Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 12 tháng 6, 2017

Lời kiên định của bác BÔN:


Nhận diện sự chống phá của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa
8/6/2017 22:15'Gửi bài nàyIn bài này
Internet một trong những thủ đoạn để truyền bá quan điểm sai trái, thù địch - Nguồn: congankotum.gov.vn
TCCS - Thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch là tổng hợp các phương thức, biện pháp được tiến hành trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng - văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, ngoại giao... Trong đó, các thế lực thù địch xác định tấn công trên mặt trận tư tưởng - văn hóa là “mũi đột phá”, “thọc sâu” làm tan rã niềm tin, gây hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, tạo ra “khoảng trống” để dần dần đưa hệ tư tưởng tư sản vào và tiến tới xóa bỏ hệ tư tưởng xã hội chủ nghĩa.
Nội dung chủ yếu của cuộc chiến tranh ý thức hệ do chủ nghĩa đế quốc phát động là tấn công vào lòng người, đánh vào trận địa chính trị, tư tưởng - văn hóa của các nước xã hội chủ nghĩa. Các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “một đài phát thanh cũng có thể bình định xong một đất nước”, “một đô-la chi cho tuyên truyền có tác dụng ngang với 5 đô-la chi cho quốc phòng”; “kích động vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo là bốn đòn đột phá khẩu, bốn mũi xung kích để chọc thủng mặt trận tư tưởng chính trị”. Trong cuốn sách “Năm 1999 - chiến thắng không cần chiến tranh”, nguyên Tổng thống Mỹ R. Ních-xơn đã tuyên bố: “Mặt trận tư tưởng là mặt trận quyết định nhất”, “toàn bộ vũ khí của Mỹ, các hoạt động mậu dịch, viện trợ, quan hệ kinh tế sẽ không đi đến đâu nếu chúng ta thất bại trên mặt trận tư tưởng”, “Cái sẽ có tác dụng quyết định đối với lịch sử là tư tưởng, chứ không phải là vũ khí”,...
Các thế lực thù địch cho rằng, để lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam, cần phải điều chỉnh các biện pháp và phương thức, thay đổi các thủ đoạn tiến hành “diễn biến hòa bình” cho thích hợp, vì tình hình Việt Nam không giống như bối cảnh các nước Đông Âu hay Liên Xô trước đây. Chúng chủ trương phá hoại trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, tư tưởng, văn hóa, xã hội, ngoại giao, quốc phòng - an ninh, khoa học, giáo dục... Và, khi cần thì dùng cả biện pháp quân sự. Song, trọng tâm then chốt vẫn là phá hoại về tư tưởng - văn hóa. Chúng xác định rằng, tước bỏ vũ khí tư tưởng của nhân dân là khâu đột phá quan trọng trong “diễn biến hòa bình”.
“Diễn biến hòa bình” là một thủ đoạn phi quân sự, chú trọng chiến tranh tâm lý, đặc biệt nhấn mạnh sức mạnh của tư tưởng - ý thức hệ. Trong đó, chủ yếu là “mặt trận tư tưởng - văn hóa”. Các thế lực thù địch xác định, xâm nhập được tư tưởng - văn hóa của đối phương sẽ thu được hiệu quả phi thường. Xâm nhập tư tưởng - văn hóa, trên thực tế, là mở cuộc tấn công ý thức hệ vào nước Việt Nam XHCN. Chúng gọi đó là “tiến công vào lòng người” để làm sụp đổ tinh thần chiến đấu của đối phương; làm tan rã đối phương về nội tâm, tinh thần và tư tưởng; gây hỗn loạn về tư tưởng, gây tâm lý sợ hãi; kích động tâm trạng bất mãn, thù địch với chủ nghĩa xã hội (CNXH) và chủ nghĩa cộng sản; truyền bá mô thức chính trị, mô thức kinh tế, quan niệm giá trị và lối sống của chủ nghĩa tư bản, đòi đa nguyên hóa và thị trường hóa nền kinh tế.
Có nhà nghiên cứu cho rằng, chiến lược của chủ nghĩa đế quốc được tiến hành chủ yếu trên hai phương diện: Một là, xâm lược nước khác bằng quân sự và kinh tế. Hai là, làm tan rã nước khác bằng tư tưởng và văn hóa. Nếu phương diện thứ nhất dựa vào sức mạnh của kẻ xâm lược, thì phương diện thứ hai dựa trên chiến lược làm tan rã nội bộ đối phương, hết sức xảo quyệt. Chính các nhà tư tưởng của chủ nghĩa đế quốc đã tổng kết: “có những việc 100 máy bay chiến đấu không thực hiện nổi, nhưng chỉ cần 10 sứ giả lại có thể thành công”. Ngày nay “làn sóng điện đang thay thế thanh gươm; cây bút là phương tiện đi vào trái tim, khối óc con người”.
Từ khi nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, các thế lực thù địch tiếp tục thực hiện âm mưu “diễn biến hòa bình”, nhưng có sự thay đổi về thủ đoạn và sách lược. Chúng tiến công ta mạnh mẽ hơn về tư tưởng - văn hóa, coi đây là mặt trận hàng đầu, là mũi nhọn đột phá, thọc sâu, vừa dùng các lực lượng, phương tiện từ bên ngoài, vừa tận dụng phát triển các lực lượng và phương tiện ở trong nước ta, tạo ra sự chống đối mạnh mẽ từ nội bộ Đảng, nội bộ xã hội ta, từng bước làm cho nhân tố chống đối bên trong phát triển để phá ta từ trong nước, trong lòng chế độ. Chiến lược “Vượt trên ngăn chặn” và “Bao vây cấm vận” được thay bằng chiến lược “Triệt tiêu kẻ thù”. Tư tưởng chỉ đạo của chiến lược này là áp dụng các biện pháp “can dự”, “tiếp cận”, lôi kéo đối phương từ đối đầu sang đối thoại, tăng cường hợp tác hoặc hoà nhập với phương Tây, theo sự chỉ huy hoặc khống chế của một trung tâm quyền lực cụ thể. Tức là, chúng không đứng ngoài hò hét chống phá mà xâm nhập vào ta để đánh ta từ trong đánh ra, làm cho ta “tự diễn biến”, “tự sụp đổ”, “Cộng sản tự diệt cộng sản”. Các thế lực thù địch thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua các hình thức giao lưu, hợp tác về văn hóa, khoa học, giáo dục... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, làm chuyển hóa tư tưởng, chuyển hóa chính trị, mua chuộc cán bộ, cài cắm nội gián; móc nối với những người bất mãn, cơ hội chính trị, những người nắm được bí mật quốc gia, những người đi công tác, học tập ở nước ngoài; tìm cách can thiệp cho một số văn nghệ sĩ, những người mà họ cho là có quan điểm “cấp tiến” ra nước ngoài dự hội thảo, học tập; đưa giáo viên và lưu học sinh vào Việt Nam học tập, nghiên cứu, tiếp xúc, giao lưu. Đại sứ quán của một số nước phương Tây đã có những hoạt động can thiệp sâu vào công việc nội bộ nước ta, như gửi phiếu đăng ký cung cấp thông tin cho nhiều tổ chức và cá nhân trong nước để nắm nội bộ ta, gây nhiễu thông tin; cử nhân viên sứ quán đến một số trường đại học tìm hiểu tư tưởng, thái độ của giáo viên, sinh viên; quan hệ với một số nhà xuất bản và một số tờ báo với ý đồ lôi kéo. Họ lợi dụng các diễn đàn công khai để tuyên truyền “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” theo kiểu tư sản; tuyên truyền quan điểm cá nhân ích kỷ cực đoan, xuyên tạc chúng ta vi phạm dân chủ, nhân quyền, tung ra luận điểm “nhân quyền cao hơn chủ quyền” để tạo cớ can thiệp vào nước khác có xu hướng độc lập, không chịu lệ thuộc.
Các trung tâm phá hoại tư tưởng, văn hóa tăng cường hoạt động tuyên truyền thù địch chống phá Việt Nam. Chúng rất coi trọng các phương tiện truyền thông đại chúng và tuyên truyền kiểu “rỉ tai”, kích động; sử dụng trên 40 đài phát thanh và truyền hình, gần 400 tờ báo và tạp chí tiếng Việt (trong đó có 10 tờ rất phản động), 66 nhà xuất bản để tuyên truyền chống Việt Nam; đưa một số lượng lớn tài liệu, sách báo, truyền đơn, băng hình, băng nhạc,... có nội dung phản động, đồi trụy vào Việt Nam; chỉ đạo bọn “bồi bút”, cơ hội viết nhiều bài xuyên tạc, bôi nhọ tình hình Việt Nam.
Hoạt động phá hoại của các thế lực thù địch thông qua “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa đối với nước ta trong những năm vừa qua được thể hiện qua các thủ đoạn và nội dung chủ yếu sau: Xuyên tạc, bôi nhọ, đả kích bản sắc văn hóa dân tộc; đặc biệt là truyền thống văn hóa, văn nghệ cách mạng, lối sống XHCN - những giá trị tinh thần của chế độ XHCN; truyền bá văn hóa, lối sống tư sản phương Tây vào nước ta - lối sống thực dụng, vụ lợi cá nhân, sùng bái đồng tiền, dâm ô, trụy lạc phi nhân tính...; kích thích sự phục hồi, phát triển lối sống mê tín dị đoan, tôn thờ chủ nghĩa hữu thần; tìm hiểu, móc nối, mua chuộc, lôi kéo, kích động trí thức, văn nghệ sĩ có tư tưởng bất mãn, thù địch, cơ hội, hữu khuynh cực đoan, sa đọa về phẩm chất đạo đức,... vào con đường phản bội, chống lại Đảng, Nhà nước và nhân dân; tìm cách thao túng, lũng đoạn, chi phối các cơ quan, tổ chức văn hóa, văn nghệ làm cho văn hóa, văn nghệ đi chệch định hướng XHCN.
Tác động của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ở nước ta trong những năm qua được thể hiện trên những phương diện chủ yếu sau:
Phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng và Nhà nước ta, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với chế độ XHCN ở Việt Nam
