Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 10 tháng 4, 2017

Đèn cù




Sau vài ba tuyên bố lạnh lùng của TT Trump từ khi nhậm chức người ta lại cầu mong cho US mau mau chóng chóng sớm trở lại với vai trò "tên sen đầm quốc tế". Ối kẻ hy vọng USA "thò bàn tay lông lá" vào Biển Đông, Syria, Libya... hay ở đâu cũng được miễn là đừng để cá lớn nuốt cá bé, đừng để chiến tranh xảy ra.
Lão Trump chỉ chăm lo cho lợi ích nước Mỹ, dọa đuổi nhập cư, thu hẹp căn cứ quân sự, cắt phăng TPP ... thì hàng triệu người ở các quốc gia đói nghèo lại gào lên giọng van nài: Lại đây mà "bóc lột tới tận xương tận tủy" tau đi Trump ơi! Mi là nước lớn ! Mi phải thể hiện là một "quốc gia có trách nhiệm" chớ! He he

NTP


Phần nhận xét hiển thị trên trang

“Vỡ vụn”, cấu trúc của những mảng khối và hiệu ứng tương phản

Đặng Văn Sinh

Giống như tiểu thuyết tâm lý xã hội, nhưng “Vỡ vụn”* lại có hình thức bố cục như là công nghệ lắp ghép những mảng. khối trong nghệ thuật hội họa nhằm tạo hiệu ứng bùng nổ qua sự tương phản. Tuy nhiên, ngay cả ở dạng cấu trúc lạ mắt này, xem ra cũng chỉ được giới hạn trong phạm vi ước lệ, điều đáng quan tâm chính là vấn đề tác giả đặt ra và cách giải quyết những vấn đề ấy trong các mối tương quan xã hội như một triết lý sống.
Cấu trúc “mảng” trong “Vỡ vụn” được hiển thị khá rõ qua ba lĩnh vực đặc trưng: tình yêu, gia đình và chính trị, trong đó, mảng gia đình truyền thống, vốn là đề tài muôn thuở từng tốn không ít giấy mực của nhiều thế hệ cầm bút, lại được tác giả sử dụng phương pháp “ký họa” phác thảo đôi ba nét chấm phá. Trong khi ấy, đề tài chính trị tuy chỉ được nhấn nhá bằng những diễn ngôn khá chừng mực nhưng lại có sức cuốn hút lớp bạn đọc mẫn cảm với thời cuộc bằng bút pháp lý tưởng hóa. Đó là sự kỳ vọng về một bộ máy quản lý nhà nước “liêm chính”, nhưng lại phải đối diện với một thực trạng cay đắng, khi mà tệ nạn chạy chức chạy quyền, được cụ thể hóa bằng những cuộc “đi đêm” ly kỳ, chẳng khác gì thám tử Sherlock Holmes trước mỗi mùa bầu cử.
 Lẽ đương nhiên, tình yêu giống như một “đại khối tự sự” chiếm phần lớn dung lượng tiểu thuyết “Vỡ vụn”. Tình yêu của cặp trai gái khá chênh lệch về tuổi tác này được tác giả nâng niu, chăm sóc, miêu tả dưới nhiều sắc thái khác nhau. Có thể nói người viết rất am tường về ngôn ngữ trái tim, chẳng biết đã từng trải nghiệm hay chưa, nhưng cái cách ông miêu tả diễn biến tâm lý của cả cô gái trẻ giầu cá tính lẫn người đàn ông giảng viên đại học trong quá trình họ tìm đến với nhau thật đáng nể. Bỏ qua những định kiến xã hội hẹp hòi, đặt sang bên thứ quy phạm giả tạo trong một xã hội mà mọi giá trị đang bị tha hóa, mối tình của Chính và Thảo cần được ghi nhận như là sự cố gắng bứt phá khỏi những nghĩa vụ đạo đức, luôn ràng buộc con người, đến với khát vọng tự do nhưng lại có kết cục không mấy suôn sẻ.
Xét đến cùng, chính trị và tình yêu, gia đình thuộc các lĩnh vực khác nhau, thậm chí đối lập nhau, tuy nhiên nếu nhìn nhận dưới khía cạnh thẩm mỹ do sự tương phản tạo ra của nghệ thuật tạo hình di thực sang địa hạt văn chương, thì đây được xem như một kiểu đổi mới hình thức. Bởi lẽ từ lâu, người đọc đã quá “nhờn” với cách thức bố cục cổ điển theo trình tự thời gian tuyến tính, với hệ thống nhân vật được chia làm hai phe “tích cực”, “tiêu cực” xuất hiện trong không gian hai chiều cũng như những đoạn trần thuật khô khan mòn sáo bằng ngôn ngữ thông tấn. Phương pháp dàn dựng bố cục “phản truyền thống”, không chú trọng vào một chủ đề nào, mà lại có xu hướng lấn ra vùng ngoại biên của những tiểu tự sự, “Vỡ vụn” dường như đã tiệm cận về mặt hình thức với phương pháp sáng tác Hậu hiện đại. Mặt khác, nó cũng phần nào thoát khỏi sự ràng buộc cứng nhắc của lối tư duy giáo điều cứ muốn lên giọng tuyên huấn dạy dỗ thiên hạ, mà trượt sang lối tư duy trực cảm phi lý tính, cho dù phương thức diễn ngôn vẫn trung thành với phong cách cổ điển.
Thủ pháp đồng hiện cắt cảnh, nén thời gian, không gian mà tác giả thường sử dụng trong “Vỡ vụn” không mới, song, nó lại có tác dụng hỗ trợ rất đắc lực cho ý tưởng bố cục mảng miếng làm điểm tựa để tác giả khai triển nội dung cuốn sách một cách bài bản mà không bị rối. Như vậy, xét về mặt hình thức, “Vỡ vụn” có xu hướng đổi mới rõ rệt. Bằng chứng là, khi cầm cuốn sách trong tay, chúng ta có đủ sự “dũng cảm” đọc liền một mạch từ trang đầu cho đến trang cuối mà không rơi vào tình trạng “liếc mắt một cái đọc thoáng mươi dòng”. Một điều đáng nói nữa là, khi gấp cuốn sách lại, tôi dám chắc, cảm xúc của mỗi người không hề giống nhau như trước đây từng đọc loại tiểu thuyết “quốc doanh”, mặc dù bất cứ ai cũng có một mẫu số chung là ngậm ngùi, tiếc nuối cho một gia đình trí thức “vỡ vụn”, một tình yêu đẹp như mơ cũng có nguy cơ “vỡ vụn”, cũng như ông bí thư kiêm chủ tịch tỉnh kia, tuy có bằng tiến sĩ chuyên ngành xây dựng đảng, lại sinh ra trong một gia đình quan chức gạo cội, những chắc gì hoạn lộ đã hanh thông khi mà chốn quan trường đầy cạm bẫy, lắm mưu mô, lúc nào cũng sẵn sàng hạ gục nhau bằng những chiêu trò không mấy quân tử, tuy vẫn gọi nhau là đồng chí.
Như phần trên đã nói, hiệu ứng của “Vỡ vụn” không nằm trong bản thân những sự kiện được tác giả trần thuật bằng lớp ngôn từ hấp dẫn, mà giá trị của nó là ở sự tương phản. Sự tương phản này quy chiếu từ lịch sử, văn hóa, đạo đức đến hành vi ứng xử và diễn biến tâm lý của mỗi công dân trong mọi hoạt động xã hội, bao hàm cả hoạt động chính trị. Có thể thấy, cấu trúc xã hội truyền thống đang đang “vỡ vụn” từng mảng theo quy luật không thể đảo ngược mà một trong những nhân vật chính tạo nên hội chứng dở khóc dở cười này là phó giáo sư tiến sĩ Phạm Hồ Thu.
Bản chất của “vỡ vụn” đi từ cái đơn nhất đến cái phổ quát, giống như hiệu ứng domino, bắt đầu là tình yêu, quan hệ vợ chồng rồi cuối cùng là xã hội. Tuy nhiên, dù nhìn nhận dưới quan điểm nào thì, trình độ học vấn, học vị, học hàm chỉ như một loại nghề nghiệp để con người kiếm sống. Điều quan trọng hơn cả là tầm văn hóa và cách ứng xử với cộng đồng qua những giá trị bền vững vốn là truyền thống của dân tộc và lịch sử văn minh nhân loại. Những thứ đó Phạm Hồ Thu không hề có nhưng lại tự huyễn hoặc mình bằng thứ niềm tin cuồng tín đến mức bệnh hoạn. Vì thế, ta có thể hình dung, “Vỡ vụn” là tiểu thuyết của những chuỗi tương phản, và rõ nét nhất là cặp vợ chồng Chính, Thu. Đây cũng chính là ý tưởng nghệ thuật của tác giả nhằm kiến giải những điều bất cập trong xã hội đương thời, khi mà mọi giá trị đang bị đảo lộn khiến con người mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin, phải cầu viện thánh thần để tìm sự yên tĩnh cho tâm hồn. Hiện tượng Phạm Hồ Thu có vẻ như không còn là cá biệt mà đã trở thành “một bộ phận không nhỏ” trong guồng máy quan chức công quyền được đào tạo và bổ nhiệm “đúng quy trình” đang từng bước hóa thân thành lũ sâu mọt đục khoét mục ruống nền kinh tế èo uột, phá nát kỷ cương, rường mối xã hội vốn đã quá nhiều khuyết tật.
Nguy hại hơn nữa, Thu còn là người thầy ở cấp độ học viện, hàng ngày rao giảng thứ học thuyết mà nhân loại tiến bộ đã vứt vào sọt rác lịch sử cho lớp cán bộ rất có khả năng sẽ trở thành những nhà lãnh đạo quốc gia. Thử hỏi tương lai đất nước sẽ ra sao một khi bộ máy quản trị xã hội là những con anh vũ màu sắc sặc sỡ nhưng chỉ hót cùng một giọng với một số lượng từ vựng giới hạn?
