Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Bảy, 10 tháng 6, 2017

“Chở thật thà vào lòng dối trá”!



NGUYỄN THỊ LAN HƯƠNG
(GDVN) - Bạn có thể học ở bất kỳ trường nổi tiếng, nhưng nếu không học với thầy giỏi, thầy tốt, tên tuổi của trường cũng không có ý nghĩa nhiều.

Mấy tháng vừa rồi, có nhiều bài viết trên báo chí đưa ra lời khuyên với các đại học, nhất là đại học ngoài công lập của Việt Nam về việc xây dựng thương hiệu cho đại học bằng nâng cao chất lượng giáo dục.  

Đây là điều đúng, chỉ có điều bằng cách nào, thì mỗi đại học, mỗi hệ thống giáo dục đều phải tự tìm ra câu trả lời cho bản thân.  

Có một số ví dụ nhỏ trong quá trình học tập tại Việt Nam và nước ngoài, đã làm cho tôi hiểu, thế nào là một thương hiệu giáo dục được xây dựng tốt, bất chấp nó được đầu tư bao nhiêu tiền.

Giảng viên là thương hiệu số 1 của bất kỳ trường học nào

Những năm tháng tôi vào học ở Trưng Vương cấp 1 cho đến Thăng Long cấp 3 và sau này đại học ở Tổng hợp, rồi ra nước ngoài học tập, tôi luôn nhìn thấy giáo viên chính là thương hiệu của trường học.  

Bạn có thể học ở bất kỳ trường nổi tiếng, nhưng nếu không học với thầy giỏi, thầy tốt, tên tuổi của trường cũng không có ý nghĩa nhiều.

Điều này chắc ai đã “luyện chuyên” đều biết nguyên tắc đi tìm lớp học là tìm theo tên thầy giỏi. Nguyên tắc này không thay đổi, dù học lên đến tiến sỹ.

Khi đi tìm học một ngành, một môn nào đó, tôi luôn nỗ lực tìm kiếm tên tuổi của những thầy có uy tín trong lĩnh vực đó, và hầu như, những người có uy tín trong cùng ngành đều “quen biết” nhau cả.  

Họ có mạng lưới kết nối, và việc mình đọc, học từ một trong những người thầy có uy tín giúp học sinh đi nhanh, đi sâu hơn trong lĩnh vực, và theo đó, tiết kiệm được thời gian hơn rất nhiều.

Do vậy, nếu ai muốn nghiêm túc xây dựng thương hiệu cho trường mình, hãy tìm thầy giỏi! Đó là lời khuyên chân thành của cá nhân tôi.

Việc có được thầy giỏi cũng như có được viên ngọc quý và nó tự tỏa sáng trong quá trình làm việc với trường.  

Và ngược lại, để ngọc tỏa sáng, trường cũng cần có đủ khả năng và tạo điều kiện giúp thầy giỏi làm đúng với sở trường của mình.

Câu chuyện về mời giảng viên có uy tín về giảng dạy và nghiên cứu không bao giờ là bài toán dễ, đặc biệt ở môi trường Việt Nam.  

Chúng ta bị nhiều rào cản trong tâm thức, trong cơ chế và trong tính toán được-mất hay “ăn bánh trả tiền”, khi sử dụng nhân lực cao cấp.  

Điều này ảnh hưởng lớn đến khả năng tuyển dụng và sử dụng nhân tài là thầy giỏi của giáo dục Việt Nam, mà vụ việc pháp lý kiện Giáo sư Nguyễn Đăng Hưng là một ví dụ nên được nghiên cứu.

Tôi đã từng được chứng kiến việc một nhà đầu tư sẵn sàng bỏ hàng trăm nghìn đô la chi phí cho quảng bá thương hiệu, nhưng mặc cả tiền làm việc của giáo viên trên từng trăm nghìn đồng! 

Chưa kể đến những kiểu “giao dịch đặc trưng Việt Nam”, khi hợp đồng ký cứ ký, nhưng đến lúc thực hiện thì không ai tôn trọng cả, dẫn đến khi có những trục trặc, hai bên khó có thể trao đổi có văn hóa và sòng phẳng.  

Cuối cùng, nhiều trường có danh tiếng một thời, tan nát hết thương hiệu gây dựng bao năm, chỉ có những ngư ông ngồi chờ đắc lợi!

Dạy “sống đẹp” cho học sinh chính là thương hiệu của trường

Một câu chuyện được hỏi ở đại học Mỹ, rằng có bao nhiêu người biết tên Tổng thống Mỹ hiện thời? Có bao nhiêu người nhớ được tên hoa hậu Mỹ hay thậm chí lịch sử cận đại Mỹ? 

Tỷ lệ người biết được khá thấp, và sau đó, người ta đã làm khảo sát về việc điều gì sẽ gây ấn tượng và làm sinh viên nhớ lâu về trường nhất.  

Kết quả tìm được hầu hết là những ví dụ về việc người thầy, hay ai đó trong trường đã có cư xử “tử tế”, “tốt bụng”, “chân thành”… với học sinh.  

Không có nhiều người còn nhớ mình đã có điểm như thế nào, nhưng sinh viên sẽ nhớ đến ai giúp đỡ họ trong lúc họ muốn bỏ học, trong khi họ khủng hoảng tinh thần hay khi gia đình họ, đơn giản là không có tiền ăn và trả học phí.

Từ nghiên cứu nhỏ trên, nhiều nhà khoa học Mỹ đã đặt vấn đề về việc dạy học sinh “sống đẹp” bằng những hành xử đẹp của chính thầy cô, nhà trường có lẽ là cách xây dựng thương hiệu tốt nhất, rẻ tiền nhất và hữu hiệu nhất.  

