa quân đội ta và sử dụng đất quốc phòng đúng mục đích, hiệu quả cao.
Việc thứ nhất có thể làm là quân đội không tham gia các hoạt động dịch vụ kinh doanh “sinh lời” trong phạm vi khối kinh tế dân sự đang làm. Các doanh nghiệp quân đội sẽ được cổ phần hóa để trở thành các doanh nghiệp dân sự thông thường và đất quốc phòng đang sử dụng cũng được trả về cho địa phương quản lý.
Việc tiếp theo là các doanh nghiệp quốc phòng thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế quốc phòng theo một cơ chế đặc thù, không lấy tiêu chí “sinh lời” riêng làm trọng tâm. ■
Quy định về chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế
Đất quốc phòng thuộc loại đất phi nông nghiệp được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng đất, không được tham gia thị trường bất động sản. Việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích khác phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được phê duyệt.
Theo quy định tại điểm đ và e, khoản 1 điều 57 và điều 59 LĐĐ 2013, việc chuyển đất quốc phòng sang sử dụng vào mục đích kinh tế phải được phép của UBND cấp tỉnh.
Theo điều 173 LĐĐ 2013, các tổ chức sử dụng đất quốc phòng không được phép chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với đất đang sử dụng cho người khác.
Việc chuyển quyền sử dụng đất phải được thông qua cơ chế Nhà nước thu hồi đất quốc phòng và giao đất cho người khác sử dụng, phù hợp với quy định có thu tiền hoặc không thu tiền sử dụng đất.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những tấn tiền lại tiếp tục đổ xuống



ANH ĐÀO
LĐO - Sau dự án đường sắt trên cao ở HN phải "điều chỉnh vốn" lần thứ ba, tới lượt Metro số 1 đội vốn từ 19.000 tỉ lên tới 47.000 tỉ đồng. Đứng trước nguy cơ vỡ trận, họ lại đi "xin vốn Trung ương"! Cũng phải đi xin là trường hợp đạm Ninh Bình.

Lỗ cả ngàn tỉ, nhà máy này đề nghị Chính phủ đứng ra trả nợ thay khoản vay 125 triệu USD từ ngân hàng China Eximbank của Trung Quốc. 

Xin khách quan chép ra đây trường hợp "đội vốn" của Metro Suối Tiên. Năm 2009, khi dự án này được trình, tổng dự toán là 1,09 tỉ USD (tương đương 19.000 tỉ đồng)!

Xin hãy lưu ý con số 19.000 tỉ đồng rất "số lẻ" này. Bởi nếu là 20.000 tỉ đồng sẽ phải trình Quốc hội. Và với con "số lẻ", Suối Tiên chỉ cần trình Thủ tướng phê duyệt chứ không cần trình Quốc hội. 

Tới 2010, Quốc hội có nghị quyết mới, theo đó, những công trình trên 35.000 tỉ đồng thì sẽ phải trình Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư. Suối Tiên, năm 2011, "điều chỉnh" tổng mức đầu tư dự án lên con số 2,49 tỉ USD (tương đương 47.000 tỉ đồng), tức là gấp 2,4 lần so với dự toán ban đầu.

Và đến nay, dự án dù đã thi công được gần 5 năm, nhưng đang rơi vào tình cảnh nguy ngập: Không có tiền đầu tư, không có tiền trả nợ, dẫn đến nguy cơ đắp chiếu.

Và tuyến Metro này không còn cách nào khác là lại đi xin Trung ương, dẫu không ai dám chắc 47.000 tỉ đồng đã là con số cuối cùng.

Đạm Ninh Bình cũng ở vào tình thế vỡ trận không kém. Khoản vay để đầu tư dự án Đạm Ninh Bình trị giá 250 triệu USD trong thời hạn 15 năm. (Có "khuyến mại" thêm điều kiện phải ký hợp đồng với nhà thầu HQC của Trung Quốc). Tính đến 3.2017, dư nợ của khoản vay là 162,5 triệu USD, đã trả nợ gốc 7 kỳ với tổng số tiền là 87,5 triệu USD.

Đạm Ninh Bình đã lỗ ngay từ khi bao hàng đầu tiên còn chưa xuất xưởng và lỗ đến tận bây giờ. Con số đây: Năm 2012 lỗ 75 tỉ đồng, năm 2013 lỗ 759 tỉ đồng, năm 2014 lỗ 500 tỉ đồng, năm 2015 lỗ trên 370 tỉ đồng. Tổng mức lỗ "vượt kế hoạch" đã lên tới trên 2.000 tỉ đồng.

Đến hôm qua (4.7), Vinachem đưa ra đề xuất: Tập đoàn này sẽ chỉ trả nợ lãi và phí, còn Chính phủ sẽ trả khoản nợ gốc 125 triệu USD trong 5 năm tới, bắt đầu từ 21.7.2017 đến 21.1.2022. 

Nhưng Đạm Ninh Bình thua lỗ chỉ là một trong căn bệnh đã đến hồi mãn tính của DNNN: Lập dự án cứ lập, vay vốn nước ngoài như vay lấy được và cuối cùng là thua lỗ. Là đổ hết gánh nặng nợ nần lên vai Chính phủ, thực chất là lên chính người dân.

Còn Metro Bến Thành - Suối Tiên, hay Cát Linh - Hà Đông, nó chính là những biểu tượng cho những đại dự án hàng chục ngàn tỉ liên tục chậm trễ tiến độ, liên tục đội vốn. Nó như món "cân kê" nuốt vào không được, nhả ra không xong khi tiền bạc, của cải, và cả nỗi bức xúc cứ nhân mãi theo thời gian và những "tấn tiền" đổ xuống.

Không dân nào chịu mãi cảnh trả nợ thay vô lý đến như vậy. Và có lẽ, đã đến lúc phải có người chịu trách nhiệm chính về những dự án thua lỗ, đội vốn và quá chậm trễ này.

>>> MP Blog...

Phần nhận xét hiển thị trên trang