Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 17 tháng 6, 2017

Phản biện như thế, hãy đi chỗ khác chơi



(Nhân đọc bài Đôi điều cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải của ông Tạ Hữu Đỉnh đăng trên trannhuong.com)



Đặng Văn Sinh



Với tư cách là người viết phê bình cuốn tản văn "Kẻ sĩ trước thời cuộc" của nhà văn Hoàng Quốc Hải, chúng tôi thấy cần phải trao đổi với tác giả Tạ Hữu Đỉnh về bài "Đôi điều cùng nhà văn Hoàng Quốc Hải" vừa đăng trên trang trannhuong.com ngày 10 tháng 5 năm 2017, vì trong tạp bút này, đã hơn một lần ông nhắc đến tên chúng tôi với hàm ý chê bai.

Thực tình, sau khi đọc, chúng tôi đã có ý không muốn trả lời vì nội dung bài viết quá khiên cưỡng, nhận thức vấn đề hết sức ấu trĩ, thậm chí đọc không vỡ chữ nhưng lại biểu thị thói ngạo mạn, coi thiên hạ chẳng ai bằng mình. Thế nhưng phần lớn bạn bè lại có ý khác. Họ bảo, trannhuong.com là một trang mạng uy tín, mỗi ngày có cả ngàn người truy cập, nếu mình im lặng, vô tình sẽ tạo ra sự ngộ nhận của công chúng về một tác phẩm bị phê phán bởi cái nhìn lệch lạc của một người đọc thiếu công tâm, hoặc cố tình bôi nhọ bởi những lý do nào đó ngoài văn chương. Vì thế, chúng tôi quyết định "hầu chuyện" Tạ tiên sinh.

Bài viết của Tạ tiên sinh khá dài, khá lan man và thỉnh thoảng lại chen vào những lời phê phán nặng nề đối với nhà văn Hoàng Quốc Hải, nhưng tựu trung, có thể quy về mấy điểm dưới đây.

1 - Nhà văn Hoàng Quốc Hải không phải là người tìm thấy am Ngọa Vân, và việc các giáo sư sử học xác định sai di tích Phật hoàng viên tịch cần phải được thông cảm vì tuổi già, trí nhớ giảm sút, dễ nhầm lẫn.

2 - Nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ đã được triều đình phong kiến minh oan, truy phong là "Quốc mẫu", vì thế Hoàng Quốc Hải viết bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ" là không hiểu gì về lịch sử.

3 - Phê phán sử gia Ngô Sĩ Liên là hỗn láo, cần phải dưa nhà văn Hoàng Quốc Hải ra Tòa theo Khoản I, Điều 20, Hiến pháp nước CHXHCNViệt Nam, 2013.

Để cho ngắn gọn, đỡ mất thời gian của bạn đọc, chúng tôi lần lượt trả lời từng mục như sau:

1 - Về di tích Ngọa Vân

Trong bài tạp bút của mình, ông Tạ Hữu Đỉnh phải thừa nhận, các nhà nghiên cứu lịch sử như GS. Hà Văn Tấn  và GS. Lê Văn Lan hầu như không biết cụ thể Ngọa Vân am ở đâu nên mỗi ông tùy hứng chỉ một nơi xung quanh khu vực chùa Hoa Yên. Còn ông Thi Sảnh, tức Nguyễn Thanh Sỹ, Giám đốc Sở Văn hóa Quảng Ninh, tuy là người sở tại, nhưng khi viết "Cõi thiêng Yên Tử" cũng chỉ ra một Ngọa Vân vô cùng sai lạc so với vị trí đích thực của nó. "Cõi thiêng Yên Tử" là cuốn sách được xem là nghiêm túc về một di tích lịch sử Phật giáo Đại Việt, mắc phải sai lầm nghiêm trọng như vậy mà tác giả họ Tạ lại ra sức biện hộ bằng những lời khiến bất cứ ai đọc cũng phải tức cười vì sự ngô nghê của kẻ điếc không sợ súng: "Vậy, nếu ông Thanh Sĩ làm Giám đốc Sở Văn hóa Quảng Ninh vào thời gian đó, thì chuyện ông không biết am Ngọa Vân ở đâu, tuy cũng là điều đáng trách, nhưng cái sự không biết đó lại chứng tỏ ông là người không mê tín dị đoan...". Hay thật! Như vậy, theo khẩu khí tác giả bài tạp bút, toàn thể nhân dân xã Bình Khê và cán bộ, nhân viên Phòng Văn hóa huyện Đông Triều cùng với nhóm điền dã của nhà văn Hoàng Quốc Hải, đều được xếp vào đối tượng mê tín dị đoan chỉ vì đã chót biết...Ngọa Vân am(!?).

Người làm khoa học, nhất là khoa học lịch sử phải nghiêm túc, cẩn trọng và chính xác. Lịch sử không chấp nhận sự hàm hồ. Bởi sự hàm hồ dẫn đến ngộ nhận, làm biến dạng nhận thức của các thế hệ tương lai, hậu quả sẽ khôn lường. Chẳng hiểu Tạ Hữu Đỉnh có nhận thức được vấn đề này hay không khi mà ông lấy lý do tuổi tác để bênh vực các nhà sử học: "Còn sự nhầm lẫn của hai vị giáo sư kia, có thể vì các vị ấy học sử đã lâu, bây giờ tuổi cao, trí nhớ giảm. Mà khi người ta đã quên, thì cũng nên thông cảm, chứ bảo các vị ấy 'vô trách nhiệm', tôi nghĩ hơi quá lời. Vả chăng, nước ta có rất nhiều chùa chiền, các vị ấy có quên đi một ngôi, dù đó là nơi viên tịch của một vị hoàng đế, thì 'cái kho kiến thức' đã giúp các vị ấy trở thành giáo sư cũng chẳng vơi bớt đi là bao". Đúng là tác giả có "cái kho lý sự cùn". Bởi theo chúng tôi được biết,  thời điểm "định vị" Ngọa Vân, chậm nhất là năm 2000, xuân thu hai nhà sử học mới ở xấp xỉ lục tuần.  Lục tuần mà đã "tuổi cao, trí nhớ giảm" thì "thôi rồi, Lượm ơi!".

Vào thời điểm trước khi nhà văn Hoàng Quốc Hải công bố bài tản văn "Đi tìm một Ngọa Vân", có thể nói các nhà lãnh đạo ngành văn hóa tỉnh Quảng Ninh cũng như Ban Quản lý di tích Yên Tử đều không biết chính xác Ngọa Vân ở đâu, trái lại, bất người dân nào ở xã Bình Khê, thậm chí cả huyện Đông Triều, đều có thể làm hướng dẫn viên đưa du khách đến tận "am trong mây", vốn là nơi Điều Ngự Giác Hoàng sống những ngày cuối cùng rồi về cõi Niết Bàn. Thì ra ngọn núi thiêng này nằm ở phía tây quần thể Yên Tử chứ không phải ở phía đông như người ta vẫn nghĩ, mặc dù các nhà sử học đáng kính từng đọc rất kỹ sự kiện Phật Hoàng viên tịch trong "Đại Việt sử ký toàn thư" và "Trúc Lâm tam tổ". Ngọa Vân vẫn còn đó, không ai "bứng" đi được hay "phát minh" ra bởi đó là một thực thể tồn tại khách quan. Chỉ có điều, nhà văn Hoàng Quốc Hải đã có một nghĩa cử sau 25 năm trăn trở, là làm sáng tỏ một tồn nghi mà bấy lâu nay người ta vẫn nhận thức mơ hồ. Chính vì thế, trong bài "Kẻ sĩ trước thời cuộc và bản lĩnh người cầm bút", chúng tôi mới dám viết: "Như vậy, từ đây, Ngọa Vân am đã được định vị chính xác trên bản đồ quần thể di tích Yên Tử, tạo điều kiện thuận lợi cho các thiện nam tín nữ cũng như khách thập phương đến viếng thăm. Công lao ấy, có một phần không nhỏ của nhà văn Hoàng Quốc Hải".

