Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Năm, 15 tháng 6, 2017

Cho một kiếp mơ được yêu nhau


Tuấn Khanh's Blog























Tác giả hai bài thơ đã cùng âm nhạc của Phạm Duy trở thành bất hủ trong lòng người Việt, nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh, đã ra đi vào ngày 9/6/2017 tại miền Nam California. Một cái tên lớn của văn hoá Việt Nam đã hoá mây về trời trong những ngày ở quê nhà đầy mưa và mây xám.

Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, là đôi tác phẩm trong hàng loạt các sáng tác của bà như truyện ngắn, truyện dài, thi tập… mà danh mục có đến 17 ấn bản, từ năm 1960 đến 1990.

Tài liệu về bà, chủ yếu được trích từ sách “Văn nghiệp & cuộc đời Minh Đức Hoài Trinh” do phu quân của bà là Nguyễn Huy Quang chép lại (sách đề tác giả là Nguyễn Quang). Hiện sách gần như tuyệt bản. Trong đó nói rõ tiểu sử của bà như sau:

“Minh Đức Hoài Trinh tên thật là Võ Thị Hoài Trinh, bà thường lấy các bút hiệu là Hoàng Trúc, Nguyễn Vinh, Bằng Cử. Bà sinh ngày 15 tháng 10 năm 1930 tại Huế, sống ở Pháp từ năm 1953 đến 1964. Sau đó bà đến định cư tại quận Cam, Hoa Kỳ từ năm 1982. Tên tuổi của Minh Đức Hoài Trinh không ai trong giới văn học không biết. Bà sinh tại Huế, con quan Tổng Đốc Võ Chuẩn, Ông Nội bà là Võ Liêm, Thượng Thư Bộ Lễ của triều đình. Năm 1945 Bà tham gia phong trào kháng chiến chống thực dân Pháp, sau đó Bà biết sự lợi dụng của phong trào nên bà bỏ về Huế tiếp tục học.

Năm 1964 bà đi du học tại Pháp về ngành báo chí và Hán văn tại trường ngôn ngữ Đông Phương La Sorbonne, Paris đến năm 1967 bà ra trường và làm phóng viên cho đài truyền hình Pháp ORTF, lúc đó bà đi làm phóng sự nhiều nơi sôi động nhất như: Algerie và chiến trường Việt Nam. . . Năm 1972 bà được cử theo dõi và tường thuật cuộc hòa đàm Paris. 1973 Bà sang Trung Đông theo dõi cuộc chiến Do Thái, một thời gian sau bà trở về Việt Nam giảng dạy khoa báo chí tại Viện Đại Học Vạn Hạnh năm 1974-1975.

Sau biến cố 1975 bà trở lại Paris cho xuất bản tạp chí “Hồn Việt Nam” và trở lại cộng tác với đài phát thanh ORTF với chương trình Việt ngữ để tranh đấu cho những nhà cầm bút, những văn nghệ sĩ Việt Nam bị cộng sản cầm tù. Bà đứng ra thành lập Hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại và vận động để được công nhân hội viên Hội Văn Bút Quốc Tế tại Rio de Janeiro, Ba Tây vào năm 1979″…

Về câu chuyện văn bút quốc tế, có rất nhiều chi tiết đáng ngưỡng mộ tâm sức của bà.

Sau năm 1975, rất nhiều hội đoàn chính danh liên kết với quốc tế của miền Nam Việt Nam như Hướng đạo sinh, Ngân hàng, báo chí… đều bị đứt đoạn. Hội nhóm văn chương tự do của miền Nam sau thời điểm đó đều tan tác, mỗi người một hướng.

Theo quy định của Văn bút Quốc tế, muốn tái lập, thì tổ chức nhân danh quốc gia đó phải có ít nhất là 20 thành viên. Từ một nền văn hoá có đến hàng ngàn danh sĩ của miền Nam, việc liên lạc và tập hợp 20 người vào năm 1977 đến 1979 đã trở nên khó khăn vô cùng, nhất là khi cuộc sống của người Việt di tản còn vất vả và ly tán.

Năm 1978, nữ thi sĩ và là nhà báo Minh Đức Hoài Trinh một mình tham dự Đại Hội Văn Bút Quốc Tế kỳ 43 tổ chức ở Stockholm, Thụy Điển, và đơn độc một tiếng nói Việt Nam ở đó, bà vận động các nhà văn và các bút nhóm quốc tế quen biết ủng hộ cho việc thành lập Trung Tâm Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại (Vietnamese Abroad Pen Centre) chính danh là thành viên của Pen International, với lý do nối kết lại hoạt động của giới trí thức tự do Việt Nam sau chiến tranh. Đây là việc mà ai cũng thấy là vô hy vọng vì sự chống đối mạnh mẽ của phe thân cộng, lúc đó đang nổi lên trong Pen International. Nhưng kết quả bỏ phiếu thì thật bất ngờ: 23 phiếu thuận – 23 phiếu chống. Rất nhiều nhà văn trong hội đồng đã cảm động trước tâm nguyện của bà nên đã bỏ phiếu đồng ý. Tiếc là kết quả không như ý.

