Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 3 tháng 7, 2017

Hàn Quốc tài trợ vốn 100 triệu USD xây dựng 22 cầu trên toàn tuyến quốc lộ Việt Nam


Hàn Quốc tài trợ vốn 100 triệu USD xây dựng 22 cầu trên toàn tuyến quốc lộ Việt Nam
Quỹ Hợp tác phát triển kinh tế của Chính phủ Hàn Quốc (EDCF) sẽ cho vay 100 triệu USD để triển khai đầu tư xây dựng 22 cầu thuộc các tuyến quốc lộ trên toàn quốc.
 Theo báo cáo của Ban QLDA 2, Dự án Tín dụng ngành GTVT cải tạo cầu yếu và cầu kết nối trên các quốc lộ sử dụng vốn vay EDCF đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt danh mục và phê duyệt điều chỉnh nội dung chủ trương đầu tư với kinh phí thực hiện Dự án khoảng 100 triệu USD (vốn vay ODA) và khoảng 30 triệu USD (vốn đối ứng trong nước). Dự án dự kiến sẽ triển khai đầu tư xây dựng 22 cầu thuộc các tuyến quốc lộ trên toàn quốc.
Do nguồn vốn Hiệp định khung tài trợ của Hàn Quốc giai đoạn 2012 - 2015 chỉ còn lại 60 triệu USD trong khi Hiệp định khung tài trợ giai đoạn 2016 - 2020 chưa được Chính phủ hai bên đàm phán, nên để có thế tận dụng tối đa nguồn vốn còn lại, các bên đã thống nhất chia Dự án thành 2 giai đoạn; theo đó giai đoạn 1 nghiên cứu đầu tư xây dựng 6 cầu (sử dụng nguồn vốn thuộc tài khóa giai đoạn 2012 - 2015); giai đoạn 2 nghiên cứu đầu tư xây dựng 16 cầu còn lại (sử dụng nguồn vốn thuộc tài khóa giai đoạn 2016 - 2020).
Về chi phí Dự án, chi phí dành cho giai đoạn 2 sẽ vào khoảng 47,51 triệu USD (vốn vay ODA) và khoảng 13,83 triệu USD (vốn đối ứng trong nước). Theo nội dung Báo cáo của Liên danh Tư vấn, chi phí thực hiện giai đoạn 2 đang dự kiến là khoảng 48,387 triệu USD (vốn vay ODA) và khoảng 12,506 triệu USD (vốn đối ứng trong nước).
Theo Ban QLDA2, các giá trị nêu trên chênh lệch không quá nhiều. Do đó, sau khi Bộ Giao thông vận tải (GTVT) chốt phương án TKCS đối với các cầu trong giai đoạn 2, Ban QLDA2 sẽ phối hợp với Liên danh Tư vấn để chuẩn xác lại khối lượng, chi tiết biện pháp thi công, chi phí, TMĐT để đảm bảo không vượt kinh phí đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Phản biện như thế, hãy đi chỗ khác chơi

(Nhân đọc bài Đôi điều cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải của ông Tạ Hữu Đỉnh đăng trên trannhuong.com)




Đặng Văn Sinh



Với tư cách là người viết phê bình cuốn tản văn "Kẻ sĩ trước thời cuộc" của nhà văn Hoàng Quốc Hải, chúng tôi thấy cần phải trao đổi với tác giả Tạ Hữu Đỉnh về bài "Đôi điều cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải" vừa đăng trên trang trannhuong.com ngày 10 tháng 5 năm 2017, vì trong tạp bút này, đã hơn một lần ông nhắc đến tên chúng tôi với hàm ý chê bai.

Thực tình, sau khi đọc, chúng tôi đã có ý không muốn trả lời vì nội dung bài viết quá khiên cưỡng, nhận thức vấn đề hết sức ấu trĩ, thậm chí đọc không vỡ chữ nhưng lại biểu thị thói ngạo mạn, coi thiên hạ chẳng ai bằng mình. Thế nhưng phần lớn bạn bè lại có ý khác. Họ bảo, trannhuong.com là một trang mạng uy tín, mỗi ngày có cả ngàn người truy cập, nếu mình im lặng, vô tình sẽ tạo ra sự ngộ nhận của công chúng về một tác phẩm bị phê phán bởi cái nhìn lệch lạc của một người đọc thiếu công tâm, hoặc cố tình bôi nhọ bởi những lý do nào đó ngoài văn chương. Vì thế, chúng tôi quyết định "hầu chuyện" Tạ tiên sinh.

Bài viết của Tạ tiên sinh khá dài, khá lan man và thỉnh thoảng lại chen vào những lời phê phán nặng nề đối với nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhưng tựu trung, có thể quy về mấy điểm dưới đây.

1 - Nhà văn Hoàng Quốc Hải không phải là người tìm thấy am Ngọa Vân, và việc các giáo sư sử học xác định sai di tích Phật hoàng viên tịch cần phải được thông cảm vì tuổi già, trí nhớ giảm sút, dễ nhầm lẫn.

2 - Nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ đã được triều đình phong kiến minh oan, truy phong là "Quốc mẫu", vì thế Hoàng Quốc Hải viết bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ" là không hiểu gì về lịch sử.

3 - Phê phán sử gia Ngô Sĩ Liên là hỗn láo, cần phải dưa nhà văn Hoàng Quốc Hải ra Tòa theo Khoản I, Điều 20, Hiến pháp nước CHXHCNViệt Nam, 2013.

Để cho ngắn gọn, đỡ mất thời gian của bạn đọc, chúng tôi lần lượt trả lời từng mục như sau:

1 - Về di tích Ngọa Vân

Trong bài tạp bút của mình, ông Tạ Hữu Đỉnh phải thừa nhận, các nhà nghiên cứu lịch sử như GS. Hà Văn Tấn  và GS. Lê Văn Lan hầu như không biết cụ thể Ngọa Vân am ở đâu nên mỗi ông tùy hứng chỉ một nơi xung quanh khu vực chùa Hoa Yên. Còn ông Thi Sảnh, tức Nguyễn Thanh Sỹ, Giám đốc Sở Văn hóa Quảng Ninh, tuy là người sở tại, nhưng khi viết "Cõi thiêng Yên Tử" cũng chỉ ra một Ngọa Vân vô cùng sai lạc so với vị trí đích thực của nó. "Cõi thiêng Yên Tử" là cuốn sách được xem là nghiêm túc về một di tích lịch sử Phật giáo Đại Việt, mắc phải sai lầm nghiêm trọng như vậy mà tác giả họ Tạ lại ra sức biện hộ bằng những lời khiến bất cứ ai đọc cũng phải tức cười vì sự ngô nghê của kẻ điếc không sợ súng: "Vậy, nếu ông Thanh Sĩ làm Giám đốc Sở Văn hóa Quảng Ninh vào thời gian đó, thì chuyện ông không biết am Ngọa Vân ở đâu, tuy cũng là điều đáng trách, nhưng cái sự không biết đó lại chứng tỏ ông là người không mê tín dị đoan...". Hay thật! Như vậy, theo khẩu khí tác giả bài tạp bút, toàn thể nhân dân xã Bình Khê và cán bộ, nhân viên Phòng Văn hóa huyện Đông Triều cùng với nhóm điền dã của nhà văn Hoàng Quốc Hải, đều được xếp vào đối tượng mê tín dị đoan chỉ vì đã chót biết...Ngọa Vân am(!?).