Suy diễn như Tạ Hữu Đỉnh thật ấu trĩ. Cách lập luận của ông có cái gì đó lởm khởm, vừa thiếu cơ sở khoa học, vừa mâu thuẫn với logic văn cảnh của bài viết.

2 - Về bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ", ông Tạ Hữu Đỉnh lập luận: "Còn vụ án oan ở Vườn Vải, cho đến nay dã tốn quá nhiều công sức và giấy mực rồi, mà mọi sự cũng quá rõ ràng, minh bạch rồi, người bị oan đã được minh oan rồi. Tưởng chẳng còn gì để bàn nữa, nhưng trong bài 'Kẻ sĩ trước thời cuộc...', tác giả Đặng Văn Sinh lại viết: '...Công bằng mà nói, khi Lê Thánh Tông chấp chính, Nguyễn Trãi đã được minh oan, nhưng thật ra ông mới chỉ dám giải oan một nửa cho Ức Trai, còn Nguyễn Thị Lộ thì không...'. Thiết nghĩ, khẳng định như vậy là không đúng với sự thật lịch sử". Tiếp đó tác giả dẫn ra bài "Bút ký về Nguyễn Thị Lộ", được đăng ở phần phụ lục của PGS. Trần Bá Chí ở Đại học Quốc gia Hà Nội trong cuốn kỷ yếu "Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên", với tư liệu rất vu vơ, hoàn toàn không được kiểm chứng, thiếu vắng cơ sở khoa học như sau: "Tờ chiếu minh oan gồm hai phần. Phần đầu viết lời minh oan cho Nguyễn Trãi, cuối phần đầu có một câu kết luận 'Ức Trai tâm thượng quang khuê tảo'. Đến phần thứ hai ghi minh oan cho Nguyễn Thị Lộ, câu kết có tám chữ: 'Tiền triều nữ sĩ bất can thí tội' (Nữ sĩ triều trước là Nguyễn Thị Lộ không liên quan đến tội giết vua). Đến triều vua Lê Dụ Tông, năm 1710, Đại Nguyên soái An Đô Vương Trịnh Cương đến thăm đền công thần Nguyễn Trãi và vợ là Nguyễn Thị Lộ ở Khuyến Lương có ra lệnh cấp cho đền thờ ông bà tại xứ Cáo Thượng 1 mẫu 5 sào để giao cho Giáp 5, Giáp 6 cày cấy, lo việc giỗ chạp ông bà Nguyễn Trãi.

Đền thờ riêng bà Nguyễn Thị Lộ ở Phe 4 xã Khuyến Lương (xưa thuộc hương Cổ Mai, huyện Thanh Đàm, sau đổi thành huyện Tranh Trì), dân địa phương thường gọi là Đền Mẫu. Bài vị thờ bà Nguyễn Thị Lộ viết: 'Lê triều Lễ nghi học sĩ Ức Trai tiên sinh chi phu nhân, phục thăng Quốc Mẫu, Nguyễn Thi húy Lộ chi thần vị".

Từ bài bút ký, nằm trong thể loại "sáng tác" của Trần Bá Chí, Tạ Hữu Đỉnh kết luận: "Nhưng bà đã được minh oan và 'phục thăng Quốc Mẫu'. Nếu so với các bậc quân vương, nữ tướng anh hùng như Hai Bà Trưng, Lê Trân, Triệu Thị Trinh, Bùi Thị Xuân đã có công đánh giặc giữ nước, cũng chưa vị nào được tôn vinh như vậy. Bà Nguyễn Thị Lộ được phong Quốc Mẫu là ngang hàng với Quốc Mẫu Âu Cơ rồi. Chẳng lẽ đó chưa phải là minh oan hay sao?".

Đọc đến phần này, chúng tôi chợt sững người. Chẳng lẽ các nhà văn hóa nổi tiếng, các nhà sử học hàng đầu Việt Nam, từ trước đến nay đều có cặp mắt "gà mờ" hay sao mà bỏ qua một tư liệu vô cùng quan trọng về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ? Sự việc hiển nhiên như thế, vậy thì hà cớ gì, người ta phải tốn bao công sức và tiền bạc, tổ chức cuộc hội thảo khoa học vào năm 2004 chỉ để minh oan và tôn vinh người phụ nữ tài hoa bị bức tử trong vụ thảm án năm Nhâm Tuất?

Trả lời câu hỏi trên không khó. Trước hết, bút ký là thể loại "sáng tác văn học". Trong trường hợp này, người viết có thể tìm ra một số tư liệu dân gian trong quá trình đi điền dã. Có không ít tư liệu, thậm chí còn được ghi chép trong gia phả, bia đá, bài vị thờ cúng ở một địa phương về một nhân vật lịch sử nào đó, nhưng không phải là tư liệu chính thống. Vì thế, cái gọi là "tờ chiếu minh oan" được tác giả Trần Bá Chí nêu ra trong "Bút ký về Nguyễn Thị Lộ" mà ông Tạ Hữu Đỉnh dẫn lại để phản biện nhận định của chúng tôi chỉ nên xem như một tư liệu tham khảo ít giá trị khoa học. Hơn nữa, không thể căn cứ vào một văn bản sao lục hoàn toàn mang tính chất dã sử hay huyền tích để kết luận một vụ án bất công cách đây già nửa thiên niên kỷ đã được triều đình phong kiến thân oan. Việc minh oan cho Nguyễn Thị Lộ thuộc tầm cỡ quốc gia. Chỉ nhà vua mới có quyền xuống chiếu, đồng thời, sự kiện quan trọng đó phải được ghi trong quốc sử. Rất mong ông Trần Bá Chí và ông Tạ Hữu Đỉnh hãy đưa ra những bằng chứng thuyết phục để bạn đọc mở rộng tầm mắt. Huống chi, "Quốc Mẫu" là một danh hiệu cao quý, từ thượng cổ đến nay chỉ được dùng để suy tôn những người phụ nữ kiệt xuất, phần lớn là trong huyền thoại như Âu Cơ, Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, hay Mẫu Thoải. Hoàng hậu của các triều đại phong kiến, tuy gọi "mẫu nghi thiên hạ" nhưng thực chất cũng chỉ ở cấp độ "đệ nhất phu nhân". Duy chỉ đời Trần, nhà vua sắc phong "Linh Từ Quốc mẫu" cho bà Trần Thị Dung. Đây là trường hợp đặc biệt, sau này không có người thứ hai. Nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ đúng là một tài nữ, là nạn nhân của một vụ án chính trị, nhưng bảo rằng bà được "phục thăng Quốc Mẫu" e rằng hơi quá lời.

Để làm rõ hơn việc bà Nguyễn Thị Lộ không được các triều đại phong kiến minh oan, phải ngậm hờn nơi chín suối, chúng tôi xin dẫn ra đây nhận định của các nhà sử học, nhà văn hóa, nhà nghiên cứu văn học trong một số tham luận đọc tại Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ. Tất cả mọi dẫn chứng đều được lấy trong cuốn kỷ yếu "Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên", do NXB Văn hóa Thông tin ấn hành năm 2004.

Trong bài "Tựa"  cho cuốn sách trên, PGS Phan Văn Các, nguyên viện trưởng Viện Nghiên cứu Hán - Nôm, hiện là Chủ tịch Hội đồng khoa học Viện Nghiên cứu Hán -  Nôm, viết: "Vụ án Lệ Chi Viên đã bị phê phán. Nhưng riêng Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ dường như chưa được chiêu tuyết minh oan một cách triệt để và càng chưa được tôn vinh đúng mức" (Phan Văn Các, "Lễ nghi học sĩ với thảm án Lệ Chi viên", tr.11).

"Thực ra, vấn đề khẩn thiết số 1 đặt ra hiện nay là vấn đề nỗi oan Nguyễn Thị Lộ bị tắc nghẽn suốt 560 năm nay. Dù chế độ phong kiến chưa minh oan đầy đủ, nhưng đến nay vấn đề minh oan cho Nguyễn Trãi được ưu tiên hơn thì vấn đề Nguyễn Thị Lộ vẫn chưa thỏa đáng. Từ rất lâu nay người ta đã né tránh. Về lĩnh vực sử học, tìm thấy một ý kiến bênh vực cho Nguyễn Thị lộ như nhà sử học uyên bác Trần Huy Liệu là chưa nhiều. Ngay trên tạp chí chuyên ngành nghiên cứu lịch sử của Viện Sử học mà mấy chục năm trời lại chỉ tìm thấy một bài của học giả uyên thâm Lê Thước 'Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi' (Văn sử địa 1957, số 24, tr. 63 - 73). Người ta né tránh những thủ phạm đầu sỏ, mà chỉ đổ cho khách quan, cho những kẻ tòng phạm mà thông lệ xưa nay gọi là 'người dưới thực hiện', một việc ứng xử rất 'khôn lỏi' của giới cầm quyền để dễ bề phủi tay...". (Hoàng Đạo Chúc, "Dẫn luận cho Hội thảo khoa học về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ", tr. 26 - 27).

Trong khi ấy, GS. Phan Huy Lê, với tham luận "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm" đã phân tích khá thấu đáo nội tình vụ thảm án với tư cách nhà sử học hàng đầu Việt Nam, đồng thời cũng nhấn mạnh, Nguyễn Thị Lộ, nỗi oan vẫn còn đó: "Như vậy từ đời Lê đến đời Nguyễn, Nguyễn Trãi đã dần dần được minh oan, chiêu tuyết. Công lao bình Ngô, những cống hiến về tư tưởng, văn học và tài năng, nhân cách của ông càng ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên, về Nguyễn Thị Lộ thì gần như chưa được minh oan, thậm chí bộ quốc sử đời Nguyễn 'Khâm định Việt sử thông giám cương mục' vẫn chép theo quan điểm xử tội của triều Lê năm 1442: 'Giết Thừa chỉ nhập nội hành khiển trí sĩ Lê Trãi, tru di cả họ. Trãi phải tội liên lụy vì người vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ. Người ta đều cho là oan, kèm theo lời phê của Tự Đức: Đời Lê Thái Tông, vua thì buông tuồng, bầy tôi thì chuyên quyền. Trãi nếu là người hiền thì nên sớm liệu rút lui, ẩn náu tung tích để cho danh tiếng được toàn vẹn. Thế mà lại đi đón rước ngự giá, thả lỏng cho vợ làm việc hoang dâm, vô liêm sỉ. Vậy thì cái vạ tru di cũng là tự Trãi chuốc lấy" (Quốc sử quán triều Nguyễn: "Khâm định Việt sử thông giám cương mục", Chính biên QXVII, tr. 23b. Bản dịch, NXB Văn Sử Địa, Hà Nội 1959,T.IX, tr.79).

Cùng quan điểm với nhiều nhà khoa học trong hội thảo về nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ, GS. TSKH Phan Đăng Nhật trong bài "Nguyễn Thị Lộ, lịch sử và huyền thoại" có thái độ khá kiên quyết trong việc phản bác nhà nước phong kiến sử dụng huyền thoại "rắn báo oán" để bôi nhọ thanh danh bà: "Lê Thánh Tông đã không một lời minh oan cho bà, mặc dầu bà đã cưu mang mẹ con ông. Chúng ta không thể phụ họa với bọn Lê Thận - Nguyễn Thị Anh buộc cho bà là rắn độc, để xóa án cho thủ phạm. Như vậy là đang tay giết bà hai lần. Đề nghị từ nay đuổi hình bóng con rắn ra khỏi cuộc đời nhà thơ - Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ".

Một nhà sử học khác, giáo sư Đinh Xuân Lâm, trong bài "Nhân một vụ án, suy nghĩ về trách nhiệm người viết sử", cũng đề xuất ý kiến, rất cần phải chiêu tuyết cho nữ sĩ Nguyễn Thị Lộ, theo cách của những nhà làm sử đương đại: "Cũng cần có sự chiêu tuyết công khai cho bà, không thể để bà chỉ là một cái bóng mờ nhạt của Nguyễn Trãi. Chế độ phong kiến cũ đã không làm được việc đó, thì ngày nay chúng ta phải làm việc đó thông qua việc nghiên cứu và biên soạn lịch sử dân tộc một cách trung thực và khoa học".

Vậy nguyên nhân gì, vua Lê Thánh Tông không xuống dám chiếu minh oan cho ân nhân đã cưu mang mỉnh?  Chúng ta hãy đọc lại một đoạn trong bài "Ý kiến trao đổi: Thử xét lại cái án Nguyễn Trãi" của hai học giả Lê Thước và Trương Chính, đăng trên "Tập san Văn Sử Địa" số 24, tháng 1 năm 1957, từ trang 63 đến trang 73: "Đối với Thánh Tông, dù sao đi nữa, Thị Anh và Bang Cơ cũng là người ân nhân. Chính tước Bình Nguyên vương là tước mà Thị Anh phong cho Tư Thành sau khi ngôi vua của con thị đã vững chắc (Thái Hòa năm thứ III), như để chuộc lỗi trước. Vì vậy, nay mẹ con thị bị hại, Thánh Tông được nối ngôi, ông liền truy phong cho thị, như không hề xảy ra việc gì giữa mẹ con Nhân Tông và mẹ con ông cả.

Do đó, Ngô Sĩ Liên không dám viết sự thật về một người đã được nhà vua truy phong như thế. Huống hồ, Ngô Sĩ Liên là người có tì vết". Cuối bài viết, hai học  giả còn khẳng định: "Lời đe dọa đó không khỏi ám ảnh nhà viết sử của chúng ta, nên ông đã dè dặt là phải. Và đành để lại cho chúng ta cái nghi án từ trước đế nay chưa ai tìm cách thẩm tra lại".

Như vậy, qua nhận xét, phân tích có cơ sở khoa học và chứng lý lịch sử, các tham luận đều thống nhất một điều hiển nhiên là, gần sáu trăm năm qua, nỗi oan của Nguyễn Thị Lộ vẫn còn đó, bởi trong chính sử, không có bất cứ triều đại nào xét lại vụ kỳ án chứ chưa nói là chiêu tuyết. Thật mỉa mai, đến tận đời Nguyễn, một ông vua hay chữ như Tự Đức, được xem là người con có hiếu với Từ Dụ hoàng thái hậu, mà lại nhẫn tâm hạ bút, đồng lõa với sử gia tiền triều, xúc phạm nặng nề nhân cách của bà.

Vậy xin hỏi, triều đại nào, vị hoàng đế nào đã minh oan cho Nguyễn Thị Lộ và truy phong bà làm "Quốc Mẫu" mà tác giả Tạ hữu Đỉnh đã đoan chắc như đinh đóng cột chỉ căn cứ vào một tờ chiếu không rõ nguồn gốc trong bài bút ký của Trần Bá Chí? 

3 - Vấn đề cuối cùng là, Tạ Hữu Đỉnh rất bất bình trong việc nhà văn Hoàng Quốc Hải phê phán gay gắt Ngô Sĩ Liên, qua đó, đề nghị đưa tác giả ra tòa vì dám xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm sử gia tiền triều.

Nhằm bênh vực lời bình của Ngô Sĩ Liên về Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ, ông Tạ Hữu Đỉnh đã viết những dòng hoàn toàn mang tính tư biện, thiếu cơ sở khoa học, phi đạo lý như sau: "Theo tôi lời bình đó nếu có sai trái, thì chỉ sai với thời bây giờ thôi, còn thời xưa thì lời bình đó hoàn toàn là sự thật. Vì nó phản ánh đúng quan niệm về đạo đức của thời đại ấy là trọng nam khinh nữ. Sắc đẹp của người phụ nữ được coi là (hay bị coi) là khuynh quốc, khuynh thành. Ở nước Tầu thời xưa, người ta cho rằng sắc đẹp của Tây Thi đã làm mất nước Ngô…".

Cũng vẫn với tâm thức trên, họ Tạ tiếp tục tán dương vị sử quan thời Lê sơ: "Như vậy thì lời bình Nữ sắc làm hại người lắm thay của Ngô Sĩ Liên cũng chỉ là điều ông thừa nhận một thực tiễn khách quan". Và, sau một hồi cà kê những chuyện "biết rồi, khổ lắm, nói mãi", tác giả lại xổ ra một câu rất không ăn khớp với hoàn cảnh, khiến người đọc có quyền nghi ngờ đầu óc người này hình như có vấn đề: "Ghi chép đó của sử quan Ngô Sĩ Liên hoàn toàn trái ngược với bản án của triều đình kết tội Nguyễn Thị Lộ là: 'Tiến độc cho vua, theo mưu kế của Nguyễn Trãi”. Một thứ lý luận ông chẳng bà chuộc như thế, thiết nghĩ, chẳng cần nhiều lời ngoài việc trích dẫn ra đây ý kiến đánh giá của các học giả về những người chép sử triều Lê cũng như cá nhân Ngô Sĩ Liên hầu minh chứng cho nhận xét của nhà văn Hoàng Quốc Hải.

 GS. Phan Huy Lê, ngay ở phần đầu bài "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm", đã nhận định: "Với tình trạng tư liệu quá ít ỏi lại bị chính sử che đậy một cách có dụng ý, thì quả thật khó hy vọng tìm ra đủ chứng cứ để phá vụ án bí hiểm này". Cũng trong bài tham luận trên, ở phần sau, Phan Huy Lê viết: "Tuy nhiên qua nội dung của 'Đại Việt sử ký toàn thư' hoàn thành năm 1697, chúng ta thấy rõ tác giả phần này biên soạn trên quan điểm chính thống của vương triều về vụ án Lệ Chi Viên viết theo đúng quan điểm của những kẻ chủ mưu giết hại Nguyễn Trãi - Nguyễn Thị Lộ, do đó các sự thật lịch sử đều bị che đậy thậm chí xuyên tạc".

Giáo sư Đinh Xuân Lâm còn phân tích sâu hơn nữa về sử gia Ngô Sĩ Liên khi ông đưa ra nhận định: "Rõ ràng trong sự việc này, ngòi bút của sử quan (cụ thể đây là Ngô Sĩ Liên) đã không đảm bảo tính trung thực, khách quan cần có, hay nói cách khác là, trong trường hợp này, sử quan chạy theo phái chiếm thế mạnh trong triều để bóp méo, xuyên tạc lịch sử" (Đinh Xuân Lâm, "Nhân một vụ án, suy nghĩ về trách nhiệm người viết sử").

Sau khi đọc lời bình của Ngô Sĩ Liên về Nguyễn Thị Lộ "Nữ sắc làm hại người ta thật quá lắm! Nguyễn Thị Lộ chỉ là một người đàn bà thôi, Thái Tông thích người ấy mà phải chết, Nguyễn Trãi lấy người ấy làm vợ mà cả họ bị giết, lại chưa đề phòng sao!", tiến sĩ Mai Hồng, Giám đốc "Trung tâm Nghiên cứu và ứng dụng phả học Việt Nam" nhận xét, tuy có phần nhẹ nhàng nhưng phản ánh đúng tư cách của vị sử gia cơ hội triều Lê sơ: "Câu bàn này của sử gia xem chừng chả có gì sâu sắc, rất vô trách nhiệm trong tinh thần của sử bút (là thực lục) trước thân phận một con người bị chết oan và chà đạp về nhân phẩm" (TS. Mai Hồng, "Những tư liệu Hán Nôm có liên quan tới cuộc đời Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ", tr.168).

Tất cả những ý kiến trên của các nhà khoa bảng đề "chúng khẩu đồng từ" tuy mức độ nặng nhẹ có khác nhau về tư cách người viết sử triều Lê mà điển hình là Ngô Sĩ Liên. Như vậy há chẳng rõ hay sao? Từ đó có thể suy ra kiến thức về lịch sử của Tạ tiên sinh rất hời hợt. Nếu chịu đọc hết các tham luận chính trong kỷ yếu Hội thảo khoa học về Nguyễn Thị Lộ, chúng tôi dám chắc, ông không thể phóng bút viết những dòng phản biện thiếu cơ sở khoa học, đầy tính áp đặt về cuốn sách của nhà văn Hoàng Quốc Hải.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm với tác giả Tạ Hữu Đỉnh. Theo thông lệ của triều đình phong kiến, vua đương thời không được xem quốc sử. Thời Lê, chép sử là trách nhiệm của các sử quan trong Quốc sử quán dưới sự chỉ đạo của một Tổng tài. Các ghi chép sau khi Tổng tài duyệt, bản thảo được sao chép thành nhiều bản, cất vào thư khố. Chỉ sau khi công trình biên soạn thực lục hoàn tất, mới được dâng lên nhà vua ngự lãm. Như vậy, về lý, triều đình không có "Hội đồng xét duyệt quốc sử", mà người chịu trách nhiệm về bộ quốc sử chính là Tổng tài.

Theo GS. Phan Huy Lê trong bài "Nguyễn Thị Lộ, một nữ sĩ tài hoa, một nỗi oan bi thảm", "...phần lịch sử đời Lê Thái Tông không phải do Ngô SĨ Liên viết trong 'Đại Việt sử ký toàn thư' hoàn thành năm 1479 gồm 15 quyển". Tuy nhiên, đến đời Lê Thánh Tông, Ngô Sĩ Liên được cử làm Tổng tài Quốc sử quán. Năm 1464, vua Quang Thuận xuống chiếu minh oan cho Nguyễn Trãi. Lúc ấy, vụ án Lệ Chi Viên đã xảy ra hơn 20 năm, sức ép chính trị không còn căng thẳng như hồi năm Nhâm Tuất (1442), vậy mà "sử gia Ngô Sĩ Liên đã 'hạ một lời bình rất bất lương' về bà Nguyễn Thị Lộ" (chữ của HQH) như trên, thì quả thật hậu thế phải xét lại tư cách kẻ sĩ và trách nhiệm của người đứng đầu Quốc sử quán.

Hơn thế nữa, giữa lúc Ngô Sĩ Liên đang đảm trách chức vụ Đô Ngự sử đài kiêm Tổng tài Quốc sử quán vẫn bị Lê Thánh Tông mắng thậm tệ bởi những hành vi khuất tất mà trong bài viết của mình, tác giả Tạ Hữu Đỉnh đã trích nguyên văn lấy từ "Đại Việt sử ký toàn thư". Đương nhiên, trong lời chỉ trích ấy, nhà vua không nói trắng ra việc "ăn của đút", nhưng một đại thần đầy tai tiếng như sử quan họ Ngô, nắm nhiều chức vụ trọng yếu, có thời đi phò ngụy chúa (Nghi Dân), a dua với phường xu nịnh, liệu có phải là chính nhân quân tử? Chuyện tham nhũng thời Lê sơ như Lê Ngân, Lê Sát và các quyền thần thuộc phe Nguyễn Thị Anh đã được ghi trong chính sử. Tình hình nghiêm trọng đến mức, Lê Thánh Tông phải xuống chiếu khiển trách bọn Nguyễn Đức Trung (cha đẻ Trường Lạc hoàng hậu), Trần Phong, Nguyễn Đình Mỹ, mà Ngô Sĩ Liên lại có mối quan hệ rất thân thiết, liệu rằng có không "ăn của đút" khi đề cử nhân sự cho Nội các?