Năm 1979, tại Đại Hội Đồng Văn Bút Quốc Tế kỳ 44 ở Rio de Janeiro, Brazil, cuộc vận động của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh thành công. Và Văn Bút Việt Nam Hải ngoại tồn tại đến ngày hôm nay, vẫn chính danh là nhánh văn bút quốc tế thuộc Pen International.

Mục đích và tâm lực của nữ thi sĩ Minh Đức Hoài Trinh là muốn xây dựng một tiếng nói truyền thông có tầm quốc tế cho giới trí thức người Việt đang phải ly tán, nhất là vào lúc khi muốn cất tiếng thì lại quá lạc loài. Tầm nhìn của một phụ nữ như bà, vào thời gian ấy, quả thật đáng ngưỡng mộ.

Từ năm 1982, Minh Đức Hoài Trinh định cư ở Hoa Kỳ, sau đó ở gần nơi cư trú của nhạc sĩ Phạm Duy. Nơi Midway City, mà ông thường diễn dịch một cách thơ mộng là Thị trấn giữa đàng.

Nói về cơ duyên của sự kết hợp thi ca và âm nhạc của Kiếp nào có yêu nhau và Đừng bỏ em một mình, nhạc sĩ Phạm Duy có ghi lại trong hồi ký Vang vọng một thời: “Tôi bấy giờ đang là quân nhân… bỗng gặp lại Minh Đức Hoài Trinh lúc đó được mười bảy tuổi từ thành phố Huế thơ mộng chạy ra với kháng chiến. Nàng còn đem theo đôi gót chân đỏ như son và đôi mắt sáng như đèn pha ô tô. Từ tướng Tư lệnh Nguyễn Sơn cho tới các văn nghệ sĩ, già hay trẻ, độc thân hay đã có vợ con… ai cũng đều mê mẩn cô bé này. Phạm Ngọc Thạch từ Trung ương đi bộ xuống vùng trung du để vào Nam bộ, khi ghé qua Thanh Hóa, cũng phải tới Trường Văn hóa để xem mặt Hoài Trinh. Hồi đó, Minh Đức Hoài Trinh đã được Đặng Thái Mai coi như là con nuôi và hết lòng nâng đỡ.

Năm 1954, tôi gặp Minh Đức Hoài Trinh lần thứ ba khi tôi tới Paris ở khoảng hai năm. Nàng đã rời Việt Nam, đang sống với một người em trai trong một căn phòng nhỏ hẹp. Ba lần gặp nhau là rất hy hữu, tôi bèn giao lưu với nàng và soạn được hai bài ca bất hủ”…

Là người sống cùng thời đại với nữ văn sĩ Pháp Francoise Sagan, và cũng là người theo Tây học nhưng tư tưởng bàng bạc theo thuyết cõi tạm của Phật giáo, ngôn ngữ của bà luôn u uẩn nhưng dữ dội và đắm đuối đến ngộp thở, đọc lại vẫn bàng hoàng:

Đừng bỏ em một mình

Trời đất đang làm kinh

Rừng xa quằn quại gió

Thu buốt vết hồ tinh

Hay

Kiếp nào có yêu nhau

Nhớ tìm khi chưa nở

Hoa xanh tận nghìn sau

Tình xanh không lo sợ

Hoặc trong bài “Tình chúng mình sẽ được vẽ lên tranh” có đoạn:

Anh còn sống là mình còn xa cách

Vì cuộc đời hay ghét kẻ yêu nhau

Vì hạnh phúc phải xây trên nhiều thử thách

Xã hội điên cuồng, nhân loại ngợp thương đau

Tạm biệt bà, một danh nhân của nền văn hoá đầy sức sống mãnh liệt của miền Nam Việt Nam tự do. Thêm một người nữa đã khuất, và thêm những núi đồi hùng vĩ lại mọc lên mà hậu sinh sẽ cứ phải ngước nhìn trong trầm mặc. Những ngọn núi nhắc rằng đỉnh cao của kiếp người là để sống và mơ được yêu thương nhau, dẫu muôn thương đau.

Phụ lục: Các tác phẩm của Minh Đức Hoà Trinh đã xuất bản gồm có:

Lang Thang (1960), Thư Sinh (1962), Bơ Vơ (1964), Hắn (1964), Mơ (1964), Thiên Nga (1965), Hai Gốc Cây (1966), Sám Hối (1967), Tử Địa (1973), Trà Thất (1974), Bài Thơ Cho Ai (1974), Dòng Mưa Trích Lịch (Thanh Long Bruxelles, 1976), Bài Thơ Cho Quê Hương (Nguyễn Quang Paris 1976), This Side The Other Side (Occidental Press USA 1980), Bên Ni Bên Tê (truyện dài, Nguyễn Quang USA, 1985), Niệm Thư 1 (tái bản 1987), Biển Nghiệp (Nguyễn Quang USA, 1990).



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đồng Tâm, khởi tố là nguy hiểm!