Người làm khoa học, nhất là khoa học lịch sử phải nghiêm túc, cẩn trọng và chính xác. Lịch sử không chấp nhận sự hàm hồ. Bởi sự hàm hồ dẫn đến ngộ nhận, làm biến dạng nhận thức của các thế hệ tương lai, hậu quả sẽ khôn lường. Chẳng hiểu Tạ Hữu Đỉnh có nhận thức được vấn đề này hay không khi mà ông lấy lý do tuổi tác để bênh vực các nhà sử học: "Còn sự nhầm lẫn của hai vị giáo sư kia, có thể vì các vị ấy học sử đã lâu, bây giờ tuổi cao, trí nhớ giảm. Mà khi người ta đã quên, thì cũng nên thông cảm, chứ bảo các vị ấy 'vô trách nhiệm', tôi nghĩ hơi quá lời. Vả chăng, nước ta có rất nhiều chùa chiền, các vị ấy có quên đi một ngôi, dù đó là nơi viên tịch của một vị hoàng đế, thì 'cái kho kiến thức' đã giúp các vị ấy trở thành giáo sư cũng chẳng vơi bớt đi là bao". Đúng là tác giả có "cái kho lý sự cùn". Bởi theo chúng tôi được biết,  thời điểm "định vị" Ngọa Vân, chậm nhất là năm 2000, xuân thu hai nhà sử học mới ở xấp xỉ lục tuần.  Lục tuần mà đã "tuổi cao, trí nhớ giảm" thì "thôi rồi, Lượm ơi!".

Vào thời điểm trước khi nhà văn Hoàng Quốc Hải công bố bài tản văn "Đi tìm một Ngọa Vân", có thể nói các nhà lãnh đạo ngành văn hóa tỉnh Quảng Ninh cũng như Ban Quản lý di tích Yên Tử đều không biết chính xác Ngọa Vân ở đâu, trái lại, bất người dân nào ở xã Bình Khê, thậm chí cả huyện Đông Triều, đều có thể làm hướng dẫn viên đưa du khách đến tận "am trong mây", vốn là nơi Điều Ngự Giác Hoàng sống những ngày cuối cùng rồi về cõi Niết Bàn. Thì ra ngọn núi thiêng này nằm ở phía tây quần thể Yên Tử chứ không phải ở phía đông như người ta vẫn nghĩ, mặc dù các nhà sử học đáng kính từng đọc rất kỹ sự kiện Phật Hoàng viên tịch trong "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Trúc Lâm tam tổ". Ngọa Vân vẫn còn đó, không ai "bứng" đi được hay "phát minh" ra bởi đó là một thực thể tồn tại khách quan. Chỉ có điều, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã có một nghĩa cử sau 25 năm trăn trở, là làm sáng tỏ một tồn nghi mà bấy lâu nay người ta vẫn nhận thức mơ hồ. Chính vì thế, trong bài "Kẻ sĩ trước thời cuộc và bản lĩnh người cầm bút", chúng tôi mới dám viết: "Như vậy, từ đây, Ngọa Vân am đã được định vị chính xác trên bản đồ quần thể di tích Yên Tử, tạo điều kiện thuận lợi cho các thiện nam tín nữ cũng như khách thập phương đến viếng thăm. Công lao ấy, có một phần không nhỏ của nhà văn Hoàng Quốc Hải".

Suy diễn như Tạ Hữu Đỉnh thật ấu trĩ. Cách lập luận của ông có cái gì đó lởm khởm, vừa thiếu cơ sở khoa học, vừa mâu thuẫn với logic văn cảnh của bài viết.

2 - Về bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ", ông Tạ Hữu Đỉnh lập luận: "Còn vụ án oan ở Vườn Vải, cho đến nay dã tốn quá nhiều công sức và giấy mực rồi, mà mọi sự cũng quá rõ ràng, minh bạch rồi, người bị oan đã được minh oan rồi. Tưởng chẳng còn gì để bàn nữa, nhưng trong bài 'Kẻ sĩ trước thời cuộc...', tác giả Đặng Văn Sinh lại viết: '...Công bằng mà nói, khi Lê Thánh Tông chấp chính, Nguyễn Trãi đã được minh oan, nhưng thật ra ông mới chỉ dám giải oan một nửa cho Ức Trai, còn Nguyễn Thị Lộ thì không...'. Thiết nghĩ, khẳng định như vậy là không đúng với sự thật lịch sử". Tiếp đó tác giả dẫn ra bài "Bút ký về Nguyễn Thị Lộ", được đăng ở phần phụ lục của PGS. Trần Bá Chí ở Đại học Quốc gia Hà Nội trong cuốn kỷ yếu "Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên", với tư liệu rất vu vơ, hoàn toàn không được kiểm chứng, thiếu vắng cơ sở khoa học như sau: "Tờ chiếu minh oan gồm hai phần. Phần đầu viết lời minh oan cho Nguyễn Trãi, cuối phần đầu có một câu kết luận 'Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo'. Đến phần thứ hai ghi minh oan cho Nguyễn Thị Lộ, câu kết có tám chữ: 'Tiền triều nữ sĩ bất can thí tội' (Nữ sĩ triều trước là Nguyễn Thị Lộ không liên quan đến tội giết vua). Đến triều vua Lê Dụ Tông, năm 1710, Đại Nguyên soái An Đô Vương Trịnh Cương đến thăm đền công thần Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ ở Khuyến Lương có ra lệnh cấp cho đền thờ ông bà tại xứ Cáo Thượng 1 mẫu 5 sào để giao cho Giáp 5, Giáp 6 cày cấy, lo việc giỗ chạp ông bà Nguyễn Trãi.

Đền thờ riêng bà Nguyễn Thị Lộ ở Phe 4 xã Khuyến Lương (xưa thuộc hương Cổ Mai, huyện Thanh Đàm, sau đổi thành huyện Tranh Trì), dân địa phương thường gọi là Đền Mẫu. Bài vị thờ bà Nguyễn Thị Lộ viết: 'Lê triều Lễ nghi học sĩ Ức Trai tiên sinh chi phu nhân, phục thăng Quốc Mẫu, Nguyễn Thi húy Lộ chi thần vị".

Từ bài bút ký, nằm trong thể loại "sáng tác" của Trần Bá Chí, Tạ Hữu Đỉnh kết luận: "Nhưng bà đã được minh oan và 'phục thăng Quốc Mẫu'. Nếu so với các bậc quân vương, nữ tướng anh hùng như Hai Bà Trưng, Lê Trân, Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân đã có công đánh giặc giữ nước, cũng chưa vị nào được tôn vinh như vậy. Bà Nguyễn Thị Lộ được phong Quốc Mẫu là ngang hàng với Quốc Mẫu Âu Cơ rồi. Chẳng lẽ đó chưa phải là minh oan hay sao?".

Đọc đến phần này, chúng tôi chợt sững người. Chẳng lẽ các nhà văn hóa nổi tiếng, các nhà sử học hàng đầu Việt Nam, từ trước đến nay đều có cặp mắt "gà mờ" hay sao mà bỏ qua một tư liệu vô cùng quan trọng về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ? Sự việc hiển nhiên như thế, vậy thì hà cớ gì, người ta phải tốn bao công sức và tiền bạc, tổ chức cuộc hội thảo khoa học vào năm 2004 chỉ để minh oan và tôn vinh người phụ nữ tài hoa bị bức tử trong vụ thảm án năm Nhâm Tuất?