Lợi dụng sự sụp đổ của chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu, các thế lực thù địch đã tấn công quyết liệt vào nền tảng tư tưởng của Đảng, Nhà nước ta là chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh; đả kích đường lối cách mạng của Đảng, bài xích định hướng XHCN. Chúng phát hiện những người bất mãn trong nội bộ Đảng, Quân đội, bộ máy nhà nước để tìm cách lôi kéo, lái những người này đi theo quan điểm của chúng làm nòng cốt để chuyển hóa từ bên trong; kích động tâm lý hoài nghi dẫn tới phủ định CNXH.
Thực tế đã có một bộ phận nhân dân, trong đó có một số cán bộ, đảng viên đã dao động, giảm lòng tin đối với chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cũng như con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và dân tộc ta đã lựa chọn. Một số kẻ cơ hội, xét lại, phản bội đã tung ra những bài viết xuyên tạc, vu khống, bác bỏ chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta. Những việc làm ấy đã gieo hoang mang, hoài nghi cho không ít người. Bằng cách đó, họ muốn tạo nên một sự “tự diễn biến” từ bên trong xã hội ta, trước hết là “tự diễn biến” về nhận thức, tư tưởng, từ đó dẫn đến những “tự diễn biến” về các mặt khác. Một bộ phận cán bộ, đảng viên, sinh viên, học sinh phai nhạt lý tưởng cách mạng, thờ ơ chính trị, giảm sút và mất lòng tin vào thắng lợi của CNXH, vào khả năng lãnh đạo của Đảng trong sự nghiệp xây dựng xã hội mới, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới, dẫn tới những nhận thức lệch lạc, ngả nghiêng về bản lĩnh chính trị, lập trường quan điểm, đã phụ họa với những quan điểm sai trái, phát ngôn theo luận điệu của các thế lực thù địch, phủ định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Bên cạnh đó, các thế lực thù địch sử dụng “vấn đề nhân quyền” để phá hoại về tư tưởng đối với Việt Nam, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của chúng ta, đặt điều kiện hòng ép ta thoả hiệp, nhượng bộ về chính trị, thay đổi đường lối của ta, đi theo quỹ đạo của chúng, núp dưới chiêu bài “dân chủ”, “nhân quyền” để tuyên truyền, kích động dư luận thế giới cô lập Việt Nam, gieo rắc sự nghi ngờ trong các công dân Việt Nam đối với Nhà nước, kích động và khơi dậy sự phản kháng của những kẻ bất mãn, những phần tử cơ hội, thoái hóa biến chất, những người trước đây cộng tác với chế độ cũ, hiện đang còn ở lại Việt Nam. Các thế lực thù địch còn vu khống, xuyên tạc chính sách của Nhà nước ta về tôn giáo, dân tộc, chính sách đối với văn nghệ sĩ.
Đó là những đòn tấn công của các thế lực thù địch để tạo ra những lực lượng chống đối ngầm trong nội bộ nhân dân ta. Nếu không được vạch trần, ngăn chặn, nó có khả năng làm rối loạn xã hội, tạo cơ hội cho “diễn biến hoà bình” phát triển thành công ở Việt Nam.
Tác động chống phá về văn hóa
Trong tác động phá hoại về văn hóa, các thế lực thù địch tập trung phá hoại truyền thống văn hóa dân tộc, văn hóa cách mạng, các chuẩn mực đạo đức, lối sống XHCN. Các thế lực thù địch rất coi trọng tác dụng “diễn biến hòa bình” của các loại “chất độc tinh thần” tư sản. Do vậy, chúng tìm mọi phương thức để các sản phẩm văn hóa độc hại xâm nhập vào nước ta. Chúng sử dụng các sản phẩm văn hóa đồi trụy, phản động để đầu độc quần chúng nói chung, đặc biệt là thế hệ thanh niên ở nước ta nói riêng, làm chuyển đổi giá trị thẩm mỹ, thị hiếu nghệ thuật, chuyển đổi các thang bậc giá trị của xã hội theo chiều hướng xấu; âm mưu biến thế hệ trẻ thành công cụ và lực lượng xã hội chủ yếu của “diễn biến hòa bình”.
Tác động phá hoại về đạo đức, lối sống
Đó là tệ sùng ngoại, coi thường những giá trị văn hóa của dân tộc, chạy theo lối sống thực dụng, cá nhân vị kỷ, ham muốn làm giàu, ham muốn quyền lực cực đoan... đã và đang làm băng hoại thuần phong mỹ tục của dân tộc. Khuynh hướng này hết sức nguy hiểm, có sức phá hoại mạnh, tác động trực tiếp đến tư tưởng, đạo đức, lối sống của các tầng lớp xã hội. Đáng lưu ý là lối sống thực dụng đang có chiều hướng gia tăng. Điều đó được biểu hiện ở chỗ: từ chạy theo lợi ích vật chất dẫn đến sự lạm dụng địa vị, quyền lực đang đảm nhiệm để mưu cầu lợi ích cá nhân; đặt giá trị vật chất ở vị trí cao trong thang giá trị cuộc sống. Đó là một nguyên nhân dẫn đến suy thoái về đạo đức, lối sống ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, trong đó có cả cán bộ có chức, có quyền. Đó là tệ tham nhũng, lãng phí; nạn quan liêu, cửa quyền, sách nhiễu nhân dân, kèn cựa, địa phương chủ nghĩa, bè phái, mất đoàn kết. Đây là những vấn đề bức xúc làm giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng và Nhà nước, là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện đông người ngày một tăng. Đó là “giặc nội xâm”, có nguy cơ đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ mà chúng ta phải kiên quyết ngăn chặn và quét sạch.
Tính chất nguy hiểm của “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa thể hiện ở chỗ: Một là, các thế lực thù địch đánh phá nền tảng tư tưởng, xuyên tạc quá khứ, bôi đen lãnh đạo để phá rã niềm tin của quần chúng vào Đảng và chế độ, làm cho toàn xã hội hỗn loạn về lý luận và tư tưởng, mất định hướng chính trị, tạo thế đứng cho các lực lượng phản động trong nước, gây áp lực chính trị của quần chúng đòi thay đổi chế độ XHCN. Hai là, với chiến thuật “mưa dầm thấm lâu” thông qua tác động trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa bằng những thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt, với những luận điểm mị dân, lừa bịp, dễ làm cho đối phương mất cảnh giác, dễ bị cám dỗ, mất phương hướng chính trị, không phân biệt đúng sai, thật giả, tạo ra “khoảng trống” về chính trị, tinh thần để dễ dàng truyền bá các quan điểm tư sản và đánh thẳng vào nội bộ ta, gây chia rẽ, mất đoàn kết nội bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động kích động lật đổ và bạo loạn chính trị. Ba là, với nhiều thủ đoạn khác nhau, các thế lực thù địch làm mê muội con người, đặc biệt là thế hệ trẻ, học sinh, sinh viên Việt Nam bằng các loại văn hóa phẩm độc hại, cổ xúy lối sống hưởng lạc, thực dụng, quên quá khứ, bàng quan chính trị, xa rời lý tưởng; tạo ra được một tầng lớp đông đảo “phi chính trị hóa”, để khi có điều kiện thì tập hợp lực lượng xấu, gây áp lực chính trị, dùng bạo loạn lật đổ và cướp chính quyền. Bốn là, thực hiện chính sách lôi kéo, thông qua các nước đồng minh, các tổ chức phi chính phủ, qua giao lưu hợp tác về văn hóa, giáo dục, khoa học, nghệ thuật, báo chí... để thâm nhập, thu thập tin tức tình báo, mua chuộc cán bộ, chuyển hóa tư tưởng, cài cắm người vào các tổ chức của ta, móc nối với các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị để chống phá Đảng và Nhà nước ta. Năm là, với hình thức tung tin đồn nhảm, tạo dư luận và áp lực xã hội, dưới chiêu bài “chống tham nhũng”, “bảo vệ tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, chúng đưa ra những lời hứa mị dân để gây tâm trạng mơ hồ, mất cảnh giác, cả tin của một số người; từ đó cô lập các lực lượng cách mạng trung kiên, phân hóa những người dao động, thiếu chính kiến, thiếu thông tin; lôi kéo, kích động những người có tâm trạng bất mãn, những lực lượng xấu trong xã hội để gây bạo loạn lật đổ chính quyền.
Cuộc đấu tranh chống “diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa là cuộc đấu tranh giữa hệ tư tưởng XHCN và hệ tư tưởng tư sản. Cuộc đấu tranh này ở nước ta hiện nay đang diễn ra rất phức tạp, gay go và quyết liệt. Các thế lực thù địch đã, đang và sẽ dùng mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá cách mạng nước ta trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó chống phá trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa ngày càng quyết liệt. Đó là một nguy cơ đối với sự tồn vong của Đảng, của chế độ ta, không thể xem thường. Do đó, nếu chúng ta chủ quan, mất cảnh giác hoặc nhận thức không đầy đủ về những tác động phá hoại của các thế lực thù địch trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội càng có nhiều cơ hội để tiến hành âm mưu, hoạt động “diễn biến hoà bình” nhằm chống Đảng, Nhà nước ta. Kiên quyết đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, lý luận, phê phán, vạch trần, bác bỏ các quan điểm thù địch, sai trái là một nhiệm vụ hàng đầu trong tình hình mới./.
Bùi Đình Bôn
Đại tá, PGS, TS, Hội đồng Lý luận Trung ương