>> Tôn trọng phản biện để hạn chế sai lầm

>> Dự án bí ẩn


FB Truong Huy San















Ngay từ đầu, tôi đã nhấn mạnh, Đồng Tâm không đơn thuần là một vụ án hình sự. Bởi, nếu chỉ nhìn nhận nó dưới góc độ hình sự thì vụ án đã phải được khởi tố ngay trong ngày xảy ra (đương nhiên, cùng lúc phải khởi tố việc vi phạm thủ tục tố tụng khi bắt cụ Kình và những người dân Đồng Tâm khác).

Đồng Tâm là một sự kiện chính trị. Đã là chính trị thì nó không chỉ là chính trị an dân mà còn là chính trị nội bộ. Chắc chắn, cho dù "cam kết" của tướng Chung được đưa ra từ cấp nào thì nó vẫn để lại rất nhiều bất đồng; bất đồng ở cấp TP và cả TW nữa.

Những người chủ trương cứng rắn không những đã bất chấp những tổn thất chính trị cho chế độ mà quyết định khởi tố chắc chắn mang lại mà còn đã hiểu hình sự rất máy móc. Chưa cần tiếp cận vụ việc theo nền tảng tư duy công lý, Bộ Luật Hình sự VN cũng có một nguyên tắc rất quan trọng, "Những hành vi tuy có dấu hiệu của tội phạm, nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể, thì không phải là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp khác"Khoản 4, Điều 8, Bộ luật Hình sự.

Tất nhiên, khi đánh giá về "tính chất nguy hiểm cho xã hội" trong vụ Đồng Tâm chắc chắn sẽ có bất đồng. Có người sẽ lo không khởi tố có thể nảy sinh tiền lệ xấu; tôi thì cho rằng, khởi tố vụ Đồng Tâm sẽ "gây nguy hiểm cho xã hội" hơn, bởi từ đây nếu xuất hiện một Đồng Tâm thứ hai Chính quyền sẽ không còn cơ may giải quyết xung đột bằng đàm phán nữa.
***

P/s: Formosa (chuyện trăm năm sau), Tân Sơn Nhất (chuyện từ mười năm trước), Đồng Tâm (chuyện mới hôm qua), còn bao điều nữa nên…cá cắn cáp? Những cây kim trong bọc, lửa gói trong giấy đang dần lộ ra?

Nửa đêm thức dậy, tự đáy lòng vang lên một câu ca áo não: lòng chợt buồn mênh mang…

Hết biết viết gì luôn… (FB Vu Kim Hanh)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện làng văn:

 THƯ NGỎ CỦA NHÀ VĂN NGÔ VĂN GIÁ


Ngô Văn Giá

THƯ NGỎ VỀ VIỆC XIN RÚT KHỎI DANH SÁCH DỰ KIẾN THAM GIA BCH HỘI NHÀ VĂN HÀ NỘI TRONG ĐẠI HỘI SẮP TỚI
Hà Nội ngày 15/6/2017

Kính gửi: BCH Hội nhà văn Hà Nội,
Tôi là Ngô Văn Giá, bút danh Văn Giá, hội viên Hội nhà văn Hà Nội, thành viên Ban LL- PB của Hội nhà văn Hà Nội, hiện đang công tác tại Khoa Viết văn-Báo chí, Đại học văn hóa Hà Nội.

Cách đây có lẽ đã già nửa năm, Hội nhà văn Hà Nội (HNVHN) đã tiến hành cuộc họp toàn thể chuẩn bị nhân sự cho Đại hội sắp tới. Hôm đó tôi bận đi công tác, không tham gia họp được.
 
Sau đó, thấy một số văn hữu (chứ không phải BCH) thông báo cho tôi biết rằng tôi được có mặt trong Danh sách dự kiến để đưa ra Đại hội bầu bán, nếu được tín nhiệm sẽ tham gia vào Ban chấp hành Hội.

Lại sau đó ít lâu, cách đây khoảng hơn tháng, ông Hiệu trưởng trường tôi gọi điện cho tôi thông báo : “Có cái công văn hỏi cơ quan có đồng ý cho ông Văn Giá tham gia công tác trong BCH Hội NVHN không, nếu ông đồng ý tham gia thì tôi cho làm công văn phúc đáp?”.
Lúc ấy tôi có trả lời: “Nếu được anh em Hội viên tín nhiệm thì tôi xin tham gia. Bây giờ tôi cũng sắp nghỉ quản lý rồi, tham gia cho vui cũng được”.
 
Chắc sau đó cơ quan tôi đã có công văn phúc đáp với nội dung trả lời như trên của tôi.

Nay, nhân việc nhà văn Phạm Xuân Nguyên tuyên bố từ chức Chủ tịch HNVHN và xin ra khỏi Hội, kèm theo là bản chụp Công văn của Sở Nội vụ Hà Nội (đăng trên FB của ông ngày 13/6/2017), thấy có tên tôi thuộc diện được cơ quan đồng ý cho phép tham gia công tác của Hội.