Với Thu, tuy là quan hệ vợ chồng nhưng Chính lại ở một thái cực khác. Chính chỉ có bằng cử nhân ngữ văn, không học vị, học hàm, chức danh xủng xoảng như bà vợ hãnh tiến nhưng ông là một nhân cách đáng nể cả ở trình độ học vấn chuyên sâu, bề dày văn hóa và phong thái lịch lãm của một trí thức tự đào tạo mình. Giữa Chính và Thu, nếu có sự tương đồng nào đó, nhiều nhất cũng chỉ là cô con gái tóc dài nhưng lại thừa hưởng trí tuệ của bố đến nỗi nhiều lúc Chuyên phải cãi mẹ “mọi người đều biết, chỉ có mình mẹ là không biết”. Bức tranh toàn cảnh của gia đình Chính, Thu, có thể nói, còn hơn cả sự “vỡ vụn” mà là một bi kịch mang tinh thần thời đại. Và, nếu xét trên bình diện tiểu thuyết cổ điển thì cặp nhân vật này tuyệt đối mang tính hiện thực đầy đủ với cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Bởi lẽ, cuộc ly thân của hai người hầu như không phát tác từ những sinh hoạt vụn vặt trong đời sống thường nhật, mà từ sự xung đột ý thức hệ, quan điểm sống, hay cụ thể hơn là từ cái phông văn hóa. Thế nhưng, một điều ít người ngộ ra là, bi kịch này có nguyên nhân sâu xa từ khủng hoảng xã hội kéo theo hội chứng lạm phát các giá trị, con người bị/được phân nhiệm vào những vị trí không tương thích với sở trường của họ. Từ đó nảy sinh vô vàn hệ lụy, là điều kiện lý tưởng cho sự tha hóa nhân cách, đạo đức, kéo theo sự xuống dốc không phanh của một xã hội vốn được xây dựng trên cơ sở học thuyết không tưởng.
Sự đổ vỡ trong mối quan hệ gia đình Chính, Thu ngoài phần cốt lõi là hệ ý thức vênh lệch còn có yếu tố chính trị tham gia, tuy cả hai đều là những nhà chuyên môn thuần túy. Nói cụ thể hơn, chính trị đã làm méo mó nhân cách của Thu bằng những tác động ở vùng ngoại biên nhưng có sức công phá đáng kể như một phản ứng dây chuyền. Ngược lại, Chính đứng ngoài chính trị những chính trị lại cố tình lôi anh vào cuộc bằng những kế sách có giá trị thực tiễn cho Thành khi anh ta được bầu làm chủ tịch tỉnh. Xét trên mọi mặt, Chính luôn là người thầy của Thu một cách đúng nghĩa. Ông là hình ảnh của một trí thức lớn, có tầm ảnh hưởng sâu rộng đến các thế hệ học trò nhưng lại bị lép vế trước bà vợ “thiểu năng trí tuệ” và sẵn thói đố kỵ. Thu là đệ tử trung thành của triết lý đám đông, biết tất cả nhưng thực chất không biết một thứ gì cho dù bà ta có nhãn mác phó giáo sư tiến sỹ. Thế nên trong trào lưu “xã hội hóa” giáo sư, tiến sỹ không tiền khoáng hậu này, tự nhiên hình thành vô số “chợ giời” bằng cấp để thỏa mãn tham vọng “hội chứng nhất”, hầu ghi danh vào sách Guiness về một nhà nước có trình độ học vấn cao ngất ngưởng thế giới, nhưng mọi giá trị nhân văn phổ quát lại xếp ở tốp cuối cùng của thế giới. Tệ tham nhũng, nhất là tham nhũng quyền lực và thói háo danh của những kẻ cơ hội ở các nấc thang quyền lực đã phá nát kỷ cương xã hội, xổ toẹt vào các giá trị văn hóa truyền thống, tạo nên một môi trường sống quái gở, trong đó, lòng tốt và tinh thần vị tha bị chối bỏ, thay vào đó là sự vận hành theo kiểu chụp giật của các tổ chức băng đảng sặc mùi bạo lực.
Mối tình của Chính và Thảo là mối tình đẹp với đầy đủ các cung bậc tình cảm của thời hiện đại nhưng có vẻ lãng mạn bởi khuynh hướng lý tưởng hóa khá đậm đặc. Thế nhưng, nhân vật “Sáu Ngờ”, về mặt tính cách lại được ghi nhận như là sự sáng tạo nghệ thuật. Trong mối tương quan giữa các nhân vật Chính, Thu, Thảo, Thành, thì những trang miêu tả về tình yêu đôi khi hoàn toàn ngẫu hứng tựa làn gió mát, góp phần điều hòa sự bức bối đang tiệm cận thảm kịch của gia đình Chính, Thu hay những thủ đoạn đấu đá căng thẳng với những biến thái khôn lường giữa Thành và tay phó chủ tịch văn xã nơi chính trường đầy cạm bẫy để giành chiếc ghế chủ tịch tỉnh.
Thảo là cô gái đẹp, trí tuệ mẫn tiệp nên không muốn trao thân gửi phận cho một gã đàn ông tầm thường. Cô gái nhà quê với câu đố tai quái, từng làm thất vọng không biết bao nhiêu “khách đông sàng rắp ranh bắn sẻ” rất có thể mang tiếng “ế chồng” nếu không gặp người đàn ông trên chuyến xe khách Hà Nội – Hải Phòng. Cuối cùng Thảo cũng tìm được tình yêu đích thực, sinh được bé trai kháu khỉnh nhưng phải trả giá đắt khi mà bố cu Đại đã có gia đình và chỉ kém bố mình năm, sáu tuổi.
Cốt truyện diễn ra đến đây khá gay cấn và hầu như không có lời giải thỏa đáng cho cuộc tình tay ba. Tình yêu, hôn nhân và gia đình luôn là đề tài muôn thuở, thời nào cũng có, nhưng điều quan trọng là cái cách xã hội nhìn nhận nó theo chiều hướng chấp nhận hay phản ứng, bởi lẽ nó là một giá trị sống nếu không nói là giá trị thiêng liêng nhất. Điều cần bàn ở đây là, trong khi cả xã hội, nhất là những nhà quản lý ngoảnh mặt làm ngơ, coi đó chỉ là chuyện sinh hoạt, không mấy quan trọng, thì tác giả lại tiếp cận, phân tích sâu bằng hình tượng văn học, đồng thời tỏ thái độ thông cảm nhưng không khuyến khích. Bởi nếu khuyến khích, cổ vũ cho hình thái tình cảm tay ba đầy kịch tính như kiểu Chính, Thu  và Thảo, cuối cùng hẳn sẽ có kết cục “vỡ vụn”…
Hầu hết các trường đoạn viết về mối tình ngang trái giữa Thảo và Chính tác giả đều sử dụng lối văn kể giầu sắc thái biểu cảm, thậm chí còn miêu tả rất cuồng nhiệt những cái ôm riết, những nụ hôn nóng bỏng hay những cuộc làm tình nghiêng ngả đất trời bất chấp thiên hạ sự. Về phong cách văn chương, ngòi bút Nguyễn Bắc Sơn khá linh hoạt khi ông thường xuyên hoán vị các ngôi đại từ nhân xưng cũng như đặc trưng ngôn ngữ của từng nhân vật. Ngôn ngữ giao tiếp cũng như lời độc thoại của Chính thì chuẩn mực, thận trọng luôn lấp lánh một trí tuệ sắc sảo nhưng lại giầu lòng vị tha. Trong khi ấy, ngôn ngữ của Thu thường hàm chứa tính gia trưởng, cay cú, nảy sinh từ thói kiêu ngạo vốn là sản phẩm độc hại của thứ tư duy quyết định luận. Với Thu, chân lý không thuộc về khách quan mà thuộc về kẻ mạnh, tuy nhiên, một khi thứ ngụy chân lý ấy bị ông chồng bóc mẽ thì bà phó giáo sư tiến sỹ giở bài cùn.
Sự kiện Thu bị đột quỵ phải phẫu thuật lấy cục máu đông trong đại não và Chính về quê Thảo trình diện gia đình là những chi tiết rất tiểu thuyết, hoàn toàn phù hợp với diễn biến cốt truyện. Tuy nhiên đấy lại là dấu hiệu cho thấy cả Chính và Thảo đã sử dụng hết tài nguyên trong kho dự trữ của cuộc tình lãng mạn, giờ phải trở lại với hiện thực trần trụi trong một môi trường sống trì trệ luôn dị ứng với tư tưởng “nổi loạn”. Chính chín chắn hơn Thảo nhưng luôn ở thế bị động trước những cuộc “tấn công” rất có “nghệ thuật” của cô gái trẻ đầy bản lĩnh. Chính đã lường trước được một tương lai không mấy sáng sủa khi mà bản thân vừa phải chăm sóc người vợ bán thân bất toại vừa phải tìm mọi cách để giữ thể diện cho Thu cũng như hợp lý hóa mối quan hệ “ngoài luồng” với gia đình Thảo. Đây là bài toán không lời giải nào thỏa mãn cả hai điều kiện trên. Còn Thảo, dù đã chủ động trước những tình huống bất khả kháng, cuối cùng, bị hoàn cảnh xã hội xô đẩy, cô cũng phải thốt lên những lời cay đắng về việc Chính bắt cá hai tay.
Bi kịch của bộ ba Chính, Thu, Thảo cũng là bi kịch của cuộc đời, khi mà trong đó, những giá trị sống vốn bền vững bỗng nhiên bị đánh tráo hoặc thay đổi thang bậc bắt nguồn từ những ngộ nhận ở tầm vĩ mô về chính trị, văn hóa và kinh tế. Chính, Thu, Thảo, xét đến cùng cũng là sản phẩm của một xã hội đang bị phân hóa sâu sắc thành những giai tầng dựa trên căn bản lợi ích nhóm, tạo nên chuỗi mâu thuẫn không thể điều hòa. Sự “vỡ vụn” là không thể tránh khỏi một khi hành vi và thói quen ứng xử của kiểu “trí thức ăn đong” như Thu chỉ càng làm cho hiệu ứng “vỡ vụn” tăng gia tốc. Cũng như Chính, Thảo là nạn nhân trực tiếp của một hệ điều hành lỗi thời, đầy khuyết tật, bảo thủ, trì trệ và không có khả năng sửa chữa. Hành động “nổi loạn” của Thảo chẳng những không cải tạo được hoàn cảnh mà dường như còn làm cho bi kịch tình yêu, gia đình mỗi lúc thêm trầm trọng.
Về mặt cấu trúc tác phẩm, “Vỡ vụn”, ngoài việc sắp xếp các mảng, khối không cùng thuộc tính cạnh nhau nhằm tạo sự tương phản, tác giả còn sử dụng thủ pháp đồng hiện và “nén” thời gian, không gian, xóa nhòa ranh giới quá khứ, hiện tại, giống như kỹ xảo chồng mờ trong điện ảnh để làm gia tăng hiệu quả thẩm mỹ.