Vậy thì, trước khi cáo buộc nhà văn Hoàng Quốc Hải vi phạm Khoản I, Điều 20 Hiến Pháp của nước CHXHCN Việt Nam, ông Tạ Hữu Đỉnh hãy đọc kỹ tham luận của các giáo sư đầu ngành sử học như Phan Huy Lê, Đinh Xuân Lâm, tiến sĩ Đinh Công Vỹ, tiến sĩ Mai Hồng, các học giả Lê Thước, Trương Chính, nhà giáo Hoàng Đạo Chúc... khi các vị đã nhất loạt bóc gỡ tấm màn dối trá che mờ vụ án Lệ Chi Viên, phê phán những người chép sử đương thời, trong đó có Ngô Sĩ Liên, bưng bít sự thật, về hùa với kẻ thủ mưu, gây nên cái chết oan khuất của Nguyễn Trài và Nguyễn Thị Lộ, trả lại sự thật vốn có của lịch sử.

Cũng trong bài tham luận "Trắng án Nguyễn Thị Lộ", nhà văn Hoàng Quốc Hải có nêu 3 kiến nghị, mà kiến nghị thứ ba là: "Tóa án Nhân dân tối cao nên ra một phán quyết đặc biệt, phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442), để trả lại sự trong sáng cho bà Nguyễn Thị Lộ, đồng thời làm sáng tỏ tính nghiêm minh của lịch sử". Không ngờ, đề xuất tưởng như vô lý ấy lại được công chúng bạn đọc hưởng ứng, trong số đó có luật sư Nguyễn Thành Vĩnh, một chuyên gia hàng đầu của ngành Luật Hà Nội. Trong bài "Tòa án Nhân dân tối cao nên thụ lý vụ án Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442)", vị luật sư trọng tuổi viết: "Bài viết lập luận chặt chẽ, có lý, có tình khiến bị cuốn hút". Tiếp sau, cụ tỏ ý tán thành quan điểm của tác giả: "Đúng như nhà văn Hoàng Quốc Hải, trong bài viết có ý trách các nhà viết sử và nghiên cứu lịch sử gần 600 năm qua, không một ai đả động gì đến thân phận oan trái của một người phụ nữ như Học sĩ Nguyễn Thị Lộ", và, "Phải nói TRẮNG ÁN NGUYỄN THỊ LỘ" là một công trình nghiên cứu tổng hợp, vừa mang tính lịch sử, vừa mang tính pháp luật hết sức nghiêm túc".

Để khẳng định đề xuất của nhà văn Hoàng Quốc Hải  là có tính khả thi, cụ Vĩnh còn dẫn ra mấy vụ án bất công nổi tiếng thế giới thời Trung cổ do Tòa án Giáo hội La Mã xử, trong đó có vụ án nhà khoa học Giordano Bruno (1548 - 1600) mà sau này Tòa thánh Vatican Công Đồng II, phải công khai nhận lỗi xử cho G.Bruno trắng án.

Đọc bài của luật sư Nguyễn Thành Vĩnh mới thấy tác giả Tạ hữu Đỉnh hồ đồ, không hiểu gì về nội hàm  bài "Trắng án Nguyễn Thị Lộ" mà chỉ nhìn thấy câu chữ ở bề mặt rồi quy chụp theo kiểu các nhà "kiểm dịch". Nếu còn lấn cấn điều gì, mong ông hãy đọc tiếp đoạn dưới đây rồi hay vung gươm đánh nhau với cối xay gió: "Nhưng vấn đề nhà văn đặt ra ở đây là vấn đề của lương tri. Theo tôi, trên góc độ lịch sử và cả trên bình diện luât pháp, Nhà nước nên chính thức giải tỏa. Bởi tới nay, chúng ta đủ căn cứ bác bỏ tính áp đặt, tính phi pháp, phi nhân văn của án tích Lệ Chi Viên năm 1442, mà những điều minh chứng trong công trình của nhà văn Hoàng Quốc Hải là hoàn toàn có cơ sở khoa học" (LS. Nguyễn Thành Vĩnh, "Tòa án Nhân dân tối cao nên thụ lý vụ án Lệ Chi Viên năm Nhâm Tuất (1442)", tr. 417 - 418).

Cuối cùng là vấn đề câu chữ. Hình như trình độ ngữ pháp của Tạ tiên sinh không "chuẩn" cho lắm nên ông mới "phán" một câu làm người đọc ngỡ ngàng: "Cuối bài 'Trắng án Nguyễn Thị Lộ', nhà văn Hoàng Quốc Hải còn kiến nghị 'Tòa án Nhân dân tối cao nên ra một phán quyết đặc biệt, phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên...'.Thưa nhà văn, Tòa phủ nhận tính hợp pháp của án quyết Lệ Chi Viên mới đúng chứ? Phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết, tức là cái án quyết ấy phi pháp. Nếu phủ nhận tính bất hợp pháp của án quyết, chẳng hóa ra lại công nhận án quyết ấy hợp pháp?".

Than ôi! Văn cảnh rõ ràng như thế, hai vế của mệnh đề nhà văn đặt ra  đăng đối và logic như thế mà tiên sinh còn bắt bẻ thì quả thật hết thuốc chữa. Chuyện này dễ thôi, ông hãy tạm gác thói kiêu ngạo sang một bên, "hạ cố" hỏi bất cứ nhà giáo giảng dạy văn học nào, chỉ cần ở cấp trung học cơ sở thôi, người ta sẽ giảng giải cho ông về mối quan hệ giữa các vế của một câu văn mở rộng thành phần.

Để khép lại bài viết, chúng tôi tạm mượn lời tiến sĩ Hà Văn Thịnh, giảng dạy môn Lịch sử ở Đại học Huế, khuyên tác giả Tạ Hữu Đỉnh, hãy đọc hết các văn bản và suy nghĩ kỹ trước khi hạ bút. Nếu không, "phản biện như thế, hãy đi chỗ khác chơi!".

Chí Linh, 24.5.2017



     Đ.V.S.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bộ kimono bí ẩn thiêu rụi thành Tokyo cổ


Người ta cho rằng bộ kimono là lời nguyền khiến ba cô gái trẻ cùng chết một ngày và làm cho thành Tokyo cổ chìm trong biển lửa.

Đến Tokyo, một trong những câu chuyện du khách sẽ được nghe kể là về bộ kimono bí ẩn, khởi nguồn cho trận hỏa hoạn thiêu rụi thành phố khi xưa.
Edo là tên gọi cũ của thủ đô Tokyo, Nhật Bản ngày nay. Năm 1603, Tokugawa Ieyasu lên nắm quyền và bắt đầu xây dựng kinh tế, chính trị ở Edo, biến nơi đây trở thành một trong những thành phố lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Ngoài ra, Tokugawa cũng đã xây dựng cho mình một đội quân cứu hỏa được huấn luyện bài bản và trang bị đầy đủ thiết bị chữa cháy.
bo-kimono-bi-n-thieu-rui-thanh-tokyo-co
Thành Edo hay là Tokyo ngày nay. Ảnh: Metro.
Lâu đài Edo được đặt trên nền đất cao ở trung tâm thành phố, với nhiều vòng tròn chia thành các khu vực dành cho những người thuộc từng ngành nghề và tầng lớp xã hội sống tách biệt nhau. Cũng giống như các thành phố châu Á khác, thành Edo chủ yếu được xây dựng bằng gỗ, giấy gạo, và dùng than củi để sưới ấm.
Khi đó, thành phố được quy hoạch thô sơ, đường sá chật hẹp, quanh co và nhà cửa nằm san sát nhau. Đây chính là nguyên nhân khiến nơi này từng hứng chịu hơn 100 vụ cháy. Trong đó, trận cháy Meireki xảy ra ngày 2/3/1657 là trận cháy lịch sử, khởi nguồn từ một bộ kimono đầy bí ẩn.
bo-kimono-bi-n-thieu-rui-thanh-tokyo-co-1
Ba chủ nhân của bộ kimono đều chết cùng ngày một cách bí ẩn. Ảnh: Wiki Visually.
Tương truyền, bộ kimono Meireki (tên một loại kimono dành cho các cô gái độc thân trong những ngày lễ truyền thống ở Nhật) bị cho là lời nguyền khiến ba cô gái trẻ qua đời. Tất cả đều chết trước khi được mặc nó vào đúng ngày 16/1 trong ba năm Minh Lịch liên tiếp. Điều này khiến mọi người đều coi là điềm xấu. Vì vậy, một thầy tu đã quyết định giải lời nguyền bằng cách đốt bộ kimono này.
Bất ngờ, khi bộ kimono đang cháy thì một cơn gió mạnh từ phía tây bắc thổi qua khiến ngôi chùa bùng cháy dữ dội. Ngọn lửa sau đó nhanh chóng lan ra các khu vực lân cận do trận hạn hán năm trước khiến thành Edo khô cằn hơn. Vì vậy, đội quân cứu hỏa của Tokugawa Ieyasu cũng không thể khống chế được trận cháy.
Vào buổi tối thứ hai, gió đổi hướng đẩy ngọn lửa từ phía nam vào khu vực trung tâm thành phố, nuốt trọn gần như toàn bộ thành Edo. Cuối cùng, sau ba ngày, ngọn lửa dập tắt. Ước tính có tới 100.000 người chết, 60 - 70 % kinh thành bị thiêu rụi, trong đó có 300 đền đài, 500 cung điện, 9.000 cửa hàng, 61 cây cầu. Thiệt hại lớn tới mức có thể so sánh với đại thảm họa động đất Kantō năm 1923 và vụ ném bom nguyên tử của Mỹ năm 1945 lên 2 thành phố lớn của Nhật trong thế chiến 2.
bo-kimono-bi-n-thieu-rui-thanh-tokyo-co-2
Trận cháy Meireki xảy ra đã thiêu rụi ¾ kinh thành Edo. Ảnh:Mheu.
Việc tái thiết Edo được tiến hành trong vòng hai năm dưới sự lãnh đạo của vị tướng Rōjū Matsudaira Nobutsuna. Đường phố được mở rộng hơn, một số quận, đặc biệt là khu vực trung tâm được sắp xếp, tổ chức lại nhằm khôi phục và thúc đẩy nền kinh tế. Ngoài ra, chính phủ cũng trợ cấp cho samurai và cả thường dân một phần kinh phí để xây dựng nhà cửa và ổn định lại cuộc sống. Đế chế của Tokugawa kéo dài đến năm 1867, khi thành phố Edo được đổi tên thành Tokyo như ngày nay.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Văn hóa phản văn hóa



>> Kỷ luật quan chức ‘dính Formosa’ có ma mị được dân?
>> Bộ trưởng Trần Tuấn Anh có phải là nhân vật cải cách thực chất?


Nguyễn Thông














MTG - Không thể nói tiền của tôi, tôi muốn làm thế nào thì làm. Bảo vệ đồng tiền, coi trọng giá trị đồng tiền là trách nhiệm của mọi công dân, bất kể giàu nghèo.

Mới sáng sớm, một chị bạn đồng nghiệp đã gọi điện cho tôi giọng bức xúc lắm. Cứ tưởng chuyện gì, hóa ra chị ấy bày tỏ sự khó chịu về vụ tác giả cuốn sách trong buổi ra mắt sách của ông ta đã thượng lên khinh khí cầu và rải tiền xuống để lấy lòng độc giả. Chị bảo như thế thì quá thể, quá thể.

Vâng, tôi cũng đã biết chuyện đó, cũng đồng ý với chị. Rất quá đáng, phản cảm, vô văn hóa. Lại chợt so với hôm trước tôi được đi dự buổi ra mắt sách của một nhà thơ nổi tiếng, sao mà ấn tượng sâu sắc, dễ chịu và khó quên đến vậy. Nhưng đến vụ ra mắt sách kiểu “khí cầu rải tiền” này thì quả thật hết biết.

Tới chiều nay (17.6), chính tác giả cuốn sách dạy làm giàu mang tên Dám làm giàu Phạm Tuấn Sơn đã gửi thư đến các nhà báo để phân trần, rằng là thế này, rằng là thế nọ, chủ ý thế kia, không ngờ sự việc ngoài vòng kiểm soát, v.v.. Thôi thì cứ cho là có trục trặc kỹ thuật đi nhưng cái sai ấy chỉ cần một lần thôi cũng đủ thành tai tiếng khó gột rửa rồi.

Điều đáng nói nhất, sự vi phạm nghiêm trọng này liên quan đến nhiều khía cạnh, cả về mặt luật pháp, đạo đức, văn hóa. Một người viết sách, có học, từng trải, từng đăng đàn diễn thuyết dạy người khác mà vi phạm chồng chất như thế thì liệu có đáng tin cậy nữa không.

Trước hết, xét về mặt luật pháp. Đồng tiền Việt Nam đang được lưu hành là một thứ sản phẩm đặc biệt do nhà nước ban hành và quản lý chặt chẽ. Đó là đồng tiền pháp định, mọi hành vi sử dụng đều phải theo quy định của pháp luật. Hồi xưa người ta hay kể lại với ý thán phục một vị công tử Bạc Liêu bật diêm đốt tiền giấy để khoe sự giàu có của mình. Đúng ra, theo pháp luật về tiền tệ, hành vi hủy hoại tiền như vậy là vi phạm pháp luật, có thể bị khởi tố. Trong đám tang, theo một vài phong tục cũ, tang quyến có thể rải tiền nhưng chỉ có thể tiền vàng mã, nếu dùng tiền thật sẽ bị ngăn cấm tuyệt đối. Ai đó có thể đem tiền cho người này người khác, tuy nhiên cho bằng cách rải tiền cũng không được xã hội và pháp luật chấp nhận. Không phải cứ có nhiều tiền thì muốn đối xử với nó thế nào cũng được. Không thể nói tiền của tôi, tôi muốn làm thế nào thì làm. Bảo vệ đồng tiền, coi trọng giá trị đồng tiền là trách nhiệm của mọi công dân, bất kể giàu nghèo.

Về mặt văn hóa và đạo đức, hành vi của “tác giả viết sách dạy làm giàu” kia có vấn đề. Viết ra một cuốn sách là cả một quá trình hoạt động văn hóa. Tác giả thường mặc nhiên được coi là người có văn hóa. Đáng nhẽ phải có cách nào đó thật văn hóa để phổ biến cuốn sách tới bạn đọc thì tác giả lại dùng hình thức phản văn hóa. Nói chính xác, đó là thói ngông nghênh, cao ngạo, coi thường độc giả, tưởng rằng cái gì cũng phải có mùi tiền. Hay là ông ấy nghĩ có tiền là xong tất, ai mà chẳng ham tiền, việc gì không giải quyết được bằng tiền thì sẽ bằng rất nhiều tiền. Có tiền mua tiên cũng được, huống chi người bình thường? Đừng nói tôi chỉ rải loại mệnh giá 5 ngàn, 10 ngàn cho vui. Đừng biện bạch tôi chỉ đóng phim với diễn viên quần chúng. Đừng quấy quá rằng chỉ định rải trong sân vận động, không may nó bay ra ngoài phố… Xin nhớ rằng bao nhiêu, ở đâu, với ai cũng là rải tiền câu khách, là hành vi coi thường người khác. Chả hay ho gì cái cảnh thấy người khác chạy đuổi theo nhặt những đồng tiền do mình cao hứng bốc đồng tung ra. Chỉ là trọc phú thôi. Làm văn hóa mà công khai phản văn hóa như vậy, ai mà chấp nhận được.

Có người bảo cũng nên thông cảm, con người ta, dù là trí thức vẫn có lúc này lúc khác. Đành vậy, nhưng với những việc đáng lẽ phải bóp trán suy nghĩ đường hay dở, lợi hại, tốt xấu, nên hay không… mà cứ “vô tư” nhẹ bỗng như thế, gây hậu quả, tai tiếng thế, thì chỉ nên tự trách mình. Gom củi 10 năm đốt 1 giờ là vậy.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vị “thánh” đưa Qatar nghèo nàn thành giàu nhất thế giới by


Chỉ trong 18 năm, sản lượng dầu mỏ Qatar khai thác đã lên tới 77 triệu thùng dầu/năm, biến nước này thành “tay chơi máu mặt” trên thị trường dầu mỏ thế giới.
Qatar chuyển mình từ một làng chài thành siêu đô thị giàu có thế giới.
Qatar là quốc gia liên tục đứng đầu bảng xếp hạng thế giới với GDP đầu người cao nhất. Loạt bài sau đây giới thiệu những thành tựu phi thường của Qatar, không chỉ nhờ tìm thấy mỏ dầu khí với trữ lượng lớn thứ 3 thế giới, cũng như cuộc sống vương giả khó tưởng tượng của Hoàng gia Qatar.
Dòng dõi hoàng gia
Quốc vương Hamad thời điểm cai quản Qatar.
Tháng 6.2013, quốc vương Qatar bất ngờ chuyển giao quyền lực cho con trai 33 tuổi và rời ngôi sau nhiều thập kỷ trị vì thành công. Ông được tôn xưng là “vị thánh” của Qatar, người biến một quốc gia nghèo ven biển trở thành nước giàu có nhất hành tinh về thu nhập tính theo đầu người (GDP). Ông là Sheik Hamad bin Khalifa al Thani.
Hamad sinh năm 1952 và có họ hàng xa với quốc vương Sheik Ali bin Abdullah al Thani thời điểm Ali trị vì Qatar. Nhiều chuyên gia gọi đây là “Ngôi nhà của Thani” vì trong nhiều thập kỷ, vị thế của gia tộc al Thani không hề bị lay chuyển.
Quốc vương Hamad cùng phu nhân gặp gỡ cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama.
Khi lớn lên, Hamad học tại Qatar và du học tại Học viện quân sự Sandhusrt, Anh. Đây là nơi hoàng tử Anh William và Harry từng theo học. Tại thời điểm Hamad tốt nghiệp trường Sandhurst năm 1971, ngôi vương đã được trao cho một người anh họ của ông là Sheik Ahmad bin Ali al Thani. Lúc này, Hamad là trung tá và chỉ huy một lữ đoàn cơ động, sau đổi tên thành “Lữ đoàn Hamad”. Sau đó chỉ một năm, Hamad trở thành tướng và nắm chức tổng chỉ huy quân đội Qatar và 5 năm sau trở thành Bộ trưởng Quốc phòng.
Thời điểm những năm 1970 được xem là bước ngoặt lớn với Qatar khi nước này được thực dân Anh trao trả độc lập và đồng thời được khai phá mỏ dầu trữ lượng lớn trong khu vực. Hamad lúc đó nắm nhiều vị trí quan trọng trong bộ máy công quyền và chủ yếu kiểm soát chính sách kinh tế, xã hội của Qatar. Các chính sách của Hamad thể hiện rõ tác động lên mọi mặt đời sống kinh tế của Qatar. Người trị vì Qatar lúc đó là cha của Hamad.
Lật đổ ngôi vương
Quốc vương  Hamad gặp gỡ Tổng thống Nga Putin.
Năm 1995, Hamad nhận ra cơ hội giành toàn bộ quyền lực khi cha mình có chuyến công du tới Thụy Sĩ. Ông chỉ huy cuộc đảo chính đẫm máu và giành được chính quyền. Để đảm bảo không có bất kì cuộc trả đũa nào trong tương lai, ông phong tỏa toàn bộ tài sản của cha ở nước ngoài.
Lí do của sự lật đổ này được cho là mâu thuẫn quyền lực giữa Hamad và vua cha khi Hamad liên tục bị cha ruột yêu cầu “hoàn trả” những quyền lực chính trị trong tay. Lợi dụng chuyến đi chơi tới Geneva, Hamad đã nhờ một công ty luật ở Mỹ phong tỏa toàn bộ tài sản của cha ruột. Cha của Hamad phải sống tị nạn ở Pháp và Abu Dhabi cho tới khi được phép về nước năm 2004.
18 năm trị vì của vua Hamad đã làm thay đổi rất nhiều diện mạo Qatar.
Trong 18 năm trị vì, quốc vương Hamad được xem là một lãnh đạo cấp tiến khi thường xuyên hỗ trợ trẻ em, thúc đẩy giáo dục trong nước.  Ông đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao vị thế thể thao Qatar khi đăng cai nhiều sự kiện tennis, điền kinh lớn. Đáng chú ý nhất là sự kiện FIFA World Cup 2022 sắp diễn ra tại Doha.
Với một chính quyền ổn định trong tay, Hamad tập trung vào việc biến Qatar trở thành một nước siêu giàu trên thế giới khi tích cực hút dầu lên bán. Ông cũng cho khoan thăm và phát hiện ra mỏ dầu khí trữ lượng lớn thứ 3 thế giới ở Qatar. Sản lượng dầu của Qatar sau 18 năm có bàn tay của quốc vương Hamad quản lý lên mức 77 triệu thùng. GDP của người dân Qatar luôn đạt mức cao nhất thế giới với trên 86.000 USD/năm, theo số liệu của Independent năm 2015.
Chuyên gia Olivier Da Lage, chuyên nghiên cứu Qatar, nói: “Khi nắm quyền vào năm 1995, Hamad đã đặt mục tiêu đưa Qatar trở thành thế lực trong ngành xuất khẩu khí đốt. Đây là tham vọng mà cha ông không dám làm do sợ làm thay đổi tình hình xã hội trong nước. Sau 18 năm, Hamad đã hoàn thành mục tiêu này và sở hữu sức mạnh kinh tế khủng khiếp, được sự ghi nhận của các nước láng giềng và phương Tây”.
Ông bất ngờ thoái vị do tình hình sức khỏe yếu.
Không chỉ dựa vào nguồn thu khủng từ dầu mỏ và khí đốt, quốc vương Hamad còn đầu tư hàng tỉ USD vào nhiều lĩnh vực và tập đoàn lớn, trong đó có tập đoàn Volkswagen, Total, Sainsbury’s và ngân hàng Barclays. Quỹ đầu tư “Qatar Investment Authority” của ông thành lập năm 2013 đã rót hơn 100 tỉ USD đầu tư khắp toàn cầu.
Một trong những thành công đáng kể nhất của quốc vương Hamad là xây dựng kênh truyền hình vệ tinh xuyên suốt các quốc gia Ả Rập đầu tiên trên thế giới: hãng tin Al-Jazeera. Đây là đơn vị duy nhất tại vùng Vịnh có tầm ảnh hưởng và tiếng nói lớn, phát thanh bằng cả tiếng Anh và Ả Rập. Chỉ trích duy nhất nhằm vào quốc vương Hamad xuất phát từ các quốc gia Ả Rập vì cho rằng ông quá gắn kết với phương Tây và Israel.
Bất ngờ nhường ngôi
Quốc vương Tamim, con trai vua Hamad, nắm quyền từ năm 2013.
Sau 18 năm trị vì thành công, quốc vương Hamad bất ngờ thoái vị và nhường ngôi cho con trai 33 tuổi. Tờ Daily Mail cho biết ở thời điểm 2013, sức khỏe vua Hamad rất yếu và ông bị vấn đề nghiêm trọng với thận.
Giới phân tích không đưa ra tính toán chính xác về tầm ảnh hưởng của việc nhường ngôi, tuy nhiên tất cả đều thống nhất đây là thời điểm Qatar cần một người trẻ hơn dẫn dắt. Qatar cần hội nhập nhiều hơn với thế giới chính trị vốn phức tạp và đang có xu hướng trẻ hóa ở khu vực Ả Rập. chính sách công Harrow
Trong tuyên bố thoái vị, quốc vương Hamad nói: “Tôi tuyên bố chuyển giao toàn bộ quyền hành cho Sheikh Tamim bin Hamad al-Thani và từ bây giờ, con trai tôi sẽ chịu hoàn toàn trách nhiệm gánh vác nhiệm vụ nặng nề”.
Người kế nghiệp quốc vương Hamad là Sheik Tamim, 33 tuổi, con trai thứ 4 của ông. Tamim ít được biết tới trên thế giới và chỉ có một số ít thông tin được tiết lộ xoay quanh nhân vật này. Ông tốt nghiệp trường Đại học Chính sách công Harrow ở Anh trước khi tiếp bước cha tại Học viện Quân sự Sandhurst Anh năm 1998. Tamim hiện có 2 vợ và 6 con.
_____
Từ một làng chài nhỏ bé ven vùng Vịnh, số phận của Qatar đã thay đổi hoàn toàn khi mỏ dầu khí trữ lượng lớn thứ 3 thế giới được tìm thấy.
Đón đọc kì 2: Quá trình thay da đổi thịt của Qatar thành quốc gia siêu giàu
Cuộc sống ”thiên đường” của người dân Qatar Qatar từng nghèo khó, nhưng việc phát hiện mỏ khí đốt năm 1940 đã hoàn toàn thay đổi bộ mặt quốc gia này. Người dân... Bấm xem >>

Qatar giàu lên nhanh chóng như thế nào

Chỉ trong hơn 50 năm, Qatar từ làng chài nghèo khó đã thành đại gia dầu khí với thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới.
Gia tộc Al-Thani đã lãnh đạo Qatar từ đầu những năm 1900, khi nước này còn là thuộc địa của Anh. Khi ấy, kinh tế Qatar chủ yếu dựa vào mò ngọc trai và đánh bắt cá. Đến những năm 1920, ngành buôn bán ngọc trai sụp đổ, Qatar chìm trong nghèo khổ, thiếu đói và bệnh tật.
Năm 1939, dầu mỏ được phát hiện tại thành phố Dukhan (Qatar). Việc khai thác mỏ này diễn ra khá chậm chạp do Đại chiến Thế giới II. Dù trữ lượng mỏ này rất lớn, nó vẫn chưa là gì so với mỏ khí thiên nhiên được tìm ra hơn 30 năm sau đó.
Năm 1951, Qatar đã sản xuất 46.500 thùng dầu mỗi ngày, tương đương doanh thu 4,2 triệu USD. Việc phát hiện thêm các mỏ dầu ngoài khơi và sự xuất hiện của đại gia dầu mỏ - Shell đã nâng sản lượng khai thác tại đây lên 233.000 thùng mỗi ngày.
Doanh thu từ xuất khẩu dầu mỏ được gia tộc Al-Thani chi cho việc hiện đại hóa đất nước. Qatar xây trường học, bệnh viện, nhà máy điện, nhà máy lọc nước biển và hệ thống điện thoại đầu tiên vào thập niên 50.
Qatar giành độc lập năm 1971. Cùng trong năm này, họ phát hiện mỏ khí tự nhiên lớn nhất thế giới - South Pars/North Dome. Tuy nhiên, mỏ North Dome (North Field) chưa được phát triển do Qatar còn tập trung sản xuất dầu mỏ.
Năm 1972, Quốc vương Qatar thời đó - Khalifa bin Hamad bắt đầu giảm trợ cấp cho hoàng tộc và tăng chi cho các chương trình xã hội như nhà ở, y tế, giáo dục và lương hưu.
Giá dầu lao dốc thập niên 80 khiến kinh tế Qatar rơi vào khủng hoảng. Năm 1989, họ bắt đầu khai thác North Field, nhưng việc sản xuất khá chậm chạp.
Đến năm 1995, tình hình vẫn chưa được cải thiện. Hamad bin Khalifa Al-Thani đảo chính, cướp ngôi từ tay Khalifa bin Hamad và lái Qatar theo hướng hoàn toàn mới. Một trong những động thái đầu tiên của ông là tăng tốc khai thác mỏ khí North Dome. Qatar lần đầu tiên trở thành nước xuất khẩu khí tự nhiên.
Để phù hợp với nhu cầu và sản xuất ngày càng tăng, Qatar bắt đầu xây các nhà máy khí thiên nhiên hóa lỏng (LNG). Giai đoạn 2000 - 2015, 14 nhà máy đã được xây dựng, thông qua hợp tác cùng công ty nước ngoài.
Cuối thập niên 90, Qatar bắt đầu ký thỏa thuận cùng khai thác với nhiều hãng dầu mỏ thế giới. Nhờ sản lượng khai thác ổn định, GDP nước này dần tăng tốc trong 15 năm qua.
Để tránh cạn kiệt tài nguyên, Qatar rất nỗ lực đa dạng hóa nền kinh tế. Năm 1998, nước này xây khu tổ hợp giáo dục Education City, đặt tại đây chi nhánh của 6 trường đại học Mỹ và hai trường châu Âu, cũng như nhiều trung tâm nghiên cứu và tư vấn chính sách.
Năm 2003, Qatar thành lập quỹ đầu tư quốc gia - Qatar Investment Authority, với tài sản hiện tại lên tới 335 tỷ USD, nhờ doanh thu từ dầu khí. QIA đầu tư vào Barclays Bank, Credit Suisse, Harrods, Porsche và cả Volkswagen. Họ sở hữu The Shard – tòa nhà chọc trời cao nhất châu Âu, cũng như phần lớn quận tài chính Canary Wharf tại London (Anh).
Qatar Financial Centre (QFC) được xây dựng năm 2005 để phát triển ngành công nghiệp tài chính của nước này. Họ tin rằng QFC có thể trở thành trung tâm dịch vụ tài chính tại Vùng Vịnh nhờ sự ổn định và nền tảng vốn dồi dào.
Năm 2006, Qatar vượt Indonesia thành nước xuất khẩu khí thiên nhiên hóa lỏng lớn nhất thế giới. Doanh thu từ dầu khí đóng góp tới 60% GDP nước này.
Tháng 12/2010, Qatar được chọn là nơi tổ chức World Cup 2022. Nước này cam kết xây 12 sân vận động hoành tráng với công nghệ làm mát hiện đại để các cầu thủ không phải chịu cái nóng sa mạc. Qatar hiện cũng là nơi chuyên tổ chức các sự kiện thể thao trong khu vực.
Bộ mặt Qatar đã thay đổi rất mạnh những năm qua. Đây là Doha (thủ đô Qatar) năm 1977.
Còn đây là Qatar của hiện tại, với GDP đầu người cao nhất thế giới. Theo World Factbook của CIA, con số này năm 2016 là gần 130.000 USD một năm.
Dù vậy, kinh tế Qatar đang bị đe dọa những ngày gần đây, khi bị hàng loạt quốc gia láng giềng cắt đứt quan hệ ngoại giao vì nghi nước này tài trợ khủng bố. Tiền tệ Qatar có lúc xuống đáy 11 năm so với USD, chứng khoán đã lao dốc vài ngày nay và nhiều nhà băng Vùng Vịnh bắt đầu rút tiền khỏi các ngân hàng Qatar. Việc này còn làm đình trệ nhiều chuyến bay giữa các nước trên, gây ra mối lo thiếu thực phẩm và nguồn cung vật liệu xây dựng.
Theo Hà Thu/Vnexpress.net

Phần nhận xét hiển thị trên trang