Xét thấy tình hình công tác nhân sự của Hội ta có phần phức tạp, không có lợi cho tâm thế sáng tạo của một nhà văn; lại tự xét thấy trong bối cảnh này, mình khó có khả năng đảm đương tốt công việc của Ban chấp hành, thêm nữa cũng muốn bản thân mình được yên ổn sống và viết, nay tôi viết Thư ngỏ này thông báo:

1)Tự nguyện rút khỏi Danh sách Dự kiến vào BCH Hội NVHN trong Đại hội tới.
2)Tôi vẫn sẽ thực hiện tất cả trách nhiệm của một Hội viên trong các hoạt động của Hội nếu thấy phù hợp.
3)Tôi xin lỗi tất cả Hội viên và những ai đã có thiện chí đưa tôi vào Danh sách dự kiến BCH của Đại hội sắp tới.

Chúc Đại hội Hội nhà văn Hà Nội thành công tốt đẹp!
Trân trọng cảm ơn!

Nhà văn Văn Giá

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bất ngờ cuốn sách bìa Phật pháp, ruột dâm ô


12/06/2017 (NLĐO) - Mới đây, bạn đọc bức xúc phát hiện ra cuốn sách "Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu" (Tập 1) của tác giả Hoàng Anh Sướng do NXB Hội Nhà Văn vừa ấn hành, trong đó có quá nhiều từ tục tĩu, dâm ô.
Cuốn sách đang gây bức xúc, nhiều độc giả coi đây là "rác văn hóa". Mới đây, một số bạn đọc ồn ào chia sẻ những thất vọng và bức xúc cao độ khi đọc nội dung của cuốn sách có tên "Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu" của tác giả Hoàng Anh Sướng. Cuốn sách này do NXB Hội Nhà Văn cấp phép xuất bản ngày 31-3-2017. Ngoài bìa,cuốn sách nói về Phật pháp nhưng bên trong, độc giả ngã ngửa vì có khá nhiều từ thô tục, thậm chí là dâm ô, miêu tả tỉ mỉ chuyện tình dục.

Quảng bá rầm rộ cho "dâm thư"

Độc giả cho biết rằng sau khi đọc nhiều bài giới thiệu rình rang về cuốn sách "đặc biệt" này trên báo chí truyền thông nên đã tìm mua ngay cuốn sách tại một quầy sách ở Hà Nội.

Trên một số tờ báo, cho đến hiện tại vẫn có thể đọc được những nội dung giới thiệu cuốn sách như sau: "Đọc "Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu" (Tập 1) của Hoàng Anh Sướng, độc giả sẽ tìm thấy những chuyện hoàn toàn có thật trong đời sống thường ngày. Tất cả những gì Hoàng Anh Sướng kể, dù có ly kỳ, rùng rợn, hay nhuốm màu liêu trai, thì cũng đều là những câu chuyện có thật, với địa chỉ thật. Bạn đọc có thể gặp những "nhân vật" đó ở ngoài đời, có thể kiểm định được bằng cả hệ thống tìm kiếm Google. Hoàng Anh Sướng chỉ là một ký giả ghi chép lại một cách trung thực, sống động, hấp dẫn".




Bìa phật pháp, ruột dâm ô

Thế nhưng, vừa mở sách ra, đọc vài trang đầu đã tá hỏa bởi trong sách dùng khá nhiều từ ngữ tục tĩu, dâm ô, miêu tả tỉ mỉ phơi bày chuyện tình dục không khác gì một cuốn dâm thư. Câu chuyện về nội dung cuốn sách bìa phật pháp, ruột dâm ô được độc giả chia sẻ lên mạng xã hội kèm theo hình ảnh một số nội dung trong sách. Sau khi nhìn thấy những trang văn bản này, nhiều người đọc khác cũng đã bức xúc theo, phản ứng dữ dội.

Cuốn sách "Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu" - tác giả Hoàng Anh Sướng do NXB Hội nhà văn cấp phép xuất bản, công ty Limbook (Hà Nội) phát hành. Sách có độ dày 352 trang, giá bìa 125.000đ, nội dung chính gồm 3 phần. Phần 1: "Nghiệp báo sát sinh". Phần 2: "Nghiệp báo nạo phá thai". Phần 3: "Nghiệp báo phá đình chùa, mồ mả".


Trang 47 trong sách

Trách nhiệm thuộc về ai?

Bìa phật pháp, mục lục bàn chuyện nhân quả, nhưng nội dung bên trong thì chứa nhiều chuyện dâm ô. Đây mới chỉ là Tập 1 của cả một loạt ấn phẩm của tác giả này? Có cảm giác rằng người biên tập và chịu trách nhiệm xuất bản đã không hề đọc cuốn sách trước khi ký giấy phép xuất bản cho ấn phẩm?

Cuốn sách vừa in xong và nộp lưu chiểu quý 2-2017, quyết định xuất bản của giám đốc số 375, ký ngày 31-3-2017. Đây chính là giai đoạn NXB Hội Nhà Văn xảy ra khá nhiều lùm xùm do thiếu người ngồi vào vị trí giám đốc.