Chí Linh, 10/10/2016
       Đ.V.S.

* Tiểu thuyết của Nguyễn Bắc Sơn, NXB Hội Nhà văn, 2015

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ông trùm nạo vét cát thao túng quan chức Bộ GTVT như thế nào?

>> Doanh nghiệp tặng xe cho Bí thư Xuân Anh là ai?

>> Lộ mặt kẻ nấp sau lưng gây rối chính quyền Đà Nẵng
>> Dựng một chuồng gà bị khởi tố, xây 40 biệt thự chỉ phạt tiền
>> Gửi “tâm thư” lên Thủ tướng, Chủ tịch Hiệp hội Du lịch Đà Nẵng bị Sở “hành"!


ĐỖ VĂN
LĐO - Càng đi sâu vào vụ cát tặc đe dọa Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh, nhóm PVĐT của Báo Lao Động đã không khỏi ngạc nhiên khi các trùm cát tặc đã “lobby” ngay từ việc ban hành chính sách của Bộ GTVT.

Giấy phép “bật đèn xanh”… cho cát tặc

Ngay khi phát hiện ông trùm Ngô Thành Sơn (SN 1980) nắm trong tay một nhóm Cty thực hiện hàng loạt dự án nạo vét duy tu luồng đường thủy nội địa quốc gia kết hợp tận thu sản phẩm (dự án nạo vét DTL) của Cục Đường thủy nội địa VN (Cục ĐTNĐ), PV Báo Lao Động nhiều lần liên lạc với ông Trần Văn Thọ - Phó Cục trưởng Cục ĐTNĐ phụ trách dự án nạo vét DTL để làm rõ việc này. Tuy nhiên, ông Thọ liên tục viện lý do bận công việc và cử chuyên viên ra tiếp. Sáng 5.4.2017 tại trụ sở Cục ĐTNĐ, nhóm PV Báo Lao Động tiếp cận được hồ sơ thực hiện dự án nạo vét DTL do nhóm Cty của trùm nạo vét cát Ngô Thành Sơn thực hiện.

Điều đặc biệt là trong tập “Tài liệu hồ sơ pháp lý” của nhóm Cty Ngô Thành Sơn phần lớn đều thiếu giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD). Điều này cũng dễ hiểu bởi nếu có giấy chứng nhận ĐKKD kèm theo thì người đọc dễ dàng nhận thấy nhóm các DN: Cty CP trục vớt luồng hạ lưu, Cty CP đầu tư Việt và Sơn và Cty CP đầu tư và thương mại Việt Sơn… đều có một ông chủ duy nhất. Khi PV đặt câu hỏi: Việc lập danh mục các dự án nạo vét DTL do Cục ĐTNĐ lập hay do các DN lập? Vị chuyên viên (do ông Thọ cử ra tiếp) cho biết: “Theo Thông tư 69/2015/TT-BGTVT ngày 9.11.2015, các dự án vừa do cục lập danh mục vừa do các DN đề xuất”.

“Tại sao các dự án do các Cty của ông Ngô Thành Sơn thực hiện đều do Cty tự đề xuất?”, PV tiếp tục đặt câu hỏi. Vị chuyên viên của ông Thọ cho biết: “DN người ta hoạt động kinh doanh nên đề xuất những dự án hiệu quả”. PV Báo Lao Động phản biện: “Mục đích của các dự án nạo vét DTL là luồng khơi thông cho tàu bè chứ không phải mục đích là sản phẩm cát”. Lúc này vị chuyên viên cười trừ.