Cũng như ngược trở lại, không có gì tệ hơn việc chính trong môi trường giáo dục, những thói hư tật xấu được “trình làng” từ chính những người đang là tấm gương về giáo dục. 

Ở Việt Nam trước đây, có một trường đại học đã gây ấn tượng với cá nhân tôi về tuyên ngôn “Sống tử tế, học đàng hoàng, kết nối năm châu” như một khẩu hiệu, một sứ mạng của trường. 

Giữa một thời kỳ kim tiền, thật giả lẫn lộn, mà có những nhà giáo, những con người dám đặt ra cho mình và cho trường mình một tuyên ngôn sống tử tế, thật đáng khâm phục! 

Dạy được học sinh sống tử tế, sống đẹp, sống trung thực là một trong những điều khó khăn nhất, bởi có ai dám nói mình luôn trung thực, luôn tử tế và tốt đẹp.  

Chính vì vậy, tôi luôn tin vào việc khi chúng ta dám đưa ra những chuẩn mực hành xử tốt đẹp trong nhà trường, điều này không chỉ để cho học sinh, mà cho chính giáo viên và nhân viên nhà trường phải tuân thủ và thực thi ở mức tận tâm, mới có thể giúp học sinh lấy đó là tấm gương học hỏi.

Sự xuống cấp về giáo dục Việt Nam hiện nay, đâu đó có phần đóng góp không nhỏ của sự xuống cấp đạo đức làm thầy của giáo viên và nhà trường.

Những tấm gương “xấu” trong giảng dạy, trong nghiên cứu, trong quản trị nhà trường là những “bài học” có sức mạnh vô hình để học sinh noi theo, bất chấp những lý lẽ giáo dục nào chúng ta giảng dạy.  
Hãy cứ nhìn vào chuyện tiêu chuẩn chức danh tiến sỹ, giáo sư tranh cãi mấy tháng qua sẽ đủ thấy được những mặt trái của giáo dục đại học, mà đào tạo tiến sỹ và chức danh giáo sư chỉ là một phần nhỏ trong câu chuyện lớn.  

Thú vị hơn nữa là dù mọi người bàn bạc gì về chức danh giáo sư, từ lâu nay, đã tồn tại một trang website mang tên Tạp chí Giáo Sư Dỏm Việt Nam để “bình”!

Thật thà, trung thực với mình, với người thì dù không làm thương hiệu, vẫn có thương hiệu

Đâu đó trên các diễn đàn, người ta đã nói đến việc chấm dứt thời “hữu xạ tự nhiên hương” (dịch nôm là, nếu bạn cung cấp dịch vụ tốt, bạn sẽ có thương hiệu).

Và bây giờ là phải đi marketing, phải “nổ”, phải trình diễn, phải tiếp cận chủ động, vân vân và vân vân.

Cá nhân tôi đồng ý với cả hai cách tiếp cận.  

Việc bạn xây dựng thương hiệu bài bản, có truyền thông mạnh, tiếp cận với nhiều người… sẽ giúp bạn tăng cơ hội đến được với nhiều đối tượng tiềm năng và theo đó, có nhiều cơ hội thu hút học sinh đến với bạn.  

Nhưng, dù bạn có làm truyền thông tốt đến đâu, nếu dịch vụ bạn cung cấp không tốt, chất lượng giảng dạy không được đảm bảo, học sinh ra trường không có nhiều kiến thức và kỹ năng để làm việc, thì việc truyền thông kia cũng phí hoài mà thôi.

Nhiều người đã bình về việc, nếu đọc chương trình học của nhiều trường về kinh tế, thương mại, tài chính… có lẽ khá giống nhau về tên và đề mục chương trình.  

Vậy điều gì sẽ giúp học sinh lựa chọn trường A chứ không phải trường B?

Chất lượng của học sinh (mà cụ thể là các khóa học sinh trước), tỷ lệ có việc làm sau ra trường, các dịch vụ hỗ trợ sinh viên, các hoạt động ngoại khóa, các chương trình kỹ năng, các tổ chức “vừa học – vừa làm”, các hoạt động cộng đồng, các sinh hoạt khoa học và nghiên cứu, chương trình hỗ trợ học đường, vô vàn các hoạt động khác nữa giúp cho học sinh nhìn thấy mình là một phần trong cộng đồng đó, mình đại diện cho những giá trị đó, mình tự hào là học sinh của trường đó.  

Đấy chính là sự lựa chọn thương hiệu và giá trị đi cùng! 

Chính vì điều này, nhiều trường đã “quên” giữ những gì mình cam kết lúc tuyển sinh sinh viên và lúc sinh viên đã vào học.  

Một bức tranh nhiều gam màu được vẽ ra, nhưng thực tế vào học thì buồn tẻ, ngao ngán cho cả mấy năm đời sinh viên! 

Có lẽ không gì tội lỗi hơn việc làm cho những giấc mơ con trẻ về cuộc đời sinh viên lại nhuốm màu “đời” nếu khi họ vào học, mà không được hưởng trọn vẹn những gì mà một sinh viên tuổi trẻ cần có. 

Theo đó, yêu cầu về thông tin minh bạch, về thầy cô, về trường, về chương trình, về học phí và học bổng, về những hỗ trợ học tập, cần được giữ trung thực, từ lúc đi tuyển sinh cho đến khi các em tốt nghiệp. 

Có như thế mới hy vọng thương hiệu được xây dựng, được giữ gìn qua chính các thế hệ học sinh.