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tại sao nghệ thuật hiện đại quá tệ?


[Tại sao nghệ thuật hiện đại quá tệ?][Ku Búa @ Cafe Ku Búa] Trong gần hai ngàn năm nay, những họa sĩ vĩ đại đã lập tiêu chuẩn cho vẻ đẹp. Bây giờ những tiêu chuẩn đó đã biến mất. Nghệ thuật hiện đại là một cuộc thi giữa cái xấu và cái quái gỡ: cái nào gây sốc nhiều nhất cái đó thắng. Chuyện gì đã xảy ra? Làm sao mà cái vẻ đẹp đã trở nên xấu xí và cái xấu lại được đón nhận? Nhà họa sĩ nổi tiếng Robert Florczak giải thích lịch sử và sự bí ẩn đằng sau sự thay đổi này và nó có thể được ngăn chặn và đổi ngược như thế nào.
Tranh vẽ Mona Lisa, The Pieta, Bức chân dung Cô gái đeo khuyên tai ngọc trai. Hàng thế kỷ qua, các nhà họa sĩ đã làm giàu xã hội Phương tây với những tác phẩm của họ chứa đầy vẻ đẹp kinh ngạc. Tác phẩm Gác đêm (The Night Watch) Suy tư (The Thinker) Núi đá (The Rocky Mountains) Họa sĩ này đến họa sĩ khác, từ Leonardo, đến Rembrandt, đến Bierstadt, đã làm ra những tác phẩm gây cảm hứng cho chúng ta, đưa chúng ta lên và ghi sâu vào tâm hồn chúng ta. Và họ làm vậy bởi sự yêu cầu của chính bản thân họ để đạt được tiêu chuẩn cao nhất, lấy tác phẩm cũ và nâng cao nó từ các thế hệ họa sĩ khác, và tiếp tục mong muốn đạt được chất lượng cao nhất có thể. Nhưng điều gì đó đã xảy ra trong khoảng thời gian đó đến thế kỷ 20. Điều sâu sắc, gây cảm hứng và đẹp đẽ bị thay thế bởi điều mới, khác biệt và xấu xí. Ngày nay điều ngớ ngẩn, vô nghĩa và xúc phạm được xem là nghệ thuật hiện đại. Michelangela đã khắc bức tượng David của mình từ một hòn đá. Viện Bảo Tàng Nghệ Thuật của Quận Los Angeles chỉ đưa chúng ta một tảng đá, một tảng đá – nặng 340 tấn. Tiêu chuẩn đã giảm đến mức độ đó đấy. Điều này xảy ra bằng cách nào? Làm sao mà sự thăng tiến ngàn năm đến sự hoàn hảo và đỉnh cao của nghệ thuật đã chết mòn? Nó đã không chết. Nó đã bị đẩy ra ngoài. Bắt đầu vào cuối thế kỷ 19, một nhóm tên Trường Phái Ấn Tượng (The Impressionist) đã nổi dậy chống lại Viện Nghệ Thuật Pháp (French Academie des Beaux Arts) và sự yêu cầu của nó cho tiêu chuẩn cổ điển. Cho dù ý định của họ là gì, những họa sĩ hiện đại đã gieo mầm cho sự thẩm mỹ tương đối – tư duy “vẻ đẹp nằm trong mắt người làm ra nó.” Ngày nay tất cả mọi người đều yêu trường phái Ấn Tượng. Và, như những cuộc cách mạng hiện đại, thế hệ đầu tiên đã sản xuất ra những tác phẩm thực sự ấn tượng. Monet, Renoir, và Degas vẫn duy trì những yếu tố của sự thiết kế và thực hành nghiêm túc, nhưng với mỗi thế hệ tiêu chuẩn đã suy giảm cho đến khi không còn tiêu chuẩn nữa. Những gì còn lại là sự biểu hiện cá nhân. Nhà sử học nghệ thuật Jacob Rosenberg đã viết rằng chất lượng trong nghệ thuật “không chỉ là một vấn đề về mặt ý kiến cá nhân mà còn có một mức độ nhận xét khách quan.” Nhưng cái ý tưởng của một tiêu chuẩn chuẩn phổ quát trong nghệ thuật bây giờ đang đối mặt với sự chống đối quyết liệt nếu không phải là sự nhạo báng công khai. “Làm sao nghệ thuật có thể được đánh giá một cách khách quan?” Tôi tự hỏi. Để đáp lại, tôi chỉ chỉ ra những kết quả nghệ thuật được làm ra bởi những tiêu chuẩn phổ quát so với những gì được làm ra bởi sự tương đồng. Cái đầu tiên đã đem lại cho thế giới “Sự sinh ra của Venus” và bức “Người Gaul đang chết,” trong khi đó cái tương đồng đã đưa chúng ta bức “Trinh Nữ Mary,” cùng với phân bò và những hình ảnh khiêu dâm, và “Peta,” bức tượng thắng giải của một nữ cảnh sát đang ngồi bệt và đi vệ sinh – cùng với một vũng nước tiểu. Nếu không có những tiêu chuẩn thẩm mỹ, chúng ta sẽ không có cách để quyết định chất lượng nào cao hay kém. Đây là một bài kiểm tra tôi đã đưa cho các sinh viên cao học của tôi, tất cả đều có tài và học thức cao. Xin bạn hãy phân tích bức tranh vẽ Jackson Pollock này và giải thích vì sao nó lại chất lượng. Chỉ sau khi họ đưa những câu trả lời hùng hồn tôi đã nói họ biết rằng bức tranh đó thực ra là một bức chụp gần của bộ tạp dề trong phòng vẽ của tôi. Tôi không trách họ, tôi có thể sẽ làm điều tương tự vì gần như bất khả thi để phân biệt cả hai. “Và ai sẽ quyết định chất lượng?” là một trong những thử thách tôi được nhận. Nếu chúng ta thành thật về mặt trí thức, chúng ta đều biết rằng những tình huống nơi sự chuyên môn được thừa nhận và phụ thuộc vào. Lấy môn trượt băng Olympic, nơi nghệ thuật đỉnh cao được đánh giá bởi những chuyên gia trong lĩnh vực. Chắc chắn rằng chúng ta sẽ trượt tệ trên tảng băng và yêu cầu rằng bài biểu diễn của anh ta nên được chấp nhận là xứng đáng với giá trị tương tự như một nhà trượt băng thành thạo. Không chỉ chất lượng nghệ thuật đã suy giảm, mà chủ đề đã đi từ sự ưu việt đến nhảm nhí. Nơi mà trước đây các họa sĩ đã áp dụng tài năng của họ để làm ra chất lượng và toàn vẹn từ lịch sử, văn học, tôn giáo, thần thoại, vân vân, rất nhiều họa sĩ trong ngày nay chỉ sử dụng nghệ thuật của họ để làm những lời tuyên bố, thường chẳng vì điều gì trừ những giá trị gây sốc. Những họa sĩ của quá khứ cũng làm những lời tuyên bố vào thời điểm đó, nhưng chưa bao giờ hạ thấp chất lượng của tác phẩm của họ. Không chỉ những họa sĩ đang làm sai đâu; mà nó cũng là sai lầm của cộng đồng nghệ thuật: trưởng viện bảo tàng, những chủ sưu tập, và những nhà phê bình mà khuyến khích và hỗ trợ về mặt tài chính sự sản xuất của những thứ rác rưởi đó. Chính họ là những người cổ vũ cho nghệ thuật vẽ bậy và gọi nó là thiên tài, quảng bá những thứ tục tĩu và gọi nó là ý nghĩa. Chính họ là những người trong thực tế những hoàng đế khỏa thân của nghệ thuật, còn ai có thể tiêu $10 triệu cho một tảng đá và cho nó là nghệ thuật. Nhưng tại sao chúng ta phải là những nạn nhân của những sự vô vị này? Chúng ta không cần. Bằng cách xem những bức tranh tại bảo tàng hay những lần mua tại triển lãm, chúng ta có thể khiến ý kiến của chúng ta không chỉ được biết đến mà còn được cảm nhận. Một triển lãm tranh, suy cho cùng, là một doanh nghiệp như bất cứ doanh nghiệp khác. Nếu sản phẩm không thể bán được, nó sẽ không được làm ra. Chúng ta cũng có thể ủng hộ những tổ chức như Trung Tâm Nghệ Thuật Đổi Mới mà có thể làm việc để khôi phục những tiêu chuẩn khách quan cho thế giới nghệ thuật. Và chúng ta có thể vận động sự giảng dạy của việc đánh giá nghệ thuật cổ điển trong trường học của chúng ta. Hãy tôn vinh những điều chúng ta biết là điều tốt và bác bỏ những gì chúng ta biết là không tốt. Hơn nữa, cái nền màu trắng mà bạn thấy đằng sau tôi không chỉ là một nền màu trắng thôi đâu. Nó là một bức vẽ toàn trắng bởi một họa sĩ tên tuổi Robert Rauschenberg tại Bảo Tàng Nghệ Thuật Hiện Đại San Francisco. 
Tôi là Robert Florczak từ Đại Học Prager. 
[Ku Búa @ Cafe Ku Búa] 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bán xe tang vật, thuê nhầm lâm tặc???