Theo Thông tư 69 của Bộ GTVT, các DN tham gia dự án nạo vét DTL được là “nhà đầu tư” và “được đề xuất thực hiện dự án ngoài danh mục dự án do Bộ GTVT, UBND cấp tỉnh phê duyệt và công bố”. Rõ ràng đây là kẽ hở “khó hiểu” mà những người xây dựng thông tư đã tạo ra. Bất cứ “nhà đầu tư” có thế lực nào cũng có thể vẽ ra các dự án, chọn lấy một khúc sông “ngon nhất” để múc cát. Kiểm tra các tập “Tài liệu hồ sơ pháp lý” dự án nạo vét DTL do các Cty của ông trùm Ngô Thành Sơn cũng thấy rõ ông trùm đã triệt để tận dụng kẽ hở này để múc cát trên sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng, sông Kinh Thầy…

Kịch bản hoàn hảo…

Trở lại với thời điểm tháng 4.2016 khi UBND tỉnh Bắc Ninh gửi công văn đến Cục ĐTNĐ yêu cầu dừng dự án nạo vét DTL của Cty CP trục vớt luồng hạ lưu trên sông Cầu vì hành vi cát tặc của Cty này phá hoại bờ kè đê điều. Sau đó, Cục ĐTNĐ và Bộ GTVT đã có hàng loạt hành động gây sức ép với UBND tỉnh Bắc Ninh để DN của ông trùm Ngô Thành Sơn có thể hoạt động. Điều tra của PV Báo Lao Động cho thấy, đứng sau những hành động này của các quan chức Bộ GTVT diễn ra với một “kịch bản hoàn hảo” nhưng lộ bóng dáng của ông trùm nạo vét cát Ngô Thành Sơn.


Hành động “phản công” đầu tiên chính là cuộc khảo sát “tàu mắc cạn” ngày 9.1.2017 trên sông Cầu (đoạn huyện Quế Võ) do Cục ĐTNT tổ chức, có mời các sở ban ngành của tỉnh Bắc Ninh. Phóng sự nóng về cuộc khảo sát “tàu mắc cạn” này do một đài truyền hình kỹ thuật số thực hiện vẫn được lưu giữ trên Youtube cho thấy, một sà lan vận tải bị mắc cạn… do chở quá tải, sau đó các tàu cát tặc được điều đến cứu hộ và mắc thành một đám. Trên bờ đê, một dãy xe con sang trọng đứng chứng kiến. Trong đoạn trả lời phỏng vấn truyền hình, ông Hoàng Văn Vỹ (em vợ của ông trùm cát Ngô Thành Sơn) được giới thiệu Giám đốc Cty CP trục vớt luồng hạ lưu lớn tiếng đổ trách nhiệm cho tỉnh Bắc Ninh.

Khi PV Báo Lao Động đặt câu hỏi với vị chuyên viên của ông Trần Văn Thọ - Cục phó Cục ĐTNĐ: “Cuộc khảo sát “tàu mắc cạn” này do ông Ngô Thành Sơn tổ chức hay do Cục ĐTNĐ tổ chức?”. Vị chuyên viên khẳng định: “Cuộc khảo sát do Cục ĐTNĐ tổ chức” và cho biết cũng tham gia cuộc khảo sát này. “Vậy tại sao ông trùm cát Ngô Thành Sơn lại có mặt trong đoàn khảo sát đoạn dự án của Cty CP trục vớt luồng hạ lưu, phải chăng được Cục ĐTNĐ mời?”, PV tiếp tục đặt câu hỏi. Lúc này vị chuyên viên lại cười trừ.

Hình ảnh của trùm nạo vét cát Ngô Thành Sơn lọt vào ống kính camera cho thấy, ông trùm này luôn kè kè bên ông Trần Văn Thọ - Phó Cục trưởng Cục ĐTNĐ chứng tỏ hai vị này không lạ gì nhau! Trước sự “đạo diễn” lộ liễu của ông trùm, đại diện các sở ngành của tỉnh Bắc Ninh đã bỏ về, bất chấp như vậy nhưng biên bản khảo sát vẫn được đưa ra với phần bỏ trống của đại diện sở ngành tỉnh Bắc Ninh. Kết quả khảo sát ngày 9.1.2017 được Cục ĐTNĐ công bố như sau: “Cục ĐTNĐ phối hợp với cơ quan chức năng của UBND tỉnh Bắc Ninh, cùng đơn vị tư vấn độc lập tiến hành đo xác suất 4/11 vị trí đoạn cạn thuộc dự án trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Kết quả có 3/4 vị trí được kiểm tra xác suất chưa đạt chuẩn tắc luồng theo thiết kế”.

Tiếp đó ngày 22.2.2017, Thứ trưởng Bộ GTVT Nguyễn Nhật đã ký CV số 1689/BGTVT-KCHT và ngày 1.3.2017 Cục ĐTNĐ VN tiếp tục có CV số 266/CĐTNĐ-KHĐT gửi UBND tỉnh Bắc Ninh đề nghị tỉnh này để Cty của trùm cát Ngô Thành Sơn tiếp tục thực hiện dự án. Đồng thời, nhiều tin nhắn đe dọa được gửi vào máy di động của hàng chục cán bộ sở, ngành và cả Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh.Trước các động thái này của Bộ GTVT, Cục ĐTNĐ và ông trùm cát Ngô Thành Sơn, ngày 9.3.2017 UBND tỉnh Bắc Ninh đã buộc phải ra CV số 55/UBND-NN.TN gửi Thủ tướng Chính phủ. Tại CV này, UBND tỉnh Bắc Ninh đã kiến nghị Thủ tướng Chính phủ: “Chỉ đạo Bộ CA vào cuộc điều tra nguyên nhân sự việc, điều tra các cá nhân từ trung ương đến địa phương đứng sau bảo kê, đe dọa cán bộ chuyên môn, lãnh đạo sở, ngành và Chủ tịch UBND tỉnh Bắc Ninh”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

tiếp tục công việc cởi ra thắt vào

Giáo dục sau đại học ở Việt Nam 2017 : 


Thông tin từ các nơi.


---

Đào tạo tiến sĩ được siết chặt ra sao?