Tôi có thể thấy được từ những đại học uy tín trên thế giới, học sinh và học sinh đã tốt nghiệp, đã thành đạt là những đại sứ thương hiệu không gì thay thế được của bất kỳ đại học nào.

Vậy, để xây dựng thương hiệu đại học ư? Hãy làm những gì tốt nhất cho học sinh của mình, vậy thôi!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

KHÔNG THỂ KHÔNG NÓI


I.
                  Phủ của giám đốc Sở TN-MT Yên Bái (ảnh của Thương hiệu & Công luận)

Tui sinh ra trong gia đình ba đời chùi đít bằng lá chuối khô. Thấy bọn nó ở đâu đến phá nhà mình thì rủ nhau đánh, đuổi nó đi, gọi là làm cách mạng.
Cách mạng thành công hơn bảy chục năm nay rồi thì nghe cán bộ ngồi ở hội trường Ba Đình xin người làm cảnh vệ. Hơn bảy chục năm những chức vụ đó không có cảnh vệ đã có ai bị ám sát hay hành hung chưa? (Chỉ có một người bị xử do mâu thuẫn cá nhân mà cũng mới đây thôi!). Vậy thì vì sao lúc này phải có cảnh vệ?
Theo tui suy luận thì có hai lý do, một là, người ta linh cảm bắt đầu có gì đó bất ổn: hai là, không ám sát, hành hung nhưng tư gia bị trộm cướp nhiều tài sản có giá trị lớn mà không dám trình báo. Không có lý do thứ ba.
Nhìn cái biệt phủ của tay giám đốc Sở TN-MT Yên Bái (ảnh của Thương hiệu & Công luận), một tỉnh nghèo, địa chủ, phú hào ngày xưa chưa bằng cái lông chân của nó. Bạn hãy nghĩ mà coi vì sao đầu tỉnh của nó cần bảo vệ?
II.
Một ông lớn về thông tin di động như Mobifone, muốn làm truyền hình cáp thì dư sức. Bởi hạ tầng, cán bộ kỹ thuật có trong tay, mạng lưới cơ sở có trong tay, chỉ cần một phần mười số tiền đó cũng có thể biến thành ông lớn trong truyền hình kỹ thuật số. Vậy vì sao phải mua lại AVG với giá 400 triệu đô (rồi về ôm cục lỗ của nó) kinh khủng thế?
Mua đắt để làm gì?
 Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son sắp mãn nhiệm, ông đã cấp tập làm chuyện này (tất nhiên không phải tự ông mà phải từ ông lớn khác). Rồi ông Son điều chuyển cán bộ Mobifone chóng mặt. Đang làm ăn ngon lành chủ tịch mới của Mobifone lo đổi màu logo cho hợp mạng (tức là chỉ lo cho mình).
Ấy là chưa kể, quá trình cổ phần hóa Mobifone, một công ty nước ngoài làm đề án nghe đâu mất hơn 10 triệu đô, bỏ, phải để một công ty con ông lớn làm lại mất 1,5 lần số tiền đó nữa. Đất nước này hỏi sao ngóc đầu dậy được?
III.
Ai sao kệ chứ tui rất tin vào ông Nguyễn Phú Trọng, ở chỗ, ông trong sạch (chí ít là không tai tiếng về lợi ích nhóm, con cháu thăng quan tiến chức), ông lại có khát vọng, vì thế tui mong ông mạnh tay hơn nữa. Có thể thời gian tại vị của ông hết nhiệm kỳ này đi nữa thì cũng không còn nhiều, nhưng chừng đó thôi, ông hãy làm cái gì đó để lại cho đời. Ông hãy tin, nhân dân nhìn thấy hết.
Trước hết, ông xử hết những thằng cán bộ ăn lương công chức mà xây biệt phủ, vì tham nhũng, tha hóa, tự diễn biến...nó rành rành ra đó chứ đâu?
IV.
Tui đóng thuế, nó lấy về làm giàu, nó bán tài nguyên, đất đai để làm giàu, chúng nó khác gì bọn ở đâu đến phá nhà chúng tôi?
Chẳng lẽ những người chùi đít bằng lá chuối khô phải làm cách mạng lần nữa.
Ông Trọng làm cách mạng, tui theo!


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Và cứ như thế cho đến vô cùng” [SUY NGẪM VỀ TỬ TẾ]



Đặng Hoàng Giang 





“Điểm chính của sự tử tế là khả năng đến với những người xa lạ mà không ác cảm với họ vì sự xa lạ đó, và không ngay từ đầu bắt họ từ bỏ nó hay chối từ những điều cấu thành sự xa lạ đó.” - Zygmunt Bauman


“Nhưng tạo hóa đã không sinh ra một loại sinh vật nào đau khổ hơn con người và khao khát sự tử tế hơn con người.” - Đạo diễn Trần Văn Thủy





Phê bình với thiện chí và ngôn ngữ bất bạo lực mà chúng ta đã bàn ở chương trước là những trụ cột đặt trên một nền tảng lớn hơn, trong một triết lý tổng quát hơn để định hướng cho quan hệ người với người trong xã hội. Nền tảng đó là sự tử tế, một khái niệm không thời thượng trong thời đại của cạnh tranh, của tốc độ và của nghệ thuật kiếm tiền. Nhưng chính vì thế mà nó quan trọng. Suy ngẫm về sự tử tế trong bối cảnh những năm tháng đen tối nhất của thời bao cấp, 30 nămtrước, bộ phim Chuyện tử tế của đạo diễn Trần Văn ủy đã làm rung động xã hội và chạm vào dây thần kinh của cả cộng đồng. Cho tới nay, bộ phim không hề mất đi tính thời sự của nó. Trong phim, tác giả kêu gọi chúng ta “đặt tử tế lên bàn thờ tổ tiên, hay trên lễ đài của quốc gia”. Thiếu nó, những “nỗ lực tột bậc” và “chí hướng cao xa” của một cộng đồng sẽ chỉ còn là “những điều vớ vẩn”.


