Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Tư, 5 tháng 7, 2017

NHÂN KỶ NIỆM 110 NĂM ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC


Các sĩ phu phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

Nhìn lại phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục

Nguyễn Trọng Tín
Sài Gòn tiếp thị

1. Đỉnh cao của phong trào duy tân

Bỏ lối học từ chương khoa cử, tập trung cho thường thức và thực nghiệm, dạy cả tiếng Việt, Pháp và Hán văn. Chủ trương này lại xuất phát từ tầng lớp nho gia cuối cùng của Việt Nam. Không chỉ thế, chấn hưng công thương, khai mỏ, lập đồn điền, cắt tóc, xuất dương du học… cũng là chủ trương của họ. Dù chỉ tồn tại trong 9 tháng (5.1907 – 1.1908), nhưng trường Đông Kinh Nghĩa Thục thực sự là đỉnh cao của cuộc cách mạng xã hội to lớn đầu thế kỷ 20 có tên là Duy Tân.

Cánh chim đầu đàn

Theo Nguyễn Hiến Lê: “Cụ Tây Hồ (Phan Châu Trinh) là người mở đường cho phong trào Duy Tân ở nước nhà. Lập Nghĩa Thục một phần công lớn là của cụ, gây tư tưởng mới ở Quảng Nam là cụ, đi khắp nơi diễn thuyết là cụ, khuyên quốc dân cắt tóc là cụ, liệng cái phó bảng ra mà lập hiệu buôn cũng là cụ, bỏ tục nhuộm răng, vận Âu phục bằng nội hoá thì người đầu tiên cũng là cụ”.Thế nhưng, khi Đông Kinh Nghĩa Thục thành lập, Phan Châu Trinh chỉ nhận làm người tham gia giảng dạy bình thường.

Nhiều tài liệu cho rằng Đông Kinh Nghĩa thục là trường học miễn phí và dạy theo lối cải cách đầu tiên ở Việt Nam. Thực ra trước đó, năm 1905 tại Bình Thuận đã ra đời một ngôi trường tương tự, cũng từ chủ trương của cụ Phan Châu Trinh, đó là trường tư thục Dục Thanh, do ông Nguyễn Trọng Lội mở, ông Lương Thúc Kỳ (nhạc phụ của Phan Khôi) giảng dạy. Phí tổn đều do công ty Liên Thành (cũng do ông Lội lập) chu cấp. Một số thanh niên Nam kỳ (đất thuộc Pháp) cũng ra đây học. Nguyên cuối năm 1904 Phan Châu Trinh cùng Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc kháng chu du mấy tỉnh miền Trung. Đến Bình Thuận, Phan Châu Trinh bị bệnh phải ở lại. Thời gian này ông cùng với Hồ Tá Bang lập một thư xã ở đình Phú Tài để giảng sách Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu. Nguyễn Trọng Lội nhiệt thành dự khán những cuộc thuyết trình ấy. Đây chính là bước tập dượt để Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời.

Nhà thờ cụ Phan Châu Trinh

Đem nhà làm trường

Những cuộc bàn bạc đầu tiên cho sự ra đời của Đông Kinh Nghĩa Thục bắt đầu từ năm 1906 tại nhà ông Lương Văn Can, số 4, phố Hàng Đào, Hà Nội. Chính ra đó là những cuộc luận bàn “quốc sự”. Trong những cuộc luận bàn ấy, Phan Châu Trinh có kể khá cặn kẽ về hoạt động của Kháng Ứng Nghĩa Thục, nơi đào tạo các nhà tiền bối duy tân của Nhật, mà ông có dịp khảo sát tường tận trong thời gian ba, bốn tháng qua Nhật.

Hôm quyết định thành lập, cũng tại số 4 Hàng Đào có mặt các ông Lương Văn Can, Dương Bá Trạc, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Nguyễn Bá Học… nhưng lại vắng mặt Tăng Bạt Hổ và Phan Châu Trinh. Người cao tuổi hơn cả là Lương Văn Can được các đồng chí nhất trí tôn làm thục trưởng.

Phố Hàng Đào thời Đông Kinh Nghĩa Thục. 

Về tài chánh, hội viên tự ý góp bao nhiêu cũng được và quyên thêm ở những chỗ quen, hảo tâm. Tiền - thục trưởng quản chi, nhưng sổ sách do Nguyễn Quyền giữ. Dự kiến sẽ lập một trường tại Hà thành, sau đó sẽ phát triển ra các tỉnh. Đến khi chọn địa điểm, do tài chánh còn eo hẹp, Lương Văn Can đề nghị lấy nhà mình làm cơ sở ban đầu, vì nhà có một cái gác tẩu mã (1), chứa được vài trăm học sinh, mặc dù dưới đất đang là cửa hàng kinh doanh tơ lụa của vợ ông. Dự kiến khi học sinh đông hơn, sẽ mướn thêm nhà số 10 ở bên cạnh. Nhà này còn rộng hơn nhà ông Can, vốn là của ông Hương cống Sùng, một phú gia bậc nhất đất Hà thành hồi trước, giờ đã bán lại cho ông Phạm Lẫm và đang rất trống vì ông Lẫm đi làm Bố chánh ở Vĩnh Lại, Hưng Hoá. Nhà này ăn thông từ Hàng Đào sang Hàng Quạt, dài trên 50m, có chỗ rộng hơn 30m, cũng có gác tẩu mã và cả một hoa viên. Về sau trường đã thuê được địa điểm này để phát triển theo dự kiến.

Hai người đảm nhiệm việc lập các thủ tục xin phép lập trường tại phủ Thống sứ Bắc Kỳ là Nguyễn Văn Vĩnh và Phạm Duy Tốn.

Cả nhà cùng “Nghĩa Thục”

Dù chỉ bằng truyền miệng, nhưng tin tức trường Đông Kinh Nghĩa thục sắp ra đời lan rất nhanh khắp cả hai vùng đất bảo hộ, miền Bắc và miền Trung. Việc học trò đi học không phải mất tiền là một việc chưa từng có. Nhưng điều mà người ta chú ý nhiều hơn cả là về các vị giáo sư sẽ giảng dạy ở đây. Họ là những danh sĩ tâm huyết của đương thời, không chỉ có những tú tài, cử nhân nhưng bất cần áo mão cân đai, mà còn có cả những nhà trí thức tây học tên tuổi. Danh sách ứng sinh đăng ký theo học dồn dập đổ về địa chỉ số 4 Hàng Đào. Trong khi đó thủ tục xin phép đã nộp gần hai tháng mà nha Thống sứ vẫn cứ im lặng. Nguyên do là vì… cái tên. Nghĩa thục là trường dạy không lấy tiền, nhưng mật thám Pháp lại thấy nó gần với hai chữ nghĩa quân, là từ mà dân chúng đang gọi quân gia của ông Hoàng Hoa Thám trên Yên Thế! Một phụ huynh, là dân Tây học, nóng lòng xin cho con học, mách nước với ông Lương Văn Can: Theo lệ Tây, chưa cho phép mà không bác bỏ, xem như mặc hứa. Vì vậy có thể mở lớp ngay được. Nhưng để an toàn, nên mở ngay hai lớp nhỏ nhất, một lớp cho con trai, một cho con gái và chỉ dạy chữ quốc ngữ. Quốc ngữ là lợi khí để khai dân trí, nhưng hợp với chiêu bài “khai hoá” mà người Pháp không có lý do gì cấm.

2. Chấn hưng công thương, kỹ nghệ

“Tôi cầm bút ký tờ đoạn mãi mà tay run lên. Từ nhỏ, có bao giờ dám động tới di sản của tổ tiên đâu”. Đó là lời thuật lại sau này của bà Lương Văn Can khi bà ký vào giấy tờ bán hiệu buôn Quảng Bình An ở Hàng Ngang, lấy 7.000 đồng đưa chồng tiêu vào việc trường

Những tấm lòng vàng

Theo Nguyễn Hiến Lê, những nhà quyên tiền nhiều nhất là hiệu kim hoàn Thế Xuân ở Hàng Bạc và hiệu hàng tấm (tơ lụa) Phúc Lợi ở Hàng Ngang. Hồi mới phát động, dân khí đang lên, ai nghe nói giới cựu học và tân học bắt tay nhau mở mang dân trí, chấn hưng đất nước cũng hăm hở kẻ góp công người góp của. Nhưng việc chi tiêu cho Đông Kinh Nghĩa Thục đâu phải nhỏ mà chỉ dựa vào lòng hảo tâm, thành ra không bao lâu, việc tiền bạc trở thành gánh nặng to lớn. Chỉ sau nửa năm hoạt động, bà Lương Văn Can phải bán đi hiệu buôn như phần trên đã nói. 

Đưa môn kinh tế vào trường 

Điều này chính Phan Châu Trinh cũng đã tiên lượng, khi bàn đến việc quyên tiền, ông có nói:“Chúng ta có cái dũng khí độc lập cả ngàn năm rồi, trăm lần bẻ mà không gãy. Tôi có dịp chu du các nơi, những người hưởng ứng có tới số ngàn, chỉ tiếc một điều, người có hằng sản thì không có hằng tâm, người có hằng tâm thì hầu hết là bần sĩ, mỗi khi nghĩ tới việc đó, tôi thường thở dài, biết làm sao đây?”. Trước đó, chính Phan Châu Trinh cũng là người đầu tiên nêu gương chấn hưng thực nghiệp khi cho khai trương Quảng Nam thương hội, mở xưởng dệt rồi may cho mình một bộ Âu phục bằng chính thứ vải tự dệt ấy.