Trả lời câu hỏi trên không khó. Trước hết, bút ký là thể loại "sáng tác văn học". Trong trường hợp này, người viết có thể tìm ra một số tư liệu dân gian trong quá trình đi điền dã. Có không ít tư liệu, thậm chí còn được ghi chép trong gia phả, bia đá, bài vị thờ cúng ở một địa phương về một nhân vật lịch sử nào đó, nhưng không phải là tư liệu chính thống. Vì thế, cái gọi là "tờ chiếu minh oan" được tác giả Trần Bá Chí nêu ra trong "Bút ký về Nguyễn Thị Lộ" mà ông Tạ Hữu Đỉnh dẫn lại để phản biện nhận định của chúng tôi chỉ nên xem như một tư liệu tham khảo ít giá trị khoa học. Hơn nữa, không thể căn cứ vào một văn bản sao lục hoàn toàn mang tính chất dã sử hay huyền tích để kết luận một vụ án bất công cách đây già nửa thiên niên kỷ đã được triều đình phong kiến thân oan. Việc minh oan cho Nguyễn Thị Lộ thuộc tầm cỡ quốc gia. Chỉ nhà vua mới có quyền xuống chiếu, đồng thời, sự kiện quan trọng đó phải được ghi trong quốc sử. Rất mong ông Trần Bá Chí và ông Tạ Hữu Đỉnh hãy đưa ra những bằng chứng thuyết phục để bạn đọc mở rộng tầm mắt. Huống chi, "Quốc Mẫu" là một danh hiệu cao quý, từ thượng cổ đến nay chỉ được dùng để suy tôn những người phụ nữ kiệt xuất, phần lớn là trong huyền thoại như Âu Cơ, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, hay Mẫu Thoải. Hoàng hậu của các triều đại phong kiến, tuy gọi "mẫu nghi thiên hạ" nhưng thực chất cũng chỉ ở cấp độ "đệ nhất phu nhân". Duy chỉ đời Trần, nhà vua sắc phong "Linh Từ Quốc mẫu" cho bà Trần Thị Dung. Đây là trường hợp đặc biệt, sau này không có người thứ hai. Nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ đúng là một tài nữ, là nạn nhân của một vụ án chính trị, nhưng bảo rằng bà được "phục thăng Quốc Mẫu" e rằng hơi quá lời.

Để làm rõ hơn việc bà Nguyễn Thị Lộ không được các triều đại phong kiến minh oan, phải ngậm hờn nơi chín suối, chúng tôi xin dẫn ra đây nhận định của các nhà sử học, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu văn học trong một số tham luận đọc tại Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ. Tất cả mọi dẫn chứng đều được lấy trong cuốn kỷ yếu "Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên", do NXB Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2004.

Trong bài "Tựa"  cho cuốn sách trên, PGS Phan Văn Các, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, hiện là Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Hán -  Nôm, viết: "Vụ án Lệ Chi Viên đã bị phê phán. Nhưng riêng Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ dường như chưa được chiêu tuyết minh oan một cách triệt để và càng chưa được tôn vinh đúng mức" (Phan Văn Các, "Lễ nghi học sĩ với thảm án Lệ Chi viên", tr.11).

"Thực ra, vấn đề khẩn thiết số 1 đặt ra hiện nay là vấn đề nỗi oan Nguyễn Thị Lộ bị tắc nghẽn suốt 560 năm nay. Dù chế độ phong kiến chưa minh oan đầy đủ, nhưng đến nay vấn đề minh oan cho Nguyễn Trãi được ưu tiên hơn thì vấn đề Nguyễn Thị Lộ vẫn chưa thỏa đáng. Từ rất lâu nay người ta đã né tránh. Về lĩnh vực sử học, tìm thấy một ý kiến bênh vực cho Nguyễn Thị lộ như nhà sử học uyên bác Trần Huy Liệu là chưa nhiều. Ngay trên tạp chí chuyên ngành nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học mà mấy chục năm trời lại chỉ tìm thấy một bài của học giả uyên thâm Lê Thước 'Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi' (Văn sử địa 1957, số 24, tr. 63 - 73). Người ta né tránh những thủ phạm đầu sỏ, mà chỉ đổ cho khách quan, cho những kẻ tòng phạm mà thông lệ xưa nay gọi là 'người dưới thực hiện', một việc ứng xử rất 'khôn lỏi' của giới cầm quyền để dễ bề phủi tay...". (Hoàng Đạo Chúc, "Dẫn luận cho Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ", tr. 26 - 27).

Trong khi ấy, GS. Phan Huy Lê, với tham luận "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm" đã phân tích khá thấu đáo nội tình vụ thảm án với tư cách nhà sử học hàng đầu Việt Nam, đồng thời cũng nhấn mạnh, Nguyễn Thị Lộ, nỗi oan vẫn còn đó: "Như vậy từ đời Lê đến đời Nguyễn, Nguyễn Trãi đã dần dần được minh oan, chiêu tuyết. Công lao bình Ngô, những cống hiến về tư tưởng, văn học và tài năng, nhân cách của ông càng ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, về Nguyễn Thị Lộ thì gần như chưa được minh oan, thậm chí bộ quốc sử đời Nguyễn 'Khâm định Việt sử thông giám cương mục' vẫn chép theo quan điểm xử tội của triều Lê năm 1442: 'Giết Thừa chỉ nhập nội hành khiển trí sĩ Lê Trãi, tru di cả họ. Trãi phải tội liên lụy vì người vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ. Người ta đều cho là oan, kèm theo lời phê của Tự Đức: Đời Lê Thái Tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón rước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì cái vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy" (Quốc sử quán triều Nguyễn: "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", Chính biên QXVII, tr. 23b. Bản dịch, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội 1959,T.IX, tr.79).

Cùng quan điểm với nhiều nhà khoa học trong hội thảo về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ, GS. TSKH Phan Đăng Nhật trong bài "Nguyễn Thị Lộ, lịch sử và huyền thoại" có thái độ khá kiên quyết trong việc phản bác nhà nước phong kiến sử dụng huyền thoại "rắn báo oán" để bôi nhọ thanh danh bà: "Lê Thánh Tông đã không một lời minh oan cho bà, mặc dầu bà đã cưu mang mẹ con ông. Chúng ta không thể phụ họa với bọn Lê Thận - Nguyễn Thị Anh buộc cho bà là rắn độc, để xóa án cho thủ phạm. Như vậy là đang tay giết bà hai lần. Đề nghị từ nay đuổi hình bóng con rắn ra khỏi cuộc đời nhà thơ - Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ".

Một nhà sử học khác, giáo sư Đinh Xuân Lâm, trong bài "Nhân một vụ án, suy nghĩ về trách nhiệm người viết sử", cũng đề xuất ý kiến, rất cần phải chiêu tuyết cho nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ, theo cách của những nhà làm sử đương đại: "Cũng cần có sự chiêu tuyết công khai cho bà, không thể để bà chỉ là một cái bóng mờ nhạt của Nguyễn Trãi. Chế độ phong kiến cũ đã không làm được việc đó, thì ngày nay chúng ta phải làm việc đó thông qua việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc một cách trung thực và khoa học".

Vậy nguyên nhân gì, vua Lê Thánh Tông không xuống dám chiếu minh oan cho ân nhân đã cưu mang mỉnh?  Chúng ta hãy đọc lại một đoạn trong bài "Ý kiến trao đổi: Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi" của hai học giả Lê Thước và Trương Chính, đăng trên "Tập san Văn Sử Địa" số 24, tháng 1 năm 1957, từ trang 63 đến trang 73: "Đối với Thánh Tông, dù sao đi nữa, Thị Anh và Bang Cơ cũng là người ân nhân. Chính tước Bình Nguyên vương là tước mà Thị Anh phong cho Tư Thành sau khi ngôi vua của con thị đã vững chắc (Thái Hòa năm thứ III), như để chuộc lỗi trước. Vì vậy, nay mẹ con thị bị hại, Thánh Tông được nối ngôi, ông liền truy phong cho thị, như không hề xảy ra việc gì giữa mẹ con Nhân Tông và mẹ con ông cả.

Do đó, Ngô Sĩ Liên không dám viết sự thật về một người đã được nhà vua truy phong như thế. Huống hồ, Ngô Sĩ Liên là người có tì vết". Cuối bài viết, hai học  giả còn khẳng định: "Lời đe dọa đó không khỏi ám ảnh nhà viết sử của chúng ta, nên ông đã dè dặt là phải. Và đành để lại cho chúng ta cái nghi án từ trước đế nay chưa ai tìm cách thẩm tra lại".