KHÔNG CHỈ LÀ LÒNG TỐT 


Nhưng tử tế là gì? Người tử tế là người như thế nào? Khái niệm tương đương của tử tế trong tiếng Anh không phải là kindness, lòng tốt, như người ta vẫn hay dùng khi dịch tiêu đề bộ phim của Trần Văn Thủy, mà phải là civility. Rộng lớn hơn sự tốt bụng, nghĩa xa xưa của “civility” là “training in humanities”, tức là rèn luyện trong nhân văn. Nó có liên quan tới “citizen”, công dân, và liên quan tới “civilization”, văn minh. Nó không chỉ là lịch sự, nhã nhặn (như khi ông Obama cầm ô cho nữ nhân viên lúc trời mưa). Nó không chỉ là ứng xử có văn hóa, xếp hàng khi làm thủ tục ở sân bay, hay kiên nhẫn đợi đèn đỏ đếm ngược hẳn về số không (những dẫn chứng ưa thích khi người ta nói về người Việt xấu xí). Ở một ngữ cảnh rộng, nó là hành xử có trách nhiệm công dân. Trong một khía cạnh cụ thể, nó là khả năng vẫn tôn trọng người khác mặc dù bất đồng ý kiến.

Với Tomas Spath và Cassandra Dahnke, hai nhà giáo dục người Mỹ và sáng lập viên của một viện nghiên cứu vận động cho sự tử tế trong chính quyền, người tử tế là người khẳng định và quan tâm tới căn tính, nhu cầu và niềm tin củabản thân mình, nhưng không vì thế mà hạ nhục người khác. Không những là lịch sự và tôn trọng nhau trong bất đồng, tử tế là tìm chỗ đứng chung để đối thoại về những điểm khác biệt, là vượt qua thành kiến để lắng nghe, và hướng dẫn người khác cũng hành xử như vậy.

Để tử tế không đơn giản, nhất là tử tế với những người khác biệt sâu sắc với ta. Sự tử tế mang tính chính trị, Tomas Spath và Cassandra Dahnke nói tiếp, theo nghĩa nó là “điều kiện tiên quyết cho các hành động dân sự.” Ý nghĩa chính trị của nó nằm ở chỗ nó thương thuyết quyền lực giữa người với người sao cho ai cũng được lắng nghe, và không ai bị bỏ qua.

Theo Stephen Carter, giáo sư luật của Đại học Yale, Mỹ, người viết nhiều về tôn giáo và luân lý, thì “tử tế là tổng của tất cả các hành vi hy sinh mà ta làm để cuộc sống chung với người khác dễ chịu hơn.” Cách nhìn này cũng giải thích vì sao lại khó khăn để tử tế. Với cá nhân, tử tế không đem lại lợi lộc gì trước mắt, ngoài cho lương tâm của anh ta. Theo ngôn ngữ kinh tế, nó là một khoản đầu tư vào tương lai, với hy vọng rằng người đầu tư sẽ nhận lại được sự tử tế từ người khác, và sự tử tế qua lại này sẽ khiến cho cuộc sống chung trở nên dễ thở hơn. Điều này đòi hỏi sự kiên nhẫn và niềm tin. “Cả nước muốn sự tử tế. Nó không tốn kém gì. Không cần tài trợ từ nhà nước, không cần pháp chế vào cuộc. Nhưng sao chúng ta không có nó?” Nhà báo Judith Martin bình luận. “Câu trả lời là do chúng ta không muốn kiềm chế bản thân. Ai cũng muốn người khác lịch sự với mình, nhưng lại muốn được tự do bất lịch sự với người khác.”

Để có thể là nền tảng của các hành động dân sự, tử tế không thể chỉ nhẹ nhàng và dịu dàng, nó còn phải bao hàm mộttriếtlýsốngmạnhmẽ,dũngcảmvàquyếtliệt.Trongcuốn Tử tế: Ứng xử, đạo đức và quy ước của dân chủ, Stephen Carter đưa ra một loạt các nguyên tắc để cho một cuộc sống tử tế. Sau đây là năm nguyên tắc rút ra từ các đề xuất của ông.


“ÔNG GIÚP TÔI, TÔI LẠI GIÚP NGƯỜI KHÁC” 


Ta có trách nhiệm tử tế với người khác, bất kể ta có ưa họ hay không. Chúng ta vốn thích cho rằng mình là người đàng hoàng, nhưng nhiều khi chúng ta chỉ chọn tử tế với người ta ưa. Nhưng sự tử tế của ta không được đo bởi cách ta cư xử với người thân, người giàu có, quyền thế, giỏi giang, người được xã hội trọng vọng, mà được đo bởi cách ta đối xử với người nghèo, người bị thiệt thòi, người bị hắt hủi.

Ở một mức cao hơn, Stephen Carter cho rằng tử tế yêu cầu chúng ta hy sinh cho những người lạ, không chỉ cho những người chúng ta quen biết. Điều này đặc biệt thách thức trong bối cảnh văn hóa Việt Nam vốn đặt quan hệ huyết thống hay quê quán lên trên, nhưng nó thực sự là xương sống của cuộc sống hiện đại, khi vào bất cứ thời điểm nào trong ngày, xung quanh bạn chủ yếu là những người xa lạ. Tử tế chính là thứ có thể khiến tập hợp những kẻ xa lạ trong một thành phố lớn trở thành một cộng đồng.

Tử tế có hai phần: rộng rãi, kể cả khi nó tốn kém, và tin tưởng, kể cả khi có rủi ro.Người Việt vốn được coi là hào phóng với bạn bè và họ hàng, nhưng sự rộng rãi dường như dừng lại ở đó. Niềm tin vào người khác, hay là vốn xã hội,một tài nguyên quan trọng của bất cứ cộng đồng nào, đang ở trong một khủng hoảng lớn. Sự hoài nghi và những tranh cãi bất tận về động cơ và lòng tốt của người lái xe tải cứu sống 30 hành khách trên một xe khách mất phanh trên đèo Bảo Lộc là một minh chứng buồn cho sự khủng hoảng này.

Tin vào sự tử tế thì sẽ nhận được sự tử tế. Ta tử tế thì người khác tử tế theo. Ta tin người khác thì họ sẽ tin lại. “Nghĩ tốt về người khác là một việc nên làm, và là một cách giữ được sự trong trắng lành mạnh trong cuộc sống của ta.” P. M. Forni, giáo sư của Đại học Johns Hopkins và người sáng lập Dự án Tử tế ở trường, viết trong cuốn Chọn sự tử tế: 25 quy ước của hành xử ân cần. “Khi chúng ta mặc định người khác là tốt, chân thật và nhạy cảm, chúng ta khuyến khích họ trở nên như vậy.”

Niềm tin vào cái thiện của người lạ có thể được thể hiện qua một nụ cười. Hãy thử, và lần tới bạn sẽ nhận thấy khuôn mặt của người kia dãn ra, có thể thoáng một chút ngạc nhiên, và họ mỉm cười lại. “Nụ cười đáp trả đó báo hiệu một sự dễ chịu đang trỗi dậy bên trong họ, được kích hoạt bởi nụ cười của ta,” nhà thơ và nhà tâm lý học Bonaro Overstreet viết. “Anh ta mỉm cười vì nụ cười của ta khiến anh ta cảm thấy xứng đáng được nhận nụ cười. Chúng ta đã chọn anh ta trong một đám đông, đã trao cho anh vị thế riêng biệt.”

Tử tế yêu cầu chúng ta lắng nghe người khác với ý thức rằng có thể họ đúng và ta sai.Tử tế đòi hỏi một sự khiêm tốn. Người tử tế ý thức được rằng họ không sở hữu chân lý và biết hết mọi thứ dưới gầm trời, do đó họ lắng nghe với tâm trí tìm ra nhiều nhất những cái có thể đúng, những thứ bắt ta phải suy nghĩ, thay vì cố gắng tìm cái sai của người khác. Và người tử tế có sự dũng cảm để thừa nhận với bản thân và với người khác là mình đã sai. “Hãy hỏi, đừng phán xét,” P. M. Forni khuyên. Hỏi là cách tốt nhất để lắng nghe người khác. Phán xét cản trở quá trình lắng nghe.

Khi có bất đồng ý kiến, chúng ta không che giấu nó, nhưng giải quyết nó trong tinh thần tôn trọng nhau. Tử tế cho phép, thậm chí có lúc yêu cầu ta phê bình người khác, nhưng hành vi phê bình luôn luôn phải đúng mực và tôn trọng. Ở chương trước chúng ta đã nói tới nghệ thuật phê bình người khác cũng như cách đón nhận phê bình. Ở đây tôi muốn nhấn mạnh tới vế đầu của nguyên tắc: nhiều lúc, sự tử tế đòi hỏi ta lên tiếng. TrongChuyện tử tế, đạo diễn Trần Văn Thủy buồn rầu tự chất vấn bản thân và đồng nghiệp. Họ “hèn vì nghĩ nhiều mà không dám nói ra”, vì mắc phải một thói quen cố hữu “chỉ mong sao làm vừa lòng bề trên”. “Bề trên của chúng tôi khen, thì chúng tôi sung sướng. Bề trên chúng tôi chê, thì chúng tôi buồn rầu.” Trần Văn Thủy tự thú.

Toát ra từ nguyên tắc này là tinh thần khoan dung. Không có khoan dung, cộng đồng sẽ phân cực và xung đột, không tiến tới được các lời giải nhận được sự đồng thuận của các bên liên quan. Tử tế không những là chấp nhận quyền tồn tại của những người khác mình, tôn trọng họ, mà còn là coi họ ngang hàng mình trước tạo hóa. Stephen Carter cho rằng nó là chất bôi trơn của một nền dân chủ. Không có tử tế thì không có đối thoại văn minh, không có đối thoại văn minh thì không có dân chủ. Bạn không nhất thiết phải đồng tình hay ủng hộ người khác, thậm chí không phải gần gũi hay yêu quý anh ta, nhưng bạn hãy đối xử với anh ta theo cách mà bạn muốn anh ta đối xử với bà ngoại của bạn.

Khoan dung là tôn trọng các quyết định người khác chọn cho cuộc sống của họ. Âm nhạc họ nghe, sách họ đọc, quần áo họ mang, đời sống hôn nhân và quan hệ tình dục họ muốn. Khoan dung không có nghĩa là bạn phải ủng hộ hay chia sẻ niềm tin, lối sống, sinh hoạt văn hóa của người khác. Bạn có thể phản đối chúng, cách xa chúng, nhưng bạn hãy cho chúng có quyền được tồn tại. Khoan dung là mảnh đất để tự do biểu đạt nảy nở, tự do biểu đạt là mảnh đất để sáng tạo và dân chủ nảy nở. Bạn có thể cảm thấy bị khó chịu khi nghe một ca sĩ hát quốc ca theo cách của cô ấy, nhưng khi bạn yêu cầu các biện pháp hành chính để trừng phạt cô ấy, để không cho cách hát đó có quyền tồn tại, bạn đã muốn luật hóa cách cảm nhận âm nhạc của bạn, coi nó là cách được phép duy nhất. Lúc này, bạn đi theo con đường của một nhà độc tài phong kiến, khi ông ta thay mặt pháp luật quẳng anh hề mà ông cho rằng pha trò nhạt vào ngục.