LÊ THANH PHONG

LĐO - Trung tá Ngô Tiến Hùng - Trưởng Công an Xuân Thới Thượng - bị Công an huyện Hóc Môn (TPHCM) đình chỉ công tác để làm rõ vi phạm liên quan đến việc thanh lý xe tang vật.

Cụ thể, trung tá Ngô Tiến Hùng bán ve chai 20 xe gắn máy là xe tang vật bị thu giữ từ tai nạn giao thông, an ninh trật tự. Trên thực tế, có nhiều xe máy tang vật của các vụ án hay tai nạn giao thông nhưng không có ai đến nhận, không có giấy tờ. Các loại xe này để lâu trong bãi, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng, đem bán phế liệu là cách hợp lý nhất.

Có điều, ông Ngô Tiến Hùng là cán bộ công an, không phải thường dân, ông Hùng phải biết tài sản tang vật không thể tùy tiện xử lý, dù là một con dao cùn. Chiếc xe máy dù cũ nát đến mấy thì cũng không được đem bán phế liệu nếu chưa qua những thủ tục theo quy định của pháp luật. Thủ tục đó là thông tin trên báo đài để tìm chủ sở hữu, nếu không có kết quả thì ra quyết định tịch thu phương tiện, bán sung công quỹ thông qua hội đồng thanh lý.

Trung tá Ngô Tiến Hùng bán ve chai 20 xe máy tang vật vừa vi phạm quy định về quản lý tang vật, vừa có hành vi tham nhũng nếu bỏ túi riêng. Vi phạm của trung tá Ngô Tiến Hùng là do yếu kém về trình độ, nhận thức pháp luật. Một trung tá công an mà vi phạm như vậy là điều không thể chấp nhận.

Một vụ liên quan đến tang vật xảy ra ở Đắk Nông. Công an huyện Đắk Song hợp đồng thuê Nguyễn Trọng Hùng vận chuyển 97,615m3 gỗ vật chứng từ Khu Bảo tồn thiên nhiên Nam Nung (huyện Đắk Song) về kho vật chứng của Công an huyện Đắk Song để xử lý. Hết người thuê, Công an huyện Đắk Song thuê trúng lâm tặc. Nguyễn Trọng Hùng tận dụng cơ hội khai thác gỗ trong khu bảo tồn thiên nhiên Nam Nung để vận chuyển theo gỗ tang vật đưa ra khỏi rừng. Quả là một kế hay, thoát thì bán gỗ chia nhau, bị bắt thì bảo là chở nhầm gỗ của lâm tặc cất giấu. Không biết đây là kế của riêng Nguyễn Trọng Hùng hay là kế chung của nhiều người?

Câu hỏi đặt ra là tỉnh Đắk Nông không rộng lớn gì, công an nhẵn mặt bọn lâm tặc, chưa bắt được cũng nắm danh sách. Ấy vậy mà hợp đồng thuê đúng ông lâm tặc đi chở gỗ tang vật để cho lâm tặc có cơ hội khai thác và vận chuyển gỗ trái phép. Viện KSND tỉnh Đắk Nông đã phê chuẩn quyết định khởi tố bị can đối với Nguyễn Trọng Hùng và hai đồng phạm về hành vi vi phạm các quy định về khai thác và bảo vệ rừng.

Liệu Nguyễn Trọng Hùng chỉ có hai đồng phạm?


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vì sao Việt Nam không phát biểu ở Đối thoại Shangri-La 2017?



Cảnh Toàn (từ Singapore)

Zing - Ông Vũ Tiến Trọng, quan chức đoàn Việt Nam dự Hội nghị thượng đỉnh An ninh châu Á, cho biết Việt Nam không tham dự cấp bộ trưởng nên không phát biểu tại phiên toàn thể dịp này.

Trả lời báo chí bên lề Đối thoại Shangri-La 2017 đang diễn ra ở Singapore, Thiếu tướng Vũ Tiến Trọng, Viện trưởng Viện Quan hệ Quốc tế về Quốc phòng, cho biết vấn đề được thảo luận nhiều trong tình hình an ninh chung ở châu Á là sự khẳng định vai trò của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ:

Xin ông cho biết về sự tham gia của đoàn cán bộ cấp cao Bộ Quốc phòng Việt Nam tại Shangri-La như thế nào?

- Đoàn Bộ Quốc phòng Việt Nam đã tham gia ngay từ những hội nghị đầu tiên từ năm 2002 đến nay một cách tích cực, chủ động. Tại Shangri-La lần thứ 16 này, Bộ Quốc phòng Việt Nam chuẩn bị khá chu đáo, đã chuẩn bị cả những thông điệp phát biểu trên phiên toàn thể và các phiên đồng thời.

Tuy nhiên, nguyên tắc của ban tổ chức là chỉ ưu tiên cho bộ trưởng Quốc phòng các nước để phát biểu tại phiên toàn thể. Chúng ta thấy ngay cả Ấn Độ, Trung Quốc không cử đại diện cấp bộ trưởng mà chỉ là đại diện cấp thấp hơn thì cũng không phát biểu. Đoàn Việt Nam cũng tương tự vậy. Chúng ta phải chấp nhận những nguyên tắc, quy chế của ban tổ chức cũng như nước chủ nhà.

- Tại sao trưởng đoàn Việt Nam không tham gia phát biểu tại các phiên toàn thể?

- Như đã nêu trên, lực lượng đến tham dự rất đông đảo, tới hơn 20 bộ trưởng quốc phòng và tương đương của các nước, nên các phát biểu nghị sự trong các phiên toàn thể ưu tiên cho cấp bộ trưởng. Do đó, cấp thứ trưởng của chúng ta không được tham gia phát biểu. Việt Nam cũng như Ấn Độ hay Trung Quốc đều đi ở cấp thứ trưởng hoặc thấp hơn, nên chúng ta không phát biểu ở phiên toàn thể.

Ông đánh giá thế nào những vấn đề chính của chương trình nghị sự tại Đối thoại Shangri-La năm nay?

- Các vấn đề an ninh khu vực hiện nay được hội nghị đặc biệt quan tâm, trong đó có các vấn đề an ninh chung, chú trọng đến vấn đề nhận thức, khẳng định vai trò của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ trong vấn đề an ninh ở châu Á cũng như các nước lớn khác như Trung Quốc.

Các nước lớn có nhiệm vụ cùng nhau giải quyết các vấn đề an ninh nóng hiện nay, như phi hạt nhân hóa bán đảo Triều Tiên, vấn đề chống khủng bố quốc tế, vấn đề tranh chấp ở Biển Đông…, hoặc vấn đề mới nổi lên như an ninh mạng toàn cầu.

Đây đều là những vấn đề được Shangri-La nhìn nhận, đánh giá hoặc có những đề xuất về định hướng hợp tác để duy trì một khu vực ổn định, hòa bình, để tất cả các quốc gia cùng hưởng lợi, đó là hòa bình và phát triển thịnh vượng chung.

Ông bình luận thế nào về bài phát biểu của thủ tướng Australia trong phiên khai mạc?