Bộ GD-ĐT vừa chính thức ban hành Quy chế tuyển sinh và đào tạo tiến sĩ. Quy chế này có hiệu lực từ 18/5/2017 với nhiều điểm mới so với quy định hiện hành.
Quy chế mới có cấu trúc ngắn gọn hơn, đảm bảo nâng cao tự chủ và trách nhiệm giải trình của các cơ sở đào tạo tuy nhiên, các điều kiện đối với nghiên cứu sinh cũng như người hướng dẫn nghiên cứu sinh (NCS) thì siết chặt hơn.
“Siết” từ đầu vào
Theo quy định mới mới, muốn học tiến sĩ, các ứng viên phải có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học loại giỏi. Theo quy định cũ, những người tốt nghiệp đại học loại khá cũng có thể ứng tuyển tiến sĩ.
tiến sĩ, đào tạo tiến sĩ, đổi mới giáo dục, bộ giáo dục đào tạo
Điểm mới là các ứng viên phải là tác giả hoặc đồng tối thiểu 1 bài báo liên quan đến lĩnh vực hoặc đề tài nghiên cứu dự kiến đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành...
Điểm mới trong yêu cầu “đầu vào” là các ứng viên phải là tác giả hoặc đồng tối thiểu 1 bài báo liên quan đến lĩnh vực hoặc đề tài nghiên cứu dự kiến đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành hoặc 1 báo cáo đăng tại kỷ yếu của các hội nghị, hội thảo khoa học trong hoặc ngoài nước.
Các bài báo hoặc báo cáo này được đăng tải trong thời hạn 3 năm tính đến ngày đăng ký dự tuyển.
Bên cạnh đó, thay vì yêu cầu trình độ ngoại ngữ đối với NCS trước khi bảo vệ luận án tiến sĩ như quy định hiện hành, quy chế mới đặt ra yêu cầu về ngoại ngữ ngày từ khi các ứng viên tham gia dự tuyển.
Cụ thể, các ứng viên phải đảm bảo có chứng chỉ tiếng Anh TOEFL iBT từ 45 trở lên hoặc Chứng chỉ IELTS (Academic Test) từ 5.0 trở lên hoặc Chứng chỉ TOEIC từ 500 điểm trở lên do một tổ chức khảo thí được quốc tế và Việt Nam công nhận cấp trong thời hạn 2 năm (24 tháng) kể từ ngày cấp đến ngày đăng ký dự tuyển.
Quy định mới mới cũng không sử dụng các chứng chỉ ngoại ngữ theo chuẩn châu Âu hiện được 10 trường ĐH thi và cấp chứng chỉ như trước đây mà chỉ sử dụng các chứng chỉ quốc tế tương đương.
Đối với những người dự tuyển có các chứng chỉ ngôn ngữ khác đủ điều  kiện, quy chế mới vẫn yêu cầu người dự tuyển phải phải có khả năng giao tiếp được bằng tiếng Anh trong chuyên môn (có thể diễn đạt những vấn đề thuộc lĩnh vực chuyên môn cho người khác hiểu bằng tiếng Anh và hiểu được người khác trình bày những vấn đề chuyên môn bằng tiếng Anh).
Tuy vậy, quy định mới không quy định rõ các cơ sở đào tạo tiến sĩ làm cách nào để kiểm tra khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh của các ứng viên.
Thời gian đào tạo không quá 5 - 6 năm
Bên cạnh “siết” các điều kiện đầu vào, quá trình đào tạo tiến sĩ cũng được quy định chặt chẽ theo hướng nâng cao chất lượng. 
Theo đó, thời gian đào tạo tiến sĩ vẫn là 3 - 4 năm tùy từng đối tượng (có bằng thạc sĩ hoặc tốt nghiệp đại học) theo quy định tại Luật GD ĐH. Tuy nhiên, thí sinh chỉ được phép gia hạn tối đa là 2 năm. 
Như vậy, tổng thời gian đào tạo tiến sĩ là theo quy định mới từ 5 - 6 năm kể từ khi có quyết định công nhận NCS.
Theo quy định hiện hành, tổng thời gian hoàn thành chương trình của NCS có thể kéo dài tới 7 - 8 năm.
Bên cạnh đó, quy định mới cũng nêu rõ, trong thời gian gia hạn (2 năm), NCS phải theo học tập trung liên tục tại cơ sở đào tạo. 
Hết thời gian gia hạn, nếu luận án của NCS không được Hội đồng đánh giá luận án cấp trường, viện thông qua thì thủ trưởng cơ sở đào tạo quyết định cho NCS thôi học. Kết quả học tập của chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ không được bảo lưu.
2 bài báo quốc tế mới được bảo vệ luận án
Quy định mới về điều kiện bảo vệ luận án của NCS cũng được thắt chặt hơn so với trước.
Cụ thể, quy định mới yêu cầu NCS phải công bố nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án trong tối thiểu 2 bài báo, trong đó có ít nhất 1 bài đăng trong tạp chí khoa học thuộc danh mục các tạp chí ISI/ Scopus hoặc 2 báo cáo đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện (Peer Review) hoặc 2 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện khác.
Quy định mới cũng yêu cầu toàn văn luận án và tóm tắt luận án hoàn chỉnh có chữ ký của NCS, chữ ký của người hướng dẫn và của thủ trưởng cơ sở đào tạo sau khi đã sửa chữa, bổ sung, phải được đăng trên trang thông tin điện tử của cơ sở đào tạo và nộp Thư viện Quốc gia Việt Nam.
Người hướng dẫn phải có công bố quốc tế
Các tiêu chuẩn, điều kiện đối với người hướng dẫn NCS cũng được nâng cao so với quy định hiện hành.
Cụ thể, người hướng dẫn chức danh giáo sư hoặc phó giáo sư hoặc có bằng tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ, chuyên môn phù hợp với đề tài luận án hoặc lĩnh vực nghiên cứu của NCS.
tiến sĩ, đào tạo tiến sĩ, đổi mới giáo dục, bộ giáo dục đào tạo
Các tiêu chuẩn, điều kiện đối với người hướng dẫn nghiên cứu sinh cũng được nâng cao so với quy định hiện hành. Trong ảnh: Các tiến sĩ trong lễ nhận bằng của Học viện Bưu chính Viễn thông. Ảnh: Thanh Hùng
Đối với người chưa có chức danh giáo sư, phó giáo sư thì phải có tối thiểu 3 năm nghiên cứu hoặc giảng dạy kể từ khi được cấp bằng tiến sĩ khoa học hoặc tiến sĩ. 
Bên cạnh đó, người hướng dẫn phải chủ trì các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở trở lên.
Điểm quan trọng nhất đối với điều kiện của người hướng dẫn NCS chính là, họ phải có tối thiểu 1 bài báo đăng trên các tạp chí ISI hoặc Scopus hoặc 1 sách tham khảo của các nhà xuất bản nước ngoài có mã số chuẩn quốc tế ISBN.
Nếu không đạt điều kiện trên, người hướng dẫn cũng có thể có 2 báo cáo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện khác thuộc lĩnh vực nghiên cứu liên quan tới đề tài luận án của NCS.
Trường hợp người hướng dẫn độc lập là tiến sĩ nhưng chưa có chức danh GS, PGS thì phải có thêm 1 bài báo hoặc công trình đăng trên tạp chí khoa học thuộc danh mục ISI/ Scopus.
Quy định mới cũng yêu cầu người hướng dẫn phải có năng lực ngoại ngữ để phục vụ nghiên cứu vào trao đổi khoa học quốc tế.
Quy định mới cũng cho phép các GS, PGS được hướng dẫn đồng thời nhiều NCS hơn so với quy định hiện hành. Tuy nhiên, quy định mới yêu cầu người hướng dẫn không được nhận thêm NCS mới nếu trong vòng 6 năm tính đến thời điểm giao nhiệm vụ có 2 NCS không hoàn thành chương trình đào tạo hoặc luận án không được hội đồng cấp trường/ viện thông qua.
Bên cạnh tiêu chuẩn đối với người hướng dẫn, quy định mới cũng đưa ra yêu cầu về công bố quốc tế đối với hội đồng đánh giá luận văn.
Cụ thể, ngoài chức danh GS, PGS, TS, thành viên hội đồng phải có công trình nghiên cứu, có uy tín và kinh nghiệm hoạt động nghề nghiệp liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu của NCS, trong đó người phản biện phải có tối thiểu 1 bài báo hoặc báo cáo khoa học đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện hoặc trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện.
Lộ trình thực hiện
Yêu cầu người hướng dẫn và NCS trước khi bảo vệ luận án phải có công bố quốc tế được chia làm 2 giai đoạn: Trước 31/12/2018 và từ 1/1/2019 trở đi.
Cụ thể, đối với các khóa tuyển sinh từ thời điểm quy định mới có hiệu lực (18/5/2017) đến hết ngày 31/12/2018:
Người hướng dẫn đề tài thuộc nhóm ngành 1 (nhóm ngành KHXH-NV, Kinh doanh, quản lý, nghệ thuật…) chỉ cần là tác giả chính của tối thiểu 1 bài báo bằng tiếng nước ngoài đăng trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước hoặc trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài luận án của NCS.
Đối với người hướng dẫn đề tài nhóm ngành 2 (khoa học tự nhiên, sự sống, y tế…) chỉ cần là chính tối thiểu 1 báo cáo hoặc công trình khoa học đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện hoặc ít nhất một chương sách tham khảo có mã số chuẩn quốc tế ISBN do các nhà xuất bản nước ngoài phát hành hoặc 1 bài báo đăng trong tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện thuộc lĩnh vực nghiên cứu khoa học liên quan đến đề tài luận án của NCS.
Tương tự, NCS thuộc nhóm ngành 1 chỉ cần phải công bố nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án trong tối thiểu 2 bài báo hoặc báo cáo, trong đó có 1 bài báo bằng tiếng nước ngoài trên các tạp chí thuộc danh mục các tạp chí khoa học chuyên ngành của Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước hoặc trên các tạp chí khoa học chuyên ngành có uy tín của nước ngoài.
NCS thuộc nhóm ngành 2 chỉ phải công bố nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án trong tối thiểu 2 bài báo hoặc báo cáo, trong đó có 1 báo cáo đăng trong kỷ yếu hội thảo quốc tế có phản biện hoặc 1 bài báo đăng trên tạp chí khoa học nước ngoài có phản biện.
Kể từ ngày 1/1/2019, thực hiện như quy định mới. 
Lê Văn
Giao blog
http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/khoa-hoc/dao-tao-tien-si-duoc-siet-chat-ra-sao-365883.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Biển đông, có xảy ra chiến tranh không?


Để có thể trả lời câu hỏi này, chúng ta phải nắm rõ được tình hình thế giới trong bối cảnh hiện tại liệu có ủng hộ (thuận lợi) cho tham vọng bá quyền của Trung Quốc hay không, tức Thiên có Thời cho Trung Quốc hay không. Nếu Trung Quốc lo xong vấn đề ngoại giao bằng các thỏa hiệp kinh tế song phương lớn có lợi cho các nước trong 10 -20 năm và Trung Quốc vẫn tin rằng đánh chiếm Biển Đông là phần thưởng lớn xứng đáng hơn, chiến tranh tất yếu nó xảy ra. 

Trung Quốc đã mưu toan và chuẩn bị cho chiến dịch đánh chiếm này không phải ngày một ngày hai mà đã có từ thời các quan tướng diều hâu trong giới lãnh đạo của bộ quốc phòng Trung Quốc. Thời của Lương Quang Liệt, nó xuất phát từ sự tự tin vào sức mạnh Trung Quốc được dung nạp qua thời gian dài mà chưa có cơ hội thử nghiệm và cũng là để chứng minh tư thế một nước lớn cả về kinh tế và quân sự, biểu hiện của tự hào cái bản cách Hoa Hán có từ bao đời nay, cũng như tự tin về sự chênh lệch sức mạnh đối với các nước ven biển khu vực phía Nam Hải, khối Asean.

Xét về tình hình thế giới hiện nay, vấn đề Biển Đông chỉ là một điểm nóng trong nhiều điểm nóng! Chính vì vậy nó phân tán sự quan tâm của thế giới. Đây rõ ràng là một điểm thuận lợi đối với Trung Quốc, nhưng chưa đủ.

Xét về những nước bên ngoài tranh chấp có quyền lợi trực tiếp - liên đới và quan tâm đến Biển Đông là Úc, Nhật, Mỹ. Ấn Độ hay Châu Âu chỉ là những tiếng nói “vang” ở tầm quốc tế mà thôi.

Riêng Nga, người Nga không ủng hộ nhưng cũng không can thiệp vào. Mặt khác, Nga vẫn tập trận chung cùng Trung Quốc tại khu vực Biển Đông thể hiện sự đối kháng với Tây Phương. Bởi có những vấn đề an ninh “gai góc” hơn mà Nga cần Trung Quốc hơn là Việt Nam hay Philipines, hay một nước nào khác tại Asean. Chúng ta cũng đừng kỳ vọng tếu vào yếu tố về việc bằng mặt không bằng lòng hay sự nghi kỵ lẫn nhau giữa hai quốc gia này, bởi vẫn có những quốc gia vừa đấu tranh vừa hợp tác với nhau, vì cái quyền lợi chiến lược lớn hơn thôi. Do đó, đừng nghĩ nhiều về yếu tố nghi kỵ này, mà cần phải biết rằng Trung Quốc là bậc thầy của “kẻ biết cho đi”, họ đã cho nước Nga những cái nước Nga cần. Đây rõ ràng là điểm thuận lợi thứ hai cho Trung Quốc.

Hoa Kỳ thì có quá nhiều vấn đề để quan tâm và chen chân trước một thế giới ngày càng năng động nhưng khó kiểm soát, đòi hỏi Hoa Kỳ phải rũ bỏ bớt. Hoa Kỳ sẽ bớt mạo hiểm hơn và chọn lựa chiến thuật kỹ hơn đối với từng điểm nóng. Rất khó đoán được quyết định của ông Trump, trừ phi chọc vào cái đầu lửa bốc đồng của ông ấy, nhưng Trung Quốc lại đang kiểm soát tốt điều này, họ tạo rất nhiều thứ thuận lợi cho công việc làm ăn của gia đình ông ấy, như thể không muốn làm mất lòng “Ngài Trump”.

Để có thể dẹp bỏ và phá tan một cách kiên quyết các Đảo Đá, bãi Ngầm, bãi Bồi mà Trung Quốc đã gia cố, xây dựng thành hàng rào chiến thuật quân sự đòi hỏi phải tốn khá nhiều đạn và tiêu hao nhiều sinh lực. Và có lẽ duy nhất chỉ có Hoa Kỳ hiện nay là đủ tiềm lực tài chính và sức mạnh để làm điều này. Đánh được, phá được, hủy diệt được (nếu bị ép vào thế Hoa Kỳ một mất một còn). Do đó, dù chướng mắt với tham vọng lộ liễu trước việc Trung Quốc lấn chiếm Biển Đông, Úc cũng sẽ không thể làm được gì ngoài việc đứng ngoài hô hào, trừ việc “tháp tùng cùng Hoa Kỳ” đi vào Biển Đông và nếu Úc có chiến tranh, thì Hoa Kỳ phải là nước dẫn đầu. Bởi việc mang đạn dược, tổ chức hậu cần, đánh chặn, đánh phá, thì tiêu tốn khá nhiều tiền của mà chưa chắc đã dẹp được thằng ở gần. Nói chung, xét về thực tiễn, Úc không phải là quốc gia có đủ mạo hiểm và có đủ lý do để đánh phá, ngăn chặn việc Trung Quốc xâm chiếm Biển Đông, dù biết rất rõ rằng từ đó Trung Quốc xuống Úc là khá dễ dàng, nhưng xét về lịch sử và tịnh tiến, rất khó để nhìn thấy hai quốc gia này có đủ mâu thuẫn mà dẫn đến gây chiến tranh.

Có lẽ, Nhật là quốc gia có tầm nhìn và muốn ngăn chặn chiến lược việc Trung Quốc vươn ra xa cũng như có lịch sử đẫm máu với Trung Quốc nhất. Trung Quốc xem Nhật là kẻ thù lịch sử và luôn mong muốn một ngày rửa mối hận đó. Cũng vì ý thức điều này mà người Nhật nhận thấy cần ngăn chặn chiến lược Trung Quốc từ xa. 


Có đủ lý do để chúng ta tin người Nhật sẽ làm thực tâm điều này và sẽ hỗ trợ hết mình cho bất kỳ quốc gia nào tại khu vực cùng họ ngăn chặn một Trung Quốc thảm họa. Nhưng sự quyết tâm - thực tâm đó chưa đủ, về kinh tế, tuy rằng GDP đầu người Nhật vẫn cao hơn và ổn định nhiều năm nhưng xét về tổng lượng GDP quốc gia thì Trung Quốc đã vượt qua Nhật, xét phần trăm ngân sách quốc phòng thì rõ ràng Nhật ở khá xa Trung Quốc (gấp khoảng 2,5 lần, khoảng 160 tỷ $ so với 60 tỷ $). Nếu cuộc chiến xảy ra, là quá hao tổn cho cả hai cường quốc này, nhưng với Trung Quốc có lẽ sẽ không phải suy nghĩ, họ chỉ cần thắng là vinh quang, hy sinh bao nhiêu cũng được, phong tặng anh hùng hết. Nhưng với nước Nhật, một nền dân số đang già đi, thì đây là mất mát quá lớn.

Có nghĩa, dù có Nhật chung vai sát cánh thì cơ may để ngăn cản Trung Quốc mưu toan đánh chiếm Biển Đông là khá nhỏ. Hiệp ước đồng minh với Mỹ có thể bị giới hạn bởi đường ranh giới lãnh thổ Nhật dưới thời Trump, vì cái tên của hiệp ước chỉ là “phòng thủ”.

Quan sát gần đây, Trung Quốc đang chuẩn bị khá kỹ cho mặt trận ngoại giao với các nước có tiếng nói ảnh hưởng và trực tiếp tới khu vực tranh chấp này. Song song với chuyến đi của ông Tập Cận Bình tới Hoa Kỳ là chuyến đi thăm Úc trước đó của ông thủ tướng Lý Khắc Cường. Lá bài kinh tế nhờ lợi thế số dân đông, thị trường lớn, là lá bài hữu ích cho các nhà chính trị Trung Quốc mang đi thỏa thuận, mua bán.

Có lẽ, Việt Nam khá đơn độc nếu không có Nhật.

Nhưng không có nghĩa là chúng ta sợ hay không có giải pháp cho tình thế này. Ngược lại, tôi nghĩ, nên có chiến tranh càng sớm càng tốt. Cuộc chiến sẽ giúp cho người Trung Quốc nhận thức rõ họ ở đâu.