Ta nên đến với những người sống cùng ta với sự kinh ngạc và lòng biết ơn. Tôi cho rằng đây là điều quan trọng nhất, và thần kỳ nhất. Mỗi con người là một vũ trụ. Bên trong cậu thanh niên xăm trổ đầy người kia có thể chứa đựng một tiểu thuyết quan trọng về thân phận con người mà ta không biết.

Nhìn lại cuộc đời mình, Albert Schweitzer, thầy thuốc và nhà thần học Đức, người đã dành 50 năm chữa bệnh cho người dân Gabon, một đất nước nằm ở miền Tây Trung Phi và nhận giải thưởng Nobel Hòa bình năm 1952, nhận ra rằngmột trong những cảm nhận dẫn đường của ông là “nhận thức rằng thế giới này bí ẩn ngoài khả năng diễn giải”.

Sự khác biệt lớn nhất giữa tinh thần Phục hưng ở châu Âu và thời Trung cổ trước đó nằm ở niềm tôn trọng sâu sắc sự kỳ diệu của con người. Các bức chân dung của những cá nhân bình dị, các bức tượng khỏa thân là minh chứng cho niềm tôn kính này, cái mà trước đó chỉ được dành cho Chúa trời.


CUỘC ĐỜI KHÓ NHỌC, NHƯNG KHÔNG PHẢI LÀ KHÔNG THỂ KHAM NỔI 


Tưởng như không ăn nhập, nhưng khá thú vị là tám quy tắc cho một cuộc sống tử tế của P. M. Forni bắt đầu bằng một lời khuyên không liên quan tới tương tác giữa ta và người khác, mà chỉ dành cho bản thân ta: “Hãy sống chậm lại và có mặt ở khoảnh khắc hiện tại của cuộc đời bạn.”

Nhưng đúng là vậy. Bạn sẽ khó mà tử tế được khi bạn sống vô thức, bạn vác cái xác của mình đi lang thang từ ngày này qua ngày khác. Không ý thức được về bên trong mình thì cũng không ý thức được về các lời nói và hành vi của mình hướng tới người khác.

Cuộc đời khó nhọc, nhưng nó không phải là không thể kham nổi. Cuộc đời trở nên dễ thở hơn, thậm chí đáng sống, khi chúng ta có người khác. Tử tế, đặc biệt từ những người xa lạ, giúp chúng ta bớt cô đơn, đem lại cho chúng ta sự ấm áp và niềm an ủi để đi qua cuộc đời. Tử tế không đắt đỏ, mặc dù có tiền cũng không mua được nó. Nó giống như âm nhạc, nó không làm ta no, nhưng không có nó cuộc đời sẽ khô héo. Với John A. Hall, tử tế là một phẩm giá cần thiết giúp chúng ta “tìm đường trong một thế giới của đau đớn.”

Một hành vi tốt bụng có thể làm thay đổi cuộc sống của một cá nhân mà ta không ý thức được. Điều đó không chỉ xảy ra trong Những người khốn khổ: ông cha xứ đã cảm hóa Jean Van Jean khi nói với cảnh sát Javert rằng anh không phải kẻ ăn cắp. Tôi đã từng ngạc nhiên khi có người nói rằng lời nói của tôi đã giúp họ rất nhiều trong một tình huống khó khăn. Lúcđótôimới nhậnratôivẫnnhớnhưincửchỉgiúpđỡtôi nhận được từ những người xa lạ, mà tôi chắc rằng họ đã quên từ lâu.

Những khoảnh khắc này, những “động tác bé nhỏ, vô danh, bị lãng quên của lòng tốt và tình thương” này, Karen Amstrong trích lại một bài thơ của Wordsworth, lại tạo nên phần đẹp đẽ nhất của cuộc sống tốt.

Với đạo diễn Trần Văn Thủy, thậm chí chúng còn giúp chúng ta vượt qua cái chết. “Tâm hồn con người nặng gấp trăm lần thể xác - Nó nặng đến nỗi một người không mang nổi. Bởi thế, người đời chúng ta chừng nào còn sống hãy gắng giúp nhau để cho tâm hồn trở nên bất tử.” Ở đầu phim Chuyện tử tế, ông để một đồng nghiệp sắp lìa đời nói với bạn bè như vậy. “Ông giúp cho tâm hồn tôi sống mãi, tôi giúp người khác, người ấy lại giúp người khác nữa, và cứ như thế cho đến vô cùng”. 