Trang 48 trong sách

Liên lạc với ông Trần Quang Quý – người đứng tên chịu trách nhiệm bản thảo "Những chuyện có thật về nhân quả và Phật pháp nhiệm màu" và đồng thời chịu trách nhiệm xuất bản, nghe ông phân trần: "Hồi tháng 3-2017, tôi đứng tên chịu trách nhiệm xuất bản nhưng thực sự thì lãnh đạo NXB không còn ai. Để biên tập từng bản thảo còn có biên tập viên chịu trách nhiệm và đó là người phải đọc chính, đọc kỹ chứ người quản lý làm sao có thể đọc hết từng trang của hàng ngàn cuốn sách xuất bản mỗi năm. Tôi cũng đã nghỉ và bàn giao công việc lại cho NXB Hội Nhà Văn từ đầu tháng 5-2017 rồi".


Trang lưu chiểu có ghi thông tin xuất bản của cuốn sách

Phát hiện ra sự việc này, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều - giám đốc mới của NXB Hội Nhà Văn khá bất ngờ về ấn bản chứa vô số lỗi này. Trả lời câu hỏi liệu có thu hồi, dừng phát hành, cấm xuất bản với ấn phẩm đang bị lên án là "rác văn hóa" này, ông Thiều cho biết NXB cần xem lại cuốn sách thực tế, và xem xét kỹ lại bản thảo đầu, bản thảo cuối cũng như hồ sơ xuất bản của cuốn sách này.

Bài và ảnh: Minh Tuệ
http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/bat-ngo-cuon-sach-bia-phat-phap-ruot-dam-o-20170612114228368.htm

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HÔM NAY VÀ NGÀY MAI


Luân Lê 11 juin 2016 

Hôm nay là mảnh đất để gieo mầm cho ngày mai. Nếu hôm nay vùng đất ấy trở nên cằn cỗi, suy thoái thì hạt giống nào sống nổi mà trổ cây cho tương lai sau này? Cây cối có thể chặt hạ, tài nguyên có thể đem bán, nhưng con người mà chảy máu chất xám và giáo dục hủ bại thì sẽ hỏng nhiều thế hệ tiếp sau. Tư tưởng, nhận thức suy đồi tạo ra những con người tha hoá, lệch lạc. Nó giống như những đám cây cho quả thối hoặc nếu có lành lặn thì cũng rỗng ruột bên trong mà không thể sinh sôi tiếp được.

Hôm nay, trách nhiệm của người trí thức là lên tiếng để khai thông những bế tắc của xã hội. Trách nhiệm của người trí thức là để chỉ trích, chê bai và kể cả là công kích trực diện những thứ xấu xí, cổ hủ, đồi bại, của con người và của chính quyền cai trị. Nếu im lặng trước những điều đó thì người trí thức trở thành kẻ cơ hội và bỏ mặc hoặc biến người khác thành đối tượng để và bị trục lợi.



Các bạn thử đặt câu hỏi:

Hôm nay cả một vùng rộng lớn bị hạn hán, xâm lấn ngập mặn, lại ở nơi vựa lúa của cả nước, thì sẽ lấy gạo và nông sản ở đâu để đáp ứng cho cuộc sống của người dân trên mảnh đất này?

Ở một vùng rộng lớn khác, biển nhiễm độc, dù có đánh bắt xa bờ hơn 20 hải lý và được cấp giấy chứng nhận hải sản an toàn thì cũng chẳng biết nó có an toàn hay không, khi kiểm tra hàng chục tấn cá đông lạnh vẫn nhiễm chất kịch độc Phenol, mà người dân nói rằng nó được thu mua từ khoảng cách 30 hải lý. Vậy thử hỏi, thực phẩm, hải sản nào có đủ để đáp ứng cho nhu cầu của người dân, mà đang lo lắng từng ngày về mất mùa, hạn hán? Và chính nơi biển độc thì lại đang cần đến những cân gạo để cứu đói. Nhận gạo rồi lại không biết ăn bằng gì vì cá, mắm, muối đều tiềm ẩn nguy cơ độc tố cao?

Ở nhiều tỉnh, thành khác, rất nhiều dòng sông, ao hồ bị nhiễm độc và tôm, cá chết hàng loạt, vậy thủy sản ở đâu để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng của người dân trong khi gạo đang thiếu, hải sản, mắm, muối không ai dám dùng vì chưa được công bố nguyên nhân bằng cơ sở khoa học?

Bỏ qua những thứ đó, hiện trạng thực phẩm bẩn, nhiễm độc, tẩm hoá chất diễn ra kinh hoàng trên toàn bộ thị trường, ăn vào thì bệnh tật, độc quá thì chết ngay, không ăn thì lấy gì mà sống? Mở chai nước ngọt thì lo nhiễm chì, arsen. Mua hộp sữa lo nhiễm melamin, đồ giả. Mua thuốc thì sợ hết hạn sử dụng bằng cách chúng sẵn sàng thay thế nhãn, mác để hiệu chỉnh lại ngày tháng, công dụng, chức năng. Vậy người ta biết lựa chọn gì để duy trì cuộc sống sinh học của chính mình? Và cứ nhắm mắt nhắm mũi sử dụng rồi sẽ dẫn đến thoái hoá giống nòi, đó mới là điều đau xót nhất cho một dân tộc và cho con người của một xã hội.