Như vậy, qua nhận xét, phân tích có cơ sở khoa học và chứng lý lịch sử, các tham luận đều thống nhất một điều hiển nhiên là, gần sáu trăm năm qua, nỗi oan của Nguyễn Thị Lộ vẫn còn đó, bởi trong chính sử, không có bất cứ triều đại nào xét lại vụ kỳ án chứ chưa nói là chiêu tuyết. Thật mỉa mai, đến tận đời Nguyễn, một ông vua hay chữ như Tự Đức, được xem là người con có hiếu với Từ Dụ hoàng thái hậu, mà lại nhẫn tâm hạ bút, đồng lõa với sử gia tiền triều, xúc phạm nặng nề nhân cách của bà.

Vậy xin hỏi, triều đại nào, vị hoàng đế nào đã minh oan cho Nguyễn Thị Lộ và truy phong bà làm "Quốc Mẫu" mà tác giả Tạ hữu Đỉnh đã đoan chắc như đinh đóng cột chỉ căn cứ vào một tờ chiếu không rõ nguồn gốc trong bài bút ký của Trần Bá Chí? 

3 - Vấn đề cuối cùng là, Tạ Hữu Đỉnh rất bất bình trong việc nhà văn Hoàng Quốc Hải phê phán gay gắt Ngô Sĩ Liên, qua đó, đề nghị đưa tác giả ra tòa vì dám xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm sử gia tiền triều.

Nhằm bênh vực lời bình của Ngô Sĩ Liên về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, ông Tạ Hữu Đỉnh đã viết những dòng hoàn toàn mang tính tư biện, thiếu cơ sở khoa học, phi đạo lý như sau: "Theo tôi lời bình đó nếu có sai trái, thì chỉ sai với thời bây giờ thôi, còn thời xưa thì lời bình đó hoàn toàn là sự thật. Vì nó phản ánh đúng quan niệm về đạo đức của thời đại ấy là trọng nam khinh nữ. Sắc đẹp của người phụ nữ được coi là (hay bị coi) là khuynh quốc, khuynh thành. Ở nước Tầu thời xưa, người ta cho rằng sắc đẹp của Tây Thi đã làm mất nước Ngô…".

Cũng vẫn với tâm thức trên, họ Tạ tiếp tục tán dương vị sử quan thời Lê sơ: "Như vậy thì lời bình Nữ sắc làm hại người lắm thay của Ngô Sĩ Liên cũng chỉ là điều ông thừa nhận một thực tiễn khách quan". Và, sau một hồi cà kê những chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi", tác giả lại xổ ra một câu rất không ăn khớp với hoàn cảnh, khiến người đọc có quyền nghi ngờ đầu óc người này hình như có vấn đề: "Ghi chép đó của sử quan Ngô Sĩ Liên hoàn toàn trái ngược với bản án của triều đình kết tội Nguyễn Thị Lộ là: 'Tiến độc cho vua, theo mưu kế của Nguyễn Trãi”. Một thứ lý luận ông chẳng bà chuộc như thế, thiết nghĩ, chẳng cần nhiều lời ngoài việc trích dẫn ra đây ý kiến đánh giá của các học giả về những người chép sử triều Lê cũng như cá nhân Ngô Sĩ Liên hầu minh chứng cho nhận xét của nhà văn Hoàng Quốc Hải.

 GS. Phan Huy Lê, ngay ở phần đầu bài "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm", đã nhận định: "Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hy vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này". Cũng trong bài tham luận trên, ở phần sau, Phan Huy Lê viết: "Tuy nhiên qua nội dung của 'Đại Việt sử ký toàn thư'hoàn thành năm 1697, chúng ta thấy rõ tác giả phần này biên soạn trên quan điểm chính thống của vương triều về vụ án Lệ Chi Viên viết theo đúng quan điểm của những kẻ chủ mưu giết hại Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ, do đó các sự thật lịch sử đều bị che đậy thậm chí xuyên tạc".

Giáo sư Đinh Xuân Lâm còn phân tích sâu hơn nữa về sử gia Ngô Sĩ Liên khi ông đưa ra nhận định: "Rõ ràng trong sự việc này, ngòi bút của sử quan (cụ thể đây là Ngô Sĩ Liên) đã không đảm bảo tính trung thực, khách quan cần có, hay nói cách khác là, trong trường hợp này, sử quan chạy theo phái chiếm thế mạnh trong triều để bóp méo, xuyên tạc lịch sử" (Đinh Xuân Lâm, "Nhân một vụ án, suy nghĩ về trách nhiệm người viết sử").

Sau khi đọc lời bình của Ngô Sĩ Liên về Nguyễn Thị Lộ "Nữ sắc làm hại người ta thật quá lắm! Nguyễn Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông thích người ấy mà phải chết, Nguyễn Trãi lấy người ấy làm vợ mà cả họ bị giết, lại chưa đề phòng sao!", tiến sĩ Mai Hồng, Giám đốc "Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam" nhận xét, tuy có phần nhẹ nhàng nhưng phản ánh đúng tư cách của vị sử gia cơ hội triều Lê sơ: "Câu bàn này của sử gia xem chừng chả có gì sâu sắc, rất vô trách nhiệm trong tinh thần của sử bút (là thực lục) trước thân phận một con người bị chết oan và chà đạp về nhân phẩm" (TS. Mai Hồng, "Những tư liệu Hán Nôm có liên quan tới cuộc đời Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ", tr.168).

Tất cả những ý kiến trên của các nhà khoa bảng đề "chúng khẩu đồng từ" tuy mức độ nặng nhẹ có khác nhau về tư cách người viết sử triều Lê mà điển hình là Ngô Sĩ Liên. Như vậy há chẳng rõ hay sao? Từ đó có thể suy ra kiến thức về lịch sử của Tạ tiên sinh rất hời hợt. Nếu chịu đọc hết các tham luận chính trong kỷ yếu Hội thảo khoa học về Nguyễn Thị Lộ, chúng tôi dám chắc, ông không thể phóng bút viết những dòng phản biện thiếu cơ sở khoa học, đầy tính áp đặt về cuốn sách của nhà văn Hoàng Quốc Hải.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm với tác giả Tạ Hữu Đỉnh. Theo thông lệ của triều đình phong kiến, vua đương thời không được xem quốc sử. Thời Lê, chép sử là trách nhiệm của các sử quan trong Quốc sử quán dưới sự chỉ đạo của một Tổng tài. Các ghi chép sau khi Tổng tài duyệt, bản thảo được sao chép thành nhiều bản, cất vào thư khố. Chỉ sau khi công trình biên soạn thực lục hoàn tất, mới được dâng lên nhà vua ngự lãm. Như vậy, về lý, triều đình không có "Hội đồng xét duyệt quốc sử", mà người chịu trách nhiệm về bộ quốc sử chính là Tổng tài.

Theo GS. Phan Huy Lê trong bài "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm", "...phần lịch sử đời Lê Thái Tông không phải do Ngô SĨ Liên viết trong 'Đại Việt sử ký toàn thư' hoàn thành năm 1479 gồm 15 quyển". Tuy nhiên, đến đời Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên được cử làm Tổng tài Quốc sử quán. Năm 1464, vua Quang Thuận xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi. Lúc ấy, vụ án Lệ Chi Viên đã xảy ra hơn 20 năm, sức ép chính trị không còn căng thẳng như hồi năm Nhâm Tuất (1442), vậy mà "sử gia Ngô Sĩ Liên đã 'hạ một lời bình rất bất lương' về bà Nguyễn Thị Lộ" (chữ của HQH) như trên, thì quả thật hậu thế phải xét lại tư cách kẻ sĩ và trách nhiệm của người đứng đầu Quốc sử quán.