- Cộng đồng quốc tế cũng như khu vực ngày hôm qua đều rất quan tâm tới thông điệp của thủ tướng Australia phát biểu tại phiên khai mạc.

Thông điệp này rất rõ ràng. Thứ nhất, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia và hành xử một cách thượng tôn pháp luật trong tất cả các vấn đề quốc tế. Kế đến là sự thừa nhận vai trò của Mỹ trong các vấn đề an ninh khu vực; đồng thời thừa nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc tại khu vực đem lại lợi ích chung cho các quốc gia vừa và nhỏ cùng phát triển.

Tuy nhiên, thủ tướng Australia cũng kêu gọi Trung Quốc có trách nhiệm và hành xử đúng luật pháp tại khu vực, đề nghị Trung Quốc hành xử có trách nhiệm hơn đối với vấn đề tranh chấp tại Biển Đông, biển Hoa Đông cũng như xử lý vấn đề phi hạt nhân hóa Bắc Triều Tiên.

Thủ tướng Australia cũng có một thông điệp quan trọng là ủng hộ vai trò dẫn dắt, vai trò trung tâm của ASEAN trong cấu trúc an ninh khu vực, đồng thời có thông điệp chống phi toàn cầu hóa, kêu gọi các quốc gia cùng nhau có trách nhiệm trong hợp tác để đối phó với các mối thách thức đe dọa an ninh hiện nay như là nguy cơ khủng bố quốc tế, vấn đề về an ninh mạng toàn cầu…

- Là thành viên tích cực của đối thoại Shangri-La, Việt Nam đã thể hiện và chia sẻ quan điểm như thế nào, đặc biệt là những cách thức để giải quyết các xung đột hiện nay?

- Việt Nam dự kiến sẽ tham gia và đăng đàn phát biểu trong phiên toàn thể về những thách thức để xử lý khủng hoảng hiện nay. Tuy nhiên do nguyên tắc và quy định của ban tổ chức, Việt Nam đi ở cấp thấp hơn bộ trưởng nên không được phát biểu chính thức tại phiên toàn thể lần này.

Quan điểm của Việt Nam là chúng ta thấy có rất nhiều những vấn đề an ninh cần chung tay hợp tác đối phó nhưng vẫn còn nhiều thách thức. Đầu tiên là vấn đề nhận thức cũng như cách ứng xử hay vận dụng các quy định luật pháp quốc tế không giống nhau, tạo ra những khác biệt hoặc những cơ chế chưa đủ để giải quyết các vấn đề hiện nay.

Ngoài ra, lợi ích của các quốc gia chưa song trùng với lợi ích của các cộng đồng hay lợi ích của các lợi ích chung khiến cho sự khác biệt tồn tại. Thậm chí, một số quốc gia đặt lợi ích của quốc gia lên trên lợi ích của cộng đồng. Những điều này đang tạo khó khăn trong vấn đề về nhận thức cũng như trách nhiệm chung trong xử lý các vấn đề quốc tế hiện nay ở khu vực.

Theo ông, các nước lớn cần có cách ứng xử như thế nào để thể hiện vai trò mang tính trách nhiệm của mình, cũng như ASEAN cần có tiếng nói gì để đóng góp vào tiến trình này?

- Thông điệp của thủ tướng Australia rất rõ ràng. Thứ nhất, các nước lớn cần có trách nhiệm trong vấn đề đảm bảo duy trì trật tự an ninh tại khu vực, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, như thủ tướng Australia đã khẳng định vai trò của Mỹ trong vấn đề can dự an ninh tại khu vực; đồng thời thừa nhận sự trỗi dậy của Trung Quốc song kêu gọi Trung Quốc phải có trách nhiệm.

Và tất cả các quốc gia, dù lớn hay nhỏ, đều phải thượng tôn pháp luật, đều cần được bình đẳng và tự do trong khuôn khổ thượng tôn pháp luật của thế giới và khu vực.

Vai trò của ASEAN đã, đang và sẽ được thừa nhân như một trung tâm với một động lực, một lực lượng dẫn dắt trong các cơ chế hợp tác an ninh khu vực, và được Trung Quốc, Mỹ cũng như các nước lớn hoàn toàn ủng hộ.

Chính vì vậy, ASEAN trong những năm vừa qua đã trở thành một cộng đồng. Chúng tôi cho rằng với sự ủng hộ của các nước lớn, các nước bên ngoài khu vực, ASEAN sẽ làm tròn sứ mệnh của mình là trung tâm dẫn dắt các cơ chế hiện nay.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thế “lưỡng long tranh châu” trên Biển Đông và lựa chọn nào cho Việt Nam?


TS TRẦN CÔNG TRỤC

(GDVN) - Thành công tốt đẹp của những chuyến công du các lãnh đạo cấp cao Việt Nam sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật đã cho thấy khả năng làm chủ tình thế, cân bằng quan hệ.

1. Cạnh tranh địa-chiến lược giữa Trung Quốc và Mỹ tại châu Á-Thái Bình Dương đang trong thế “lưỡng long tranh châu” hay “lưỡng long chầu nguyệt”?

Hình ảnh hai rồng chầu vào vòng tròn chính giữa xuất hiện trên các nóc đình đền và chùa chiền một thời gây tranh cãi gáy gắt trong giới khoa học.

Nhiều người dùng thuật ngữ "lưỡng long chầu nguyệt" để chỉ đôi rồng chầu về mặt trăng. 

Nhưng theo ý kiến của các nhà nguyên cứu văn hóa dân gian, thì đó là một sai lầm, vì vòng tròn ở giữa không phải mặt trăng, trăng không thể có ánh lửa bùng cháy. 

Như vậy, đôi rồng hướng về "quả cầu lửa" không phải là "lưỡng long chầu nguyệt" mà có thể gọi đó là "lưỡng long tranh châu" thì có vẻ chính xác hơn. 

Tuy vậy, tùy theo hoàn cảnh của cuộc sống, hình tượng “lưỡng long tranh châu” hay “lưỡng long chầu nguyệt” trong tâm thức vẫn được người phương Đông trân trọng, ngưỡng mộ, ví von…

Đánh giá quan hệ giữa Trung Quốc và Mỹ trong tình hình hiện nay tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhà báo Hồng Thủy đã sử dụng thế “lưỡng long tranh châu” để ám chỉ, chứ không phải bằng thế “lưỡng long chầu nguyệt”. 

Báo Điện tử Giáo dục Việt Nam ngày 08/06/2017 đã đăng bài: "Việt Nam không ngả sang Trung Quốc, và Mỹ không bỏ Biển Đông".

Trong bài viết này, nhà báo Hồng Thủy đã cung cấp cho bạn đọc những thông tin cùng với những phân tích đánh giá khá chuẩn xác về tình hình Biển Đông trong thời gian gần đây. 

Tôi rất tâm đắc với nhận định của Giáo sư Alexander L. Vuving được Hồng Thủy dẫn lại trong bài, rằng: 

"Trong một thời gian khá dài kể từ khi ông Donald Trump trúng cử Tổng thống, người ta đã dự đoán rằng chủ nhân mới của Nhà Trắng sẽ thay đổi triệt để chính sách, làm giảm sự tham gia của Mỹ ở châu Á. 

Nhiều người cũng tin rằng, hệ quả của sự thay đổi chính sách này sẽ khiến các quốc gia chủ chốt trong khu vực, chẳng hạn như Việt Nam, sẽ phải điều chỉnh các mối quan hệ của họ theo hướng xích lại gần hơn với Trung Quốc. 

Nhưng ấn tượng này đã được chứng minh là sai với hội nghị giữa Tổng thống Donald Trump và Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Nhà Trắng hôm 31/5.

Chính quyền mới của ông Donald Trump không đảo ngược quá trình chính sách của Mỹ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Thậm chí họ có thể mạnh mẽ hơn chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama ở Biển Đông.".

Cá nhân tôi còn đặc biệt quan tâm tới nội dung phát biểu của Bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ tại Diễn đàn Shangri-La 2017.

Những nội dung này đã chứng minh chính quyền mới của ông Donald Trump không hề đảo ngược lại chính sách của Mỹ với khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã được định hình từ trước. 

Thậm chí nó còn mạnh mẽ hơn chính quyền cựu Tổng thống Barack Obama ở Biển Đông cả trên phương diện ngoại giao, lẫn trong hành xử thực tế. 

Đối thoại Shangri-La, diễn đàn an ninh khu vực năm 2017 vừa kết thúc đã phản ánh lập trường của Hoa Kỳ đối với những căng thẳng ở Biển Đông.

Trong bài phát biểu sáng 3/6 trong khuôn khổ Đối thoại Shangri-La, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, James Mattis, nhiều lần nhấn mạnh đến nguyên tắc duy trì trật tự quốc tế dựa trên quy tắc và luật lệ quốc tế, đảm bảo lợi ích bình đẳng của tất cả các nước. 

Mỹ bảo vệ lợi ích của mình và của những đồng minh, duy trì một sự hiện diện quân sự trong khu vực. 

Lâu nay Hoa Kỳ vẫn nói rằng họ không có lập trường chính thức về tranh chấp chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông.

Tuy vậy, Mỹ vẫn  chỉ trích mạnh mẽ những hành vi của Trung Quốc ở đó và đã mở rộng những liên minh quốc phòng với những nước có tuyên bố chủ quyền chồng lấn. 

Các hoạt động tuần tra bảo vệ tự do hàng hải mà Mỹ tiến hành trong khu vực tranh chấp ở Biển Đông vừa qua là việc rất quan trọng để kiềm chế các yêu sách bành trướng của Trung Quốc. 

Đây cũng là một phép thử đối với sự sẵn sàng của Bắc Kinh trong việc tuân thủ luật pháp quốc tế, giải quyết tranh chấp một cách hòa bình khi sức mạnh của họ liên tục gia tăng. 

Quyết định của chính quyền Tổng thống Donald Trump cho phép Hải quân Mỹ tiến hành một hoạt động tuần tra tự do hàng hải bên trong 12 hải lý ở bãi Vành Khăn hôm 24/5 là một dấu hiệu cho thấy sự liên tục trong chính sách lâu dài này.

Tuy nhiên, tính toán lợi ích chiến lược của mình trong khu vực trước mối đe dọa chiến tranh hạt nhân của Cộng hòa Dân chủ nhân dân Triều Tiên, Mỹ đã một lần nữa sử dụng Biển Đông như là một con bài chiến lược để mặc cả với Trung Quốc. 

Chính điều này khiến nhiều đồng minh, đối tác của Mỹ lo ngại khi thấy Tổng thống Donald Trump tìm cách thỏa hiệp với Trung Quốc về vấn đề Triều Tiên, chấp nhận tạm gác Biển Đông qua một bên…

Vì vậy, tại Diễn đàn này, để trấn an các đồng minh và đối tác, Mỹ tuyên bố sẽ bảo vệ lợi ích của mình và của những đồng minh, duy trì một sự hiện diện quân sự trong khu vực. 

Giới chức Hải quân Mỹ dự định mở rộng lực lượng điều động ra nước ngoài của Hạm đội Thái Bình Dương thêm khoảng 30% nữa đến trước năm 2021. 

Những vụ đụng độ giữa tàu tuần tra hải quân Trung Quốc và tàu đánh cá của những nước lân cận cho thấy, nhiều nguy cơ châm ngòi xung đột quốc tế và đẩy những cam kết an ninh của Washington lên hàng đầu. 

Những vụ việc như vậy có thể tiếp tục định hình những tranh chấp khi nó diễn ra trên biển.   

Vì vậy, nhìn nhận một cách khách quan về mối tương quan thế và lực hiện nay, dư luận cho rằng cục diện Biển Đông hay bán đảo Triều Tiên sẽ vẫn tiếp tục xu thế cạnh tranh vì lợi ích giữa Trung Quốc và Mỹ, trong thế "lưỡng long tranh châu", không hòa - không chiến…

Nhưng với những gì đã và đang diễn ra tại khu vực châu Á-Thái Bình Dương khiến người ta quan ngại, rằng trạng thái “gầm gừ” của “lưỡng long” có thể chuyển sang trạng thái “phun lửa” bất cứ lúc nào… 

2. Việt Nam và các nước khác trong khu vực cần làm gì trước tình thế “lưỡng long tranh châu”? 

Phát biểu đề dẫn Đối thoại An ninh Shangri-la lần thứ 16 vừa qua, Thủ tướng Australia Malcolm Turnbull đã nhận xét: 

"Trong thế giới mới bất ổn này, chúng ta không thể dựa vào một sức mạnh tuyệt đối để bảo vệ lợi ích của mình. 

Chúng ta phải chịu trách nhiệm với an ninh và thịnh vượng của chính mình, trong khi thấy rõ rằng chúng ta sẽ trở nên mạnh hơn khi chia sẻ trách nhiệm lãnh đạo tập thể với các bạn bè và đối tác tin cậy.".  

Đề dẫn này đã nhận được sự đồng tình, hưởng ứng của tất các đại biểu tham dự Diễn đàn, trừ đoàn Trung Quốc. 

Bởi vì, mọi người đều đã chứng kiến thế giới đang cận kề một cuộc chiến tranh tàn khốc. Ông Malcolm Turnbull đánh giá:

“Các điểm nóng trong khu vực gia tăng, mâu thuẫn dường như vô tận ở Trung Đông và châu Phi, sự điên rồ và bệnh hoạn của chủ nghĩa khủng bố, sự biến đổi kinh tế và biên giới ở châu Âu;

Sự can thiệp bên ngoài và mức độ tha hóa chính trị hay chủ nghĩa dân túy đang ngày càng thấm sâu trong đời sống xã hội hơn những gì chúng ta từng thấy kể từ năm 1930.

Sự trỗi dậy của Trung Quốc và Ấn Độ tham gia hàng ngũ những nền kinh tế lớn với sức mạnh và ảnh hưởng đến cán cân địa-chính trị toàn cầu. 

Trung Quốc sẽ đóng một vai trò lớn hơn trong định hình khu vực và họ sẽ tìm cách tăng ảnh hưởng chiến lược để phù hợp với sức mạnh kinh tế mới.

Vì vậy, các nước khác trong khu vực sẽ tìm cách cân bằng với sức mạnh của Bắc Kinh bằng cách củng cố liên minh hay hợp tác đặc biệt giữa họ với Hoa Kỳ.”.

Đây là một xu hướng tất yếu phù hợp với quy luật đấu tranh sinh tồn của muôn loài, vạn vật.  

Cố Thủ tướng Lý Quang Diệu đã từng vận dụng quy luật đấu tranh sinh tồn đó để làm cho những con "tép riu" hay “cá nhỏ” trở nên "khó nuốt" trước sự thèm khát của những con “cá lớn”.

Khả năng tự vệ đó chình là nhờ ở tinh thần tự lực tự cường, tự chủ và mạnh mẽ, đồng thời chơi được với tất cả “cá lớn” và “cá nhỏ”…

Tầm nhìn của Lý Quang Diệu không chỉ mang lại sự hòa bình và thịnh vượng, vị thế cho Singapore suốt mấy chục năm qua.

Tầm nhìn ấy còn giúp quốc đảo Sư tử tiếp tục đứng vững, phát triển trước những biến động quá nhanh của thời cuộc, nhất là các tranh chấp quyết liệt giữa 2 siêu cường Trung - Mỹ. 

Vì vậy, một mặt các nhà lãnh đạo khu vực cần tận dụng mọi diễn đàn để kêu gọi, giải thích và bảo vệ luật pháp cũng như trật tự quốc tế.

Mặt khác, cần thúc đẩy các hoạt động hợp tác song phương và đa phương trong khu vực một cách chủ động. 

Đó chính là trách nhiệm với tương lai vận mệnh của chính mình, đặt trong mối quan tâm chung về bảo vệ hòa bình ổn định của cả khu vực. 

Phải chăng đó chính là cách góp phần tạo thế “lưỡng long chầu nguyệt” trên Biển Đông từ các nước nhỏ trong khu vực, thay vì thế “lưỡng long tranh châu”, mà người phương Đông tôn thờ như là biểu tượng của sự cân bằng âm dương, sự hài hòa quyền lực, yên bình và hòa hợp…? 

Và phải chăng đó là thế mà các nước trong khu vực và quốc tế mong muốn duy trì để tạo ra sự cân bằng sức mạnh giữa các siêu cường, đặc biệt là giữa Trung Quốc và Mỹ, trong cuộc cạnh tranh đang diễn ra rất khốc liệt tại một số khu vực trọng yếu về địa-chiến lược, địa-chính trị, địa-kinh tế…của thế giới ? 

Trong thời gian qua, thành công tốt đẹp của những chuyến công du các lãnh đạo cấp cao Việt Nam sang Trung Quốc, Mỹ, Nhật đã cho thấy khả năng làm chủ tình thế, cân bằng quan hệ giữa các siêu cường để giảm thiểu tối đa tác động tiêu cực, nguy cơ phán đoán sai lầm trên Biển Đông.

Nguồn vốn và công nghệ Nhật Bản, các sản phẩm thiết bị công nghệ cao từ Hoa Kỳ sẽ là một đòn bẩy giúp Việt Nam canh tân đất nước, phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng.

Bên cạnh đó là mối quan tâm lợi ích địa chiến lược và sự tham dự, can thiệp mạnh mẽ bảo vệ tự do - an ninh hàng hải, hàng không, trật tự dựa trên luật pháp quốc tế ở Biển Đông của Mỹ - Nhật - Australia - Ấn Độ sẽ giúp Việt Nam và các nước nhỏ ven Biển Đông rất nhiều trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Do đó chúng tôi thiết nghĩ, chính chúng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bảo vệ thành quả của Phán quyết Trọng tài 12/7/2016.

Bảo vệ công lý, lẽ phải cũng là bảo vệ chính mình.

Với Trung Quốc, bên cạnh việc đấu tranh chống lại các quan điểm và hành vi đi ngược luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 và Phán quyết Trọng tài thông qua các biện pháp hòa bình, chúng ta cũng phải học hỏi họ trong một số lĩnh vực.

Đầu tiên và dễ thấy nhất, chính là chính sách thu hút nhân tài, phát triển khoa khọc công nghệ.

Những tiến bộ vượt bậc của họ trong nghiên cứu khoa học và ứng dụng ở Biển Đông như khai thác băng cháy, phát triển thiết bị bay không người lái chạy bằng quang năng, thăm dò biển sâu...là những điều trước đây người ta khó có thể hình dung nổi, thì nay họ đã làm được.

Bên cạnh nguy cơ căng thẳng leo thang trên Biển Đông khi những kĩ thuật và công nghệ tiên tiến có trong tay Trung Quốc, chúng ta cũng phải nhìn thẳng vào sự thật về tốc độ phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật của họ để học cách nghiên cứu, triển khai.

Thứ hai là đấu tranh với quốc nạn tham nhũng. 

Cho dù đây đó vẫn còn những nhận xét về “phe phái chính trị” hay “thanh trừng”, nhưng không ai phủ nhận được rằng chiến dịch đả hổ đập ruồi của ông Tập Cận Bình đã và đang góp phần làm trong sạch bộ máy quản lý ở đất nước khổng lồ này.

Quan điểm tất cả mọi người đều bình đẳng trước pháp luật đang được Trung Quốc hiện thực hóa.

Họ không có chuyện "rút kinh nghiệm" hoặc "rút kinh nghiệm sâu sắc" sau những hành động vi phạm pháp luật rõ ràng và để lại hậu quả của các quan chức, lãnh đạo.

Thứ ba là khả năng quản lý.

Bên cạnh chống tham nhũng, khả năng quản lý đất nước và đô thị của Trung Quốc cũng là cái chúng ta cần nghiên cứu, học hỏi.

Thượng Hải hiện đại không kém gì Singapore, Quảng Đông thực sự là đầu tàu phát triển kinh tế của toàn Trung Quốc.

Cơ sở hạ tầng tại 2 tỉnh thành này rất hiện đại, có lẽ chúng ta còn thua họ rất xa.

Làm được như vậy cho thấy tầm nhìn, khả năng quản lý của người Trung Quốc để thu hút doanh nghiệp, nguồn vốn, nhân tài.

Không có tham nhũng và "tham nhũng vặt", càng không có những rào cản vô lý từ chính sách, hành chính công thì mới có được một nền kinh tế phát triển và những đô thị văn minh, hiện đại.

Theo cái thấy, cái biết của chúng tôi, người Việt ta có rất nhiều bà con đã thành công trên con đường học thuật hoặc kinh doanh ở các nước phát triển trên thế giới, rất mong muốn đóng góp cho sự phát triển quê nhà.

Nhưng ngoài chủ trương chung, chúng ta đang rất thiếu các chính sách để thu hút và sử dụng hiệu quả nguồn chất xám quý giá ấy. 

Ngay trong lĩnh vực nghiên cứu về an ninh hàng hải, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, Phán quyết Trọng tài và thụ đắc lãnh thổ - các phương thức giải quyết tranh chấp lãnh thổ…, phải thừa nhận một thực tế rằng chúng ta chưa làm tốt bằng Trung Quốc, không phải vì ta ít quan tâm hay ít đầu tư.

Ngược lại, chúng ta rất quan tâm và đầu tư không ít, nhưng quản lý của Việt Nam đối với các hoạt động này còn lỏng lẻo, còn những kẽ hở cho một số cá nhân cơ hội trục lợi.

Trên Biển Đông, bên cạnh việc nâng cao khả năng phòng thủ chính đáng và hoạch định chiến lược, chúng ta cũng cần chung tay bảo vệ luật pháp quốc tế, Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982, Phán quyết Trọng tài, phát triển và củng cố quan hệ hợp tác với các nước lớn và ASEAN.

Đó chính là cách tốt nhất để góp phần giúp quan hệ Mỹ- Trung trên Biển Đông sẽ được duy trì ở tư thế “lưỡng long chầu nguyệt”, và cũng là cách bảo vệ chính mình!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Rất cần tiếng nói của lương tri


LÊ THANH PHONG
























LĐO - “Chúng ta có thể thanh tra giám sát các thủ tục được gọi là đúng quy trình ấy, nhưng lương tri của những người làm công tác tổ chức cán bộ là thứ không ai có thể giám sát được”, đó là ý kiến của đại biểu Phạm Thị Minh Hiền khi bàn về những vụ “bổ nhiệm thần tốc” tại diễn đàn Quốc hội.

Người ta đã nói đến vai trò giám sát của Quốc hội, nhưng lần đầu tiên có một đại biểu đặt vấn đề giám sát lương tri của con người. Con người cụ thể ở đây là cán bộ làm công tác tổ chức.

Một công trình xây dựng bị hư hỏng, kiểm tra bằng các biện pháp kỹ thuật, có thể biết được chất lượng xây dựng, phát hiện công trình bị “rút ruột”. Một vụ việc thưa kiện của công dân xảy ra, có thể nghiên cứu hồ sơ để tìm hiểu bản chất sự việc, cho nên có nhiều vụ án oan sai được giải mã. Một chính sách ban hành có được thực thi nghiêm túc hay không, bằng các biện pháp kiểm tra, giám sát, có thể xác định được trách nhiệm của cá nhân, đơn vị.

Nhưng đố ai có thể giám sát được lương tri của con người. Có điều gì đó thật chua chát trong câu nói của đại biểu Phạm Thị Minh Hiền, nhưng đó là điều rất thực. Đôi khi cũng cần nghe một lời nói thực để đắp vá vào những lỗ hổng niềm tin đã bị thất thoát.

Sự thật đây là gì? Các trường hợp bổ nhiệm người nhà, “bổ nhiệm thần tốc” hay cả gia đình dòng họ làm quan trong một tỉnh được nêu ra cụ thể, bằng chứng rành rành, nhưng khi giải trình, thì tất cả đều “đúng quy trình”. Chịu, cứ đổ cho cái ông “quy trình” thì coi như xong.

Sự thật ở đây là gì? Có rất nhiều thứ đúng quy trình nhưng không lương thiện, là không đúng với những giá trị đạo đức mà con người xác lập và thừa nhận, là xa lạ với tiếng nói của lương tri. Kiểm điểm lại nhiều mặt, nhiều lĩnh vực của đất nước, sẽ thấy có lắm thứ chúng ta phải trả giá vì nó được thực hiện và cam kết bởi những quy trình.

Khi người lãnh đạo bổ nhiệm cán bộ bằng sự trong sáng của lương tâm, sự công bằng của tuyển chọn, sự quyết tâm tìm người tài để phục vụ đất nước, thì đó là quy trình đúng nhất, cho dù nó không thể định lượng được. Bởi vì nó là quy trình của lương tri.

Với những quy trình được định lượng bằng những gạch đầu dòng của thủ tục, hồ sơ mang tính quy định như bằng cao cấp chính trị, thời gian công tác, bằng cấp chuyên ngành, bỏ phiếu tín nhiệm…, cũng không thể chọn ra người có năng lực nếu không có tiếng nói của lương tri.

Thế mới hay, thiếu vắng tiếng nói của lương tri thật là kinh khủng.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chủ Nhật, 11 tháng 6, 2017

Phải vậy thiệt không cà?

Viện Phan Chu Trinh – một tổ chức đáng nghi ngờ
09/06/2017 - Viện Phan Chu Trinh vừa được thành lập ngày 7/2/2017 thì ngay lập tức, Phạm Chí Dũng – quản trị của Hội nhà báo độc lập đã lên tiếng phê phán và được VOA đăng tải công khai ngày 22/2 với tiêu đề “Viện Phan Chu Trinh có hướng đến tinh thần Phan Chu Trinh”. Và cũng ngay lập tức, Bùi Minh Quốc – một “nhân sĩ trí thức” có nhiều bài đăng tải với ý vị chống Nhà nước trên các trang như Bauxite Việt Nam, Văn Việt… đã vội lên tiếng bênh vực “Viện Phan Chu Trinh, Nguyên Ngọc, tôi tin”. 
Image result for Viện Phan Chu Trinh
Thông qua cuộc tranh cãi này, ta có thể thấy không chỉ có phe dân chủ vô học đang đánh nhau mà cả dân chủ có học cũng đang thanh trừng nhau. Nhưng sự việc không chỉ dừng ở đây. Liên tục trên các mạng xã hội và những bài viết trên blog, các phát biểu trong các video clip, nhiều vấn đề của Viện Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc và Chu Hảo cầm đầu đã được dư luận phân tích, làm rõ sự nguy hiểm đối với trật tự xã hội của nó. 

Buôn bán cổ nhân

Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, tuy nhiên cần phải nói rõ, việc buôn bán tư tưởng của nhà yêu nước Phan Chu Trinh cho những mục đích xấu xa không phải bây giờ mới có. Trước đây vài năm, lớn tiếng tuyên bố khai giảng khóa đầu của trường Đại học Phan Chu Trinh do ông Nguyên Ngọc làm hiệu trưởng, ông Chu Hảo làm hiệu phó như một mô hình đào tạo mới, tự do và dân chủ, hai ông đã tưởng đó sẽ là một nơi đào tạo cán bộ đấu tranh của hai ông. Ai ngờ, mô hình này thất bại thảm hại vì lượng sinh viên quá ít, chương trình học không thực tế và gặp nhiều vấn đề về tài chính dù đã bỏ không ít công sức đi ngửa tay xin tiền các bên trong và ngoài nước. Và ngay trong năm 2016, trường Đại học Phan Chu Trinh đóng cửa, mặt bằng bị thu hồi. Trường Đại học Phan Chu Trinh đã đóng cửa, thay vào đó hóa thân thành Viện Phan Chu Trinh để tiết kiệm tài chính và các nguồn lực nhân sự, lại vẫn được tiếng tốt là tổ chức học thuật. Quảng bá Viện Phan Chu Trinh chẳng qua chỉ để xóa đi cái sự kiện đau lòng đối với Nguyên Ngọc và Chu Hảo, đó là ngôi trường đã bị đóng cửa.

Cùng với trường Đại học Phan Chu Trinh, Quỹ Phan Chu Trinh cũng là một trò về buôn bán tên tuổi nhà yêu nước. Quỹ Phan Chu Trinh là một quỹ trao giải cho các sách hay được xuất bản hàng năm liên quan đến chủ đề nghiên cứu học thuật. Thế nhưng, quỹ này đa phần không trao hay khuyến khích các nghiên cứu học thuật có tính khoa học mà chỉ trao cho các nghiên cứu học thuật mang tính chính trị (có thể là bản thân công trình hoặc tác giả) mà toàn là các nhà chính trị “có vấn đề” với lịch sử cách mạng. Thông qua việc trao giải thưởng này, quỹ đã tác động đến giới học thuật, lái hướng nghiên cứu sang phục vụ các mục đích chính trị mà nhóm nhân sĩ trí thức này đề ra.

Nói thẳng, những hoạt động này chính là để làm sống lại cái thây ma IDS, tập hợp các trí thức bất đồng với chính quyền, viết bài trên báo chí và Internet để tạo dư luận nhằm thúc ép chính quyền theo những yêu sách họ đưa ra. Viện IDS bị giải thể do hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam. Sau đó, nhóm nhân sĩ trí thức này đã cùng nhau cổ vũ nhóm Bauxite Việt Nam, thành lập Quỹ Phan Chu Trinh để kêu gọi tiền tài trợ, kêu gọi người dân xuống đường biểu tình chống Trung Quốc nhưng thực ra là để gây hỗn loạn, thành lập Diễn đàn Xã hội dân sự, thành lập Văn đoàn độc lập… và đến giờ là thành lập Viện Phan Chu Trinh. Vẫn là những con người ấy, tư tưởng ấy, cách thức hoạt động ấy mà sân nào cũng đá một tí, cứ mỗi lần thất bại lại “ve sầu thoát xác”, đội lên cái lốt mới với cái tên gọi mỹ miều hơn.

Phan Chu Trinh là một chí sĩ yêu nước của Việt Nam vào hồi đầu thế kỷ XX, thế nhưng sang đầu thế kỷ XXI, cái tên của ông được nhắc đi nhắc lại như một tấm bình phong cho phong trào dân chủ ở Việt Nam với khẩu hiệu khá quen thuộc “nhân quyền”, “dân quyền”, “khai dân trí”… Để dựng lên một thần tượng thu hút quần chúng, việc chọn cụ Phan đáng kính cho thấy rõ mưu đồ tạo vỏ bọc mà chính quyền và người dân khó có thể lên án, nhằm thúc đẩy một mô hình dân chủ cải lương hay còn gọi thẳng ra là ngụy dân chủ. Cách thức này không khác mấy phong trào chống dự án Bauxite của nhóm ông Huệ Chi cũng núp dưới ủng hộ ý kiến của tướng Võ Nguyên Giáp để thúc đẩy hình thành phong trào đối lập vậy. Đi đầu trong phong trào ngụy dân chủ này là các trí thức thuộc Viện IDS cũ.

Quỹ Phan Chu Trinh là bước đi đầu tiên của chiến lược này. Quỹ này hỗ trợ học thuật chỉ là vỏ bọc, trên thực tế chủ yếu làm 2 mục đích. Mục đích thứ nhất là tạo biểu tượng Phan Chu Trinh gắn liền với công cuộc “khai dân trí” (thực chất thúc đẩy đi theo mô hình dân chủ phương Tây). Mục đích thứ hai là hợp lý hóa ngân sách để nuôi một đội ngũ trí thức chống đối chính quyền. Nếu nhìn lại danh sách các trí thức được giải của Quỹ Phan Chu Trinh, ta sẽ thấy rằng họ đều công khai hoặc ngầm ẩn tỏ thái độ bất bình với chính quyền. Quỹ Phan Chu Trinh còn hỗ trợ các nhóm “chém gió” trẻ tuổi tổ chức các sự kiện tại VUSTA 53 Nguyễn Du do ông Chu Hảo dìu dắt để truyền bá tư tưởng chống đối, mạo nhận là tinh thần Phan Chu Trinh.

Khi đã tập hợp được một lượng trí thức chống đối đông đảo, dù không thật sự giỏi chuyên môn nhưng rất giỏi chém gió, một loạt những hoạt động ồn ào khác được dấy lên. Nào là sự ra đời của Diễn đàn Xã hội Dân sự, nào là Ban vận động Văn đoàn độc lập, hết góp ý Hiến pháp không dựa trên cơ sở lý luận khoa học, lại vận động bầu cử phi pháp, rồi lại đến xuất bản sách ngoài luồng… Những trí thức này không bỏ qua bất cứ một cơ hội nào để kêu gọi một đám đông gắn mác “nhân sỹ trí thức” (không ít chẳng có tí chữ nghĩa nào cũng như chưa bao giờ hành nghề liên quan đến trí thức) để gây sức ép với chính quyền, ép chính quyền phải thực hiện các yêu sách của họ, ép chính quyền cho họ ngang nhiên nhận tiền của các thế lực chính trị nước ngoài. Họ tự thành lập một “thinktank”, nhưng “thinktank” này không đặt quyền lợi quốc gia làm trọng mà chủ yếu dùng để chống đối chính quyền, và quan trọng hơn, dễ dàng thu hút các nguồn đầu tư của nước ngoài cho họ nhiều hơn. 

Đáng nói hơn, gắn với tên ông Nguyên Ngọc còn có Văn đoàn độc lập hay là nơi tụ tập của kẻ bất mãn, bọn chống phá, lũ chiêu hồi. Lướt qua 61 gương mặt nhà văn trương tên lần đầu trong tổ chức này, ta thấy ít nhất là 15 người đã từng vào tù vô khám vì lý do làm gián điệp cho nước ngoài, tham nhũng, lợi dụng tự do để viết bậy, vài người là chiêu hồi chạy trốn đang sống lưu vong ở nước ngoài, 12 người là gốc Việt có quốc tịch nước ngoài. Hầu hết họ đều là những người có ân oán với Dân tộc! Những nhà văn nói trên trừ Nguyên Ngọc chẳng ai có gương mặt sáng sủa và có tác phẩm nào đáng giá để cho công chúng đọc. Nếu có chăng là một vài tác giả vì “nhận thức lại” đã bị khai trừ khỏi Đảng như Bùi Minh Quốc, Tiêu Dao Bảo Cự, Mai Thái Lĩnh, Hoàng Hưng… Đằng sau tất cả những điều ấy là một mưu đồ làm chính biến của những trí thức nửa vời mà Quang A, Nguyên Ngọc là tiên phong, còn Chu Hảo ở trong màn trướng chỉ huy.

Mượn danh người đã khuất để làm chính trị, núp bóng những lãnh đạo Đảng là con cháu cụ Phan đã nghỉ hưu, đây quả thực là một thứ chính trị ký sinh. Tức là sao? Tức là tự bản thân nó không sống được, phải tạo vỏ bọc, không danh chính ngôn thuận, không dám thể hiện đúng “bản chất” của mình. Bản chất của những người núp bóng cụ Phan không hề thực tâm khai dân trí, không mang lại nhân quyền, dân quyền, họ chỉ muốn biến người dân thành công cụ cho mưu đồ đen tối.

Hoàng Lệ
Tuần Báo Văn Nghệ TP.HCM số 452
http://tuanbaovannghetphcm.vn/vien-phan-chu-trinh-mot-to-chuc-dang-nghi-ngo/

Phần nhận xét hiển thị trên trang