Sống như thời man di, ăn gì cũng lo lắng và sợ hãi, làm gì cũng thấy mất niềm tin và chẳng an tâm bất kể điều gì: ra đường sợ tai nạn giao thông, sợ bị bắt phạt, sợ va chạm rồi dẫn đến đánh đấm thương tật hay mất mạng; đến trường sợ điểm không cao, không đi thày cô lo không được thành tích tốt, học ngày đêm mà rồi không biết mình học để làm gì và làm được gì; ở nhà lo cãi vã, đánh chửi, chia chác lợi ích, mâu thuẫn tình cảm vì vật chất, vì tập tục, lề thói cổ hủ ăn sâu; đến công quyền thì lo thủ tục rườm rà, bị sách nhiễu, vòi vĩnh; có kiện tụng lại sợ công lý chỉ là một diễn viên hài, nếu không đặt "sâu" (show) và đi cửa sau thì e kêu trời không thấu với những yêu cầu chính đáng của mình; tố cáo tiêu cực, tham nhũng thì sợ bị cô lập, trù dập và hãm hại, không ngóc đầu lên được mà thậm chí còn tù đày, lao lý, tán gia bại sản; làm ăn thì thay vì tài năng, trách nhiệm và chuyên môn, người ta đưa nhau ra bàn nhậu hoặc mở tiệc chiêu đãi để hợp tác "thành công"; học đủ thứ trên đời nhưng ra trường người ta lại phải quay cuồng lo tiền, quan hệ để xin việc, mà chủ yếu là xin vào nhà nước để được "an thân và ổn định"; mở cái doanh nghiệp làm ăn thì ghánh đủ thứ thuế, phí, lệ phí, không may thì hết cơ quan này đến tổ chức khác kiểm tra, tệ hơn nữa lại đến công an nhòm ngó mà khởi tố kinh doanh trái phép, lo lắng đủ đường thì tâm trí đâu mà làm ăn và phát triển hay đóng góp gì cho quốc dân nữa; người ta bế tắc nên đâm ra chỉ mong cầu và cậy nhờ vào tâm linh, đức thánh nhân, bụt, phật để cầu tài, tiền, lộc, quan lộ, thăng chức, sức khoẻ, nhưng trong cuộc sống thì phá sức bằng rượu bia, toan tính giành giật và sẵn sàng bất chấp làm ác với nhau; khoa học thì không làm cái gì ra hồn, không có nổi một bằng sáng chế, mà có sản phẩm độc đáo nào đó thì cũng chỉ rải rác và lác đác xuất hiện ở một vài ông nông dân "ít học" làm ra, quá chua xót cho thực tại đau đớn này!



Hôm nay, bao điều như thế cứ diễn ra hiển nhiên và lặp lại, ngày càng lan rộng và khủng khiếp hơn, vậy thì ngày mai dù bình minh có đến theo quy luật thì ánh sáng cũng sẽ chẳng thể nào tồn tại để mà chiếu rọi vào tư tưởng và trí não của người dân cho được.

Hôm nay với bao nhiêu nỗi bất an như thế, nợ công ngập đầu (chính quyền đi vay, không làm ra của cải vật chất, thì người dân đóng thuế mà trả nợ chứ không chính quyền nào có tiền để trả nợ cả), con người vô cảm, luật pháp rối ren, tham nhũng hoành hành, chính quyền bất lực, mà người ta vẫn cứ âm thầm sống cho nốt hôm nay và mặc kệ ngày mai ra sao thì ra.

Nếu cứ sống thế này, tôi thấy lo lắng lắm, vì nếu hôm nay dần hết tài nguyên, dần hết cơ hội khai thác lợi ích, thì ngày mai người ta sẽ phải đối mặt với tình trạng hiển hiện như đất nước xinh đẹp Venezuela là ngay cả giới trung lưu rồi cũng phải bới rác mà tìm thức ăn, vì tiền chẳng mua được bất kể điều gì lúc đó nữa.

Tôi chưa có vợ, con, tôi không giàu của cải vật chất, tôi không có gì để mất ở hiện tại - như theo góc nhìn của đại đa số mọi người là vậy, nhưng tôi nghĩ rằng tôi có những cơ hội và tương lai để mất. Tôi ngược lại nỗi lo sợ của người ta, rằng hiện tại họ có nhiều thứ để mất, nên không thể đánh đổi cho tương lai nào đó chưa đến, trước mắt họ!

Phải chăng, gia tài của mẹ chỉ để lại cho con cháu là đống nợ nần và những nỗi bất an của hôm nay dành lại cho ngày mai?

Ta hôm nay cứ âm thầm sống hèn, thì ắt hẳn ngày mai con cháu sẽ chịu nhục.