Nguồn : Theo VHNA


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÁC CHÚ ĐỪNG TINH TƯỚNG

Trương Tuần


 
Mấy chú Tư bản kia ơi
Cứ khoe giầu có trên đời nhất ông
Hãy sang nước Việt mà trông
Cơ ngơi "đầy tớ" là không muốn về
Thôi đừng tinh tướng nữa đi
Đang giãy đành đạch ...tinh vi nỗi gì...!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Võ Văn Kiệt trước lúc trở về


Huỳnh Sơn Phước
(Nhà báo - nguyên Phó TBT báo Tuổi Trẻ)
Là người luôn có những ý tưởng đột phá, ông có cái thế mạnh của người trong cuộc, trong tổ chức, trăn trở, động não khi bị buộc phải khép mình chờ đợi, nhưng xuyên suốt vẫn là khả năng vượt qua chính mình, vượt ra khỏi cái trật tự lỗi thời, ông thường gọi là “vật cản” để có được những quyết định cải cách. Bị ngộp trong không gian hẹp của những giáo điều cấm kỵ, ông tìm niềm vui sống khi tự đặt mình, đúng hơn là tìm đến với những nơi, những người có thể đặt lên bàn những cuộc tranh luận những sự kiện mới, những ý tưởng mới, những chọn lựa khác mình. Ông sợ nhất là bệnh giáo điều, xa dân, xa thực tế và quay lưng với sự thật, lãnh cảm với con người và những phát kiến đổi thay. Người có lòng tốt, thông tuệ tìm đến ông, trao không cho ông cái túi khôn của thiên hạ, với nhiều kỳ vọng…
Về hưu, như chim sổ lồng, ông sống như không có ngày mai. Trong một cuộc gặp (có lẽ là cuối cùng) với Câu lạc bộ doanh nhân 2030 của Thời Báo Kinh tế Sài Gòn, Saigon Times Group, lúc đó Nguyễn Hoài Nam là Chủ nhiệm CLB 2030. Ông hỏi:
- Cháu nội của Hoàng Minh Thắng hà? (Hoàng Minh Thắng, cựu Chủ tịch QN-ĐN, sau ra làm Bộ trưởng Thương mại).
- Dạ vâng!
- Con nhà nòi cả...Vào Đảng chưa?
- Dạ chưa thưa chú Sáu. Khi nào chú lập Đảng mới con vào ngay.
Tháng 9/2007, Võ Văn Kiệt vận động sáng lập “Viện Nghiên cứu Phát triển (Institutes of Development Studies - IDS)”. Tháng 12/2007, ông nhận làm Chủ tịch danh dự “Trung tâm Nghiên cứu Saigon Times”, gặp gỡ các nhóm nghiên cứu phát triển “Diễn đàn” ở Pháp, các nhà nghiên cứu chính sách Mỹ-Việt (think tank) - vừa nghiên cứu khoa học phục vụ cho sự phát triển bền vững của đất nước, vừa lobby cho sự hợp tác phát triển chiến lược giữa Việt Nam-Hoa Kỳ-châu Âu, Nhật Bản…
Ông có nhiều bạn, nhiều cộng sự, nhiều cố vấn (Lý Quang Diệu) có tầm giải quyết những vấn đề quốc gia trong đời sống toàn cầu.
Võ Văn Kiệt “giàu vì bạn” và mang “nợ kỳ vọng” của nhiều người.
Khác với những năm 1980, giờ đây trước lúc trở về, Võ Văn Kiệt có tầm nhìn và trí tuệ của một cuộc tập hợp lớn cần cho bước chuyển lớn VN ở đầu thế kỷ 21, nhưng lúc này “Sáu Dân không còn đủ quyền lực để trả nợ cho những kỳ vọng của nhân dân”.
Tháng 6/2008, trước lúc trở về, Võ Văn Kiệt gửi lại tất cả “những kỳ vọng của nhân dân” cho những trang báo của ngày mai.
Sài Gòn 11/6/2017
H.S.P.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Lừa dân , hại nước đến bao giờ ?


Hà Văn Thịnh - Trên trái đất này, chưa hề thấy có đất nước nào, thời nào, máy bay phải bay vòng, bay chờ, đáp nhờ sân bay khác vì thiếu chỗ đỗ - trong khi ĐẤT CỦA SÂN BAY, người ta, tức Bộ QUỐC PHÒNG lại đem đi làm sân golf, xây biệt thự, mở nhà hàng...

"Người ta" không cần biết mỗi chiếc máy bay phải bay vòng quanh hàng tiếng đồng hồ để chờ các quan tham đút tiền vô túi xong xuôi, như thế, là mất hàng trăm triệu đồng tiền của Dân, của của Nước.

"Người ta" cũng chẳng thèm biết sự phi lý tận cùng của công pháp, sự bẩn thỉu vô giới hạn của lòng tham, sự tệ hại không bút nào tả xiết của lương tâm - qua cung cách "hành xử" kiểu "sân bay TSN" đã vạch trần bộ mặt thật không thể che đậy của các nhóm lợi ích coi Dân và Nước chẳng khác chi cỏ rác bên đường...

"Người ta" chẳng thèm quan tâm rằng sự bức bối của sân bay, gây nguy hại về an toàn bay, sẽ gây ra cộng hưởng đa chiều, đa diện khiến nền kinh tế và sự phát triển của Đất Nước chịu vô số những hệ lụy khôn lường...

"Người ta" không sợ bởi người ta biết kẻ tham này "đòi" trừng trị kẻ tham kia chỉ là trò hề để đếm quả lắc đung đưa của cái đồng hồ có tên gọi là CNXH:

Nó cứ lắc, ngày này qua tuần khác, không thèm đếm xỉa đến sự đổi thay bởi nó "biết" sự lì lợm, bảo thủ là một trong những điều kiện sống còn của kẻ độc tài...

Cái đồng hồ đó không đếm thời gian mà chỉ sinh ra để đếm những điệu cười bỡn cợt, đếm những đồng tiền nhơ nhớp nhảy tưng, nhảy tức trên các bàn họp kiểm điểm chân thành, phê phán nghiêm túc và rút kinh nghiệm một cách sâu sắc...

Trời hỡi trời có hay chăng nơi đâu có chuyện lạ kỳ như thế?

Bạn hãy nghĩ đi:
Một khi cả quân đội và cảnh sát đều đua nhau "làm kinh tế" thì tất cả những giá trị khác, chắc chắn, bị biến thành bèo bọt...

Và, chỉ có CNXH mới xảy ra thảm cảnh hai ngành đó làm kinh tế.

Bọn tư bản giãy chết, chẳng như thế, bao giờ...

Hà Văn Thịnh
(FB Hà Văn Thịnh)



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bà Đàm Bích Thủy làm Chủ tịch Đại học Fulbright


Cựu CEO ANZ Việt Nam làm Chủ tịch Đại học Fulbright

07/06/2017 HỒ MAI - 
(VNF) 

- Bà Đàm Bích Thủy - cựu CEO Ngân hàng ANZ đang giữ chức Chủ tịch Đại học Fulbright Việt Nam. Theo thông tin từ trang web chính thức của ĐH Fulbright Việt Nam (FUV), bà Đàm Bích Thủy được giới thiệu là Chủ tịch của ĐH này. Trước đó bà Thủy giữ chức Hiệu trưởng đồng thời là thành viên sáng lập FUV. Đại học Fulbright Việt Nam chiều qua 6/6 đã chính thức nhận hai khoản tài trợ với tổng trị giá 15,5 triệu USD từ Chính phủ Mỹ.

Đại sứ Ted Osius (trái) trao quyết định tài trợ từ USAID cho bà Đàm Bích Thuỷ (giữa), Chủ tịch ĐH Fulbright Việt Nam.

Theo giới thiệu của FUV, bà Đàm Bích Thủy nhận bằng Cử nhân từ trường Đại học Hà Nội và MBA từ Trường kinh doanh Wharton, đại học Pennsylvania. Sau khi tốt nghiệp đại học ở Hà Nội, bà cùng cộng sự sáng lập công ty tư nhân tư vấn đầu tư nước ngoài. Đây là công ty thuộc sở hữu tư nhân đầu tiên ở Việt Nam trong lĩnh vực hỗ trợ đầu tư nước ngoài và tư vấn cho các khách hàng như ANZ, Phillip Morris, Coca Cola, IBM và Citibank.

Năm 1993, bà Thủy nhận được học bổng Fulbright để tiếp tục học lên cao học ở Hoa Kỳ. Năm 1995, bà tốt nghiệp trường Wharton và gia nhập vào ngân hàng ANZ ở Singapore để hỗ trợ thiết lập hoạt động kinh doanh ngân hàng đầu của ANZ ở châu Á. 

Tại Singapore bà đã nắm giữ một số vị trí như giám đốc tài chính dự án dầu khí và đứng đầu bộ phận quản lý sử dụng tài nguyên của ANZ cho toàn châu Á, sau đó bà được bổ nhiệm làm Tổng Giám Đốc ANZ Việt Nam năm 2005, trở thành người Việt Nam đầu tiên lãnh đạo hoạt động của một ngân hàng quốc tế trong nước. Gần đây nhất, bà là Giám đốc phát triển khu vực Đông Nam Á, Ngân hàng Quốc Gia Úc tại Singapore.

Đại học Fulbright Việt Nam chiều qua 6/6 đã chính thức nhận hai khoản tài trợ với tổng trị giá 15,5 triệu USD từ Chính phủ Mỹ.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius đã trực tiếp công bố hai khoản tài trợ: một khoản 7,2 triệu USD từ Cơ quan Viện trợ phát triển Mỹ (USAID) và một khoản 8,3 triệu USD từ Vụ Văn hoá và Giáo dục của Bộ Ngoại giao Mỹ (ECA).

Khoản tài trợ từ USAID sẽ giúp Đại học Fulbright Việt Nam (FUV) xây dựng các chính sách tuyển sinh, thủ tục hỗ trợ tài chính và học bổng, cũng như mở rộng số lượng sinh viên trong vòng 3 năm.

Đại học Fulbright Việt Nam (tên tiếng Anh là Fulbright University Vietnam, viết tắt là FUV) là một trường Đại học tư thục với 100% vốn đầu tư nước ngoài, hoạt động phi lợi nhuận. Trường được chính thức thành lập vào tháng 5/2016. Trụ sở chính của trường được đặt tại Khu công nghệ cao TP.HCM. Khóa học đầu tiên được bắt đầu vào tháng 9/2016. Đây là trường Đại học đầu tiên ở Việt Nam hoạt động theo mô hình phi lợi nhuận của Mỹ, được tài trợ bằng một quỹ đầu tư phi lợi nhuận và được kỳ vọng là sẽ có được sự "tự trị đại học" cũng như tạo ra những đột phá trong giáo dục đại học ở Việt Nam. Tổng vốn đầu tư của ĐH Fulbright dự kiến sẽ là khoảng 70 triệu USD.

Phải mất tới 3 năm để FUV được thành lập và đi vào hoạt động. Cơ sở hình thành nên FUV đầu tiên là Tuyên bố chung của nguyên Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và cựu Tổng thống Mỹ Barack Obama vào tháng 7/2013. Sau đó, đến tháng 6/2014, nguyên Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã đồng ý về mặt chủ trương xây dựng FUV theo quyết định số 821/TTg-KGVX.

Đến tháng 7/2015 tại New York, bên lề chuyến thăm của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tới Hoa Kỳ, FUV đã nhận giấy chứng nhận đầu tư của TP. HCM để xây dựng trường tại Khu công nghệ cao TP.HCM.


http://vietnamfinance.vn/nhan-vat/cuu-ceo-anz-viet-nam-lam-chu-tich-dai-hoc-fulbright-20170607081331704.htm
Phần nhận xét hiển thị trên trang