Hơn thế nữa, giữa lúc Ngô Sĩ Liên đang đảm trách chức vụ Đô Ngự sử đài kiêm Tổng tài Quốc sử quán vẫn bị Lê Thánh Tông mắng thậm tệ bởi những hành vi khuất tất mà trong bài viết của mình, tác giả Tạ Hữu Đỉnh đã trích nguyên văn lấy từ "Đại Việt sử ký toàn thư". Đương nhiên, trong lời chỉ trích ấy, nhà vua không nói trắng ra việc "ăn của đút", nhưng một đại thần đầy tai tiếng như sử quan họ Ngô, nắm nhiều chức vụ trọng yếu, có thời đi phò ngụy chúa (Nghi Dân), a dua với phường xu nịnh, liệu có phải là chính nhân quân tử? Chuyện tham nhũng thời Lê sơ như Lê Ngân, Lê Sát và các quyền thần thuộc phe Nguyễn Thị Anh đã được ghi trong chính sử. Tình hình nghiêm trọng đến mức, Lê Thánh Tông phải xuống chiếu khiển trách bọn Nguyễn Đức Trung (cha đẻ Trường Lạc hoàng hậu), Trần Phong, Nguyễn Đình Mỹ, mà Ngô Sĩ Liên lại có mối quan hệ rất thân thiết, liệu rằng có không "ăn của đút" khi đề cử nhân sự cho Nội các?

Vậy thì, trước khi cáo buộc nhà văn Hoàng Quốc Hải vi phạm Khoản I, Điều 20 Hiến Pháp của nước CHXHCN Việt Nam, ông Tạ Hữu Đỉnh hãy đọc kỹ tham luận của các giáo sư đầu ngành sử học như Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, tiến sĩ Đinh Công Vỹ, tiến sĩ Mai Hồng, các học giả Lê Thước, Trương Chính, nhà giáo Hoàng Đạo Chúc... khi các vị đã nhất loạt bóc gỡ tấm màn dối trá che mờ vụ án Lệ Chi Viên, phê phán những người chép sử đương thời, trong đó có Ngô Sĩ Liên, bưng bít sự thật, về hùa với kẻ thủ mưu, gây nên cái chết oan khuất của Nguyễn Trài và Nguyễn Thị Lộ, trả lại sự thật vốn có của lịch sử.

Cũng trong bài tham luận "Trắng án Nguyễn Thị Lộ", nhà văn Hoàng Quốc Hải có nêu 3 kiến nghị, mà kiến nghị thứ ba là: "Tóa án Nhân dân tối cao nên ra một phán quyết đặc biệt, phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442), để trả lại sự trong sáng cho bà Nguyễn Thị Lộ, đồng thời làm sáng tỏ tính nghiêm minh của lịch sử". Không ngờ, đề xuất tưởng như vô lý ấy lại được công chúng bạn đọc hưởng ứng, trong số đó có luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, một chuyên gia hàng đầu của ngành Luật Hà Nội. Trong bài "Tòa án Nhân dân tối cao nên thụ lý vụ án Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442)", vị luật sư trọng tuổi viết: "Bài viết lập luận chặt chẽ, có lý, có tình khiến bị cuốn hút". Tiếp sau, cụ tỏ ý tán thành quan điểm của tác giả: "Đúng như nhà văn Hoàng Quốc Hải, trong bài viết có ý trách các nhà viết sử và nghiên cứu lịch sử gần 600 năm qua, không một ai đả động gì đến thân phận oan trái của một người phụ nữ như Học sĩ Nguyễn Thị Lộ", và, "Phải nói TRẮNG ÁN NGUYỄN THỊ LỘ" là một công trình nghiên cứu tổng hợp, vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính pháp luật hết sức nghiêm túc".

Để khẳng định đề xuất của nhà văn Hoàng Quốc Hải  là có tính khả thi, cụ Vĩnh còn dẫn ra mấy vụ án bất công nổi tiếng thế giới thời Trung cổ do Tòa án Giáo hội La Mã xử, trong đó có vụ án nhà khoa học Giordano Bruno (1548 - 1600) mà sau này Tòa thánh Vatican Công Đồng II, phải công khai nhận lỗi xử cho G.Bruno trắng án.

Đọc bài của luật sư Nguyễn Thành Vĩnh mới thấy tác giả Tạ hữu Đỉnh hồ đồ, không hiểu gì về nội hàm  bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ" mà chỉ nhìn thấy câu chữ ở bề mặt rồi quy chụp theo kiểu các nhà "kiểm dịch". Nếu còn lấn cấn điều gì, mong ông hãy đọc tiếp đoạn dưới đây rồi hay vung gươm đánh nhau với cối xay gió: "Nhưng vấn đề nhà văn đặt ra ở đây là vấn đề của lương tri. Theo tôi, trên góc độ lịch sử và cả trên bình diện luât pháp, Nhà nước nên chính thức giải tỏa. Bởi tới nay, chúng ta đủ căn cứ bác bỏ tính áp đặt, tính phi pháp, phi nhân văn của án tích Lệ Chi Viên năm 1442, mà những điều minh chứng trong công trình của nhà văn Hoàng Quốc Hải là hoàn toàn có cơ sở khoa học" (LS. Nguyễn Thành Vĩnh, "Tòa án Nhân dân tối cao nên thụ lý vụ án Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442)", tr. 417 - 418).

Cuối cùng là vấn đề câu chữ. Hình như trình độ ngữ pháp của Tạ tiên sinh không "chuẩn" cho lắm nên ông mới "phán" một câu làm người đọc ngỡ ngàng: "Cuối bài 'Trắng án Nguyễn Thị Lộ', nhà văn Hoàng Quốc Hải còn kiến nghị 'Tòa án Nhân dân tối cao nên ra một phán quyết đặc biệt, phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên...'. Thưa nhà văn, Tòa phủ nhận tính hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên mới đúng chứ? Phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết, tức là cái án quyết ấy phi pháp. Nếu phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết, chẳng hóa ra lại công nhận án quyết ấy hợp pháp?".

Than ôi! Văn cảnh rõ ràng như thế, hai vế của mệnh đề nhà văn đặt ra  đăng đối và logic như thế mà tiên sinh còn bắt bẻ thì quả thật hết thuốc chữa. Chuyện này dễ thôi, ông hãy tạm gác thói kiêu ngạo sang một bên, "hạ cố" hỏi bất cứ nhà giáo giảng dạy văn học nào, chỉ cần ở cấp trung học cơ sở thôi, người ta sẽ giảng giải cho ông về mối quan hệ giữa các vế của một câu văn mở rộng thành phần.

Để khép lại bài viết, chúng tôi tạm mượn lời tiến sĩ Hà Văn Thịnh, giảng dạy môn Lịch sử ở Đại học Huế, khuyên tác giả Tạ Hữu Đỉnh, hãy đọc hết các văn bản và suy nghĩ kỹ trước khi hạ bút. Nếu không, "phản biện như thế, hãy đi chỗ khác chơi!".

Chí Linh, 24.5.2017


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Những Kẻ Thất Bại Đều Sở Hữu 1 Trong 10 Điểm Chung Này


"Kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình" ranh giới của người thành công và kẻ thất bại đôi khi chỉ là những hành vi tưởng chừng đơn giản nhất.

Nếu như người thành công luôn nhận thức đúng đắn về bản thân và dám vấp ngã để dành vinh quang thì người không thành công lại thất bại ngay tại chính vòng đấu đầu tiên, với bản ngã của chính mình. Họ tự hủy hoại thành công của bản thân, và đôi khi phá hoại bước tiến của người khác bằng mọi giá vì lòng ganh ghét đố kị…


Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà câu nói “kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình” lại được Đức Phật nhắc tới đầu tiên trong những lời răn dạy của người. Thành, bại, được, mất phụ thuộc vào bản thân của mỗi người và vào việc chúng ta có quyết tâm chiến thắng được “kẻ thù” bên trong chúng ta hay không.