Đó là điều chẳng thể nào khác được.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cần bỏ biên chế như sổ gạo thời xưa


image

Chế độ biên chế là sản phẩm của cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu, đang cản trở quá trình chuyển đổi sang thị trường, kìm hãm tăng trưởng và tính năng động của nền kinh tế.

Bỏ biên chế là bỏ bao cấp - điểm nghẽn lớn trong cải cách thể chế.

Thế nhưng, cho đến nay nó vẫn tồn tại, thậm chí biên chế vẫn tăng lên, bộ máy phình to.

image
Bộ máy phình to làm các dịch vụ công bị độc quyền liên tục tăng giá

Hiện nay cả nước có khoảng 55.000 các đơn vị sự nghiệp công lập thuộc các khối Đảng, đoàn thể, trong các lĩnh vực kinh tế, giáo dục-đào tạo, y tế, khoa học-công nghệ, truyền thông-báo chí, kinh tế, văn hóa-thể thao-du lịch, tài nguyên-môi trường, lao động- thương binh- xã hội với 2,1 triệu viên chức.

Không thấy giảm lại còn tăng

image

Số liệu báo cáo từ kỳ họp 3 Quốc hội khóa 14 tại Hà Nội ngày 27/5/2017 cho thấy biên chế bộ máy năm 2016 tăng thêm so với 2015 gần 20,4 nghìn người, 'tinh giản biên chế chưa hiệu quả.'

Trên 70% ngân sách cho chi thường xuyên, cho biên chế bộ máy trong điều kiện kinh tế khó khăn, nợ công, nợ xấu lớn, tổn thất 'khủng' do các doanh nghiệp nhà nước gây nên, bội chi ngân sách hàng năm luôn ở mức cao… là điều bất hợp lý, làm tổn thất niềm tin của người dân đóng thuế.

Cơ chế 'xin cho' nặng nề

Hàng năm xin biên chế, sau đó là 'chạy' ngân sách cho chi thường xuyên và các khoản chi khác có thể. Bộ máy và quyền lực vì thế mà tha hóa.

image
Xã hội Việt Nam đã đi xa hơn các biểu tượng và tư duy rập khuôn một thời

Theo các quy định hiện hành, các đơn vị sự nghiệp công lập gồm bốn loại: Đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên và chi đầu tư; đơn vị tự bảo đảm chi thường xuyên; đơn vị tự bảo đảm một phần chi thường xuyên; đơn vị được Nhà nước bảo đảm chi thường xuyên.

Sự phân hóa diễn ra mạnh mẽ. 'Cạnh tranh' trong điều kiện xin - cho tạo ra bất bình đẳng lớn giữa các đơn vị. Nỗ lực 'chiếm lĩnh thị trường' chạy theo số lượng, hạ chuẩn dịch vụ, và chất lượng sẽ giảm đi.

Các diễn đàn sôi nổi về 'ch đề biên chế' trên truyền thông nhà nước hiện nay cho thấy 'vấn đề người đại diện công' (tài sản và quyền lực công) ngày càng trở nên nghiêm trọng, khi người đứng đầu các đơn vị công bằng mọi cách làm hài lòng thân chủ (lãnh đạo cấp trên có thẩm quyền), thâu tóm quyền điều hành, 'biến' các tổ chức như chi bộ, công đoàn, đoàn thanh niên và thanh tra nhân dân… thành bình phong, dân chủ cơ sở trở nên hình thức, sử dụng tài sản công thiếu minh bạch, vụ lợi.

Rủi ro đạo đức đáng báo động

Có thể dẫn ra các vụ việc điển hình xảy ra gần đây:

image

·        Vụ "nhân bản" kết quả xét nghiệm' tại bệnh viện đa khoa huyện Hoài Đức, Hà Nội năm 2013;

image

·        Vụ "tạo hiện trường giả" khi hiệu trưởng Trường Tiểu học Nam Trung Yên đi ôtô trong sân trường (quy định là cấm) đâm gãy chân học sinh tháng 2/2017;

image

·        Vụ 'thảm họa y khoa': 8 bệnh nhân chạy thận nhân tạo tử vong vào tháng 5/2017 tại bệnh viện đa khoa tỉnh Hòa Bình liên quan đến giám đốc và bộ phận vật tư …

Ngoài ra, không ít các đơn vị sự nghiệp công lập là nơi 'ẩn nấp' an toàn cho những lãnh đạo và nhân viên trông chờ vào nguồn kinh phí thường xuyên và các chế độ trợ cấp khác từ ngân sách, bị 'đóng băng' bởi tâm lý ỷ nại, dĩ hòa vi quý, cào bằng, sợ trách nhiệm, ngại va chạm, bệnh thành tích… tạo thành các 'lô cốt tập thể' với 'văn hóa thứ cấp'.

Trì trệ thị trường lao động

Trong việc tạo lập và đồng bộ hóa các loại thị trường (hàng hóa, dịch vụ, khoa học kỹ thuật…) thị trường lao động là chậm thay đổi hơn cả.

image

Hậu quả là hệ thống tiến lương và thu nhập hiện hành của người lao động bị biến dạng và không thể kiểm soát, năng suất và chất lượng lao động giảm sút, sức ỳ tăng lên và tính năng động của nhân lực giảm đi.

Duy trì lâu năm 'chế độ biên chế' làm cho kinh tế thị trường bị méo mó.

Trước hết là giá các dịch vụ luôn biến động tăng, mà không biết đâu là giới hạn, tách rời khỏi giá thị trường, khi các đơn vị sự nghiệp công lập 'nghiễm nhiên về luật pháp' trở thành độc quyền phân phối các dịch vụ công và các dịch vụ xã hội như y tế, giáo dục…

image

Tiến sĩ Vũ Quang Việt, chuyên gia thống kê Liên Hiệp Quốc, chỉ ra rằng thấy trong 10 năm, tính từ năm 2007, giá dịch vụ y tế tăng gần 6 lần, giá dịch vụ giáo dục tăng gần 3 lần trong khi giá cả nói chung chỉ tăng hơn 2 lần.
Và mức tăng giá hai khu vực thiết yếu này cũng cao hẳn so với mức tăng GDP bình quân đầu người hơn 3,2 lần khi tính theo giá hiện hành.

image

Nghĩa là người dân phải trả chi phí cho y tế tăng gấp hai lần so với thu nhập đầu người và chi trả cho giáo dục tăng cùng nhịp với GDP.

image
Dịch vụ y tế ở Việt Nam vừa đắt bất thường vừa gặp vấn đề thiếu nhân sự và có khi còn gây chết bệnh nhân như vụ việc gần đây ở Hòa Bình

Hơn thế, giá dịch vụ y tế tăng đột biến kể từ năm 2013, tăng cực mạnh trên 60% vào năm 2013, 2017, còn năm 2016 tăng 38%. Giá dịch vụ giáo dục thì tăng từ tốn hơn, thường trên 10% một năm.

Điều này ảnh hưởng tới đời sống của người dân, khi tỷ trọng (%) chi cho dịch vụ giáo dục và y tế trong chi tiêu thường xuyên tăng rất đáng kể từ 9.3% chi tiêu lên tới 17% năm 2017.

Vấn đề không mới, đã có những nỗ lực 'tinh giản' biên chế nhưng không thành công.

Các văn bản pháp luật của Đảng và nhà nước được ban hành, như Luật viên chức 2012. Trước đó, có nhiều văn bản pháp luật liên quan, như các Nghị định số 10/2002/NĐ-CP, số 43/2006/NĐ-CP, Số 16/2015/NĐ-CP về cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập…

image
Gần đây nhất là Nghị quyết 39-NQ/TƯ năm 2015 về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức.

Biên chế không phải là 'nhạy cảm'

Đến lúc không thể coi vấn đề biên chế là 'nhạy cảm' và bị ngăn cản bởi ý thức hệ giáo điều về chủ nghĩa xã hội với quan điểm xóa bỏ chế độ 'bóc lột sức lao động' dựa trên động cơ thúc đẩy bởi các giá trị lý tưởng.

Để tiếp tục cải cách thể chế cần loại bỏ chế độ biên chế, trước hết, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập.

Đây là liệu pháp 'shock', trong đó lý thuyết hợp đồng cần được coi là công cụ hữu hiệu giảm 'shock' và phù hợp khi nó cho phép làm rõ việc phân bổ các quyền kiểm soát, quyền sở hữu, và quyền quyết định giữa các bên trong hợp đồng.

Xin xem thêm lý thuyết hợp đồng do Oliver Hart và Bengt Holmström, hai đồng giải thưởng Nobel kinh tế năm 2016 về cách thức xác lập và thực thi các hợp đồng để xử lí các xung đột lợi ích.

image
Chi tiêu công cho bộ máy ở Việt Nam tăng đều và chất lượng công việc cũng có nhiều vấn đề

Đảng Cộng sản Việt Nam và Chính phủ đang khởi động các đề án trình Hội nghị Trung ương 6 thảo luận vào tháng 10/2017, trong đó có Đề án đổi mới cơ chế quản lý, cơ chế tài chính, tổ chức lại hệ thống đơn vị sự nghiệp công lập với việc thành lập Ban chỉ đạo Nhà nước về đổi mới cơ chế hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập do Phó thủ tướng Vương Đình Huệ làm Trưởng ban.

Bài học kinh nghiệm thành công về việc bỏ chế độ bao cấp sổ gạo, tem phiếu cho thấy những điều tưởng như phi lý, nhưng lại cần thiết: 'hành động tập thể lại cần thiết để xóa bỏ sự chi phối của hành động tập thể'
Mong lần 'đổi mới' này có được những đột phá nếu không chúng ta sẽ không thoát khỏi 'vũng lầy' về nhận thức và hành động.




Tiến sĩ Phạm Quý Thọ

image

Phần nhận xét hiển thị trên trang