Cho nên mở mang công thương nghiệp lúc đó là vấn đề cấp bách, trước mắt là kiếm tiền trang trải cho Đông Kinh Nghĩa Thục và ủng hộ các học sinh Đông du. Về lâu dài, nó là nền tảng của toàn bộ công cuộc duy tân đất nước.

Những chủ trương phát triển công thương, kỹ nghệ này trước hết được đưa vào trong chương trình học của nhà trường. Sách Quốc dân độc bản, một tài liệu giáo khoa quan trọng của trường, có 79 bài thì có tới 24 bài (từ bài 56 đến bài 79) đề cập trực tiếp đến các vấn đề thuộc về kinh tế, kỹ nghệ. Cho đến nay chưa biết được các soạn giả đã tham khảo các nguồn tài liệu nào để viết về các vấn đề kinh tế học. Theo phỏng đoán có thể họ tham khảo từ các sách Tân văn, Tân thư và Tân báo (từ Trung Quốc, Nhật Bản), các sách báo kinh tế của người Pháp, và từ chính các vấn đề kinh tế nổi cộm đang diễn ra ở Việt Nam lúc đó. Trong các luận điểm về kinh tế mà các soạn giả nêu ra khá nhiều dẫn chứng từ các nước Âu, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam.

Khi nhà nho đi buôn 

Tiên phong trong việc này ở đất Bắc là ông Đỗ Chân Thiết. Năm 1904, nhân vua Thành Thái ra bái yết lăng tẩm tổ tông ở làng Gia Miêu, Thanh Hoá, Đỗ Chân Thiết cùng Phương Sơn thảo Hưng Quốc sách, nhảy xe lửa vào tận Thanh Hoá định dâng vua, nhưng bị viên tổng đốc Thanh Hoá gàn cản, việc không thành. Hai ông trở về Hà Nội, rủ nhau đi buôn, mướn thuyền về Hải Dương chở gạo lên Hà Nội bán. Thuyền về đậu bến cột Đồng Hồ mấy ngày, dân buôn thấy thuyền của ông Cử, ông Nghè không ai dám tới mua, sau nhờ một bà xuống bán dùm, chỉ nửa buổi đã hết. Sau hai ông gọi thêm vài người đồng chí hùn vốn được vài ngàn bạc, mở hiệu Đồng Lợi Tế ở phố Mã Mây, chuyên bán hàng nội hoá và tiệm thuốc bắc, hiệu Tuỵ Phương gần ga Hàng Cỏ.

Ông Hoàng Tăng Bí mở hiệu Đông Thành Xương ở Hàng Gai, vừa buôn bán vừa làm công nghệ, lần đầu dùng khung cửi rộng dệt xuyến bông nhuộm đen; chế các loại trà mạn, trà tàu, trà ướp sen. Hiệu Các Thành ở Hàng Gai, hiệu Hồng Tân Hưng ở Hàng Bồ cũng mở vào lúc ấy.

Phong trào từ đó lan ra các tỉnh. Ông Tùng Hương mở hiệu Phúc Lợi Tế ở Phúc Yên và Hưng Lợi Tế ở Hưng Yên. Ở Việt Trì, ông Nguyễn Trác mở hiệu Sơn Thọ. Hai hiệu Sơn Thọ và Đông Thành Xương có vốn lớn nhất, trang hoàng đẹp, bán nhiều đồ nội hoá như quạt lông, đồ tre đan Đại Đồng Sơn, khai trúc Nghệ An, giày Kinh, lãnh Bưởi, lãnh Sài Gòn…

Lập đồn điền, khai mỏ

Nghĩa Thục còn khuyến khích đồng chí lập đồn điền để khuếch trương nông nghiệp. Ông Bùi Đình Tá cùng hùn vốn với người bạn là Phan Tứ, khai phá một đồn điền ở Mỹ Đức, gần chùa Hương. Ông Tá là dân Tây học, đỗ đạt, được bổ thông ngôn rồi thăng tham tá. Chẳng những là người nhiệt tâm dạy giúp Nghĩa Thục từ khi mới mở, ông còn là người lập ra một cô nhi viện đầu tiên ở Việt Nam. Việc ông mở đồn điền ở Mỹ Đức là để có phương tiện nuôi trẻ mồ côi. Trên Yên Bái còn có một đồn điền được khai phá ở Yên Lập, rộng 50 mẫu, khai rừng đốt than và trồng ngô, lúa. Vì đây là vùng rừng âm, nước độc, nhân công từ xuôi lên lần lượt ngã bệnh, rồi cũng phải bỏ dở.

Một việc ít ai biết là những người trong Nghĩa Thục còn có nhiều chuyến sục sạo trên vùng thượng du Bắc Việt và đã tìm được một số mỏ như than, chì, kẽm, lưu huỳnh… Một đoạn ghi chép của Nguyễn Hiến Lê: “Các cụ lên miền rừng núi, hỏi dò thổ dân, thấy chỗ nào nghi có quặng là đem về ít cục đá, đất, giao cho phòng thí nghiệm phân tích sau khi đóng tiền 5 đồng mỗi lần. Nếu phòng thí nghiệm bảo là có quặng, các cụ đóng thêm tiền, đón kỹ sư đến tận nơi xem xét, sau cùng mướn người cắm mốc bốn bên, vẽ bản đồ xin đóng thuế khai mỏ”.

Nói chung, giới nho sĩ chủ trương đều thiếu kinh nghiệm quản trị, thiếu vốn, thiết bị kỹ thuật nên các công trình chỉ để lại tiếng vang, kích thích lòng yêu nước là chính. Tuy nhiên, các cơ sở kinh tế nói trên còn là nơi gặp gỡ thuận tiện để họ bàn bạc chuyện khác, quan trọng và cao cả hơn.

3. Người mở cửa Đông Du

Không chỉ góp tiền của và công sức cả nhà cho Đông Kinh Nghĩa Thục, trong bốn thanh niên Việt Nam đầu tiên xuất dương qua Nhật mở màn cho phong trào Đông du, còn có hai người là con trai của ông Lương Văn Can. 

Tiếng khóc mất nước trước Nhật hoàng 

Chiến thắng vẻ vang của Nhật trong cuộc chiến tranh với Nga (1904-1905) dẫn đến hoà ước Postsmouth, đem lại cho Nhật hải cảng Lữ Thuận, phía nam Sakhaline và con đường xe lửa phía nam Mãn Châu. Sự kiện trên khiến các nước châu Âu giật mình vì một châu Á đang trỗi dậy, nó còn đem lại niềm khích lệ lớn cho giới sĩ phu yêu nước Việt Nam là theo gương tự cường của nước Nhật để đánh đuổi thực dân Pháp.

Trong cuộc chiến tranh Nga – Nhật ấy, có một người Việt tham dự trong lực lượng thuỷ quân của Nhật và lập công lớn trong các trận Đại Liên, Lữ Thuận, được nước Nhật thưởng huy chương quân công. Người đó là Tăng Bạt Hổ. Được mời dự trong bữa đại yến do Nhật hoàng đãi các tướng sĩ mừng chiến thắng, khi đỡ chén rượu do vua Nhật ngự rót, Tăng Bạt Hổ uống một hơi cạn rồi khóc lớn. Thấy lạ, Nhật hoàng hỏi, thì ông nói rằng ông khóc mừng cho nước Nhật thắng trận và cũng khóc vì cái nhục của nước ông là Việt Nam còn trong ách xâm lược của thực dân Pháp.

Tăng Bạt Hổ người Bình Định, tham gia quân đội triều đình, làm đến chức cai cơ, ông cùng với Phạm Toàn mộ nghĩa quân chống Pháp. Sau nhiều trận thất bại, nghĩa quân tan rã, không chấp nhận dụ hàng, ông trốn qua Thái Lan, rồi sang Trung Quốc xin làm thuỷ thủ cho một tàu buôn. Nhờ đó ông thường có dịp qua lại các hải cảng Nhật, tự học và nói thông tiếng Nhật. Khi chiến tranh Nga - Nhật xảy ra, vì lòng căm hờn người Âu, ông đăng ký vào thuỷ quân Nhật.

Rước Phan Bội Châu sang Nhật

Dù được an ủi và khen là chân ái quốc, nhưng vua Nhật cũng không hứa hẹn gì. Nhưng tiếng khóc của ông tại hoàng cung Nhật đã gây được cảm tình lớn với nhiều tướng lĩnh và chính khách, đặc biệt với hai nghị sĩ Nhật là Khuyển Dưỡng Nghị và Đại Ôi Trọng Tín. Hai ông nghị này rất muốn tranh thủ Nhật hoàng viện trợ cho Việt Nam kháng Pháp, nhưng do tình hình khi đó Nhật còn muốn hoà hoãn với Pháp, nên họ khuyên Tăng Bạt Hổ nên tìm cách phát triển phong trào duy tân trong nước để nâng cao dân khí, dân trí cho đại sự về sau dễ thành và hứa tận lực giúp cho học sinh Việt Nam sang Nhật được phép cư trú và miễn học phí.

Cuối 1904, Tăng Bạt Hổ về Hải Phòng rồi vào Quảng Nam. Qua giới thiệu của ông Nguyễn Thành(2), ông nhiều lần gặp gỡPhan Bội Châu và Kỳ ngoại hầu Cường Để. Đầu năm 1905, ông đưa Phan Bội Châu sang Nhật bằng tàu thuỷ, từ Hải Phòng.

Mở ra con đường Đông Du 

Sang Nhật, qua Tăng Bạt Hổ, Phan Bội Châu nhiều lần hội kiến với Khuyển Dưỡng Nghị, Đại Ôi Trọng Tín và đại tướng Phúc Đảo. Để tránh những rắc rối về ngoại giao có thể xảy ra với thực dân Pháp, các nhân vật trên nhất trí giao phó việc huấn luyện học sinh Việt Nam cho Đông Á đồng văn hội, vì hội này là hội phi chính phủ, lấy danh nghĩa một tổ chức của dân Nhật giúp đỡ một tổ chức của dân Việt Nam, là một việc làm hợp pháp, không liên can gì tới chính quyền Nhật. Việc học, tập trung vào hai phần: 1/Quân sự chuyên môn; 2/ Phổ thông tri thức. Đông á đồng văn dành năm phòng học để dạy riêng cho học sinh Việt Nam.

Cao điểm của phong trào Đông du (1907–1908), con số du học sinh Việt Nam ở Nhật ước lượng chừng 200, Nam kỳ hơn 100 người, Trung kỳ chừng 50 người, Bắc kỳ hơn 40 người. Sở dĩ phong trào Đông du phát triển mạnh ở Nam kỳ là do ông Phan Bội Châu có nhiều mối quan hệ đồng chí với những nhà cách mạng ở vùng đất thuộc địa này. Năm 1903, trong chuyến du Nam, vào tận vùng Thất Sơn (An Giang), căn cứ địa cuối cùng của lực lượng cần vương miền Nam, trên đường trở về, ghé qua Sa Đéc, Phan Bội Châu có hội kiến với hai ông Đặng Thúc Liên và Nguyễn Thần Hiến. Sau này ông Hiến là người lập ra Khuyến du học hội ở Nam kỳ và cho con trai là Nguyễn Như Bích qua Nhật, khiến sĩ phu ở đây hưởng ứng rất đông và đóng góp cho phong trào rất nhiều tiền bạc, vì phần đông họ là những đại điền chủ.

Hổ phụ sinh hổ tử

Trong Ngục trung thư Phan Bội Châu có kể, sau chuyến về nước thu xếp cho ông Cường Để sang Nhật, khi trở qua nhà trọ cũ ở Hoành Tân thì gặp Lương Ngọc Quyến (con ông Lương Văn Can) đang đợi ở đó. Anh thanh niên này đã vượt biển trốn sang Nhật, khi lên bờ trong túi chỉ còn vỏn vẹn 3 xu. Rồi một hôm Quyến nhịn đói một mình từ Hoành Tân lên Đông Kinh, mất 1 ngày, 1 đêm. Không có chỗ ngủ, anh đi vào sở cảnh sát. Sáng ra, cảnh sát hỏi gì anh cũng không biết, vì không biết tiếng Nhật. Sau khi cảnh sát cho “bút đàm” thì biết anh là thiếu niên… Ấn Độ. Thấy lạ, thương tình, cảnh sát cho tiền để anh đi xe lửa về Hoành Tân. Quyến dùng tiền ấy chu du khắp Đông Kinh mấy ngày và tình cờ vào toà báo Dân Báo của những nhà cách mạng Trung Quốc tại Nhật. Khi rõ hết tình cảnh, chủ bút Chương Thái Viêm đã nhận Quyến vào làm việc, ngạch tam đẳng thư ký.

Trở lại Hoành Tân, Lương Ngọc Quyến đưa hai thanh niên mới từ nước nhà qua là Nguyễn Thức Canh và Nguyễn Điển lên Đông Kinh. Phan Bội Châu giữ Lương Nghị Khanh (3) ở lại Hoành Tân với mình.

Sau khi đưa Phan Bội Châu sang Nhật, Tăng Bạt Hổ về nước đi khắp Bắc, Trung, Nam vận động Đông du. Một lần tiếp kiến Lương Văn Can, ông Can nói: “Chúng ta đã vào hàng lão, nên đặt hy vọng vào bọn hậu tiến”. Được lời như cởi tấm lòng, Tăng Bạt Hổ bày tỏ mục đích về nước của mình. Do cuộc hội đàm đó mà hai người con cụ Lương có mặt trong số bốn thanh niên đầu tiên của phong trào Đông du.

4. Thực hành ở Nam kỳ

Khi vào đến Nam kỳ, phong trào Duy Tân có tên gọi là Cuộc Minh Tân (công cuộc minh đức, tân dân). Trụ cột của phong trào là ông Trần Chánh Chiếu

Sợi dây liên hệ 

Ông Trần Chánh Chiếu sinh 1867 tại Rạch giá trong một nhà điền chủ khá giả. Sau khi học hết trường tỉnh, được một linh mục giới thiệu, ông lên Sài Gòn vào học ở trường Collège d’Adran. Vì nhập quốc tịch Pháp nên ông còn được gọi là Gilbert Trần Chánh Chiếu (viết tắt là G. Chiếu).

Thời đó, ông Chiếu có người con là Trần Chánh Tiết du học tại Hương Cảng, trường Saint Joseph, dạy tiếng Anh. Ông Chiếu do có Pháp tịch nên dễ dàng qua lại Hương Cảng thăm con. Do đó, ông có được nhiều dịp gặp và luận đàm cùng ông Phan Bội Châu tại Hương Cảng, rồi bí mật sang Nhật để gặp Kỳ Ngoại Hầu Cường Để. Lề lối làm việc của ông khá thiết thực vì là người chịu ảnh hưởng tân học. Ngoài ông Chiếu, các nhân vật quan trọng của phong trào ở Nam kỳ còn có Nguyễn Thần Hiến, Nguyễn An Cư, Nguyễn An Khương (thân phụ nhà cách mạng Nguyễn An Ninh)…

Những hoạt động nổi bật ở Nam kỳ là khuyến khích người Việt tự cường bằng cách liên kết với nhau thành lập các công ty, các cơ sở thương mại, tài chánh tín dụng, phát triển công nghệ, dịch vụ… hòng cạnh tranh với tư bản Pháp và Hoa kiều lúc ấy đang thống lãnh nền kinh tế Nam kỳ

Ý tưởng có một tập đoàn kinh tế

Trong những chủ trương phát triển công kỹ nghệ của ông Trần Chánh Chiếu thì việc thành lập công ty Nam Kỳ Minh Tân công nghệ có thể được xem là táo bạo nhất. Đây là công ty gồm nhiều cổ phần, đa số người đóng góp là giới điền chủ và công chức, cổ động đầu 1908, thành lập công khai theo luật hiện hành vào 1.6.1908 trong buổi họp ở văn phòng viên chưởng khế Aymard tại Sài Gòn, với bản điều lệ gần giống như các công ty của người Pháp lúc bấy giờ. Đến tháng 8.1908 đã quy tụ hơn 3.000 cổ đông. Điều lệ ghi rõ: “1/Lập lò nghệ tại Nam kỳ: lò chỉ (kéo sợi bông vải), lò dệt, lò savon (xà bông), thuộc da và pha ly (thuỷ tinh)… 2/Dạy con nít làm các nghề ấy. M.Gilbert Chiếu làm tổng lý công ty. Quán chánh công ty ở tại thành Mỹ Tho”. 

Tháng 9.1908 xà bông công ty Minh Tân tung ra thị trường, cạnh tranh rất hiệu quả với xà bông trên thị trường đồng thời, khiến hút thêm số lượng khá lớn cổ đông mới.

Báo Lục Tỉnh Tân Văn số 39 (30.8) thấy rao: “Tổng lý là G. Chiếu ra thông cáo cho biết ai có hùn vốn thì có quyền gởi con đến học nghề, thời hạn học là 7 năm, công ty nuôi cơm nước còn quần áo, mùng mền thì cha mẹ phải chịu. Công ty lo nhà ngủ, nhà ăn cho học trò, đứa nào học giỏi sẽ được hưởng lương tháng, sau đó, khi biết nghề rồi phải giúp việc cho công ty 7 năm”. Trong thời gian biểu học tập thấy ghi rõ các phần học nghề, học chữ quốc ngữ, học chữ “Lang sa”, thời gian luyện tập thể thao và dọn dẹp vệ sinh, cả phần: “Ngày lễ theo đạo Thiên Chúa hoặc theo đạo Thích Ca, học trò được đi làm việc bổn phận”. 

Ngoài công ty lớn trên đây, đáng chú ý là hai khách sạn hoạt động với mục đích làm kinh tài cho phong trào, đồng thời cũng là nơi tụ họp để che mắt nhà cầm quyền thực dân: Minh Tân khách sạn ở Mỹ Tho và Nam Trung khách sạn ở Sài Gòn.

Sôi nổi “công nghiệp hoá” 

Cùng với Nam Kỳ Minh Tân công nghệ, một phong trào đưa ra những đề án, những cuộc vận động để thành lập những cơ sở công kỹ nghệ hưởng ứng cuộc Minh Tân nở rộ ở Sài Gòn và nhiều tỉnh Nam kỳ. Xin nêu ra vài cơ sở có tiếng vang đương thời.

Ông Nguyễn An Khương lập ra Chiêu Nam Lầu, tầng dưới bán cơm theo lối bình dân, tầng trên bán cơm sang trọng hơn, tầng trên cùng làm khách sạn.

Công ty nhà in: “Hội này lập ra là có ý muốn mua một cái nhà in để mà in nhật trình, cùng là sách vở và in công việc cho quan làng và người mua bán, sách nói đủ việc cơ xảo, bán giá rẻ cho mọi người, lớn, nhỏ, già, trẻ, nghèo, giàu đều đọc được” (Lời rao trên Lục Tỉnh Tân Văn).

Mỹ Tho Minh Tân túc mễ tổng cuộc: được hình dung như là một tổng công ty xuất khẩu lúa gạo. Người khởi xướng là ông phó tổng Trần Văn Hài ở làng Lương Phú, tổng Thạnh Quới, hạt Mỹ Tho.

Y Dược công ty: hình thức như một cơ sở bào chế Đông Nam dược, làm ra các loại thuốc ta dạng tán, dạng nước, dạng viên, ngâm rượu…

Nam Hoà Thạnh: Hội thương mãi này nhóm đại hội ngày 19.4.1908 tại châu thành Biên Hoà, có mặt 130 ông, góp vốn được 11.500 đồng.

Chợ Lớn Nam Chấn Thành thương xã: số vốn 40.000 đồng, người góp vốn khắp 6 tỉnh Nam kỳ.

Tân Thành thương cuộc: tiệm này ở Bến Tre mua lúa với số lượng nhiều để bán cho nhà máy và xay ra để bán lẻ.

Ngoài việc kêu gọi góp vốn thành lập các cơ sở kinh doanh của người Việt, ông G. Chiếu còn chủ trương lập ở Sài Gòn một tổ chức kinh doanh tài chánh, dạng như một ngân hàng tín dụng. Gọi là Hãng cho vay Sài Gòn – Chợ Lớn.

Sử dụng công cụ báo chí

Để yểm trợ phong trào, một tờ báo công khai ra đời lấy tên là Lục Tỉnh Tân Văn ra hàng tuần. Báo ra ngày 14.11.1907 do ông F.H. Schneider - một chủ nhà in người Pháp sáng lập, ông Trần Chánh Chiếu làm chủ bút. Nhiều nhân sĩ ở các tỉnh Nam kỳ góp bài vở, có người ở miền Trung (ông Hồ Tá Bang) hoặc ở Cao Miên (ông Trương Duy Toản) cũng gởi bài.

Một chi tiết đáng chú ý: năm 1907 ở Hà Nội, Đăng Cổ Tùng Báo, là tờ báo tích cực yểm trợ cho Đông Kinh Nghĩa Thục, đăng tải những bài kêu gọi lòng yêu nước, chống tục lệ phong kiến… Nhưng báo này chỉ ra được 8 tháng thì bị chánh quyền đóng cửa vào ngày 11.11.1907. Vài ngày sau khi Đăng Cổ Tùng Báo chết, tờ Lục Tỉnh Tân Văn ra mắt số 1 tại Sài Gòn.

5. Tan rã và lan tỏa

Đầu năm 1908 (tháng chạp năm Đinh Mùi) Toàn quyền Beau lệnh rút giấy phép Đông Kinh Nghĩa Thục, lấy cớ nơi này có nhiều hoạt động mờ ám, có thể làm cho lòng dân náo động.

Nghĩa Thục bị đóng cửa

Trước đó, cuối 1907, thấy nhiều đồng chí hoạt động quá kịch liệt, không còn trong khuôn khổ Nghĩa Thục (mua khí giới chở về Hà thành, đưa thanh niên lên Yên Thế với Đề Thám…), sợ Nghĩa Thục bị đổ vỡ, trong một cuộc họp, Lương Văn Can đề nghị với các hội viên tách làm hai phe, ai ôn hoà thì ở lại, ai muốn bạo động thì biệt lập ra. Đề nghị được mọi người tán thành. Nhưng thực dân Pháp đã nhanh tay hơn.


Cùng với việc rút giấy phép là cuộc bố ráp lục soát, nhưng vì đoán được trước nên trường đã cho thủ tiêu hết những giấy tờ quan trọng, như bản in các bài ca ái quốc và nhất là những sách do Phan Bội Châu từ hải ngoại gởi về. Hầu hết tài liệu này được bí mật chuyển qua nhà ông Phương Sơn ở số 2, ngõ Phất Lộc để thiêu hủy. Không còn bằng cớ gì cụ thể, nên các thầy giáo và học viên chưa ai bị giam cầm.

Ba biến cố quan trọng

Các nhà nho tưởng như thế đã yên, không ngờ chỉ vài tháng sau những biến cố dồn dập xảy ra, khiến hầu hết các nhân vật của Đông Kinh Nghĩa thục đều bị liên lụy.

Trước hết là vụ kháng thuế ở Quảng Nam. Vụ này có ảnh hưởng rất lớn, mở đầu cho những cuộc biểu tình vĩ đại về sau. Hàng vạn quần chúng kéo nhau đến vây Toà sứ ở Quảng Nam, đưa yêu sách đòi giảm thuế. Viên Công sứ không chấp đơn, ra lệnh bắn vào đám đông làm một số người chết. Phong trào nhanh chóng lan ra khắp các tỉnh Trung kỳ. Chính phủ Pháp đổ tội cho Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Trần Quí Cáp, Huỳnh Thúc Kháng xúi giục. Trần Quí Cáp bị bắt đem ra chém tại Nha Trang, Huỳnh Thúc Kháng bị giam ở Hội An, Phan Châu Trinh lúc đó đang ở Hà Nội bị còng tay giải về Huế, chỉ có Phan Bội Châu đang ở Nhật, chúng không làm gì được.

Thứ hai là âm mưu bạo động của Đề Thám. Tháng 6.1908 Pháp dò la biết Đề Thám vẫn liên lạc với Phan Bội Châu, thu dụng thêm nghĩa binh ở miền Thanh Nghệ, lập thêm đồn, mua thên vũ khí, nên ra tay trước: bắt và xử tử 12 người hoạt động cho Đề Thám, sau đó tấn công nghĩa quân. Khi người Pháp cho Đề Thám lập ấp ở vùng Nhã Nam, đó chỉ là giải pháp tạm thời để thăm dò lẫn nhau, chứ không khi nào họ chấp nhận có một khu vực ở Yên Thế lại được tự trị với quân đội, tài chính và hành chính riêng.

Nhưng đáng kể nhất là vụ đầu độc lính Pháp tại Hà Nội ngày 26.6.1908. Đây là một phần trong kế hoạch tấn công Hà Nội của nghĩa quân Đề Thám, nhưng chỉ thực hiện được việc đầu độc, cơ sự bị bại lộ, cuộc tấn công dự kiến từ Sơn Tây và Gia Lâm kéo về đã không thành. Viên Toàn quyền và tướng Tư lệnh tối cao quân đội Pháp cho lập toà án quân sự, gọi là Hội Đồng Đề Hình, quyết xử thật nặng vụ này: bếp Hiên cùng 6 người nữa coi việc nấu ăn trong trại lính Pháp bị xử tử. Nhiều nhà yêu nước của Đông Kinh NghĩaThục cũng bị bắt và đem ra xét xử. Trong bản án của Hội Đồng Đề Hình tuyên ngày 15.10.1908 xử phạt các ông Nguyễn Quyền, Võ Hoành, Lê Đại chung thân khổ sai; ông Dương Bá Trạc 15 năm tù; Dương Trọng Nho, Hoàng Tăng Bí 5 năm tù, vì các ông đã liên hệ không ít thì nhiều với âm mưu đầu độc. Tất cả các ông đều bị đày đi Côn Đảo. Khi ra đảo, họ gặp hai ông Phan Châu Trinh và Huỳnh Thúc Kháng cũng bị đày ra đây. Người đứng đầu Đông Kinh Nghĩa Thục là Lương Văn Can cũng bị bắt, vì không đủ chứng cứ buộc tội nên được thả ra sau đó. Nhưng đến sau vụ ném tạc đạn ở Hà Nội ngày 23.4.1913 cụ lại bị buộc tội và đày lưu xứ qua Nam Vang 10 năm. Một số nhà chí sĩ có cảm tình với Nghĩa Thục cũng bị vạ lây: Ngô Đức Kế bị đày ra Côn Đảo 14 năm, Nguyễn Thượng Hiền phải trốn qua Trung Quốc…

Bế cửa Đông du

Chính phủ Pháp muốn tiêu diệt hẳn phong trào cách mạng, nên không chỉ đàn áp ráo riết phong trào trong nước mà còn tìm mọi cách triệt phá tận gốc phong trào Đông du. Dựa vào hiệp ước đã ký, Pháp đề nghị Nhật giao cho họ những người lãnh đạo phong trào, giải tán và trục xuất các học sinh Việt Nam. “Vì gặp nhiều khó khăn tài chánh sau chiến tranh Nga – Nhật, chánh phủ Nhật phải nhìn nhận tất cả các thuộc địa của Pháp tại Á châu với hiệp ước ngày 10.7.1907, để đổi lấy một ngân khoản là 300 triệu quan tiền mà Pháp đã cho Nhật vay. Không bao lâu sau, chánh phủ Nhật tỏ ý không muốn sung nạp các cựu học sinh Việt Nam nữa” .

Trước tình thế trên, Phan Bội Châu thu xếp cho nhiều thanh niên Đông du tiếp tục sang Trung Quốc và Thái Lan. Năm 1909 Phan Bội Châu qua Bangkok, Kỳ ngoại hầu Cường Để cải trang làm bồi bàn về nước, được Nguyễn An Khương và Nguyễn An Cư đón ở Vũng Tàu, đưa về Sài Gòn và sau đó chu du nhiều nơi ở Nam kỳ để vận động tiền bạc và tổ chức lực lượng.

Bến Bạch Đằng và nhà máy Ba Son xưa. Ảnh TL

Dư âm

Trừ ông Lê Đại, do thực dân căm ghét tài làm thơ nôm châm chọc của ông mà đày ông đến 15 năm ở Côn Đảo, còn lại, năm 1910, những nhân vật của Nghĩa Thục đều được tha về đất liền nhưng đều phải biệt xứ. Ông Nguyễn Quyền bị an trí ở Bến Tre, Dương Bá Trạc ở Long Xuyên, Võ Hoành ở Sa Đéc. Cũng trong năm đó, nhờ những vận động của Hội nhân quyền Paris, Phan Châu Trinh được ân xá nhưng phải an trí ở Mỹ Tho, sau đó, khi được trả tự do hoàn toàn, ông đã tìm đường sang Pháp.


Nhờ tư cách cùng chí khí, các nhà cách mạng Nghĩa Thục khi bị an trí trong Nam đều được đồng bào kính trọng. Đông đảo những người ngưỡng mộ đã cho con em theo học. Một số đông các nhà cách mạng từ 1925 trở về sau vẫn tự hào là hồi nhỏ đã được các ông dạy bảo. Thực dân Pháp đâu ngờ án đày biệt xứ lại giúp các ông gieo mầm cách mạng ở nơi khác.


(1) Gác tẩu mã: gác lớn mà các nhà Hà Nội xưa thường có. Sở dĩ gọi là gác tẩu mã, vì nó rộng và dài, như có thể cho ngựa chạy trên đó được.
(2) Ông còn có tên là Nguyễn Hàm, hiệu Tiểu La, người làng Thạnh Mỹ (Quảng Nam), vừa là sáng lập viên Duy Tân hội, vừa là người phụ trách phong trào Đông du, năm 1908 bị đày ra Côn Đảo, mất ngoài đảo năm 1911.
(3) Lương Nghị Khanh là con thứ tư của Lương Văn Can, rất thông minh, 17 tuổi đã đậu tú tài, người quen thường gọi là Tú con.



Phần nhận xét hiển thị trên trang

NÚT GỠ ĐỒNG TÂM

LS. Nguyễn Anh Vân



NÚT GỠ ĐỒNG TÂM

Ls Nguyễn Anh Vân

Trả lờ về vụ Đồng Tâm, tại buổi tiếp xúc với cử tri thành phố Hải Phòng, thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định trước khi xử lý người dân sai trái, quá khích thì phải xử lý ngay những cán bộ đã làm sai.

Tôi cho rằng, đây là quan điểm đúng của Thủ tướng, vì xử lý như vậy mới khách quan và giải quyết được triệt để, toàn diện vụ việc.

Tuy nhiên, các cán bộ đã làm sai ở đây là những đối tượng nào và các sai phạm này là những sai phạm gì thì không thấy Thủ tướng đề cập đến.

Các cán bộ đã làm sai gây ra vụ Đồng Tâm gồm nhiều đối tượng hiện đang công tác trong lực lượng quân đội, công an và trong chính quyền huyện Mỹ Đức.

Các sai phạm cũng đã xảy ra ở nhiều lĩnh vực, như trong lĩnh vực quản lý đất đai, trong lĩnh vực hoạt động tư pháp, trong lĩnh vực khiếu nại, tố cáo.

Như vậy, có thể hiểu các cán bộ đã làm sai phải xử lý ở đây bao gồm tất cả các đối tượng có sai phạm trong mọi lĩnh vực liên quan đến vụ Đồng Tâm.

Theo thông tin trên mạng thì nguyên nhân sâu xa dẫn tới vụ Đồng Tâm là do người dân khiếu kiện về đất đai, vì họ cho rằng, có một số đối tượng của chính quyền, của quân đội cấu kết với nhau, lợi dụng quy hoạch sân bay Miếu Môn nhằm "cướp" 59 ha đất nông nghiệp của xã nhưng không được các cấp thẩm quyền giải quyết triệt để; và nguyên nhân trực tiếp, cũng là nguyên nhân cơ bản làm người dân phẫn uất, quá khích là do công an huyện Mỹ Đức cùng cán bộ sỹ quan quân đội bắt người trái pháp luật, đánh dân, vu cho họ là bạo động để huy động hàng ngàn chiến sỹ cơ động uy hiếp họ. Cụ thể là Phó trưởng công an huyện Mỹ Đức Trần Thanh Tùng đã đánh đập, đá cụ Lê Đình Kình là người cao tuổi (82 tuổi, 55 tuổi đảng) bay xa 2m gây gãy xương hông nhưng không cứu chữa, rồi cùng các sỹ quan quân đội là Mạc Văn Tin, Nguyễn Văn Tài quăng cụ lên xe như một con vật, còng tay nhét giẻ vào mồn nhằm thủ tiêu cụ, vì cụ là người đấu tranh chống tham nhũng, ngăn cản việc "cướp" đất. Và nếu cụ không được Chủ tịch Nguyễn Đức Chung cứu giúp cho đi viện mổ kịp thời thì cụ đã không giữ được tính mạng ...

Với những hành vi đánh đập người cao tuổi gây thương tích, bắt giam giữ người dân không theo trình tự tố tụng nêu trên đã có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự của công an huyện Mỹ Đức và của các sỹ quan quân đội.

Cho nên, nút thắt đầu tiên cần phải được gỡ bỏ là làm rõ hành vi bắt, giam giữ người dân trái pháp luật và hành vi cố ý gây thương tích đối với cụ Kình.

Theo thẩm quyền, thì Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thể ngay lập tức vào cuộc xác minh vụ việc, và nếu kết quả xác minh sự việc xảy ra đúng như dư luận đã phản ánh thì đây là hành vi vi phạm pháp luật hình sự có tính chất dã man, thú tính của những tên ác ôn lạm quyền, lợi dụng chức vụ quyền hạn coi thường pháp luật phải bị trừng trị thích đáng, kịp thời. Theo đó, Cơ quan điều tra phải nhanh chóng khởi tố vụ án, khởi tố bị can (bắt tạm giam) để điều tra, làm rõ hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động tư pháp của vị Phó trưởng công an huyện và của những sỹ quan quân đội có liên quan.

Tiếp đến nút gỡ thứ hai là sau khi có Bản kết luận thanh tra của Thanh tra thành phố Hà nội, nếu Bản kết luận khẳng định khiếu kiện của người dân Đồng Tâm là có cơ sở và có hành vi bán, chiếm đất nông nghiêp để vụ lợi của cán bộ các cấp chính quyền, của quân đội thì các cơ quan thảm quyền phải làm rõ trách nhiệm và xử lý nghiêm theo quy định.

Cuối cùng là xử lý những sai phạm của người dân. Xử lý những sai phạm này, cơ quan thẩm quyền phải xem xét thấu đáo các nguyên nhân đã nói trên; phải nhìn nhận sai phạm của họ ở góc độ họ bắt giữ 38 cán bộ, chiến sỹ cảnh sát cơ động là để gây sức ép , buộc chính quyền phải thả những người dân vô tội bị bắt trái luật, bị đánh đập dã man chứ không phải vì họ chống đối chính quyền; đồng thời phải xem xét đánh giá lỗi của các tổ chức, cá nhân có trách nhiệm quản lý đất đai, giải quyết khiếu kiện đã gây ra để đánh giá mức độ sai phạm của người dân. Nói chung cơ quan thẩm quyền, cụ thể ở đây là công an thành phố Hà Nội, phải nhìn nhận hành vị vi phạm của họ là để phòng vệ chính đáng, là bất khả kháng chứ không phải là chống đối, và hành vi của họ chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự.

Nếu tháo gỡ những nút thắt cơ bản của vụ Đồng Tâm theo hướng này thì tôi tin rằng, đảng và chính quyền sẽ lấy được niềm tin của người dân, không chỉ lấy được niềm tin của người dân xã Đồng Tâm mà còn lấy được niềm tin của nhân dân cả nước, đồng thời sẽ ngăn chặn được hàng ngàn vụ Đồng Tâm khác đang âm ỉ, trực chờ bùng nổ.

Hà Nội ngày 4/7/2017
N.A.V

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Ba, 4 tháng 7, 2017

Về đảo Tri Tôn và thông điệp của tàu chiến Mỹ


Đảo Tri TônBản quyền hình ảnhVCG/GETTY IMAGES
Image captionĐảo Tri Tôn nằm về phía Nam của nhóm đảo Lưỡi Liềm thuộc Hoàng Sa
Tàu USS Stethem hôm 02/07/2017 áp sát đảo Tri Tôn thuộc Quần đảo Hoàng Sa, nơi Trung Quốc, Việt Nam và Đài Loan đều tuyên bố chủ quyền, khiến Bắc Kinh gọi đây là "khiêu khích quân sự".
Vậy thông điệp từ hoạt động của tàu USS Stethem là gì và lịch sử tranh chấp tại vùng này có gì liên quan đến hòn đảo nhỏ này?
BBC Tiếng Việt điểm qua năm vấn đề cơ bản:

1. Không công nhận đường cơ sở quanh Hoàng Sa

Đài Fox News ở Hoa Kỳ nói đi vào phạm vi 12 hải lý cách đảo Tri Tôn là thông điệp "Hoa Kỳ không công nhận" chủ quyền của Trung Quốc tại đây.
Lucas Tomlinson trên trang Fox News, kênh truyền hình "yêu thích" của Tổng thống Trump, trích dẫn một quan chức quốc phòng Mỹ nói USS Stethem cũng "thách thức cả tuyên bố chủ quyền của Việt Nam và Đài Loan" về đảo này.
"Phạm vi 12 dặm biển là biên giới lãnh hải bao quanh mọi quốc gia có biển, và đi tàu vào bên trong phạm vi này chính là cách gửi ra thông điệp Hoa Kỳ không công nhận tuyên bố chủ quyền đó."
Cùng lúc, trang Independent ở Anh trích lời bà Mira Rapp-Hooper, chuyên gia về Biển Đông tại Center for a New American Security, nói:
"Khác với Trường Sa, nơi Trung Quốc đã xây đảo nhân tạo mấy năm qua, tại Hoàng Sa, nước này trên thực tế đã kiểm soát toàn bộ từ 1974."
Bà giải thích mục đích của Hoa Kỳ sử dụng quyền tự do hàng hải (freedom-of-navigation operation, gọi tắt là FONOP) là nhằm thử thách "đường cơ sở bất hợp pháp của Trung Quốc quanh vùng Hoàng Sa".

2. Trump bắt đầu nản về Trung Quốc

USS Stethem vào bên trong phạm vi 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn để gửi thông điệp tới TQBản quyền hình ảnhVCG/GETTY IMAGES
Image captionUSS Stethem vào bên trong phạm vi 12 hải lý quanh đảo Tri Tôn để gửi thông điệp tới TQ
Nhưng động thái mới nhất của Hải quân Mỹ còn được thực hiện trong bối cảnh "có vẻ như chính quyền Trump hết kiên nhẫn với Bắc Kinh về các công tác tiếp tục xây đắp quân sự ở Biển Nam Trung Hoa", tác giả Tomlinson viết.
Bên cạnh đó, "Hoa Kỳ cũng thất vọng rằng Bắc Kinh không kiềm chế được Bắc Hàn về chương trình nguyên tử và hỏa tiễn".
Hôm 1/7, báo The Guardian ở Anh cũng nhận định rằng "tuần trăng mật của hai ông Trump và Tập Cận Bình đã chấm dứt".
Hoa Kỳ cố ý chọn ngày ông Tập Cận Bình sang duyệt binh ở Hong Kong tuần qua để kêu gọi "thêm dân chủ cho Hong Kong và rằng Trung Quốc phải tôn trọng các quyền tự do, gồm cả tự do báo chí".
Tàu Mỹ áp sát đảo Tri Tôn

3. Vì sao Tri Tôn quan trọng?

Quần đảo Hoàng Sa (Paracel Islands) gồm 130 đảo san hô, bãi đá và đá ngầm, cách miền Trung Việt Nam 250 hải lý (400 km) về phía Đông và đảo Hải Nam của Trung Quốc 220 hải lý (350 km) về phía Nam, theo Britannica.
Quần đảo Hoàng Sa gồm hai nhóm đảo, là nhóm đảo Lưỡi Liềm ở phía Tây, và nhóm đảo An Vĩnh ở phía Đông.
Đảo Tri Tôn - có tên theo chiếc tàu của Anh HMS Triton, nằm riêng lẻ ra về phía Nam và thuộc nhóm đảo Lưỡi Liềm. Trung Quốc gọi đây là đảo Trung Kiến.
Khoảng cách từ Tri Tôn vào đảo Lý Sơn của Việt Nam lại chỉ có 123 hải lý.
Hoàng SaBản quyền hình ảnhTAILIEUTIENGVIET
Image captionBản đồ và tên gọi nhiều đảo trong vùng Hoàng Sa từ một tài liệu tiếng Việt
Khoảng cách từ Tri Tôn đến mũi Ba Làng An trên đất liền Việt Nam chỉ có 135 hải lý, gần hơn khoảng cách từ đảo Hoàng Sa đến đảo Lăng Thuỷ thuộc Hải Nam của Trung Quốc (140 hải lý).
Cũng vì vị trí nằm ngoài hẳn nhóm đảo chính, Tri Tôn có ý nghĩa phòng thủ, chặn lối vào các đảo còn lại.
Trước lần vào gần đảo Tri Tôn hôm đầu tháng 7 mới đây, một chiến hạm của Hoa Kỳ hồi tháng 10 năm 2016 cũng đi vào gần đảo này.
Để thách thức chủ quyền của bất cứ nước nào đang kiểm soát Hoàng Sa, Hoa Kỳ không cần phải vào sâu trong nhóm đảo An Vĩnh và Lưỡi Liềm mà chỉ cần đến gần đảo Tri Tôn là đủ.

4. Lịch sử chủ quyền và quyền kiểm soát

Năm 1932, Pháp tuyên bố đưa quần đảo Hoàng Sa vào thuộc Liên bang Đông Dương và lập một trạm khí tượng tại đây.
Đảo BắcBản quyền hình ảnhDIGITALGLOBE/SCAPEWARE3D
Image captionKhông ảnh của DigitalGlobe tháng 2/2016 chụp Đảo Bắc (North Island), cách đảo Phú Lâm 12 km về phía Bắc
Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier ra Nghị định đặt Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa và Hoàng Sa tách khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào Thừa Thiên.
Trong Thế Chiến 2, Nhật Bản chiếm một số đảo nhưng rút đi để rồi đến năm 1951 tuyên bố từ bỏ chủ quyền tại đây.
Năm 1947, quân đội Trung Hoa Dân quốc chiếm đảo Phú Lâm (Woody Island), đảo lớn nhất trong nhóm An Vĩnh (phía Đông).
Cùng thời gian, trên đảo Hoàng Sa (Prattle Island), là đảo lớn nhất trong nhóm đảo Lưỡi Liềm (phía Tây), người Pháp vẫn vận hành trạm khí tượng và sau đó, Quốc gia Việt Nam tiếp tục công tác này.
Đảo Tri Tôn (đánh dấu đỏ trên bản đồ)Bản quyền hình ảnhGOOGLEMAP
Image captionĐảo Tri Tôn (đánh dấu đỏ trên bản đồ) nằm gần bờ biển VN hơn là khoảng cách từ đảo Hoàng Sa (trong cùng nhóm đảo Lưỡi Liềm) tới khu vực đảo Hải Nam của Trung Quốc
Sau khi trở lại Đông Dương, Pháp đã yêu cầu quân Trung Hoa Dân quốc rút khỏi các đảo mà họ đã chiếm đóng năm 1946 và Pháp đã cho quân thay thế quân Trung Quốc, xây dựng lại trạm khí tượng, đài vô tuyến.
Sau năm 1954, khi Hiệp định Geneva chia đôi Việt Nam (tạm thời), con số quốc gia tuyên bố chủ quyền tăng lên gấp đôi.
Sau khi tiếp quản từ Trung Hoa Dân quốc, Trung Quốc cộng sản và Việt Nam Cộng hòa là hai nước kiểm soát trên thực tế một số đảo, bên giữ nhóm đảo phía Đông, và bên giữ nhóm phía Tây.
Nhưng hai nước khác cũng nói họ là bên tiếp nhận chủ quyền đã nêu.
Trong trường hợp Đài Loan thì họ vẫn tiếp tục coi mình là Trung Hoa Dân quốc cùng mọi chủ quyền tại quần đảo này trước khi mất về tay Bắc Kinh.
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng nói họ mới là bên có chủ quyền chính đáng từ tất cả những gì người Pháp trao trả lại.

5. Khai thác dầu khí và căn nguyên xung đột

Hải quân TQBản quyền hình ảnhKYODO NEWS
Image captionHải quân TQ tập trận gần Hoàng Sa hồi tháng 7/2016
Theo Bách khoa Toàn thư Anh, xung đột ở Biển Đông bùng lên năm 1974 sau khi Việt Nam Cộng hòa bắt đầu ký các hợp đồng khai thác dầu khí với công ty nước ngoài, khiến Trung Quốc có phản ứng.
Trung Quốc đã tấn công các đảo ở Quần đảo Hoàng Sa bằng không quân và hải quân, chiếm trạm khí tượng (trên đảo Phú Lâm), và kiểm soát toàn bộ Quần đảo Hoàng Sa từ đó.
Nhưng kể từ đó đến nay, chủ quyền các hòn đảo ở đây vẫn là cốt lõi của tranh chấp, theo Britannica.
Các vấn đề lại bùng nổ năm 2014 khi giàn khoan HD-981 của Trung Quốc được kéo xuống khu vực gần Quần đảo Hoàng Sa, khiến Việt Nam phản đối.
Tin tức về một giàn khoan khác mà Trung Quốc đưa ra Biển Đông gần đây dù không được nước này xác nhận, đang tiếp tục làm nóng lên bầu không khí xung quanh các vùng đảo ở đây.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

BẢO VỆ LỢI ÍCH NHÓM hay GIỮ LÒNG TIN VỚI DÂN?




-Nguyễn Đăng Quang-




     Vụ Đồng Tâm đang êm ả, người dân đang chờ ngày công bố kết luận thanh tra để cùng nhau khắc phục hậu quả theo hướng tích cực thì bất ngờ CAHN ra quyết định khởi tố hình sự vụ án “bắt, giam giữ người trái pháp luật” và “hủy hoại, làm hư hỏng tài sản” ở Đồng Tâm (vụ 38 cán bộ Đảng và CSCĐ bị người dân bắt làm con tin và một số xe ô tô chở đoàn cưỡng chế bị xì lốp và đập bể kính!). Đây không chỉ là đòn đánh trực diện vào người dân Đồng Tâm mà còn cả vào công luận trong và ngoài nước! Người viết bài này không vội kết luận đây là việc làm sai trái, bội tín hay lật lọng của chính quyền Hà Nội, nhưng có thể khẳng định ngay đây là việc làm nóng vội, một sai lầm chính trị tồi tệ của chính quyền trong mắt người dân Đồng Tâm cũng như người dân toàn quốc! Sai lầm này rất có thể sẽ phải trả giá! Hình như có bàn tay đen đúa nào đó muốn phá hoại bản “Cam kết Đồng Tâm” (22/4/2017) và hủy hoại chủ trương “Đối thoại” mà Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương mới đề xuất gần đây?  



      Như mọi người đã biết, sáng 15/4/2017, lực lượng chức năng của Tp.Hà Nội, Bộ Quốc phòng và huyện Mỹ Đức đã lừa bắt cụ Lê Đình Kình và 4 người dân khác. Người dân Đồng Tâm phản ứng bằng cách bắt giữ 38 cán bộ Đảng và CSCĐ thuộc lực lượng cưỡng chế được phái đến để giải tỏa 59ha đất nông nghiệp giao cho Tập đoàn Viettel làm kinh tế. Và đây là căn nguyên dẫn đến sự ra đời của một biến cố xã hội đi vào lịch sử nước ta! Vâng, sự kiện đó được gọi là biến cố Đồng Tâm! Sau hơn một tuần lễ, trưa ngày 22/4/2017, nhận lệnh của Bộ Chính trị, Ban Bí thư và tất nhiên của cả Ban Thường trực Thành ủy Hà Nội, ông Nguyễn Đức Chung, với danh nghĩa là Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND Thành phố, về tận thôn Hoành, xã Đồng Tâm, để trực tiếp đối thoại với người dân và trịnh trọng ký tên, điểm chỉ vào bản “Cam kết 3 điểm” trước sự chứng kiến cùng chữ ký xác nhận của 3 ĐBQH, 2 luật sư, và 2 vị lãnh đạo địa phương là Bí thư Đảng ủy và Phó Chủ tịch UBND xã Đồng Tâm trước sự vui mừng, hò reo của hàng ngàn người dân sở tại! Văn bản lịch sử này gồm 3 điểm rất cụ thể và rõ ràng! (xin mời độc giả xem bản chụp scan đính kèm)

      Bản “Cam kết 3 điểm” thể hiện rất rõ lời hứa và cam kết của chính quyền Thành phố Hà Nội với người dân xã Đồng Tâm. Đối với nhiều nhà quan sát trong và ngoài nước, đây còn là bản cam kết chính trị, cam kết đạo lý và pháp lý của chính quyền Hà Nội với người dân Thủ đô của mình nữa! Bởi vậy, cách ứng xử của chính quyền ra sao trong vụ việc này sẽ nói lên chính quyền thực sự vì ai: Vì người dân, vì đạo lý, pháp lý hay vì quyền lợi của một tập đoàn lợi ích nào đó?

       Một số người lập luận ông Nguyễn Đức Chung chỉ là người đứng đầu bộ máy hành pháp Thành phố Hà Nội nên không có thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc về tư pháp, vả lại bản cam kết đó không có con dấu của UBND Tp.Hà Nội, nên văn bản đó không có giá trị pháp lý và hiệu lực thi hành. Đây là lập luận của những người có học nhưng không có TÂM, có TÍN, và có NGHĨA trong đầu! Người viết bài này xin được hỏi: Phải chăng những Hiệp định, Hiệp ước, Thông cáo hay Tuyên bố chung mà đại diện Nhà nước hoặc Chính phủ ta ký kết với các quốc gia trên thế giới là vô giá trị cả hay sao, bởi những văn bản này đâu có con dấu của nhà nước CHXHCN Việt Nam?

       Qua cách lập luận và lý lẽ của những người ủng hộ khởi tố hình sự vụ Đồng Tâm, người viết bài này dự đoán, rồi sẽ có một ngày, khi được bật đèn xanh, những người trên sẽ cùng nhau kiến nghị, yêu cầu khởi tố, bỏ tù ông Nguyễn Đức Chung về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn để làm mất uy tín và bôi nhọ danh dự Đảng và Nhà nước! Không những vậy, họ có thể còn kết tội ông Chung vi phạm pháp luật, tùy tiện ký kết văn bản pháp lý sai nguyên tắc, không đóng dấu của UBND Thành phố, mà thay bằng dấu lăn tay, điểm chỉ, rồi còn phải lấy chữ ký chứng thực của 3 ĐBQH+2 luật sư, lại thêm con dấu và chữ ký xác nhận của cấp dưới là lãnh đạo xã Đồng Tâm! Đây là sự kiện hy hữu, làm xấu mặt chính quyền nhân dân, chưa từng xảy ra từ ngày 2/9/1945 đến nay! Vậy xin ông Chung hãy thận trọng và dè chừng! 

    Trong vụ khởi tố trên, người viết bài này còn được biết: Có ĐBQH không chỉ trực tiếp chứng kiến buổi đối thoại trưa hôm 22/4/2017 mà còn ký chứng thực vào “Bản cam kết 3 điểm” nói trên, nhưng nay lại xoay lưng nói quyết định “khởi tố điều tra của CAHN là đáng tiếc nhưng cần thiết”! Tôi thất vọng với người đưa ra nhận định này! Xin được hỏi ông Dương Trung Quốc: Ông nói quyết định khởi tố hình sự vụ Đồng Tâm là “cần thiết” thì tại sao ông không lên tiếng yêu cầu CAHN khởi tố, điều tra việc đánh, bắt và làm trọng thương cụ Lê Đình Kình hôm 15/4/2017? Việc này có “cần thiết” không, thưa ông Quốc? Đây chính là nguồn cơn và nguyên nhân gốc dẫn đến người dân Đồng Tâm bắt giữ 38 cán bộ và CSCĐ làm con tin để phản đối chính quyền lừa bắt và gây thương tích cho cụ Kình. Như ông đã rõ, sáng hôm 15/4/2017, lực lượng chức năng của Tp.Hà Nội và Bộ Quốc phòng về Đồng Tâm mời đại diện người dân ra chỉ mốc giới đất tranh chấp với Tập đoàn Viettel, rồi bất ngờ dùng vũ lực bắt họ trái pháp luật (không hề có lệnh bắt và được VKSND phê chuẩn!). Thậm chí cụ Lê Đình Kình còn bị 4 sỹ quan quân đội và công an cấp tá (có tên tuổi, cấp bậc đầy đủ) đạp, đá cụ đến vỡ xương hông và gẫy xương đùi, rồi quẳng cụ lên xe “như quẳng một con vật”, sau đó còn dùng còng số 8 khóa hai tay và nhét dẻ vào mồm cụ già, rồi cho xe chạy 50km đưa thẳng cụ và 4 người dân mà họ vu là “những đối tượng chống đối nguy hiểm” về nơi giam giữ, trong khi họ thừa biết xương đùi và xương hông cụ bị gẫy! Đây thực sự là hành động dã man, côn đồ, vô nhân tính và trà đạp pháp luật của số sỹ quan LLVT này đối với 4 người dân Đồng Tâm, trong đó có cụ Kình, cụ già đáng kính của người dân địa phương, với 82 tuổi đời và 55 tuổi Đảng! Cụ Kình còn tố cáo 4 sỹ quan này có ý đồ “thủ tiêu cụ để bịt đầu mối”. Thật là kinh khủng! Bất cứ ai nghe cụ Kình tường thuật lại việc bị bắt và đánh đập dã man đến trọng thương, họ chỉ cố lấy lời cung và bỏ mặc cụ không cấp cứu trong hơn 3 ngày trong tình trạng vỡ xương hông và gẫy xương đùi, ngoài sự căm phẫn, cũng sẽ đồng tình với người viết bài này là đã có đủ cơ sở và chứng cứ khởi tố vụ án, khởi tố bị can vụ bắt giam người trái phép và gây thương tích nặng nề cho một công dân cao tuổi là cụ Kình! Nhưng sao không thấy ông Quốc lên tiếng bảo vệ dân, mà giữ im lặng khó hiểu trước việc cơ quan công quyền bắt giam và đánh đập cụ già đáng kính này, thưa ông Dương Trung Quốc?

       Tôi hỏi vậy vì biết ông và 2 ĐBQH khác cùng nhiều quan chức của Hà Nội và Trung ương ngày 22/4/2017 đã về Đồng Tâm và tận mắt chứng kiến người dân ở đây đối xử rất nhân đạo, rất tình người với 38 cán bộ và CSCĐ trong suốt 7 ngày “cực chẳng đã” này, song người dân vẫn rất trung thực và cao thượng thừa nhận và công khai xin lỗi chính quyền về việc họ bắt giữ người của nhà nước là trái pháp luật, mong chính quyền cư xử “thấu tình, đạt lý”, “đánh kẻ chạy đi chứ không đánh kẻ chạy lại”. Đây thật sự là một nghĩa cử cao đẹp của người dân, đáng để cho các quan chức chính quyền noi gương, xoi lại chính mình về cách đối xử hàng ngày với “thần dân” của họ! Ông có đồng tình với ý kiến này không, thưa ông Quốc?

       Trở lại vụ khởi tố Đồng Tâm, xin nhắc lại, người viết bài này chưa kết luận chính quyền bội ước hay lật lọng, nhưng khẳng định quyết định khởi tố này là vội vàng, thiếu khôn ngoan, không thấu tình đạt lý, và là một sai lầm chính trị tồi tệ, có thể sẽ phải trả giá! Nếu thực sự thượng tôn pháp luật và muốn bảo vệ tính nghiêm minh của nó như lâu nay họ nói, thay vì vội vàng khởi tố hình sự vụ này, CAHN nên đợi công bố kết luận thanh tra đã, rồi ra quyết định khởi tố vụ bắt giam trái pháp luật 4 người dân Đồng Tâm trước, tiếp đến tuyên bố khởi tố bị can đối với 4 quan chức đã đánh đập, gây thương tích nặng nề cho cụ Lê Đình Kình! Rồi sau đó hãy tính đến chuyện khởi tố vụ án này sau! Như thế mới có thể nói là kín kẽ, khôn ngoan và phải đạo!

        Người dân có lý khi đặt nghi vấn về việc hơn 2 tháng đã qua, cam kết thứ 3 (“Cam kết chỉ đạo điều tra, xác minh việc bắt và gây thương tích cho cụ Lê Đình Kình, xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật”) sao không thấy ai thực hiện? Việc bắt người trái pháp luật và đánh dập dã man cụ Kình chính là nguồn cơn và nguyên nhân gốc khiến người dân Đồng Tâm buộc phải có hành động tương thích là bắt giữ 38 CSCĐ để đòi chính quyền thả cụ Kình và 4 người dân bị bắt trái pháp luật sáng 15/4/2017! Hai việc trên, một việc không đáng làm thì người ta làm rất nhanh chóng, còn việc cần làm và đáng làm thì chẳng có ai thiết làm! Sao lại có điều trái khoáy, ngược đời như vậy?!

        Nhưng đây chưa phải là căn nguyên, nguồn gốc của sự việc. Theo thiển ý của người viết bài này, trong “Cam kết 3 điểm” thì cam kết thứ nhất mới là cam kết quan trọng hơn hết, là mấu chốt của vấn đề! Đây cũng chính là đòi hỏi chủ yếu mà nhiều năm qua, người dân Đồng Tâm đội đơn khiếu kiện khắp nơi, nhưng chẳng cấp chính quyền nào đoái hoài giải quyết! Tôi tin chắc nhiều “ông to, bà lớn” thừa hiểu cam kết 1 là nằm trong phạm vi quyền hạn của Chủ tịch Thành phố Nguyễn Đức Chung. Nếu để ông Chung thực thi quyền hạn nghiêm túc, thì chắc chắn sẽ xới tung nhiều vấn đề hệ trọng mà xưa nay người ta cố tình dấu diếm! Chính đây là lý do mà các nhóm lợi ích đã và đang tìm cách ngăn cản ông Chung thực hiện cam kết này! Cam kết đó cụ thể như sau:Trực tiếp kiểm tra đoàn thanh tra, chỉ đạo sát sao, làm đúng sự thực khách quan và đúng pháp luật, khu vực đất Đồng Sênh rõ ràng đâu là đất quốc phòng, đâu là đất nông nghiệp. Không mập mờ, đảm bảo đúng quyền lợi cho nhân dân Đồng Tâm theo quy định của pháp luật”. Theo luật, hạn công bố kết luận thanh tra đã quá 14 ngày, nhưng Tp.Hà Nội lại trì hoãn việc công bố, mặc dù đã hoàn tất công việc thanh tra. Phải chăng đây là kế hoãn binh nhằm có thêm thời gian để cân đối quyền lợi và dàn xếp nội bộ giữa các nhóm lợi ích với nhau? Theo nhiều luật sư hỗ trợ pháp lý cho người dân Đồng Tâm, nếu thực sự công tâm và tôn trọng sự thực khách quan, đồng thời chỉ tuân thủ pháp luật và không chịu sức ép của bất cứ ai, không sợ động chạm đến bất cứ tập đoàn lợi ích nào, thì Thanh tra Tp.Hà Nội sẽ có thể khui ra những sai phạm tày đình trong việc giao đất, sử dụng đất, chuyển giao đất cũng như nguồn gốc đất của địa phương này trong trên nửa thế kỷ qua! Người viết bài này chỉ sơ bộ đề cập về trách nhiệm của 3 cấp chính quyền liên quan mà Thanh tra HN sẽ phải làm rõ:

     1/. Trách nhiệm của Chính phủ: Sau khi thu hồi 208ha đất nông nghiệp của 4 xã, trong đó có xã Đồng Tâm, để giao cho BQP năm 1980, nhưng BQP không sử dụng đến, cứ để hoang hóa suốt 37 năm qua, trong khi người dân thiếu đất canh tác, sao Chính phủ không thu hồi để trả lại cho người dân sản xuất?

     2/. Trách nhiệm của Bộ Quốc phòng: Sau khi không thể mở rộng sân bay Miếu Môn, lẽ ra BQP phải báo cáo Chính phủ và trả lại 208ha đất cho người dân trồng cấy. Nhưng BQP không làm thế, cứ “ôm” không số đất này, gần đây lại chuyển giao lòng vòng trong nội bộ quân đội, dùng vào nhiều mục đích khác nhau, kể cả dùng vào việc làm ăn kinh tế. Có việc “phát canh thu tô” của các đơn vị quân đội được giao quản lý số đất này không? Cách đây hơn 2 năm, ngày 27/3/2015, Bộ Tổng Tham mưu (chứ không phải là BQP) ra quyết định thu hồi 50,3ha trong số 208ha đất trên giao cho Quân chủng PK-KQ để đơn vị này lại giao tiếp cho Viettel. Việc thu hồi và giao 50,3ha đất trên, rồi tùy tiện chuyển đổi mục đích sử dụng, có vi phạm Luật Đất đai 2013? Còn về công trình A1, đây là công trình quân sự hay kinh tế, đang xây dựng trên đất nào, có giấy tờ hợp pháp không? Nếu đây là công trình quân sự, tại sao lại giao cho Viettel mà không giao cho Bộ Tư lệnh Thông tin-Liên lạc? Vấn đề này nhất thiết phải làm rõ!

     3/. Trách nhiệm của Thành phố Hà Nội:  Năm 2014, Hà Nội tiến hành đo lại diện tích đất trên thì thấy diện tích này là 236,7ha chứ không phải là 208ha! Như vậy BQP nhận dôi ra 28,7ha! Diện tích đất “dôi ra” này được quản lý và sử dụng ra sao, Thanh tra Hà Nội phải làm rõ! Vấn đề mấu chốt nữa là Tp.Hà Nội phải kết luận vấn đề sau: Xã Đồng Tâm có 47,36ha đất nằm trong số 208ha mà Chính phủ thu hồi năm 1980. Việc Tập đoàn Viettel sử dụng 47,36ha đất này thì không sao, người dân Đồng Tâm không thắc mắc. Nhưng cớ sao Viettel lại chiếm thêm 59ha vốn là đất nông nghiệp của xã Đồng Tâm mà người dân đã và đang sản xuất ổn định từ những năm 1950’s đến nay? Đây chính là nguyên nhân tranh chấp không hồi kết giữa người dân Đồng Tâm và Tập đoàn Viettel trong suốt mấy năm qua. Người dân khẳng định huyện Mỹ Đức và Viettel liên kết với nhau để “cướp trắng” 59ha đất của họ! Nếu quả có việc cướp đất, thì đây là việc rất hệ trọng! Thanh tra Hà Nội không thể lẩn tránh, phải có kết luận rõ ràng! Hai việc nổi cộm này (59ha đất “bị cướp” và 28,7ha đất “dôi ra”), Tp.Hà Nội phải có kết luận trung thực, khách quan, đúng thực tế thì mới có thể làm yên lòng người dân!

        Mọi quốc gia và chính thể xưa nay trên thế giới, dù theo học thuyết hay mô hình xã hội nào, nếu thực sự vì dân, đặt lợi ích dân tộc, quyền lợi quốc gia lên trên hết, bao giờ họ cũng lấy chính sách an dân làm trọng! Một khi lòng dân có yên thì đất nước mới phát triển, xã hội mới an bình. Người dân Việt Nam ta, từ đứa trẻ lên 3 đến cụ già trăm tuổi, ai mà không biết câu “Một sự bất tín, vạn sự bất tin!”. Đúng vậy, có lòng tin là có tất cả, mất lòng tin là mất sạch! Đẩy thuyền là do dân, và lật thuyền cũng do dân! Tôi muốn trân trọng chuyển đến chính quyền Thành phố Hà Nội và các cơ quan liên đới khác trong biến cố Đồng Tâm câu răn dạy trên của cha ông ta để quý vị ứng xử với nhân dân sao cho phải đạo! Một chính thể không có lòng tin nơi dân chúng, chính thể đó không có lý do để tồn tại. Chữ TÍN luôn luôn phải bảo toàn, xin quý vị nhớ cho!

   

                                                                                                        Hà Nội, ngày 4/7/2017.
N.Đ.Q      

Phần nhận xét hiển thị trên trang