Nếu như người thành công luôn nhận thức đúng đắn về bản thân và dám vấp ngã để dành vinh quang thì người không thành công lại thất bại ngay tại chính vòng đấu đầu tiên, với bản ngã của chính mình. Họ tự hủy hoại thành công của bản thân, và đôi khi phá hoại bước tiến của người khác bằng mọi giá vì lòng ganh ghét đố kị…

Nếu bạn muốn thành công, hãy “tu tập” để loại bỏ những hành vi sau mà người không thành công thường mắc phải:

Bỏ lại những dự án còn dang dở



Môt trong những hành vi thường thấy nhất ở những người không thành công chính là họ bỏ lại những kế hoạch, dự án còn dang dở dù ban đầu rất hăm hở thực hiện chúng.

Mọi thứ thật tuyệt khi bắt đầu nhưng vì thiếu kỷ luật và sự bền bỉ nên họ có xu hướng gạt phăng tất cả nếu gặp phải những khó khăn trên con đường hoàn thiện những công trình của mình.

Thích bào chữa



Người không thành công rất “giỏi” bao biện và bào chữa khi trượt ngã. Thay vì dành thời gian phân tích nguyên nhân thất bại, họ đổ lỗi cho hoàn cảnh, thậm chí cố gắng tìm lí do để đổ lỗi và đùn đẩy trách nhiệm cho người khác.

Không chịu được chỉ trích



Chính vì không nhận ra hoặc cố tình che giấu những thiếu sót của bản thân mà người không thành công không bao giờ thích người khác chỉ ra những sai lầm mà họ mắc phải.

Thay vì tiếp thu ý kiến từ người khác, họ tỏ ra khó chịu và thù ghét khi bị chỉ trích. Họ không nhận ra rằng, chính “tật đố” ấy đang dần biến họ thành một con người ích kỷ và bảo thủ, thậm chí rơi vào trạng thái thất vọng để rồi tự bẫy bản thân vào ngõ cụt.

Tiêu cực



Người không thành công không tự tìm ra những mặt tích cực của cuộc sống và những mối quan hệ xung quanh mà chỉ tập trung vào những suy nghĩ tiêu cực. Họ cũng có xu hướng kết giao với những người có chung tính cách và “tự củng cố nhau” bằng những lời bào chữa khi không đạt được một mục tiêu nào đó.

Phá hoại người khác



Khi cuộc sống không suôn sẻ hay không thể tiến bước trong sự nghiệp, người không thành công sẽ cố gắng tìm cách “kéo chân” để kìm hãm người khác thay vì nỗ lực vươn lên chính mình. Họ thích đánh giá thấp đồng nghiệp hoặc bạn bè để chứng tỏ rằng bản thân thành công hơn, hiểu biết hơn người khác.

Tự triệt tiêu cá tính của bản thân

Những người thành công thường thẳng thắn bộc lộ cá tính của bản thân bằng những hành vi, những ý tưởng độc đáo. Ngược lại, người không thành công cố gắng hòa nhập vào số đông vì sợ khác biệt, sợ thất bại và sợ bị chỉ trích.

Thụ động



Người không thành công khó có thể làm nổi việc gì nếu không được người khác “chỉ tận mặt, bắt tận tay” mà giao việc.

Sẽ rất thuận lợi nếu chúng ta được người khác giúp đỡ, chỉ bảo hay định hướng thực hiện một công việc nào đó. Nhưng nếu chỉ thụ động mà làm theo người khác, thì rút cuộc chúng ta sẽ chỉ là một con rối. Thụ động và chỉ thích làm khi được chấp thuận chính là một trong số những hành vi khiến người không thành công không bao giờ có thể đạt được vinh quang trong cuộc sống lẫn sự nghiệp.

Thích đối phó hơn là hành động

Thay vì chủ động tìm ra giải pháp và sáng kiến sửa chữa trước khi một kế hoạch hay một dự án sắp đổ vỡ, người thất bại do dự và chỉ hành động khi cơn khủng hoảng thực sự gõ cửa nhà họ. Để sau đó, họ lại cố gắng bao biện và đổ lỗi cho ngoại cảnh tác động.

Tìm đường tắt



Nhà thơ Nguyễn Công Trứ có câu “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả. Anh hùng hào kiệt có hơn ai”.

Vâng, để đến được vinh quang thì chúng ta phải trải qua biết bao lần ngã đau, đi qua biết bao con đường đầy đá sỏi. Người thất bại không muốn trả giá, họ cũng không muốn bỏ thời gian và công sức để tìm cách vượt chông gai mà chỉ mơ tưởng tìm ra lối tắt đến thành công. Họ không biết rằng mỗi sự hy sinh đều có cái giá phải trả và cái giá cho sự lười biếng và thiếu bản lĩnh của họ không gì khác chính là sự thất bại.

Lo sợ

Phần lớn hành vi này đến từ nỗi sợ hãi bị chỉ trích, sợ bị người khác chỉ ra khuyết điểm của bản thân. Thậm chí, người thất bại còn sợ hãi với những trách nhiệm họ phải gánh vác nếu may mắn được đứng trên vị trí cao hơn kỳ vọng.

Không con đường nào dẫn đến đỉnh vinh quang mà lại có dấu chân cho kẻ lười biếng hay người ích kỷ, cũng không ai trong ta không ai sinh ra và lớn lên hoàn thiện cả. Đó là lí do mà vấp ngã rồi rút kinh nghiệm để trưởng thành là điều không thể tránh khỏi nếu bạn muốn “vượt Vũ môn” và giành chiến thắng.

Khánh An

Theo Trí Thức Trẻ
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Triều Tiên "ngồi trên" kho báu trị giá 10 nghìn tỷ USD


03/07/2017 Ít người biết rằng quốc gia bí ẩn và gây nhiều tranh cãi về chương trình hạt nhân, chế tạo tên lửa, lại đang "ngồi trên" khối tài sản khổng lồ trị giá 10 nghìn tỷ USD. Triều Tiên sở hữu “kho báu” khổng lồ trị giá 10 nghìn tỷ USD. Ảnh minh họa.

Theo Quartz, khu vực vùng núi Triều Tiên ẩn chứa 200 loại khoáng sản có giá trị như vàng, sắt, đồng, kẽm, đá vôi, than chì và các kim loại hiếm thường sử dụng trong sản phẩm công nghệ cao. Nhiều loại tài nguyên trong số này thậm chí còn có trữ lượng lớn nhất thế giới.

Ước tính tổng giá trị trữ lượng khoáng sản ở Triều Tiên lên tới 6-10 nghìn tỷ USD, theo tài liệu thống kê của các công ty khoáng sản và viện nghiên cứu Hàn Quốc. Điều này có nghĩa là nếu tính theo đầu người, mỗi người trên thế giới được nhận tới hơn 1.000 USD.

Khai thác khoáng sản là nguồn thu ngoại tệ quan trọng của chính phủ Triều Tiên trong bối cảnh nước này gánh chịu các biện pháp trừng phạt của Liên Hợp Quốc vì chương trình hạt nhân và tên lửa tầm xa.

Tuy nhiên, do chịu cấm vận nên Triều Tiên không có đủ nguồn lực và cơ sở hạ tầng để khai thác hiệu quả nguồn khoáng sản khổng lồ. Bình Nhưỡng hiện vẫn phụ thuộc vào các nước láng giềng như Trung Quốc, Nga trong việc hỗ trợ tài chính và giải quyết vấn đề thiếu hút năng lượng.

Lloyd Vasey, nhà sáng lập Trung tâm Nghiên cứu chiến lược quốc tế (CSIS) nhận định, sản lượng khai thác mỏ của Triều Tiên đã giảm khoảng 30% kể từ những năm 1990.

"Họ thiếu thiết bị khai thác mỏ, và Triều Tiên không thể mua thêm thiết bị mới trong hoàn cảnh kinh tế ngặt nghèo, thiếu thốn năng lượng và mạng lưới điện không tốt", ông Vasey cho biết.


Hoạt động giao thương ở khu vực biên giới giữa Trung Quốc và Triều Tiên.

Ngoài ra, các mỏ khai thác tư nhân là bất hợp pháp tại Triều Tiên. Nước này từng cho phép các công ty nước ngoài khai thác tại đây nhưng đã đột ngột thay đổi thỏa thuận hoặc rút giấy phép.

Trong những năm gần đây, Triều Tiên đặc biệt đẩy mạnh khai thác than đá, có thể vì khai thác các mỏ than đá không đòi hỏi công nghệ cao. Các mỏ than cũng nằm gần các cảng lớn và biên giới với Trung Quốc, giúp giảm bớt chi phí vận chuyển.

Trung Quốc nhập khẩu khoảng 1 tỷ USD than đá từ Triều Tiên, chiếm đến 40% giá trị xuất khẩu của nước này. Tuy nhiên, Bắc Kinh hồi đầu năm nay tuyên bố ngừng nhập khẩu than từ Bình Nhưỡng để gây sức ép, buộc Triều Tiên từ bỏ chương trình hạt nhân.

Tháng 6.2016, Ai Cập bắt giữ tàu chở hàng Triều Tiên qua kênh đào Suez. Trên tàu có 2.300 tấn quặng sắt và 30.000 đạn rocket, đánh dấu lượng hàng hóa và vũ khí lớn nhất từng bị thu giữ trong lịch sử cấm vận Triều Tiên, theo tài liệu của Liên Hợp Quốc.

Lượng khoáng sản khổng lồ dưới lòng đất của Triều Tiên gần như còn nguyên vẹn và chưa được chạm tới cho đến khi các quốc gia láng giềng tìm ra cách để cùng hợp tác khai thác, theo Quartz.


http://www.24h.com.vn/tin-tuc-quoc-te/trieu-tien-ngoi-tren-kho-bau-tri-gia-10-nghin-ty-usd-c415a885862.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

PHÍA SAU CỦA SỰ TRẢ GIÁ



Luân Lê - Ai là những người cấp tiến? Đó là những người bị bắt nhốt và cầm tù.
Ai là người bỏ tù những người cấp tiến? Đó là những kẻ ngu dốt và bảo thủ nhưng có quyền lực trong tay.

Nhưng đất nước đổi thay và phát triển, chắc chắn là từ và bởi những con người cấp tiến.
Ngày xưa khi chống các nhà nước phong kiến, những người trí thức, các bậc chí sỹ, hiền tài cũng bị các nhà nước quân chủ chuyên chế (triều đình) cầm tù hoặc xử tử bằng những hình phạt nghiêm khắc, nhân danh thiên tử (con trời) để xử tử thần dân hoặc cận thần có tiếng nói trái ngược ý mình, hoặc họ phải bỏ về quê ở ẩn để được là chính họ.

Cho đến những thời kỳ bị xâm lược bởi đế quốc thực dân, những người cấp tiến của dân tộc đấu tranh để nhằm nâng cao nhận thức người dân hoặc giải phóng đất nước (dù bằng con đường khai dân trí hay con đường bạo lực cách mạng), thì đều là những người có tư tưởng cấp tiến so với cái thời mà chính quyền đô hộ hay cai trị đang trị vì. Và những con người đó bị bỏ tù vì lòng yêu nước nồng nàn, ngay cả ông Nguyễn Ái Quốc, cũng vào tù ra khám như một lẽ bình thường mà một người yêu nước phải trải qua. Nhưng có lẽ đó đơn giản chỉ là thay đổi vị trí địa lý chứ không có nghĩa điều đó tạo ra nỗi sợ hãi cho những con người như vậy. Vì với họ, nhà tù là nơi để dẫn đến tự do cho những người khác.

Lòng yêu nước trong một tâm tri được hun đúc và khởi dậy lên là bởi những bất công ngày càng hiển hiện và chồng chất trước mắt họ. Và chính quyền nào cai trị bằng nỗi sợ hãi thì sẽ sụp đổ bằng chính nỗi sợ hãi. Nhà nước nào kìm hãm sự phát triển dân trí thì nhà nước đó sẽ bị phá hủy bởi chính sự ngu dốt được nó tạo ra và duy trì. Bộ máy nào dùng bạo lực để bảo vệ quyền lực thì rồi chính bạo lực sẽ lật đổ và nghiền nát bộ máy ấy, chỉ trừ khi nó trao trả quyền lực một cách hòa bình cho phần còn lại của dân chúng.

Nên một chính phủ/chính quyền thông minh là một chính quyền biết trọng nhân sỹ, dựng dân trí và dụng học và thực lý.

Nhân loại phát triển là nhờ vào những lực lượng cấp tiến, họ nhìn xa trông rộng và biết lo trước nỗi lo của thiên hạ. Dù có thể hoàn cảnh hiện tại không phù hợp để dung chứa những tư duy và trí tuệ của họ lúc đó, nhưng vì những thứ đó mà tiến trình phát triển của con người mới có thể đi lên và dần hoàn thiện. Như Montesquieu phải trốn chạy nhà nước nửa tư sản nửa phong kiến của Pháp, nhưng học thuyết về chính quyền mà ông để lại cho nhân loại là vô giá. Di sản của Nelson Mandela dành cho Nam Phi là một nền cộng hòa tổng thống và đưa đất nước này thoát khỏi bàn tay cai trị bạo lực của chính quyền độc tài Apacthai. Luther King tạo ra hai đạo luật về Dân quyền và Nhân quyền cho người da đen thụ hưởng trên đất nước Mỹ. Mahatman Gandhi giúp Ấn Độ có được độc lập hoàn toàn khỏi Anh Quốc. Và hiện thời, bà Aung San Suu Kyi của đất nước Miến Điện khởi tạo một nền dân chủ mới mẻ sau gần nửa thế kỷ bị một chính quyền quân sự độc tài cai trị kìm hãm đất nước và bị bỏ lại đằng sau trong thế giới các quốc gia thứ ba (nghèo đói và kém phát triển).

Ông Nguyễn Ái Quốc, theo khía cạnh đấu tranh, cũng là một người cấp tiến khi muốn tranh đấu để đưa dân tộc Việt Nam thoát khỏi những sự cùm kẹp của các quốc gia ngoại quốc khác, đồng thời xóa bỏ chế độ nhà nước phong kiến lạc hậu và bạo tàn được duy trì hàng nghìn năm trong lịch sử. Cụ Phan Chu Trinh cũng là một con người cấp tiến và với phương cách có lẽ là có ảnh hưởng và mang lại giá trị thuyết phục nhất nếu dân tộc được thừa hưởng, đó là gây dựng dân trí đủ cao, khi đó độc lập và tự do, tự cường và phồn thịnh, hòa bình và vững mạnh, tất cả đều song hành cùng nhau trong lòng tổ quốc. Nhưng tư tưởng của cụ không phù hợp cho thời đó, và đến hiện tại nó lại là đòi hỏi cấp thiết của cuộc sống, khi đa phần dân chúng còn chưa hiểu dân quyền và nhân quyền là gì, mặc dù thế giới đang diễn ra cuộc cách mạng về trí tuệ nhân tạo và khám phá vũ trụ một cách mạnh mẽ và sâu rộng.

Thế nên, những người cấp tiến, bị bỏ tù bởi chính quyền, đó có lẽ là một lẽ tự nhiên và bình thường. Bởi cái cấp tiến thường là những thứ sẽ gây nguy hại và đe dọa đến sự tồn tại cho những cái lạc hậu và bảo thủ, khi nó muốn thay thế vị trí và xóa bỏ đi những cái cũ kỹ, cổ hủ và ngày càng tha hóa - những thứ kìm hãm và giết chết sự phát triển của xã hội loài người.