Đối với Trung Quốc, gây chiến cũng là một nước đi mạo hiểm, bởi họ không chắc rằng cuộc chiến sẽ diễn ra trong bao lâu và sẽ lôi kéo thêm quốc gia nào vào cuộc. Trong cách phân tích của tôi, Trung Quốc hiện đang tự tin vào sức mạnh quân sự của họ với các nước cùng tranh chấp Biển Đông là rất lớn! Nhưng họ không tự tin vào nền kinh tế và sự kiểm soát xã hội của họ! Đây chính là lý do mà cá nhân tôi cho rằng Trung Quốc rất cần một cuộc chiến đánh nhanh thắng nhanh. Tất nhiên, chiến thắng sẽ mang lại cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc rất nhiều vinh quang và lý do để tiếp tục tồn tại. Do vậy, cái điểm yếu của nó nằm ngay tại chỗ này.

Thất bại không phải là lý do khiến Trung Quốc tan rã, mà nó tan rã từ việc uy tín một cá nhân tối cao mất dần. Trung Quốc hoàn tất âm mưu của mình phải đi qua 3 giai đoạn, tức ngoài đánh được ra thì còn phải chiếm được, giữ được - sử dụng được. Nếu đánh được mà không chiếm được, hoặc chiếm được mà không giữ được, không sử dụng được thì việc chưa thành, có nghĩa, vùng chiến luôn trong tình trạng giằng co và kéo dài.

Và nếu điều này xảy ra, tôi nghĩ người Trung Quốc thất bại về chiến lược. Khi đó, kinh tế Trung Quốc khó thoát khỏi suy giảm, rối loạn do hàng hóa giao thương bị treo tại cảng, chi phí cho trận đánh có thể không lớn, nhưng chi phí cho việc “ổn định” kinh tế là rất lớn! Có đủ lý do chính đáng để các nhà tư bản rút tiền ra ngoài, và chính người dân họ sẽ mang tiền đi ra khỏi nước. Nếu cuộc chiến càng kéo dài, dẫn đến nhiều doanh nghiệp có giao thương hàng hải phải trì trệ, thì càng làm cho hoạt động tháo chạy xảy ra càng lớn và càng mạnh. Do đó mà kéo theo tình trạng xã hội rối loạn và dẫn đến nội bộ xử lý lẫn nhau, rồi khó tránh khỏi sụp đổ. Nếu Bắc Kinh không còn là ánh mặt trời, thì Hongkong, Macau, Thâm Quyến, Quảng Đông, Tây Tạng,… sẽ có ánh mặt trời cho riêng họ.

Tóm lại rằng, nếu Trung Quốc lo xong vấn đề ngoại giao bằng các thỏa hiệp kinh tế song phương lớn có lợi cho các nước trong 10 -20 năm và Trung Quốc vẫn tin rằng đánh chiếm Biển Đông là phần thưởng lớn xứng đáng hơn, chiến tranh tất yếu nó xảy ra. Và giải pháp duy nhất của chúng ta là tìm mọi cách giãn lực lượng hòng đảm bảo sức chiến đấu mà câu dài cuộc chiến để biến cuộc chiến này quay trở lại thành cái thòng lọng tròng ngược cổ Trung Quốc. Bởi biết đâu sẽ có kẻ ngoài cuộc xông trận vào thì Trung Quốc càng thêm mệt.

Không phải Bắc Kinh không ý thức được điều trên, vì vậy họ vẫn chọn con đường ít xương máu nhất mà trọn vẹn nhất: Bất chiến tự nhiên thành!

Bởi đó mới là cuộc chiến ở mặt trận quân sự, còn mặt trận dân sự - chính trị mà Trung Quốc đang áp dụng như cho ngư dân quần thảo khắp Biển Đông, đi thành từng đoàn, có súng, hoặc ra lệnh cấm đánh bắt,... thì chỉ có một còn đường là thay đổi ......... mới có thể ứng phó với mặt trận này. Thể chế ..không giải quyết được chiến thuật của Trung Quốc mà còn làm nó trở nên hệ trọng hơn, Trung Quốc ngày càng thô bạo hơn. Không khác gì giúp giặc vào tận nhà.

p/s: Nhận được tin vui là Hoa Kỳ cho bắn tên lửa hành trình vào căn cứ quân sự Syria mà người Nga nằm bất động hoàn toàn. Vấn đề tôi không nhìn trực diện vào nó mà nhìn ở góc độ khác, thứ nhất là về sự cương quyết của Hoa Kỳ (không chỉ ở vị tổng thống mà còn ở giới tướng lĩnh), thứ hai là về vũ khí người Nga. Người Trung Quốc tự tin về sức mạnh quân sự của họ có một phần do ảnh hưởng lớn về sự tự tin và quảng bá vũ khí của người Nga. Nếu thực sự vũ khí người Nga không đủ năng lực để lập hàng rào phòng thủ trước các tên lửa hành trình Mỹ thì Trung Quốc sẽ bớt mạo hiểm hơn. Hầu hết vũ khí nhập kho của Trung Quốc đều xuất xứ từ Nga và “cải biến” từ vũ khí Nga, không rõ sự cải biến này có làm cho vũ khí Trung Quốc tốt hơn mạnh mẽ hơn không hay chỉ là sự dán mác khác đi thì có lẽ sau vụ việc này đòi hỏi Trung Quốc phải sâu sắc nhìn nhận lại.

Donguyen

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bát Bảo Sơn - nghĩa trang của các lãnh đạo Trung Quốc


Xem thêm: Video thăm nghĩa trang Mai Dịch Hà Nội
Bát Bảo Sơn - nghĩa trang của các lãnh đạo Trung Quốc
Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn từng là nơi chôn cất và thờ phụng các thái giám nhà Minh, trở thành nơi an táng các lãnh đạo cấp cao Trung Quốc sau 1949.

Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn nằm ở quận Thạch Cảnh Sơn, Bắc Kinh, cách đại lộ Trường An 15 km về phía tây. Trấn giữ hai bên cổng chính vào Bát Bảo Sơn là hai con sư tử đá và 4 cây bách cổ thụ. Trong ảnh là cổng chính vào nghĩa trang. Ảnh: Babaoshan.



Thời nhà Minh, Bát Bảo Sơn vốn là từ đường - nơi chôn cất và thờ phụng các thái giám. Năm Gia Tĩnh thứ 29 nhà Minh (năm 1550), thái giám Mạch Phúc cho sửa sang từ đường thành Hộ Quốc Tự với mục đích chấn hưng nhà Minh. Trước đó, Bát Bảo Sơn có Linh Phúc Tự, xây từ thời nhà Nguyên.

Trong ảnh là Hộ Quốc Tự trước khi cải tạo thành Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn. Ảnh: Nhật báo Nam Kinh.



Sau năm 1949, Hộ Quốc Tự được cải tạo thành Nghĩa trang cách mạng Bắc Kinh, rộng khoảng 100.000 m2. Năm 1970, thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ký quyết định đổi tên Nghĩa trang cách mạng Bắc Kinh thành Nghĩa trang cách mạng Bát Bảo Sơn Bắc Kinh (Nghĩa trang Bát Bảo Sơn). Trong ảnh là cổng chính vào khu vực đặt tro cốt của nghĩa trang. Ảnh: Bjflzx.



Nghĩa trang Bát Bảo Sơn chủ yếu phân thành hai khu vực: khu mộ và khu đặt tro cốt. Từ cổng chính đi vào là đến khu vực đặt tro cốt, gọi là Tro Cốt Đường. Tro Cốt Đường nằm ở chính giữa nghĩa trang, xây dựng năm 1958, cải tạo từ đại điện cũ của Hộ Quốc Tự. Ảnh: Wikipedia



Tro Cốt Đường có diện tích 2.400 m2, gồm 28 gian phòng đặt tro cốt. Những tro cốt đặt ở đây chia theo cấp bậc và chức vụ lúc sinh thời.

Trong 28 gian phòng này, Trung Nhất Thị là nơi đặt tro cốt của những lãnh đạo cao cấp Trung Quốc như nguyên soái Chu Đức, nguyên soái Trần Nghị, Đổng Tất Vũ - một trong 5 nhà sáng lập đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tro Cốt Đường không mở cửa cho người ngoài tham quan, chỉ thân nhân những người có tro cốt đặt tại đây có giấy chứng nhận mới được ra vào. Ảnh: Wikipedia



Bao quanh ba mặt bắc, tây, đông của Tro Cốt Đường là 11 bức tường có các hộc đặt tro cốt, gọi là Tro Cốt Tường, xây dựng từ năm 1988. Ảnh: Xinhua



Ngoài Tro Cốt Đường là khu mộ. Không giống với Tro Cốt Đường, khu mộ ở nghĩa trang Bát Bảo Sơn không phân chia cấp bậc, mà xây mộ cho người đã khuất phân thứ tự theo ngày tháng qua đời.

Bát Bảo Sơn có 11 khu mộ, bao phủ bởi rừng thông xanh mướt, mang không khí trầm mặc nghiêm trang. Ảnh: Wikipedia



Nghĩa trang Bát Bảo Sơn không chỉ là nơi chôn cất các nhà lãnh đạo Trung Quốc mà còn là nơi an táng của nhiều nhà khoa học, nhà báo quốc tế như nữ nhà báo người Mỹ Agnes Smedley, chôn tại nghĩa trang Bát Bảo Sơn năm 1951. Ảnh: Wikipedia



Nhà hỏa táng của Bát Bảo Sơn nằm ở phía đông Tro Cốt Đường, được xây dựng trong khuôn viên hình chữ L. Nhà hỏa táng xây từ năm 1958, đến nay đã qua nhiều lần cải tạo và mở rộng quy mô. Đây là nơi tổ chức lễ hỏa táng cho các lãnh đạo đảng và nhà nước Trung Quốc. Ảnh: Babaoshan.



Ngày nay, mỗi dịp tiết Thanh Minh, người dân Trung Quốc lại đến đây tảo mộ, tổ chức các hoạt động kỷ niệm nhớ ơn những người đã khuất. Trong ảnh là một gia đình Trung Quốc đi tảo mộ. Ảnh: Xinhua.

http://www.viedaily.com/the-gioi/bat-bao-son-nghia-trang-cua-cac-lanh-dao-trung-quoc-n132.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thua toàn tập rồi!


FB Châu Đoàn, 10-4-2017 - 

Tại sao tham nhũng ở Việt Nam diễn ra tràn lan và tỉ lệ ăn đớp kinh hoàng là vậy? Hôm trước chúng ta đã nghe tới vụ giám đốc ăn tới 6.5 tỷ trên tổng số tiền của một dự án là 8.5 tỷ. Và hàng ngày, chúng ta chứng kiến những tham nhũng ở mọi cấp độ, từ việc viết hoá đơn, đẩy giá lên cao, đưa tiền cho cảnh sát giao thông, đưa tiền để làm các thủ tục giấy tờ được nhanh hơn…

Thanh niên nam nữ trèo qua hàng rào sắt, thậm chí bế theo trẻ con để vào công viên nước tắm miễn phí – Ảnh: Nhất Nam/ báo TT.

Tại sao xã hội Việt Nam lại đang xấu xí và đáng khinh đến vậy? Nhiều lẽ:

1. Tôn giáo không đóng vai trò là phần hồn với đa số người Việt Nam. Nếu là một đất nước mộ đạo, con người tin ở những lời dạy tốt đẹp, những bài học cơ bản của con người như không nói dối, không ăn tiền bẩn thì thực trạng đã khác.

2. Văn hoá thấp kém. Tất nhiên, khái niệm văn hoá thì quá rộng lớn, trong ấy nó bao trùm cả tôn giáo, tôi coi văn hoá là phần hồn của cuộc sống. Một đất nước có đáng sống hay không, ấy là do văn hoá đất nước ấy có nhân văn không, con người đối xử với con người thế nào.

Thôi, đừng cất lời lải nhải những từ cũ mèm sáo rỗng như “thuần phong mĩ tục” hay “truyền thống tốt đẹp” gì nữa. Hãy nhìn thẳng và phải gật đầu đồng ý rằng văn hoá Việt Nam đang rất thấp kém. Chính văn hoá thấp kém, phần hồn của con người thấp kém nên lũ có chút quyền chức mới hối hả đớp nuốt như vậy. Tiêu chí duy nhất, lẽ sống duy nhất, lý tưởng cao cả nhất của chúng là tọng, tọng nữa tọng mãi cho đầy bụng. Những con vật có trí thông minh của con người, phần hồn na ná như con người nhưng không phải là người. Bởi con người khi cầm một miếng lên ăn, sẽ liếc nhìn bên cạnh xem đồng loại có đói không, nếu đói thì ân cần mời dùng cùng.

Bọn quản lý về văn hoá thì loay hoay với cấm bài hát nào, váy ca sỹ nên cách đầu gối mấy phân?

3. Bộ máy kiểm soát yếu kém và bản thân cũng thối nát. Bởi là một chế độ độc đảng nên không có đảng khác kiểm soát quyền lực, không có cơ chế phản biện nên những người cầm quyền tự tung tự tác. Nếu các đảng viên, là đồng chí của họ có mắc lỗi thì giơ cao đánh khẽ, phê bình để đồng chí của họ thấy “đau” mà không có sự nghiêm khắc công minh như kiểu Hàn Quốc.

4. Dân thì mỏi mệt, hèn nhát. Cũng đúng thôi, nội chiến 20 năm, mấy triệu người chết, giờ muốn nghỉ ngơi. Rồi tâm lý ngày xưa đói thế, giờ cơm no rồi, trước ước ao cái xe đạp, giờ có xe máy, ô tô, thỉnh thoảng lại bay trên trời như chim, sáng HN chiều SG, sướng quá rồi.

Bản chất nông dân ấy là thường. Hơi đâu mà đọc báo chí nước ngoài, mà cần gì phải mở mắt nhìn thế giới đang ở đâu?

Mà còn phải phấn đấu để thằng con trở thành công an hay người nhà nước nữa chứ. Hơi đâu mà đấu tranh, rồi tránh đâu?

5. Nói vậy chứ tivi, báo chí vẫn là một một kênh truyền thông lớn nhất ở VN. Dân vẫn còn xem tivi hàng ngày. Cứ ai đứng lên đấu tranh là bị quy chụp là thành phần phản động, là chịu thiệt thòi tù đày, đi tù mà trong lòng ngơ ngác không biết sự hy sinh của mình có tác dụng gì không, bởi cái xấu trong xã hội nhiều quá, sức lực và sự đóng góp của mình như muối bỏ bể.

6. Bọn được gọi là “trí thức” thì đa phần hèn nhát, chẳng dám mở miệng nói câu gì bất bình ở công luận, chỉ dám thỏ thẻ phàn nàn ở quán bia, cà phê, rồi uốn ngòi bút, nịnh nọt quyền lực.

7. Bọn vốn được gọi là giang hồ thì chẳng có chất gì gọi hảo hán, cướp giàu chia nghèo, rặt một lũ lưu manh, cũng bê đít quyền lực để kiếm miếng ăn, có đồng ra đồng vào nuôi gia đình, nuôi bồ và hút hít qua ngày.

Thôi rồi, hết hy vọng rồi, thua toàn tập rồi. Mở báo ra là tham nhũng, là cướp hiếp giết, là lừa đảo, là những quyết định với quy định lảm nhảm ngớ ngẩn của cục, bộ, ngành. Ngày nào cũng phải share những điểm tởm lợm bẩn thỉu, nhưng chẳng lẽ không share, không viết, lại thành bọn tu sĩ bất đắc chí, tu cho cái thân ấm, để được vào cõi niết bàn nơi hạ giới, để tâm được tĩnh, để được thấy vẻ đẹp của mây trôi, hoa nở, của thân xác người tình và mặc mẹ nhân quần đang đau khổ quằn quại ngoài kia?

Đừng cười mà bảo tôi quá bi quan. Sắp chết cmn đến đít hết rồi đấy. Ung thư cướp đi mấy trăm người một ngày, mấy cái vụ đánh bom ở nước ngoài chẳng là gì. Dân vẫn khổ, đầu óc vẫn thô sơ như mấy chục năm trước. Tôi biết nhìn vào đâu để mà lạc quan?

Nhưng chỉ có điều là sẽ chẳng bao giờ ngã lòng. Ta sẽ sống mạnh mẽ nhất có thể, sống để chửi những gì bẩn thỉu của xã hội này với hy vọng sẽ làm xã hội tiến bộ lên. Cuộc chơi còn thăm thẳm phía trước, phải mạnh mẽ chứ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang