03/07/2017 - PGS - TS Ngô Trí Long – nguyên Viện trưởng của Học viện Tài chính cảnh báo, “sẽ khó kiểm soát lạm phát nếu kích thích tăng trưởng không phù hợp”. Công tác điều hành giá luôn chủ động, cơ quan quản lý giá và các bộ, ngành, địa phương tăng cường bình ổn giá, góp phần giữ cho giá cả thị trường không xảy ra biến động. Nhưng xu hướng giảm của lạm phát từ đầu năm đến nay là khá bất ngờ.
Hiện tượng bất thường của CPI thể hiện nhiều
lo ngại của nền kinh tế về ổn định vĩ mô
Nỗi lo lớn khi giá giảm mạnh
Theo Tổng cục Thống kê, tính trung bình 6 tháng đầu năm 2017, lạm phát đang ở mức 4,15%. “Điều đáng nói là mức lạm phát 4,15% này không phản ánh chính xác nhiệt độ của nền kinh tế vào thời điểm hiện nay”, theo TS. Nguyễn Đức Độ - Phó viện trưởng Viện Kinh tế Tài chính. Bởi nếu loại trừ tác động do các cuộc điều chỉnh giá dịch vụ y tế bằng biện pháp hành chính thì lạm phát trong 6 tháng đầu năm 2017 đã ở mức âm, trong đó có 4 tháng âm liên tiếp (từ tháng 3 đến tháng 6).
TS. Nguyễn Ngọc Tuyến – nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế tài chính chỉ ra sự khác biệt của CPI 6 tháng vừa qua có xu hướng giảm liên tiếp và “đây là hiện tượng bất thường”, so với xu hướng các năm trước là tăng dần hoặc ngang bằng với mức tăng của tháng trước.
Hiện tượng bất thường của CPI thể hiện nhiều lo ngại lớn của nền kinh tế về ổn định vĩ mô về sinh kế người dân và về sự phụ thuộc kinh tế.
Ông Tuyến chỉ ra rằng yếu tố tác động lớn nhất làm cho chỉ số giá tiêu dùng giảm suốt những tháng qua là giá thịt lợn giảm mạnh từ 50.000 – 60.000 đồng/kg xuống còn khoảng 20.000 đồng/kg do lượng xuất sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh và có lúc dừng nhập khẩu. Giá rau, củ, quả cũng giảm liên tục đã tác động không nhỏ tới mức giảm của CPI.
Cũng như ông Tuyến, PGS - TS Ngô Trí Long – nguyên Viện trưởng của Học viện Tài chính lưu ý nguyên nhân gây nên xu hướng giảm giá là giá thực phẩm giảm mạnh do ế thừa thịt lợn vì Trung Quốc đã cấm nhập khẩu theo đường tiểu ngạch. “Đây lại là nỗi lo cho người chăn nuôi khi mà giá thịt lợn rớt thảm trong những tháng đầu năm đã đẩy không ít người chăn nuôi lâm vào cảnh khó khăn; buộc các cơ quan chức năng phải ra tay giải cứu”, ông Long phát biểu. Sau lợn, gần đây theo phản ánh của nhiều cơ quan báo chí giá trứng gà cũng đang sụt giảm mạnh. “Lạm phát giảm mạnh không phải là điều đáng mừng và không bền vững”, ông Long nói.
“Kinh tế Việt Nam, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển còn nặng về bị động, tự phát và phụ thuộc quá nhiều vào thị trường Trung Quốc. Khi Trung Quốc không nhập hàng nữa là ế thừa và giá hàng bị giảm sút nghiêm trọng thường xuyên xảy ra nhưng cho tới nay vẫn chưa có những biện pháp hữu hiệu để khắc phục”, theo ông Tuyến.
Tăng trưởng 6,7%, lạm phát 4% - khó đạt được cả hai
Trong những phân tích về tình hình giá cả 6 tháng qua, dường như ông Tuyến có phần phê phán: Hệ thống thị trường và quản lý thị trường yếu kém. Các cơ quan có trách nhiệm về hoạch định chính sách cũng như quản lý thị trường không bám sát diễn biến của thị trường, không dự báo được nhu cầu và kịp thời cảnh báo cho khu vực sản xuất điều chỉnh về sản lượng sản xuất làm cho mức dư thừa sản lượng quá lớn.
Ngoài ra, công tác quản lý, định hướng thị trường cũng gần như bất lực trước diễn biến của giá cả, tạo bất bình đẳng lớn giữa khâu sản xuất và thương mại. Thể hiện rõ nhất là ở khu vực sản xuất giá đã giảm rất lớn, thậm chí là bán dưới giá vốn nhưng khu vực thương mại (trong siêu thị và các chợ) vẫn bán với giá rất cao đã tác động làm cho khủng hoảng dư thừa thêm nặng nề và kéo dài.
PGS-TS Ngô Trí Long cho rằng: “Xu hướng giảm của lạm phát từ đầu năm đến nay là khá bất ngờ, trái ngược với dự báo của nhiều cơ quan chức năng và các chuyên gia kinh tế trước đó”. Bởi lẽ, sau khi đạt mức tăng thấp kỷ lục 0,63% vào năm 2015, CPI đã liên tục duy trì xu hướng tăng trong cả năm 2016 và kết thúc năm ở mức 4,74%. Bước sang năm 2017, chỉ số CPI được dự báo là sẽ phải đối mặt nhiều yếu tố bất lợi như diễn biến tăng của giá dầu mỏ hay xu hướng tăng giá của các loại hàng hóa cơ bản trên thế giới, cùng với kế hoạch điều chỉnh giá các mặt hàng và dịch vụ do Nhà nước quản lý như y tế, giáo dục, điện, nước sinh hoạt.
“Cần thận trọng với diễn biến lạm phát, khi mà áp lực lạm phát vẫn đang rất lớn vì vẫn còn có nhiều yếu tố đang gây bất lợi cho CPI”, theo ông Long. Giá thịt lợn đã và đang ở vùng giá thấp nhất, người chăn nuôi sẽ bị lỗ và sẽ không có hiện tượng tái đàn, nguồn cung trong thời gian tới sẽ giảm nhiều, xu hướng tăng giá trở lại sẽ là tất yếu. Bên cạnh đó là tác động từ việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế trong thời gian tới.
Và áp lực lên lạm phát lớn đến ngay từ quyết tâm đạt mục tiêu tăng trưởng 6,7%, theo như ý ông Long muốn nói. Ông cho rằng để đạt mục tiêu nhiều khả năng các chính sách sẽ thiên về xu hướng nới lỏng. Có thể Chính phủ sẽ chấp nhận nới lỏng chính sách tiền tệ ở mức độ vừa phải để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng thì tiền sẽ được bơm ra nhiều hơn để các doanh nghiệp có cơ hội gia tăng khối lượng sản xuất hàng hóa và dịch vụ.
Ông Long cảnh báo, “sẽ khó kiểm soát lạm phát nếu kích thích tăng trưởng không phù hợp”. Chưa kể giá dầu thì biến động khó lường và nếu Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục tăng lãi suất, sẽ tạo ra sức ép về tỷ giá khá lớn cho Việt Nam cũng như sức ép lên lạm phát. Bên cạnh đó là lộ trình điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý.
“Theo quan điểm cá nhân tôi, phải rất nỗ lực và có những giải pháp hợp lý mới có thể cùng lúc đạt được 2 mục tiêu: tăng trưởng 6,7% và lạm phát 4%. Bởi mục tiêu tăng trưởng 6,7% vẫn là thách thức”, ông Long nói.
Theo ông, tăng trưởng kinh tế sẽ có nhiều khởi sắc khi môi trường đầu tư kinh doanh cải thiện thúc đẩy khu vực sản xuất trong nước nhưng mục tiêu tăng trưởng 6,7% vẫn là một ngưỡng cao khó để nền kinh tế Việt Nam có thể vươn tới khi nhiều khó khăn nội tại (trong khu vực công nghiệp, nông nghiệp) vẫn còn hiện hữu. Động lực tăng trưởng truyền thống như vốn, xuất khẩu và dựa vào khu vực công nghiệp đã không còn nhiều dư địa.
Bên cạnh đó những bất ổn trong nền kinh tế và tình trạng dư thừa năng lực sản xuất ở Trung Quốc có thể làm giảm nhu cầu nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam và tăng xuất khẩu hàng hóa của Trung Quốc sang Việt Nam có thể dẫn đến những rủi ro lớn đối với Việt Nam nếu tiếp nhận những nhà máy, máy móc, thiết bị, công nghệ lạc hậu, tiêu hao nhiều nguyên vật liệu, không thân thiện với môi trường thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài hay dưới hình thức ODA.
Dự báo sản xuất kinh doanh sẽ được đẩy mạnh hơn khi bước vào chu kỳ sản xuất cuối năm, nhưng tăng trưởng kinh tế quý II có thể ở mức 5,6%; quý III ở mức 6,4%; quý IV ở mức 7,1% và cả năm chỉ có thể là 6,2%, ông Long dự báo.
“Chính phủ không nên dùng chính sách tài khóa để kích cầu, dùng chính sách này sẽ kèm theo không ít rủi ro, gây áp lực lớn cho mục tiêu kiểm soát lạm phát. Để kinh tế có thể đạt được mức tăng trưởng bền vững, giải pháp tổng lực và quan trọng nhất là đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế, tập trung vào những giải pháp mang tính dài hạn như: nâng cao hiệu quả hoạt động của DN nhà nước, xử lý nợ xấu…”, ông Long khuyến nghị.
Khi Tập Cận Bình chuẩn bị gặp Donald Trump ở Florida vào tuần tới, các nhân viên của ông rất có thể sẽ muốn có một bản bông của cuốn sách quan trọng mới của Graham Allison về quan hệ Mỹ-Trung mang một nhan đề u ám: Destined for War (“Định mệnh chiến tranh”).
Vị chủ tịch Trung Quốc đã quen thuộc với các tác phẩm của Allison, một giáo sư ngành quản trị chính quyền tại Đại học Harvard. Tháng 11 năm 2013, tôi tham dự một cuộc họp với Chủ tịch Tập tại Đại lễ đường Nhân dân Bắc Kinh, nơi ông Tập nói với một nhóm khách người phương Tây rằng “Tất cả chúng ta đều phải cùng nỗ lực để tránh bẫy Thucydides.”
Tàu khu trục Trung Quốc
Cụm từ “bẫy Thucydides,” nhắc đến những quan sát của một sử gia Hy Lạp cổ đại về cuộc chiến giữa thành Sparta và thành Athens vào thế kỷ 5 trước công nguyên, được Allison đặt ra để diễn tả những mối nguy hiểm trong thời kỳ mà một cường quốc lâu năm bị thách thức bởi một quyền lực mới đang lên. Allsion, tác giả của một nghiên cứu kinh điển về cuộc khủng hoảng tên lửa Cuba, đã tính toán rằng trong 16 trường hợp như vậy thì có 12 trường hợp đối đầu kết thúc bằng một cuộc xung đột công khai. Ông lập luận rằng thời nay tình hình có thể không khác: “Trung Quốc và Mỹ hiện đang trên đà đến chiến tranh – trừ khi hai bên chịu chấp nhận những hành động khó khăn và đau đớn để ngăn chặn điều đó.”
Tại Harvard, Allison và các đồng nghiệp của ông đã thực hiện một dự án nghiên cứu nhiều trường hợp mà “sự trỗi dậy của một nước lớn đã phá vỡ vị thế của một đất nước thống trị,” và kết luận rằng “căng thẳng cấu trúc kéo theo đã khiến đụng độ bạo lực trở thành quy luật thay vì ngoại lệ.” Trong cuốn sách mới của ông, chỉ có hai trong số các ví dụ lịch sử này được nghiên cứu tương đối chi tiết – cuộc đụng độ nguyên thủy giữa Athens và Sparta, và cuộc đối đầu Anh-Đức trước Thế chiến I (đây cũng là mối bận tâm của Henry Kissinger).
Trong 10 trường hợp mà Allison xem xét ngắn gọn hơn, có một vài trường hợp khá hấp dẫn trong vai trò như những chỉ dẫn cho tương lai, những trường hợp còn lại thì ít thuyết phục hơn. Tương đồng nhất với tình hình hiện tại có lẽ là sự thách thức của Nhật Bản đối với sự thống trị của Mỹ và Anh ở Thái Bình Dương vào nửa đầu thế kỷ 20 – cuộc đối đầu đã lên đến đỉnh điểm là chiến tranh. Vai trò của sức mạnh hải quân trong trận giao tranh đó, cũng như cách thức mà cuộc đối đầu kinh tế trở thành xung đột vũ trang, đều gợi nhắc một cách không mấy thoải mái về sự gia tăng những căng thẳng giữa Mỹ và Trung Quốc ngày nay.
Nhưng một số trường hợp tương đồng khác mà Allison đưa ra lại có vẻ ít phù hợp hơn với mô hình bẫy Thucydides. Rõ ràng là Chiến tranh Lạnh không thể được hiểu một cách thấu đáo nhất như một cuộc đối đầu giữa một cường quốc mới nổi và một cường quốc lâu năm. Thay vào đó, Mỹ và Liên Xô đều là những bên thắng cuộc trong Thế chiến II, và đã thiết lập các hệ thống ý thức hệ đối đầu và các vùng ảnh hưởng trong một hệ thống lưỡng cực.
Chiến tranh Lạnh cũng là một trong hai cuộc đối đầu duy nhất diễn ra sau khi vũ khí hạt nhân được phát minh mà Allison xem xét. Việc cả hai cuộc biến chuyển quyền lực trong thời kỳ hạt nhân (cuộc biến chuyển còn lại là sự trỗi dậy của nước Đức thống nhất) đều không chấm dứt bằng chiến tranh đã đặt ra một câu hỏi rõ ràng là có phải vũ khí hạt nhân đã đặt dấu chấm hết cho bẫy Thucydides, bằng cách khiến chiến tranh giữa một đất nước mới nổi với một cường quốc lâu năm trở nên nguy hiểm không thể tưởng tượng được. Đây là câu hỏi mà Allison đã cân nhắc nhưng chưa thể đưa ra được một đáp án thỏa đáng.
Hầu hết các học giả và các nhà quân sự theo dõi sát sao cách thức chiến tranh Mỹ-Trung có thể bùng nổ trên thực tế đều có xu hướng lập luận rằng trong thời đại hạt nhân, nhiều khả năng cả hai bên đều không có chủ ý muốn phát động chiến tranh. Tuy nhiên, một cuộc đụng độ hạn chế, có lẽ ở Biển Đông, có thể sẽ dễ dàng leo thang thành một vấn đề nghiêm trọng hơn. Trong lời mở đầu ngắn gọn được viết sau khi Donald Trump đắc cử, Allison lập luận rằng “Nếu Hollywood làm phim về chủ đề Trung Quốc đối đầu với Mỹ thì không có diễn viên chính nào phù hợp hơn Tập Cận Bình và Donald Trump. Cả hai đều là hiện thân của những khát khao sâu sắc về sự vĩ đại dân tộc của hai đất nước.” Nguy hiểm hơn là cả hai đều “xác định đất nước mà người còn lại cai trị là trở ngại chính đối với giấc mộng của họ.”
Tuy nhiên, một khác biệt lớn có lẽ là việc tầm nhìn “đại phục hưng dân tộc Trung Quốc” của Tập có vẻ được thiết kế đầy đủ hơn tầm nhìn của tân tổng thống Mỹ. Như nhà báo và học giả Howard French nói về nó trong cuốn Everything Under the Heavens (“Mọi thứ trong thiên hạ”), nhà lãnh đạo Trung Quốc về cơ bản là đang tìm cách đưa đất nước của mình trở lại vị thế mà trong lịch sử nó từng được hưởng ở châu Á – như một cường quốc thống trị trong khu vực mà các nước khác phải phục tùng hoặc cống nạp. “Trong gần hai thiên niên kỷ, theo quan điểm của mình, lẽ thường đối với Trung Quốc là quyền lực thống trị tự nhiên của họ đối với mọi thứ trong thiên hạ,” French viết. Trên thực tế, điều này có nghĩa là “một phạm vi địa lý rộng lớn và quen thuộc bao gồm các vùng Trung Á, Đông Nam Á, và Nam Á lân cận.”
Tham vọng truyền thống này của Trung Quốc đã bị xếp xó gần hai thế kỷ. Từ giữa thế kỷ 19, Trung Quốc đã bị các thế lực bên ngoài làm nhục – đầu tiên là các đế quốc châu Âu và sau đó là quân Nhật xâm lược. Sau chiến thắng của phe cộng sản năm 1949, nước này trải qua một thời kỳ bị cô lập về văn hóa và kinh tế và tương đối đói nghèo. Đến cuối những năm 1970, khi Trung Quốc thay đổi đường lối và chấp nhận chủ nghĩa tư bản và đầu tư nước ngoài, nó đã bị tụt hậu khá xa so với các “con hổ kinh tế” của Đông Á. Trong giai đoạn bắt kịp các nền kinh tế này, Trung Quốc đã theo đuổi các mối quan hệ thân thiện với các láng giềng tư bản chủ nghĩa – bao gồm cả Nhật Bản, cựu thù thời chiến của mình. Các nước láng giềng châu Á này là nguồn chuyên gia và nguồn đầu tư nước ngoài quan trọng đối với một đất nước đang tuyệt vọng tìm cách bù đắp khoảng thời gian đã mất. Nhưng French, như nhiều nhà quan sát khác, đã nhìn ra được sự thay đổi thái độ và giọng điệu trong mối quan hệ của Trung Quốc với thế giới bên ngoài kể từ khi ông Tập lên nắm quyền vào năm 2012.
Thực ra, mục tiêu chính của sự lên gân và tham vọng của Trung Quốc không phải Hoa Kỳ mà là Nhật Bản. “Khi lòng tự trọng của Trung Quốc dâng lên, cùng với sức mạnh mới có, Nhật Bản đã trở lại thành hồng tâm trong con mắt Trung Quốc,” French viết. Hầu hết mối hận thù Nhật Bản của Trung Quốc đều tập trung vào cuộc xâm lược và chiếm đóng của người Nhật trong những năm 1930. Nhưng, như French đã làm rõ, mối hận thù này đã bắt nguồn từ thế kỷ 19. Trong một trong những phần thuyết phục nhất của cuốn sách uyển chuyển và thú vị này, French đã cho thấy tầm quan trọng của việc Nhật Bản sáp nhập quần đảo Ryukyu năm 1879. Ngày nay, quần đảo này vẫn giữ được tầm quan trọng do nó bao gồm đảo Okinawa – nơi đặt căn cứ quân sự lớn nhất của Mỹ ở Đông Á. Trọng tâm của các tranh chấp lãnh thổ giữa Nhật Bản và Trung Quốc là một quần đảo nhỏ hơn rất nhiều mà Nhật Bản gọi là Sensaku còn Trung Quốc gọi là Điếu Ngư. Nhưng đọc sách của French, người ta không thể không tự hỏi liệu tham vọng cuối cùng của Trung Quốc có bao gồm cả Okinawa hay không.
Quan hệ đồng minh thân cận của Mỹ với Nhật Bản đồng nghĩa với việc nó có mối liên quan sâu sắc trong những căng thẳng đang lên giữa Trung Quốc và Nhật Bản. Một số nhà dân tộc chủ nghĩa Trung Quốc có thể sẽ hy vọng rằng Mỹ cuối cùng sẽ rút khỏi Tây Thái Bình Dương và cho Trung Quốc một con đường thênh thang để khôi phục khu vực ảnh hưởng truyền thống. Tuy nhiên, rất có thể họ sẽ phải thất vọng. Như Michael Green nhận xét trong cuốn By More Than Providence (“Hơn cả bởi ý Chúa”), “Nếu có chủ đề trọng tâm nào trong văn hóa chiến lược của Mỹ mà nó áp đặt vào vùng Viễn Đông theo thời gian thì đó chính là Mỹ sẽ không dung thứ cho bất cứ quyền lực nào thiết lập sự kiểm soát bá quyền độc quyền ở châu Á và Thái Bình Dương.” Thông điệp không thể rõ ràng hơn cho Trung Quốc của Tập.
Green, hiện là nghiên cứu viên tại Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) ở Washington, nói rằng ý tưởng viết ra một lịch sử của “đại chiến lược” của Mỹ trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, từ những ngày đầu thành lập nền cộng hòa cho đến ngày nay, đến với ông từ khi ông còn là giám đốc các vấn đề châu Á trong Nhà Trắng của George W. Bush – và nhận ra vẫn chưa có nghiên cứu nào mới đây về nó. Trở về với thế giới học thuật, Green bắt đầu lấp đầy khoảng trống trong văn liệu này và đã giành được thành công vẻ vang. Cuốn sách của ông rất có thể sẽ trở thành tác phẩm chuẩn mực về chủ đề này.
Với hơn 130 trang cước chú, By More than Providence là một cuốn nặng ký. Nhưng câu chuyện về vướng mắc của Mỹ với châu Á rất kịch tính – bao gồm quá trình thực dân hóa Philippines, Trân Châu Cảng, các cuộc chiến ở bán đảo Triều Tiên và Việt Nam, và việc “mở cửa với Trung Quốc” của Nixon. Cùng với việc đưa ra một câu chuyện rõ ràng, Green xác định một số tình thế lưỡng nan tái diễn trong đại chiến lược của Mỹ qua nhiều thế kỷ. Chúng bao gồm việc nên xem Trung Quốc hay Nhật Bản là đồng minh quan trọng hơn; và nên chú trọng việc bảo hộ các thị trường của Mỹ hay là việc mở cửa các thị trường châu Á.
Một trong những động thái đầu tiên của Trump kể từ khi trở thành tổng thống là nghiêng hẳn về đường lối bảo hộ chủ nghĩa, bằng cách rút Hoa Kỳ khỏi Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, một hiệp ước thương mại khổng lồ mới được xúc tiến bởi cả chính quyền Bush và Obama. Green đã viết xong cuốn sách trước khi Trump đắc cử. Song tác phẩm của ông đã gợi ý Hoa Kỳ sẽ có thể phải hối tiếc vì động thái nghiêng về đường lối bảo hộ này. “Khi các chính quyền mới của Hoa Kỳ không biến việc mở rộng thương mại thành một trụ cột trong cách tiếp cận chiến lược với châu Á,” ông viết, “thì chắc chắn họ sẽ luôn luôn thất thế.”
Có người xem chủ nghĩa bảo hộ của Trump là một phần trong xu hướng hướng đến chủ nghĩa biệt lập lớn hơn. Nhưng lịch sử của Green cho thấy Hoa Kỳ khó có khả năng rút khỏi Tây Thái Bình Dương. Ông xác định một trong những thế lưỡng nan tái diễn của Hoa Kỳ là việc xác định “tuyến phòng ngự tiền duyên” của Mỹ nằm ở đâu. Green nhận xét rằng để giải quyết các thế lưỡng nan liên tiếp về an ninh, Hoa Kỳ có xu hướng mở rộng khu vực mà họ cho là tối quan trọng đối với an ninh của mình, vì vậy khu vực này đã trải dài đến tận bán đảo Triều Tiên và Biển Đông. “Qua tiến trình lịch sử này,” ông viết, “Hoa Kỳ đã nhận ra là Thái Bình Dương sẽ không mang lại lợi thế phòng thủ trước các mối đe dọa đến từ trung tâm lục địa Á-Âu nếu Mỹ không duy trì phòng tuyến ở Tây Thái Bình Dương.” Quả thật, Hoa Kỳ đang ngày càng tập trung cao độ vào châu Á trong khi Trung Quốc trỗi dậy. Barack Obama là vị tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tuyên bố rằng châu Á – chứ không phải châu Âu hay châu Mỹ – mới là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ hiện nay.
Tuyên bố của Obama phản ánh việc Hoa Kỳ tăng cường cảnh giác đối với tầm quan trọng của sự trỗi dậy của Trung Quốc – và những ý nghĩa của nó đối với sự thống trị trật tự thế giới truyền thống của phương Tây. Các cuốn sách của Green, Allison, và French chỉ là ba ví dụ quan trọng nhất trong một dòng đầu sách mới đề cập đến những tham vọng của một Trung Quốc đang trỗi dậy, và những căng thẳng đang gia tăng giữa Bắc Kinh và Washington.
Cuốn China’s Asian Dream (“Giấc mộng châu Á của Trung Quốc”) của Tom Miller là một tác phẩm sống động, và cũng như cuốn của French, nó lập luận rằng Tập có ý định đưa đất nước trở lại “cái mà ông ta xem là vị thế lịch sử, tự nhiên, và xứng đáng là quyền lực lớn nhất ở châu Á.” Miller, một nhà phân tích và nhà báo, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của sự phát triển cơ sở hạ tầng do Trung Quốc đầu tư trong việc hiện thực hóa tham vọng này, do nó “tạo ra một hệ thống triều cống hiện đại, mọi con đường đều dẫn về Bắc Kinh, theo nghĩa đen.”
Trái lại, cuốn China’s Quest for Great Power (“Cuộc truy cầu quyền lực lớn của Trung Quốc”) của Bernard Cole tập trung vào một khía cạnh khác trong sự phát triển thành một chủ thể toàn cầu của Bắc Kinh – ở đây là sự phát triển nhanh chóng sức mạnh hải quân, một phần như một phương tiện để đảm bảo Trung Quốc tiếp cận được các nguồn cung năng lượng nước ngoài cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế. Cả hai chủ đề đều mang tiếng vọng của một số cuộc xung đột mà Allison đã xem xét. Sự tăng cường đối đầu hải quân giữa Anh và Đức là một đặc điểm chính của những căng thẳng diễn ra trước khi Thế chiến I bùng nổ. Tương tự, nỗi sợ bị phong tỏa nguồn cung năng lượng của Nhật Bản đã góp phần tạo ra những sự đối đầu cuối cùng dẫn đến cuộc tấn công của hải quân đế quốc Nhật Bản vào Trân Châu Cảng.
Tuy nhiên, có một phản biện quan trọng cần cân nhắc. Một số học giả tin rằng những tham vọng của Trung Quốc hiện đại – được French, Cole, và Miller vạch ra theo các cách khác nhau – cuối cùng vẫn có thể bị cản trở bởi các điểm yếu nội tại trong hệ thống kinh tế và chính trị Trung Quốc. Một người hoài nghi đáng chú ý về khả năng Trung Quốc đạt được vị thế cường quốc là nhà khoa học chính trị David Shambaugh, người lập luận trong một cuốn sách năm 2014 rằng Trung Quốc rất có thể vẫn chỉ là một “quyền lực một phần.” Giáo sư sử học và nhà nghiên cứu Michael Auslin cũng bày tỏ sự hoài nghi tương tự. Cuốn The End of the Asian Century(“Sự kết thúc của thế kỷ châu Á”) của ông là sự điều chỉnh hữu ích cho sự lạc quan thiếu suy xét về tương lai của châu Á nói chung và Trung Quốc nói riêng. Cuốn sách bắt đầu bằng cảnh tác giả đứng trong một trong số nhiều đường hầm mà Triều Tiên đã đào xuyên vào nước láng giềng phương Nam. Đó là nơi thích hợp để suy ngẫm về các nguy cơ mà chiến tranh có thể hủy hoại sự thịnh vượng và ổn định của phần lớn châu Á hiện đại.
Quan điểm khác biệt của Trung Quốc và Mỹ trong việc giải quyết mối đe dọa hạt nhân của Triều Tiên nhiều khả năng sẽ là chủ đề chính trong cuộc gặp cấp cao diễn ra tuần tới tại khu nghỉ dưỡng Mar-a-Lago của Trump ở Florida. Hoa Kỳ – vốn có sự hiện diện quân sự lớn tại Hàn Quốc và từng đe dọa sẽ tấn công phủ đầu vào chương trình hạt nhân của Bắc Hàn – tất yếu sẽ tham gia vào bất kỳ cuộc chiến nào nổ ra trên bán đảo này. Rất có thể Trung Quốc, một đồng minh hiệp ước chính thức của Triều Tiên, cũng sẽ bị cuốn vào.
Các cuốn sách được điểm trên đây về cơ bản đều được hoàn thành trước khi Trump yên vị trong Phòng Bầu dục. Kể từ đó, vị tổng thống mới đã gửi đi các thông điệp thiếu nhất quán về phương hướng chính sách của Hoa Kỳ tại châu Á. Có những lúc chính quyền Trump đã thể hiện dấu hiệu của một cách tiếp cận mang tính đối đầu hơn nhiều với Trung Quốc – ví dụ như về vấn đề Đài Loan hay Biển Đông. Nhưng những lúc khác Trump và các thành viên nội các của ông lại đi theo một lập trường hòa hoãn hơn. Cuộc gặp của Trump với ông Tập có thể sẽ đem lại một chỉ dấu quan trọng về việc liệu Hoa Kỳ và Trung Quốc có phải đang đi vào một mối quan hệ mang tính đối đầu và nguy hiểm hơn nhiều hay không.
Gideon Rachman, nhà bình luận ngoại giao chính của FT, là tác giả cuốn Easternization: Asia’s Rise and America’s Decline, From Obama to Trump and Beyond (Other Press, 2017).
Đây là bài điểm các cuốn: Destined For War: Can America and China Escape Thucydides’s Trap? by Graham Allison, Houghton Mifflin Harcourt, RRP$28, 320 pages; Everything Under The Heavens: How the Past Helps Shape China’s Push for Global Power, by Howard French, Scribe, RRP£20/Knopf, RRP$27.95, 352 pages; By More Than Providence: Grand Strategy and American Power in the Asia Pacific Since 1783, by Michael Green, Columbia University Press, RRP£38/$45, 760 pages; China’s Asian Dream: Empire Building along the New Silk Road, by Tom Miller, Zed Books, RRP£14.99/$24.95, 304 pages; China’s Quest for Great Power: Ships, Oil and Foreign Policy, by Bernard Cole, Naval Institute Press, RRP$34.95, 320 pages.
Giàu siêu tốc bằng đất, để lại gia sản cho con, văn hóa-đạo đức không lớn nhanh bằng đồng tiền...-một bức tranh về giới đại gia giàu siêu tốc tại Việt Nam. Dàn siêu xe của các đại gia nối đuôi nhau trên đường phố Đà Nẵng ở Car Passion 2011. Ảnh minh họa
"Phú nhị đại" ở Việt Nam Lý giải về việc Việt Nam có nhiều người giàu siêu tốc, ông Nguyễn Văn Đực, Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành cho rằng, trong khi tất cả những người sản xuất từ cái kim, sợi chỉ, con vít, xe ô tô... đều chìm trong khó khăn thì rất nhiều người giàu nhanh bằng đất.
Việt Nam có nhiều người trở thành đại gia nhờ sở hữu một khu đất vàng, đất kim cương không qua đấu thầu mà qua bán chỉ định, bán hóa giá...
"Nói về giàu siêu tốc chỉ có các đại gia bất động sản mà thôi. Không có ngành nghề nào có thể siêu giàu được ở Việt Nam bởi sản xuất của chúng ta không cạnh tranh lại với các nước xung quanh và trên thế giới do công nghệ lạc hậu, tay nghề kém, lãi suất ngân hàng rất cao.
Bởi giàu nhanh như vậy nên nhiều đại gia chơi hoang. Tất nhiên cũng có những đại gia rất tiết kiệm trong tiêu dùng cá nhân như ông Đoàn Nguyên Đức. Ông này chẳng dùng thứ gì cao cấp, trừ chiếc máy bay nhưng cuối cùng cũng đã bán.
Thế nhưng, thông thường thế hệ thứ hai mới là thế hệ xài sang nhiều. Chúng được cha mẹ nuông chiều, cho xài sang từ nhỏ. Vậy nên mới có những "sửu nhi" có hàng chục siêu xe, mỗi chiếc dăm mười tỷ đồng, cộng lại giá trị những chiếc siêu xe cũng lên đến cả trăm tỷ đồng", ông Nguyễn Văn Đực nói.
Theo Phó Giám đốc Công ty Địa ốc Đất Lành, đây cũng là nguyên nhân lý giải tại sao đại gia Việt Nam ít đóng góp cho xã hội mà chỉ chăm chăm giữ tài sản cho con cháu của mình.
Nó xuất phát từ truyền thống Đông Á "hy sinh đời bố, củng cố đời con". Người ta có thể làm giàu bằng mọi cách, kể cả những cách bất chính vô lương nhục nhã, để rồi cuối cùng số tiền ấy được dành cho con cháu họ.
"Quan niệm để lại sản nghiệp cho con quá nặng nề ở Trung Quốc, Việt Nam... Ở các nước phát triển, người ta rèn cho con tính tự lập từ nhỏ. Thế nên, mới có chuyện con của tổng giám đốc hay chủ tịch HĐQT khi vào công ty vẫn chỉ làm nhân viên quèn.
Ngược lại, ở Việt Nam, có những trường hợp con mới 1-2 tuổi đã giao thừa kế trong khi nhu cầu của bé là tình thương vui chơi và thức ăn, ra trường 1-2 năm đã cho làm phó tổng giám đốc, thành viên HĐQT, mà đứa con ấy không biết làm gì, thậm chí quậy phá nát uy tín công ty.
Bởi người ta quá nôn nóng muốn cho con kế vị một cách nhanh chóng nên đặt nó vào một vị trí quá lớn so với năng lực của nó. Rõ ràng, họ muốn công ty mình trở thành một đế chế và "con vua rồi lại làm vua" .
Tại sao ông ta không để lại tài sản đó cho ban quản trị điều hành và con trai có thể tham gia ban quản trị hay làm người bảo vệ, tùy năng lực của anh ta? Tài sản đó vẫn thuộc về đứa con nhưng anh ta không tham gia quản lý nếu trình độ chỉ là người bảo vệ", ông Nguyễn Văn Đực phân tích.
Ông dẫn chứng, Bill Gates để lại 99,95% tài sản cho từ thiện, còn con ông ta chỉ được 0,05% số tiền sản khổng lồ đó. Bill Gates cũng vận động hàng trăm tỷ phú Mỹ hiến tối thiểu 50% tài sản để làm từ thiện.
Nhưng ở Việt Nam không có ai làm được như vậy. Họ thường cất một ngôi trường, xây một ngôi chùa... nhưng chưa ai dám tuyên bố sẽ để lại cho xã hội 50% tài sản của mình. Họ dành hết tài sản cho con mình mặc dầu có những người giàu lên nhờ cướp tài nguyên, môi trường của đất nước.
Nhiều đại gia nước ngoài giàu lên một cách chân chính, phát triển sự giàu có của họ bằng tài năng, trí tuệ, tổ chức quản lý chứ không phải bằng cách kết nhóm lợi ích, chiếm đoạt, mua chuộc, giành giật…
Từ cách kiếm tiền đến sử dụng đồng tiền, đại gia Việt kém hơn nước ngoài rất nhiều, ông Nguyễn Văn Đực nhận xét.
Thiếu tự tin nên phải xài sang
Theo ông Đực, nước ngoài vẫn có chuyện người giàu khoe của nhưng đại gia thực sự không nghĩ đến tiền nữa. Họ chú ý đến sở thích hơn, và từ thiện cũng là một sở thích.
Theo đó, quan điểm làm từ thiện đã thay đổi. Trước đây, nhiều người nghĩ khi chết mới từ thiện nhưng thực tế nếu chết rồi, người ta đâu thể nhìn thấy mặt đứa bé hớn hở, vui tươi khi được cứu đói, hay ông già hồ hởi khi được cấp một căn nhà.
Vì thế, nhiều người nước ngoài giàu có làm từ thiện khi còn rất trẻ, còn đương chức đương quyền.
"Đó là việc mà những người siêu giàu ở Việt Nam nên học tập, từ cách kiếm tiền chân chính, có trí tuệ, có ích cho xã hội đến cách tiêu tiền, để giành tiền và cách truyền ngôi cho con như thế nào", ông Đực nhấn mạnh.
Ông cũng chỉ ra thực tế, nhiều người trẻ trên thế giới giàu rất nhanh nhưng họ giàu chân chính. Có những người giàu từ nhiều đời nên họ không chỉ giàu mà còn sang do văn hóa được dạy kỹ càng, chuẩn mực như một quý tộc.
Chính tinh thần hiệp sĩ tạo nên cho họ một phong cách phóng khoáng, nhân bản, vị tha, bao dung và yêu thương mọi người.
Trong khi đó, ở Việt Nam, khá nhiều trường hợp thành công không phải nhờ năng lực. Có những người học vị cao nhưng cũng có người học vấn thấp. Những người ấy giàu quá nhanh, đến mức văn hóa, đạo đức không trưởng thành bằng đồng tiền họ kiếm được.
Bởi thấp văn hóa nên tuy nhiều tiền của nhưng họ không tự tin và càng không tự tin thì càng phải đắp điếm bằng những thứ xa xỉ.
"Vì thế mới có hiện tượng một nhà siêu giàu ở tỉnh xa khi tổ chức đám cưới cho con đã bỏ hàng tỷ đồng mời các ca sĩ số 1... Mẹ chồng tặng vàng cho cô dâu nhiều đến nỗi đeo trĩu cổ, hàng chục chiếc xe siêu sang xếp hàng dài đến dự...
Lẽ ra họ có thể làm nhỏ hơn và số tiền dư lại đem cúng chùa, nhà thờ hoặc xây trường học, nhà tình nghĩa, giúp người bệnh tật, học trò nghèo khó... Những việc làm ấy còn gây tiếng vang hơn việc đeo hàng kilogram vàng lên cổ cô dâu", ông Nguyễn Văn Đực bày tỏ.