Ai là những người cấp tiến? Đó là những người bị bắt nhốt và cầm tù.

Ai là người bỏ tù những người cấp tiến? Đó là những kẻ ngu dốt và bảo thủ nhưng có quyền lực trong tay.

Nhưng đất nước đổi thay và phát triển, chắc chắn là từ và bởi những con người cấp tiến.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Số doanh nghiệp phá sản, "chết lâm sàng" tăng đột biến


Nguyễn Tuyền 


























Dân Trí - Số doanh nghiệp (DN) khó khăn phải ngừng hoạt động sản xuất kinh doanh, chờ phá sản và chính thức phá sản 6 tháng đầu năm 2017 tăng rất lớn đạt gần 67.000 DN, tăng trên 80% về lượng so với cùng kỳ năm trước.

Báo cáo tình hình kinh tế xã hội 6 tháng đầu năm 2017 của Tổng cục Thống kế (Bộ KH&ĐT) đưa ra nhiều thông số về DN khó khăn buộc DN phải ngừng hoạt động phá sản, trong đó con số đáng lưu tâm là tình hình DN ngừng hoạt động tăng đột biến.

Cụ thể, 6 tháng đầu năm số DN tạm ngừng hoạt động và phá sản đạt gần 67.000 DN, trong đó 61.500 DN ngừng hoạt động và 5.400 DN phá sản. Trong số DN phá sản, DN có quy mô vốn dưới 10 tỷ đồng chiếm 92,2%.

So với cùng kỳ năm ngoái, tổng số DN tạm ngừng hoạt động, chờ giải thể và phá sản là 36.600 DN. Tuy nhiên, mức DN khó khăn năm nay buộc phải ngừng hoạt động, chờ giải thể đã tăng lên 85% về lượng, với lượng tăng thêm trên 30.400 DN, gần gấp đôi so với cùng kỳ năm trước.

Về số DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động, 6 tháng qua, cả nước đạt hơn 61.200 DN, với tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốn tăng thêm cao, khiến 6 tháng qua, vốn khu vực DN bổ sung vào nền kinh tế đạt 1,4 triệu tỷ đồng.

Cộng với hơn 15.400 DN quay trở lại hoạt động, 6 tháng qua, tổng số DN đăng ký thành lập mới và DN quay trở lại hoạt động đã tăng lên gần 76.700 DN.

Như vậy, nếu so sánh trong cùng thời gian, tổng số tăng của DN ngừng hoạt động và phá sản với tổng số tăng DN thành lập mới, quay trở lại hoạt động, số DN mới thành lập và quay lại hoạt động chỉ tăng 10.000 DN, 55 DN/ngày.

Trong khi đó, nếu so sánh về số DN thành lập mới và quay trở lại hoạt động 6 tháng năm 2016 đạt hơn 69.400 DN, số DN thành lập mới, quay trở lại hoạt động cùng kỳ năm nay đạt 76.700 DN, tăng hơn 7.300 DN, tăng trên 10% về lượng.

Tuy nhiên, nếu so số tăng DN thành lập mới và quay trở lại (7.300 DN) qua 1 năm với số tăng của hơn 30.400 DN ngừng hoạt động, phá sản trong cùng thời gian từ tháng 6/2016 - 6/2017, chúng ta thấy rõ những khó khăn đang ngày một lớn đối với nhiều DN bất chấp các nỗ lực cải cách của Chính phủ đặt ra, cùng nhiều quyết sách quan trọng thúc đẩy kinh tế đi lên.

Với lượng DN phá sản, tạm ngừng hoạt động cao, 6 tháng đầu năm 2017 được xem là thời kỳ có lượng DN phá sản, ngừng hoạt động gia tăng nhiều nhất từ trước đến nay, trung bình mỗi tháng có hơn 11.100 DN, mỗi ngày có hơn 370 DN phá sản, ngừng hoạt động.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biến thể mã độc tấn công mạng: Bộ TT-TT hướng dẫn cách bảo vệ Nguyễn Hoài



TPO - Cục An toàn Thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông vừa có văn bản đến đơn vị chuyên trách CNTT các bộ, ngành, sở thông tin và truyền thông, các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, các tổ chức tài chính ngân hàng cảnh báo về mã độc tống tiền mới đang tấn công nhiều quốc gia.

Theo Cục An toàn Thông tin, sau đợt tấn công hồi tháng 5/2017 của mã độc tống tiền WannaCry, ngày 27/6/2017, một mã độc Ransomware lại tiếp tục gây ảnh hưởng tới nhiều nước trên thế giới.

Biến thế mã độc lần này có tên Petya (còn gọi là Petwrap) không chỉ khai thác và lây lan thông qua lỗ hổng MS17-010 mà còn có thể lây nhiễm vào máy tính đã vá lỗ hổng này thông qua công cụ WMIC (công cụ có sẵn trong Windows cho phép truy cập và thiết lập cấu hình trên các máy Windows); công cụ PSEXE (công cụ cho phép truy cập vào máy tính Windows từ xa mà người dùng không biết thông qua dịch vụ SMB) và lỗ hổng CVE-2017-0199 (lỗ hổng trong Microsoft Office/WordPad cho phép tin tặc chiếm quyền điều khiển hệ thống).

Petya có hoạt động rất khác so với các biến thể Ransomware khác. Petya khi lây nhiễm vào máy tính sẽ không mã hóa từng tập tin, mà thực hiện mã hóa Bảng File (Master File Table – MFT, chứa thông tin về tất cả các tập tin và thư mục trong phân vùng) và thay thế Master Boot Record của máy tính bằng tập tin độc hại để hiển thị thông tin đòi tiền chuộc. Do vậy máy tính người dùng sẽ không thể khởi động được khi bị nhiễm mã độc này.

Theo Cục An toàn Thông tin, các lỗ hổng trên đã có bản vá, tuy nhiên có nhiều máy tính vẫn chưa cập nhật và có thế là nạn nhân của đợt tấn công lần này. Một số hòm thư điện tử dùng để phát tán mã độc Petya như: wowsmith123456@posteo.net; iva76y3pr@outlook.com; carmellar4hegp@outlook.com; amanda44i8sq@outlook.com. Khi lây nhiễm máy tính có kết nối mạng đến một số địa chỉ: 185.165.29.78; 84.200.16.242; 111.90.139.247; 95.141.115.108.

Để giảm thiểu nguy cơ từ mã độc Petya, Cục An toàn thông tin - Bộ TT&TT đề nghị các cơ quan, tổ chức tăng cường các biện pháp bảo đảm an toàn thông tin gồm:

Kiểm tra và bảo đảm các máy tính trong hệ thống mạng đã vá các bản vá bảo mật, đặc biệt là MS17-010, CVE 2017-0199.

Chặn toàn bộ kết nối liên quan đến dịch vụ SMB (445/137/138/139) từ ngoài Internet.

Vô hiệu hóa WMIC (Windows Management Instrumentation Command-line).

Không truy cập vào các liên kết lạ, cảnh giác cao khi mở các tập tin đính kèm trong thư điện tử.

Sao lưu các dữ liệu quan trọng thường xuyên vào các thiết bị lưu trữ riêng biệt.

Cập nhật phần mềm diệt virus.

Tắt dịch vụ SMB trên tất cả cả các máy trong mạng LAN (nếu không cần thiết).

Tạo tệp tin " C:\Windows\perfc " để ngăn ngừa nhiễm ransomware. Đây là tập tin mã độc kiểm tra trước thực hiện các hành vi độc hại trên máy tính.

Cục An toàn Thông tin cũng khuyến cáo, khi triển khai các nội dung nêu trên, trong trường hợp cần thiết, các đơn vị có thể liên hệ với Cục An toàn thông tin, số điện thoại:  04.3943.6684, thư điện tử ais@mic.gov.vn để được phối hợp, hỗ trợ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang