Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 24 tháng 2, 2017

Thư Samurai gửi AQ



Đây là một bức thư của một người Nhật gửi cho những người China lục địa. Tôi đặt tựa đề bài viết là “Lời đắng của người Nhật dành cho người China”. Người Nhật này từng là sinh viên và sống ở China vào thời kì Cách mạng Văn hoá. Trong thư có nhiều nhận xét về con người China (mà họ tự gọi là “Trung Quốc”) được người Nhật này trình bày một cách thẳng thắn, không nhân nhượng. Người Nhật này cũng nói thẳng một điều mà bất cứ ai đến Nhật cũng biết: Người Nhật rất khinh người China. Nhưng đọc xong bức thư, tôi lại nghĩ không chừng người Nhật này một cách vô ý thức đang nói với chúng ta – những người Việt Nam! Thế mới đau chứ. 

 
Nhứt châm kiến huyết (Kim châm rỉ máu), lời vàng ngọc, chúng ta cần phải thực sự kiểm thảo và phản tỉnh.

Là một người Nhật Bản, tôi có đôi điều muốn cùng các bạn chia sẻ nơi đây về cái nhìn của tôi đối với người Trung Hoa. Tôi trước kia là một du học sinh của trường đại học Trung Quốc Nhân Dân,tôi đã ngu khờ sống ở Hoa Lục đến 5-6 năm, vì vậy tôi tin rằng tôi hoàn toàn có đủ tư cách để nói lên cái nhìn của tôi.

Về địa lý, Nhật Bản và Trung Hoa rất gần nhau, nhưng mà về tính cách thì hai dân tộc lại xa nhau một trời một vực,người Hoa Lục (Trung Cộng) cho tôi cảm nhận cái ấn tượng lúc ban đầu là rất tốt, nhưng về lâu về dài,thì những khuyết điểm đều bạo lộ hết ra ngoài,người Hoa Lục nhát gan, nịnh hót, hèn yếu, hư ngụy, xảo trá, thích làm tài khôn, và cái điều làm cho tôi không thể nào lý giải được là tại sao người Hoa Lục tự đối đãi với chính đồng bào ruột thịt của họ thì rất ư là vô tình, nhưng lại đối đãi với người ngoại quốc thì họ rất khép nép và cung kính.

Lúc tôi mới vừa đến Hoa Lục, bất quá thì tôi chỉ là một tên học trò nghèo khó, ấy thế mà tôi lại được đãi ngộ như là một "siêu quốc dân", kinh nghiệm của nhiều năm ở đó, cho tôi một ấn tượng rất sâu đậm, người Hoa Lục chẳng khác nào một thao cát rời rạc, người Hoa Lục đoàn kết một lòng là có, nhưng điều đó chỉ xảy ra ở vào những thời điểm đặc biệt, tỷ dụ như dân tộc họ đang đối diện với sự diệt vong,nhưng mà đó lại cũng không phải là một sự đoàn kết triệt để nữa, người Hoa Lục đối diện với Ngoại Đấu và Nội Tranh thì hầu như nghiêng về phần Nội Tranh nhiều hơn, người Hoa Lục hận nhứt là Hán Gian. Tôi không phải là kẻ xâm lăng (đối với vấn đề xâm chiếm Trung Hoa, tôi tôn trọng lịch sử, thừa nhận đó là cái lỗi lầm của Nhật Bản), người Hoa Lục đã nuôi dưỡng các cô nhi của chúng tôi trong thời kỳ chiến tranh,thế mà họ đã nhẫn tâm tàn hại đồng bào của họ ở thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa (thậm chí là giữa thân tình với nhau), những điều này thật tình tôi không làm sao mà hiểu nổi, nếu không phải là người Hoa Lục thì chẳng ai có thể mà hiểu được,các bạn là người Hoa Lục các bạn làm sao lý giải, nếu như nói người Hoa Lục là lương thiện, hư ngụy việc chi, tôi thật chẳng biết đó là chuyện gì, nếu như người Hoa Lục đơn thuần không có việc nồi da xáo thịt, thì đây có thể nói là lương thiện, nhưng khi xảy ra cuộc Cách Mạng Văn Hóa, thì tình huống đã đổi khác, thật tình mà nói, đối với việc làm của các bạn, tôi thấy chẳng có điểm nào để gọi là cảm ơn,nếu có thì chỉ là nghi vấn và không thể nào lý giải mà thôi.

Còn nữa, tôi cũng không thể nào hiểu nổi tại sao các bạn lại không nhận khoản tiền bồi thường sau chiến tranh của NhậtBản,không có một dân tộc nào giống như dân tộc người Hoa Cộng đối nội thì tàn bạo, nhưng đối ngoại thì lại ẩn nhẩn. Điều này đã làm cho tôi liên tưởng đến sự quan hệ giữa Do Thái và Đức Quốc. Thật lòng mà nói tôi rất thán phục người Do Thái, thái độ không khoan thứ không nhờ vả đối với người Đức của họ, đã tỏ rõ sự trọng thị quyền lợi và giá trị tự kỷ, họ không tha thứ người Đức, nhưng người Đức rất kính trọng họ, ngược lại,tại phương Đông, hiện thực người Nhật Bản rất khinh thị người Trung Hoa, các bạn vứt bỏ bồi khoản, các bạn tha thứ chúng tôi, chúng tôi vẫn hận các bạn,khinh thị các bạn, bỉ thị các bạn, nguyên nhân không phải tại chúng tôi, mà là do bởi tự chính các bạn, các bạn tự khinh tự tiện (đê tiện), người ngoài cũng không làm sao có cách để giúp các bạn, người Hoa Lục không có huyết tính, ý khí đã bị mài cùn lụt hết rồi,cái còn lại chỉ là hơi tàn, tự ti, và ngôn ngữ của các bạn hiện là sùng bái Tây Dương với cung cách nịnh hót để làm cho Ngoại Nhân vui thích.

Các bạn tự cho là Văn Minh Cổ Quốc, nhưng ngoại trừ những kiến trúc giết người rùng rợn, những văn vật trong các viện bảo tàng, sinh hoạt của người Hoa Lục trong hiện thực,có còn lưu lại cái bóng dáng văn minh truyền thống hay không? không sai, Nhật Bản đã từng chịu sự ảnh hưởng văn minh của Trung Hoa trong thời gian dài lâu, nhưng mà hiện tại sự bảo tồn văn hóa và duy trì được như xưa của người Hoa Lục lại chỉ ở Nhật Bản, Hàn Quốc, Tân Gia Ba, chứ không ở Hoa Lục. Các bạn đem thành tín, tiết nghĩa, lễ nghi, tứ thư ngũ kinh coi như bốn thứ đồ phế thải mà quét vào bãi rác, tiếng nói là kiến lập một xã hội mới, có ngờ đâu lại như thế này, các bạn dĩ nhiên là thấy rõ ràng hơn chúng tôi, một đằng thì tham ô hủ bại (lời quỷ dối người của các bạn: "hủ bại là vấn đề mà các nước trên toàn thế giới đều phải đối diện"), tham bạc mê vàng, ca kỹ dâm ô, chơi chó đua ngựa, còn đằng khác thì nghèo đến nổi cơm ăn chẳng đủ no. Làm đồ giả, Hoa Cộng không ai địch nổi, thổi phồng nói dóc, thấy lợi quên nghĩa, các bạn không có tín ngưỡng, tin chũ nghĩa Marxisme. Nếu mà Marx có biết được cái chủ nghĩa của ông ta mà là một cái xã hội như vậy, chắc là ông ta cũng phải tức chết đi thôi,tinh thần rổng tuếch, chẳng ai tin ai,thật không thể nào mà trách một cái thau cát rời rạc,người Hoa Lục hiện tại, với mức độ vô tri, ngu muội như thế nếu thụt lùi trở về ở thời của năm 1895 thì cũng chẳng tốt hơn được là bao nhiêu.

Trung Cộng là một đại quốc, nhưng mà về chính trị thì tuyệt đối là một kẻ yếu, các bạn từng trào tiếu Nhật Bản chúng tôi là chính trị ải tử (thằng lùn), nhưng mà chúng ta thử so sánh chế độ xã hội, coi xem cái xã hội nào trên thế giới ăn ngủ được ngon, xã hội chủ nghĩa chỉ còn có vài ba nước mà thôi, lại không đoàn kết, chuyên chế, độc tài, thế giới chẳng hoan nghinh, nhưng vì Trung Cộng bạn quá to lớn, cho nên được thấy là trọng yếu, nhưng các bạn vẫn luôn là đối tượng ở thế công chính trị đối với Tây phương, chưa bao giờ tự chủ động xuất kích (để cải thiện), lý do là vì các bạn không làm, nhân quyền bị thế giới lên án bao nhiêu năm? Ai đem nhân quyền là quyền sống tối đại của con người đi giáng cách (chà đạp nhân quyền)? Cách Mạng Văn Hóa, Bước Đại Nhảy Vọt, bao nhiêu cái sai lầm của chính phủ của các bạn, các ca xướng gia của các bạn vẫn hát: người dẫn đường cải cách khai phóng, dắt chúng tôi đi về hướng thời đại mới. Giờ thì không còn người dân Hoa Lục nào ngoan ngoản, nghe theo, ở vào thời đại văn minh như ngày nay, thì cái tình huống như thế thật là hiếm có rồi.

Các bạn người Hoa Lục đang tự hủy hoại chính mình, trí tuệ của chính mình, tài nguyên của chính mình. Kinh tế Hoa Lục các bạn phát triển nhanh, cái giá phải trả có xứng đáng không? Tài nguyên khô kiệt, môi trường sinh thái bị ác hóa. Nguồn tài nguyên năng lượng tuyệt vời của tỉnh Sơn Tây của các bạn, đã bị chính các bạn hoang phí hủy hoại đến thế nào, kinh tế lạc hậu, dân sinh suy thoái, tham quan hoành hành. Các bạn có biết chăng, thời Trung Hoa Dân Quốc thống trị Hoa Lục, Sơn Tây hãy còn là một tỉnh mô phạm, các bạn cũng chẳng biết địa vị của Sơn Tây trong lịch sử Trung Hoa, kinh tế của tỉnh Sơn Tây thịnh vượng ở thời Thanh triều, một nửa số quan tể tướng ở thời nhà Đường đều xuất thân từ tỉnh Sơn Tây, địa vị của Sơn Tây cao hơn xa so với thành phố Thượng Hải mà các bạn đã từng tự hào huênh hoang khen tặng, bây giờ các bạn hãy thử nhìn Sơn Tây, là sẽ biết ngay cái gì là cái khoảng cách giữa lịch sử và hiện thực rồi (GDP bình quân đầu người Hoa Lục là số 1 từ dưới chót đếm lên). Các bạn hoang phí và hủy hoại tài nguyên như thế, giả sử như Sơn Tây được mang cho Nhật Bản, chúng tôi sẽ rất trân trọng như là tổ tiên mà cung phụng để phát triển Sơn Tây, và Sơn Tây sẽ giàu mạnh hơn nhiều so với Bắc Kinh, Thượng Hải cường thịnh mà các bạn đã từng trọng thị. Các bạn kinh tế phát triển nhanh, rồi mừng rỡ mà dùng cái quái gì là Thượng Hải, là Bắc Kinh làm cửa sổ để ngắm nhìn, ngu xuẩn quá! Hai thành phố đó chiếm diện tích Hoa Lục là bao nhiêu, dân số bao nhiêu? Các bạn trường kỳ khinh thị nông dân, 9 trăm triệu nông dân mà không chiếu cố tốt cho họ,Hoa Lục các bạn sẽ phải đối diện với đại loạn rồi đó.

Lúc ở Bắc Kinh tôi đã có nói chuyện với một bà lão người đến từ tỉnh Sơn Đông, bà là người đã dắt hai đứa con gái của bà đến Bắc Kinh để cùng bán dâm, bà nói, nhờ ở thân xác mình mà có cơm ăn, không xấu hổ đâu,có xấu hổ chăng là cái xã hội này kìa, vì hơn 40 năm trước, chính quyền sở tại đã khua chiêng gióng trống mang mấy nghìn dân bản xứ (Sơn Đông) di dân đến Tân Cương, đưa đến vùng hoang vu sơn dã, để họ tự sinh tự diệt, số người bị chết nơi đó không biết là bao nhiêu,nhưng họ vẫn không cho trở về Sơn Đông, lén trốn về Sơn Đông cũng chẳng ích gì, Chính quyền nói, họ chẳng phải là người Sơn Đông,không có hộ khẩu,mấy mươi năm lưu lạc, tìm ai để đòi công lý? Những niềm vui công trạng lớn của các bạn, mấy chục tỷ công trình nói làm là làm, chúng tôi những người bị các bạn coi là nghững người Nhật Bản "khó tính", Hoa Lục giàu, nhưng mà số người thất nghiệp lại gia tăng, thêm một người thất nghiệp là xã hội sẽ có thêm một nhân tố bất ổn định cho xã hội. Các bạn không giải quyết,thu nhập của nông dân thấp,các bạn không quan tâm, khoảng cách giàu nghèo càng xa, các bạn lại làm như là chẳng thấy gì, cái mà các bạn thích là người ngoại quốc tán dương, cái điểm này nhiều người đã thấy rất rõ, các bạn hư vinh, xa xỉ, xã hội của các bạn hổn loạn, các bạn lại muối mặt không biết xấu hổ mà dám nói là thời của người Nhật đã hết rồi, Hoa Lục Cộng Sản đã vượt xa Hoa Kỳ rồi, ha ha, cái nhìn thiển cận!

Các bạn bất quá chỉ mới "cởi mở" hai mươi mấy năm, mà đã láo khoét như vậy, kinh tế Nhật Bản đang đình trệ, các bạn liều mạng "phát triển" mười năm vẫn không đạt được 1/4 tổng sản lượng kinh tế của Nhật Bản, vậy mà dám nói vượt xa Hoa Kỳ, chuyện thần thoại chăng? Còn nữa, tình hình thế giới không tốt cho các bạn, nhưng mà Nhật bản, nhờ vào chế độ ưu việt, người dân thật lòng, cùng với sự chân thành giúp đỡ của Tây Phương, là lý do đủ để tái phục hồi. Còn Hoa Lục bởi hình thái ý thức, chế độ, với Hoa Kỳ hoặc với các nước tự do khác không thể dung nhập cùng nhau, Hoa Lục ổn định cái gì, một khi mà xã hội hổn loạn,kinh tế băng hoại, các nước xung quanh không có ai ủng hộ, cũng bởi vì nước của các bạn trước sau vẫn luôn cho người ta cái nhìn phản cảm. Bởi vậy Nhật Bản tuy thua trận, vẫn có cơ hội vươn lên,Hoa Lục thua, chắc chắn sẽ hoàn toàn chia năm sẽ bảy, Các quốc gia xung quanh đều mong muốn Hoa Lục như vậy, nước Nga chẳng muốn các bạn được yên, Ấn Độ hận các bạn, Đông Nam Á hận các bạn, bởi vậy hoàn cảnh của các bạn rất là tệ hại và bấp bênh, ấy thế mà các bạn vẫn chẳng hề thấy được cái nguy cơ đó,vẫn cảm giác lương hảo,như vậy rõ ràng là quá ngu muội.

Trong những sắc dân Đông Phương,chúng tôi tôn kính người Hàn Quốc, bởi vì họ và chúng tôi rất giống nhau, có máu có thịt, dám nói dám làm, lịch sử của chúng tôi và của các bạn đã từng có vấn đề va chạm nhau,người Hàn Quốc từ ông tổng thống đến quốc dân đều có thể kháng nghị, Trung Cộng thì chỉ có vài ba người phát ngôn của bộ ngoại giao với sự hiểu biết thiển cận không biết khinh trọng chỉ biết ở đó ý ý á á. Ha ha, đấy là cái sự khác biệt đó, Người Hàn Quốc hận chúng tôi, nhưng chúng tôi kính trọng người đối thủ này, bạn hận hay không hận chúng tôi, chúng tôi cảm nhận không có chuyện gì để nói, bởi vì tính cách của các bạn, phẩm hạnh của các bạn cho thế giới thấy rõ, người Hoa Lục không có tính thẳng thắn, cương trực. Hiện tôi đang suy nghĩ, Không quên việc trước (lịch sử) sẽ là thầy của việc sau (tiền sự bất vong hậu sự chi sư), như vậy, cuối cùng, giữa Nhật và Hoa Cộng ai là người đã bỏ quên lịch sử?

Chúng tôi tham bái thần xã, sửa lại sách giáo khoa lịch sử, nói rõ là chúng tôi không có quên cái giai đoạn lịch sử đó, còn các bạn? Những người bị hại trong thế chiến thứ hai? Các bạn chỉ vì lo tranh chấp trong đảng phái, mà không nghĩ đến đại nghĩa của dân tộc. Nói gì đến cái chuyện trong 8 năm kháng chiến, dưới sự lãnh đạo của đảng cộng sản Trung Hoa, sách sử của các bạn viết về giai đoạn lịch sử đó so với chúng tôi sao nó quá mơ hồ không rõ ràng, là bởi vì các bạn tự bóp méo lịch sử, ha ha! (một lần nữa cho thấy rõ là nội tranh nặng hơn ngoại kháng) các bạn chửi chúng tôi là không nhìn thẳng vào vấn đề xâm lược Trung Hoa, làm thương tổn đến cảm tình người dân Hoa Lục, thế còn các bạn thì sao? Qua nhiều lần vận động "cải tổ" chính trị,các bạn đã có nhìn thẳng vào sự bức hại của mình đối với người dân hay chưa? Có nhìn thẳng vào sự hủy hoại của cách mạng văn hóa hay chưa? Các bạn cần phải trực thị với rất nhiều điều sai lầm đó, Đó là do ai(?) đã làm tổn hại cảm tình của người dân Trung Hoa vậy hở? Làm phim Tàn Sát Thành Nam Kinh, trong số các bạn lại có những người vô lương đã thốt lên là tại làm sao không có nhiều màn hiếp dâm trên ống kín.

Các bạn người Hoa lục là cái kiểu như vậy, làm sao kêu người ta chấp nhận được hỉ, các bạn có thể không có khả năng,nhưng các bạn lại còn không cần đến nhân cách, người Mỹ đánh chúng tôi đến gần chết, chúng tôi không hận họ, chúng tôi bội phục họ, Hàn Quốc bị chúng tôi thống trị qua, bây giờ họ đã thành công lập được kỳ tích kinh tế, họ dám tranh đấu và dám làm, chúng tôi kính phục họ, còn các bạn người Hoa Lục cộng sản thì chẳng có được một cái điểm nào để cho chúng tôi coi trọng cả, hãy cố gắng phản tỉnh đi, các bạn đất rộng và giàu tài nguyên, lịch sử lâu đời, thế mà phải thua dưới tay chúng tôi, các bạn không cảm thấy xấu hổ hay sao? Một cái thau cát rời rạc sinh ra đầy chật ních đám người toàn chia rẻ, thời đại của các bạn giờ còn có thể sinh ra được những chí sĩ gì nữa hay không? Trung Hoa Dân Quốc còn có Lỗ Tấn, Thái Ngạc, Chu Tự Thanh là những người mà chúng tôi bội phục. Bây giờ các bạn ngoài những tay tham quan, hư hoa học giả, những phần tử tư tưởng khiếp hèn, thì còn có cái gì nữa đâu? Các bạn chẳng đã từng nói muốn vun bồi tài năng người bản địa để họ đượclàm chủ nhân của những giải thưởng hòa bình Nobel hay sao? Tại vì sao đến bây giờ vẫn chẳng có được vậy? Vụ máy siêu điện toán dùng chip Loongson của các bạn,tần số chủ mới chỉ có 266Hz (Hertz), thế mà dám lớn lối thổi phồng đòi thương nghiệp hóa, ha ha! người Hoa Lục, húng tôi kính phục các bạn cái gì chứ? người cùng cội rể đồng tông Tân Gia Ba ở thời kỳ SARS cũng đã phải chế tài các bạn một lúc, sự kiện La Cương,đã làm cho người ta không làm sao hiểu nổi,hởi những người Trung Hoa chia rẻ, người Do Thái tề tâm như thế ấy, các bạn lại phân hóa như thế này,các bạn một tỷ mấy người,một tỷ mấy cái tư tưởng rời rạc, chúng tôi một trăm triệu người Nhật Bản đều cùng nhau suy nghĩ làm sao để đưa quốc gia chúng tôi thoát ra khỏi cảnh khó khăn, tất cả chúng ta đều cùng sống trên quả địa cầu này, rõ thật thú vị lạ lùng!

Sự kiện La Cương: Đài phát thanh tỉnh Hồ Nam,ngày 25/02/2003 lúc 0giờ 16 phút do ông La Cương phụ trách chương trình trực thoại truyền thanh, có phát đi lời nhục mạ người Hoa Lục của một thính giả người Nhật tên là Tiểu Nguyên Kính Thái Lang trong 3 phút. Kết quả là ông La Cương và một số đồng sự bị cho nghỉ việc cũng như bị phạt vạ tiền.

(Theo Blog Nguyenvantuan.net- Tựa do Nguoiquelua đặt)


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ buông lỏng quản lý đến gây hại cho quốc gia

>> Triều Tiên kêu gọi Malaysia thả tự do cho Đoàn Thị Hương

>> Sát thủ giết ông Kim Jong-nam dùng chất cực độc VX thuộc loại hủy diệt hàng loạt


Quốc Nam
















MTG - Liên quan đến việc Formosa Hà Tĩnh xả thải làm cá chết hồi tháng 4.2016 tại 4 tỉnh miền Trung, Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã điểm mặt chỉ tên những lãnh đạo Bộ Tài nguyên - Môi trường nhiệm kỳ 2008-2016, lãnh đạo Hà Tĩnh 2 nhiệm kỳ liên tiếp 2004-2011, 2011-2016 có liên quan. Những sai phạm này là chưa từng có tiền lệ trong một quá trình kéo dài khiến nguồn lực quốc gia bị ảnh hưởng và người dân thì khó khăn vô cùng.

Đối với lãnh đạo Bộ Tài nguyên - Môi trường (TN-MT), Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ rõ: “Thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát; để xảy ra các vi phạm trong công tác thẩm định, phê duyệt, chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, điều chỉnh địa điểm xả thải và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh”. 

Một loạt tên tuổi từ người đứng đầu Bộ TN-MT đến các cấp dưới giai đoạn 2008-2016 bị Ủy ban Kiểm tra Trung ương chỉ ra gồm ông Nguyễn Minh Quang nguyên Bộ trưởng; ông Bùi Cách Tuyến nguyên Thứ trưởng, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường; ông Nguyễn Thái Lai nguyên Thứ trưởng, chịu trách nhiệm trực tiếp về những vi phạm thuộc lĩnh vực được phân công phụ trách và cùng chịu trách nhiệm về các vi phạm, khuyết điểm của Ban Cán sự đảng Bộ TN-MT; ông Mai Thanh Dung trong thời gian giữ chức vụ Cục trưởng Cục Thẩm định, đánh giá tác động môi trường; và ông Lương Duy Hanh, Cục trưởng Cục Kiểm soát hoạt động bảo vệ môi trường, đã thiếu trách nhiệm trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao. Những ông này và Ban cán sự đảng Bộ TN-MT có vi phạm, khuyết điểm “nghiêm trọng, đến mức phải xem xét thi hành kỷ luật”.

Với tỉnh Hà Tĩnh, Ủy ban Kiểm tra Trung ương nêu: “Ban Cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh các nhiệm kỳ 2004-2011, 2011-2016 đã thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo; buông lỏng quản lý, điều hành; thiếu kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện dự án; để xảy ra các vi phạm trong thẩm định, phê duyệt, cấp phép và quản lý nhà nước đối với dự án Formosa Hà Tĩnh”. Các ông Võ Kim Cự trong thời gian giữ cương vị Phó bí thư Tỉnh ủy, Bí thư Ban Cán sự đảng, Chủ tịch UBND tỉnh nhiệm kỳ 2011-2016, Phó chủ tịch UBND tỉnh kiêm Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế (2008-2010) và trách nhiệm của ông Hồ Anh Tuấn Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Vũng Áng (2010-2016) là nghiêm trọng, phải xem xét thi hành kỷ luật.

Một loạt cán bộ hiện thời làm lãnh đạo cấp cao của Hà Tĩnh cũng bị nêu tên và phải tổ “chức kiểm điểm sâu sắc, nghiêm túc rút kinh nghiệm; đồng thời, chỉ đạo kiểm điểm, xem xét kỷ luật đối với những cán bộ thuộc thẩm quyền theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương”, văn bản của Ủy ban nhấn mạnh. Đó là các ông: Lê Đình Sơn, Đặng Quốc Khánh, Dương Tất Thắng, Nguyễn Nhật trong thời gian giữ cương vị Ủy viên Ban Cán sự đảng UBND tỉnh Hà Tĩnh có phần trách nhiệm.

Sự buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm ở đây là gì? Bộ TN-MT dưới thời ông Nguyễn Quang Minh làm Bộ trưởng đã chấp thuận thay đổi đánh giá tác động môi trường, điều chỉnh địa điểm xả thải và quản lý nhà nước với dự án Formosa. Công nghệ luyện cốc từ dập khô ít ô nhiễm môi trường hơn đã bị thay bằng công nghệ dập ướt nhưng Bộ TN-MT đã “chấp thuận” để rồi hậu quả là cá biển 4 tỉnh miền Trung gồm Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế chết khiến hàng loạt ngành nghề khác khốn đốn theo.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã nghiêm khắc chỉ ra những vấn đề nghiêm trọng khiến nguồn lực người dân và nguồn lực quốc gia ảnh hưởng theo chiều hướng quá xấu. Vậy nhưng cho đến nay, ngành TN-MT từ Sở TN-MT Hà Tĩnh đến Bộ TN-MT vẫn chưa thực sự nghiêm túc nhận khuyết điểm, kỷ luật 4 nhân sự thì không thông báo rộng rãi tên tuổi của những cá nhân liên quan. Báo chí đưa tin: “Cách chức Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy Tổng cục Môi trường nhiệm kỳ 2015-2020, đồng thời kỷ luật hành chính bằng cách giáng chức, điều động sang đơn vị khác làm việc đối với 1 Phó tổng cục trưởng Tổng cục Môi trường; khiển trách và cảnh cáo, điều động sang đơn vị khác làm việc đối với 2 trưởng phòng, 1 phó trưởng phòng thuộc Tổng cục Môi trường”.

Chẳng lẽ, danh tính của những kẻ làm sai, buông lỏng quản lý, thiếu trách nhiệm được ưu tiên bảo mật, còn cá chết làm điêu đứng ngư dân, gây hại cho hàng loạt nghề nghiệp liên quan khác không quan trọng như việc giữ kín tên của những người cầm trịch giữ sạch môi trường đã “nhúng chàm” cho doanh nghiệp luyện sắt giết chết biển miền Trung?

Riêng tỉnh Hà Tĩnh, mãi tháng 12.2016 mới kỷ luật khiển trách 4 cán bộ công chức cấp xã thuộc UBND thị xã Kỳ Anh, ngoài ra Trưởng phòng Thẩm định - Đánh giá tác động môi trường (Sở TN-MT), 1 Phó trưởng phòng Cảnh sát môi trường (Công an tỉnh) cũng bị khiển trách. 

Hậu quả mà Formosa gây ra đến nay vẫn dằng dai và còn kéo dài nhiều hệ lụy chưa thể phục hồi mọi nguồn lực như trước đây. Nhiều xã biển hùng mạnh ở Quảng Bình, Hà Tĩnh, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế không đánh bắt gần mà mà tàu thuyền chuyên đánh bắt xa bờ có sản lượng đánh bắt năm 2016 lớn hơn năm 2015 nhưng tiền bán ra ít hơn năm 2015 vì cú xả thải làm cá gần bờ chết khiến người làm ăn khơi xa khó khăn.

Ngành du lịch các địa phương thiệt hại khốc liệt, chỉ riêng Quảng Bình đã mất đi gần 2.000 tỉ đồng so với năm 2015. Từ người sản xuất tăm tre, đến người bán cá, nhân viên du lịch, buôn bán rau… đều thiệt hại ngoài sức tưởng tượng. Nhưng việc kỷ luật các cá nhân, tập thể liên quan với Hà Tĩnh làm như chiếu lệ, cho có, bằng cách thức cùng lắm “khiển trách” như trêu ngươi.

Nhưng Ủy ban Kiểm tra Trung ương đã có thông báo chính thức trước truyền thông và dư luận, rằng cá nhân đã về hưu vẫn phải xem xét thi hành kỷ luật. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Hà Tĩnh, lãnh đạo đương nhiệm gồm Bí thư Tỉnh ủy Lê Đình Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Đặng Quốc Khánh, ông Dương Tất Thắng-  Phó chủ tịch UBND tỉnh, ông Nguyễn Nhật phải tổ chức kiểm điểm. 

Buông lỏng quản lý, gây hại cho hàng vạn người dân và tổn hại hình ảnh quốc gia không phải chỉ khiển trách qua loa chiếu lệ với nhân viên cấp dưới, mà lãnh đạo đương nhiệm hay về hưu cũng phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Thông báo của Ủy ban Kiểm tra Trung ương là bước đầu tiên để có căn cứ tiếp theo và dư luận hy vọng các hình thức thích đáng sẽ công bằng với “tội trạng” thay đổi đánh giá tác động môi trường, “buông lỏng quản lý”, “thiếu trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ đạo”, “gây hậu quả nghiêm trọng” của họ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

nguyễn phi khanh- nhà nho khoáng dật, sầu muộn và lỡ thời- phần 2/4



Rồi mọi việc cũng ổn, mọi người đoàn tụ tại kinh thành. Nguyên Đán từng mời con rể dự tiệc Trùng cửu, tiếp tục an ủi chàng nỗi đau công danh lận đận (Xem Thơ văn Lý – Trần III, 161). Trong tiệc ngà say, Nguyễn ca hát váng trời.
Nguyên Đán đối đãi chàng rể bình dân bằng lòng quý trọng tài năng thật sự, ông cho chàng một chú ngựa để có phương tiện đi làm. Ứng Long xúc động cảm tạ bằng thơ:
謝冰壼相公賜馬
早歲才名泛不羈, 
驪黃偶幸駿圖披。 
長途每恨加鞭策, 
空谷何心受縶維。 
伯樂廄邊頻賞識, 
王良範內更驅馳。 
東風快踏朝天路, 
希冀深懷答所知。
Tạ Băng Hồ tướng công tứ mã
Tảo tuế tài danh phiếm bất ky, 
Ly, hoàng ngẫu hạnh tuấn đồ phi. 
Trường đồ mỗi hận gia tiên sách, 
Không cốc hà tâm thụ trấp duy. 
Bá Nhạc cứu biên tần thưởng thức, 
Vương Lương phạm nội cánh khu trì. 
Đông phong khoái đạp triều thiên lộ, 
Hy ký thâm hoài đáp sở tri.
Cảm tạ Tướng công Băng Hồ cho ngựa
Tuổi trẻ, mang tiếng buông tuồng như ngựa thiếu dàm, 
(Chẳng mong) ngựa ô, ngựa vàng, bỗng may được tuấn mã đẹp như tranh. 
Trên đường dài, thường giận người thúc giục, 
Nơi lũng không, lòng nào chịu buộc ràng! 
Bên chuồng ngựa Bá Nhạc, nhiều lần được khen ngợi, 
Trong khuôn phép Vương Lương, càng ra sức ruổi giong. 
Nhanh đạp gió xuân trên đường đi chầu trời, 
Tận đáy lòng mong có ngày đáp đền tri ngộ.
Bài thơ chồng chất những điển tích ẩn chứa tâm sự riêng của Ứng Long và tình cảm trân trọng đối với nhạc phụ. Hai câu 3, 4 tác giả nói về ngựa, cũng là nói về mình. Vị “quan lang” Tiến sĩ buồn bực khi bị cấp trên, chắc trình độ kém thua, gây sức ép trong công việc. Mỉa mai hơn, Ông cố gắng cũng vô ích vì chẳng ai quan tâm đến nổ lực đó. Vợ họ Trần nhưng bản thân bị Nghệ tông ghét, đó chính là bi kịch đời Ông. Câu 4 lấy ý từ bài ca Bạch Câu, Kinh Thi, trong đó có đoạn tương tự cách đối xử nồng ấm của Nguyên Đán đối với chàng Nguyễn:
皎皎白駒,賁然來思。 
爾公爾侯,逸豫無期。 
慎爾優游,勉爾遁思。
Hiệu hiệu bạch câu, bôn (bí) nhiên lai tư.
Nhữ công nhữ hầu, dật dự vô ky.
Thận nhữ ưu du, miễn nhữ tuần tư.
Ngựa trắng rực rỡ, nếu ghé thăm ta. 
Mày sẽ là công hầu, hạnh phúc sẽ vô biên. 
Hãy cẩn thận việc rong chơi nhàn nhã, hãy cố chống ý muốn ẩn dật.
(Trích Bạch Câu, Kỳ Phụ chi thập, Kinh Thi)
Chúng ta từng bắt gặp ý này qua bài thơ “Ký tặng Nhị Khê Kiểm chính Nguyễn Ứng Long”, Gửi tặng Kiểm chính Nguyễn Ứng Long người Nhị Khê.
Chú ngựa trắng được đối xử rất tốt:
皎皎白駒,食我場藿。 
縶之維之,以永今夕。 
所謂伊人,於焉嘉客。
Hiệu hiệu bạch câu, thực ngã tràng hoắc.
Trập chi duy chi, dĩ vĩnh kim tịch.
Sở vị y nhân, ư diên gia khách.
Ngựa trắng rực rỡ, ăn trên đồng lá đậu của ta. 
Buộc chân buộc vòng cổ mày, để kéo dài buổi tối nay. 
Bảo người kia biết, cứ làm khách quý ở đây.
(Trích Bạch Câu, Kỳ Phụ chi thập, Kinh Thi)
Một đoạn khác nói giúp tâm tình bất mãn dày vò viên quan trẻ đồng thời xiển dương cách nhìn và ứng xử với nhân tài của cha vợ:
皎皎白駒,在彼空谷。 
生芻一束,其人如玉。 
毋金玉爾音,而有遐心。
Hiệu hiệu bạch câu, tại bỉ không cốc.
Sinh sô nhất thú, kỳ nhân như ngọc.
Mưu kim ngọc nhữ âm, nhi hữu hà tâm.
Ngựa trắng rực rỡ, tại hẻm núi trống không kia. 
(Ôm) Một bó cỏ tươi, người ấy lấp lánh như ngọc. 
Chớ để âm hao hiếm như vàng như ngọc, chớ mang lòng cách xa.
(Trích Bạch Câu, Kỳ Phụ chi thập, Kinh Thi)
Chú ngựa Ứng Long đang ở trong hẻm núi thiếu cỏ. Không cao lương mỹ vị hà cớ gì tuấn mã phải chịu buộc ràng? Suy nghĩ của chàng Nguyễn thiên về cá nhân như giới trẻ ngày nay; mạnh mẽ hơn, Ông dám nói điều khó nói. Quả là hiện tượng lạ trong xã hội xưa vốn thiên về nghĩa vụ.
Bá Nhạc, theo huyền thoại Hoa Hạ cổ, là thần cai quản ngựa trên trời. Về sau, ai giỏi xem tướng ngựa đều được gọi là Bá Nhạc. Ứng Long mượn chuyện xưa tôn vinh nhạc phụ ở kỹ năng nhìn ra nhân tài và tạo cơ hội để người tài phát triển. Nịnh bố vợ nhưng chàng cũng tỏ ý cao ngạo ngầm.
Vương Lương, người đời Xuân Thu, tài điều khiển ngựa. Ứng Long muốn nói sẽ cố gắng hết mình dưới sự điều khiển của nhạc gia.
Nguyễn thực hiện đúng cam kết của mình. Nhiệm vụ nối liền Thăng Long – Thiên Trường được viên quan nhỏ ở Sảnh thực hiện cần mẫn. Xa nhà thường xuyên khiến chàng trai chín chắn chạnh tình thương nhớ vợ:
天長舟中其二
一篷煙雨泛晴春, 
紫閣鶯花夢裡人。 
湖海四年多病疾, 
扁舟愁殺未歸人。
Thiên Trường chu trung kỳ 2
Nhất bồng yên vũ phiếm tình xuân, 
Tử các oanh hoa mộng lý nhân. 
Hồ hải tứ niên đa bệnh tật, 
Thiên chu sầu sát vị quy nhân.
Trong thuyền ở Thiên Trường kỳ 2
Kẻ dạn dày trên chiếc thuyền phiêu bồng trong xuân tươi, 
Chính là người trong mộng của oanh hoa gác tía. 
Bốn năm hồ hải nhiều bệnh tật, 
Trong thuyền con, khách chưa về buồn chết được!
Ứng Long có xu hướng trầm trọng hóa điều mình chịu đựng, ngoài thủ pháp văn chương, nó phản ánh tâm hồn quá nhạy cảm theo hướng tiêu cực. Hai câu đầu đưa chúng ta ngược về bài hành Lũng Tây nổi tiếng, khi Trần Đào (812 – 885) nhìn thấy đống xương bên sông Vô Định, di cốt lương nhân của nhiều phụ nữ xuân sắc, những người vẫn ngỡ chồng mình sẽ trở về. Ông chỉ nhiều bệnh, gắn kết mình với đống xương trắng làm người đọc kinh hoảng. Dựa vào thông tin “bốn năm hồ hải”, suy đoán bài thơ ra đời khoảng năm 1378.
Ông có nhiều thơ tả tâm trạng khi dưỡng bệnh tại quê nhà, đa số sáng tác vào mùa thu như “Thu dạ tảo khởi ký Hồng châu Kiểm chính”, Đêm thu dậy sớm viết gửi quan Kiểm chính người Hồng châu; “Bệnh trung hoài Hồng châu Kiểm chính Nguyễn Hán Anh ‘Thu dạ’ vận”, Đương bệnh, nhớ vần bài thơ ‘Thu dạ’ của quan Kiểm chính người Hồng châu Nguyễn Hán Anh; “Thôn cư”, Ở quê. Quá trình làm quan của Ông do bệnh hoạn nên nhiều lần gián đoạn.
Có lẽ sau bài thơ “bốn năm hồ hải” trên, Ông phát bệnh nên phải về quê tĩnh dưỡng. Mùa hạ năm 1379, Toàn Thư ghi nhận hạn hán lớn gây nạn đói. Năm 1384, có đợt hạn khác nặng tới mức triều đình phải làm lễ cầu mưa. Tuy nhiên, trong đợt hạn sau Ứng Long chứng kiến cảnh sửa soạn cầu đảo tại triều đình nên ta có thể đoán bài thơ dưới đây được sáng tác nhằm đợt hạn 1379.
村居感事寄呈冰壼相公
稻畦千里赤如燒, 
田野咻嗟意不聊? 
后土山河方滌滌, 
皇天雨露正迢迢。 
吏胥網罟渾多竭, 
民命膏脂半已消。 
好把新詩當奏牘, 
只今臥病未能朝。
Thôn cư cảm sự ký trình
Băng Hồ tướng công
Đạo huề thiên lý xích như thiêu, 
Điền dã hưu ta ý bất liêu? 
Hậu thổ sơn hà phương địch địch, 
Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều! 
Lại tư võng cổ hồn đa kiệt, 
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu. 
Hảo bả tân thi đương tấu độc, 
Chỉ kim ngoạ bệnh vị năng triều.
Ở quê, xúc động trước sự việc viết trình tướng công Băng Hồ
Ruộng nước khô đỏ như cháy kéo dài nghìn dặm, 
Đồng quê dậy tiếng than van không biết sống cậy vào đâu? 
Núi sông của thần đất đang trơ trụi, 
Mưa móc tự trời cao còn xa vời! 
Quan lại dùng hình pháp vét kiệt nơi nơi, 
Mỡ dầu của dân đã bị ép mất một nửa. 
Xin dâng bài thơ mới thay cho tờ tấu, 
(Vì người) Hiện đang nằm bệnh chưa thể vào triều.
Tình trạng xã hội rối loạn khởi đầu từ nạn đói kém, mất mùa liên tục trong ba năm 1343, 1344, 1345 chứ không đơn thuần do các vua Trần cai trị tồi. Nhờ những tìm tòi gần đây, chúng ta có thêm phương tiện để quan sát diễn biến thời cuộc giai đoạn này từ góc độ tự nhiên, qua đó suy nghĩ khoan dung hơn với triều đại.
Để tìm hiểu nguyên nhân sụp đổ của đế quốc Angkor từ góc nhìn mới, Brendan M. Buckley cùng cộng sự đã dùng phương pháp phân tích vòng tăng trưởng của thông pơ mu (lấy mẫu ở Lâm Đồng, Việt Nam) và đưa ra thông tin về sự thay đổi thời tiết khác thường trong quãng thời gian từ giữa đến gần cuối thế kỷ XIV và quãng thời gian ngắn hơn vào đầu thế kỷ XV (3). Sự thay đổi gây hạn hán nặng nề xen kẽ mưa nhiều quá mức. Gió mùa rối loạn, thời tiết có xu hướng lạnh giá. Đối chiếu với kết quả trên, có thể tóm lược ghi nhận thiên tai từ giữa đến gần cuối thế kỷ XIV trong Toàn Thư như sau:
– Năm 1343: mất mùa, đói kém, nhiều người dân trở thành trộm cướp, nhất là gia nô các vương hầu.
– Năm 1344: Ngô Bệ, người Trà Hương, họp đảng ở núi Yên Phụ để đi trộm cướp. Năm ấy mất mùa, đói kém, nhiều người đi làm tăng và làm gia nô cho thế gia.
– Năm 1345: mùa hạ, tháng 4 và tháng 5 đại hạn.
– Năm 1346: Chiêm Thành sang cống, lễ vật rất ít.
– Năm 1348: mùa hạ đại hạn, mùa thu nước to.
– Năm 1351: mùa thu, tháng 7, nước to.
– Năm 1352: vỡ đê Bát Khối, ruộng lúa bị ngập, năng nhất tại Hồng châu, Khoái châu và phủ Thuận An.
– Năm 1354: vì đói kém, dân gian khổ bởi trộm cướp. Tên Tề, xưng là cháu ngoại Trần Hưng Đạo, tụ tập gia nô các vương hầu cướp bóc Lạng Giang và Nam Sách. Mùa thu, tháng 9, có sâu lúa,
– Năm 1355: tháng 3 đến tháng 6 đại hạn, tháng 7 lại mưa to, nước lớn.
– Năm 1358: đại hạn và sâu ăn lúa, cá chết nhiều.
– Năm 1359: mưa lớn, nước to trôi cả nhà cửa, thóc lúa bị ngập.
– Năm 1360: nước to. Ngô Bệ bị giết.
– Năm 1362: sao chổi mọc. Đại hạn. Lại mưa to. Tha tù, giảm phân nửa tô thuế. Đói to.
– Năm 1369: mưa to gió lớn.
– Năm 1374: đại hạn.
– Năm 1379: đại hạn, đói to.
– Năm 1382: có nước to.
Dù Toàn Thư không đề cập thiên tai trong năm 1384, ta được biết năm này bị hạn qua bài thơ “Giáp Tí hạ hạn, hữu sắc chư lộ đảo vũ, vị đảo nhi tiên vũ”, Nhân hạn mùa hè năm Giáp Tí, có sắc chỉ cho các lộ cầu mưa, chưa cầu đã mưa, của Nguyễn Ứng Long.
Hạn hán đi kèm nước to sau đó diễn ra nhịp độ cao từ năm 1342 đến năm 1362. Có khoảng mưa thuận gió hòa kéo dài 7 năm sau đó. Chỉ năm 1369 có mưa to gió lớn nhưng thời tiết ổn định trở lại đến giữa năm 1374. Sau đó, thiên tai có xu hướng diễn biến ở nhịp độ thưa dần.
Thay đổi thời tiết không chỉ làm hệ thống thủy lợi khu vực Angkor bị thoái hóa, sản lượng nông nghiệp sụt giảm, dẫn đến sự suy yếu của đế quốc lừng lẫy một thời. Đại hạn xen lẫn lụt lội khác thường cũng phá vỡ nền tảng xã hội Đại Việt thời mạt Trần. Hoạt động của Chiêm Thành như cống lễ vật đạm bạc, thường xuyên cướp phá lân bang cũng phản ánh sự đói kém của xứ này. Thời tiết tương đối ổn định từ năm 1362 đến 1369, là thời gian vua Dụ Tông buông tuồng phóng túng, có thể do việc thu thuế của triều đình có khả quan hơn. Từ năm 1370 đến giữa năm 1374, sau biến loạn Dương Nhật Lễ, thiên tai tạm vắng bóng khiến thịnh thế thời “trung hưng” xuất hiện. Câu thơ “Triệu tính âu ca lạc thịnh thì”, Dân chúng ca hát vui đời thịnh trị, của Trần Nguyên Đán được sáng tác ngay sau khi hoàn tất khoa thi Tiến sĩ, chỉ hai tháng trước thời điểm xuất hiện kỳ đại hạn mới.
Ứng Long dưỡng bệnh, ghi nhận sự kiện và sẽ vào triều. Ông gián đoạn công việc chứ không phải về quê do bị biếm hay xin thôi chức.
Ngoài hạn hán, chiến tranh diễn ra liên miên, trải dài từ biên giới phía nam đến tận kinh thành trong quãng 1379 đến 1384. Năm 1384, nhà Minh lại bắt đầu đánh Vân Nam, yêu cầu Đại Việt cung cấp quân lương. Kinh tế đã lao đao càng thêm bế tắc.
Thời gian Duệ Tông chuẩn bị chiến dịch đánh Chiêm Thành (1377), nguồn lực quốc gia bị vét kiệt. Dĩ nhiên, người chịu đựng là dân thường chứ không phải quý tộc. Mặt khác, cũng như vào thời suy của bất kỳ triều đại nào, hệ thống quan lại hủ bại trở thành môi trường nguy hiểm cho người lương thiện. Sau khi Duệ Tông thất trận, đại quân tan rã, tình hình an ninh các phủ lộ cực nam vô cùng rối loạn. Ngự Câu Vương Húc bị bắt trong trận thua của Duệ Tông ở Đồ Bàn, nay lại theo quân Chiêm Thành cướp phá Nghệ An, tiến thẳng đến kinh sư. Bài thơ dưới đây có lẽ được làm ra ít lâu sau vụ Thăng Long thất thủ lần thứ 2 (1378) khi Ông cùng Hán Anh công vụ tại Thiên Trường.
洪州檢正以余韻作術懷詩
見復用其韻以贈
其一
萬姓嗷嗷待哺裘, 
誰家金玉亞高丘? 
人情艱險君方轂, 
世路風濤我亦舟。 
帝里客懷逢暮雨, 
書房舊話念英遊。 
西風刮夢傳邊信, 
腸斷南壖四五州。
Hồng Châu kiểm chính dĩ dư vận tác thuật hoài thi, kiến phục dụng kỳ vận dĩ tặng
Kỳ I
Vạn tính ngao ngao đãi bộ cầu.  
Thuỳ gia kim ngọc á cao khâu!  
Nhân tình gian hiểm, quân phương cốc,  
Thế lộ phong đào, ngã diệc châu.  
Đế lý, khách hoài, phùng mộ vũ,  
Thư phòng, cựu thoại, niệm anh du. 
Tây phong quát mộng truyền biên tín,  
Trường đoạn nam nhuyên tứ ngũ châu.
Quan Kiểm chính Hồng châu dùng vần của tôi làm thơ thuật hoài,
nay tôi cũng dùng vần ấy làm thơ tặng lại.
Kỳ 1
Muôn họ xao xác chờ cơm áo,  
Nhà ai vàng ngọc chất như gò cao?  
Anh như trục xe lăn trong tình người gian hiểm,  
Tôi giống con thuyền xuyên qua sóng gió đường đời.  
Làm khách ở quê vua, lòng nhớ nhung lại gặp cơn mưa chiều.  
Chuyện cũ trong thư phòng, gợi hoài niệm thuở rong chơi thời trẻ.  
Gió tây mang tin tức từ biên cương làm tỉnh giấc mộng,  
Buồn đứt ruột về bốn năm châu duyên hải phía nam.
Năm 1378, Đỗ Tử Bình đề nghị các đinh nam mỗi hộ nộp 3 quan để bù ngân sách trống rỗng. Năm 1379, hoàng gia sai quân dân tải tiền đồng đi dấu ở núi Thiên kiện và khám Khả lãng thuộc Lạng Sơn. Nghệ Tông trở thành ông nhà giàu chạy giặc, không xứng tí nào cương vị hoàng đế đứng đầu đạo quân từng chiến thắng người Nguyên. Hành động này xác nhận sự bất lực của quân đội và chắc chắn dấy lên phong trào tẩu tán tài sản của quý tộc, trưởng giả đến nơi ngoài tầm quân Chiêm. Hình ảnh tương phản giữa tài sản tầng lớp thống trị chồng chất trên các chuyến xe với áo cơm khan hiếm của dân chúng đã đông lại mãi trong thơ Ứng Long.
Điểm lại quá trình suy thoái của quân đội Trần, ta thấy nổi bật các mốc thời gian và sự kiện sau:
Năm 1370, mùa thu, Thái tể Nguyên Trác cùng nhiều tôn thất đang đêm xâm nhập cấm cung định giết vua Đại Định. Quân túc vệ rõ ràng thông đồng với nhóm thích khách. Việc thất bại, 18 tôn thất bị Nhật Lễ hành quyết, kèm theo chắc chắn là bộ phận cấm quân không hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ hoàng đế.
Năm 1370, mùa đông, quân còn trung thành do Nhật Lễ sai đi bắt Cung Định vương Trần Phủ ở Đại Lại nhiều người không trở về. Họ gia nhập nhóm binh biến.
Cuối năm 1370, Nghệ hoàng nhập triều. Dĩ nhiên, bộ phận quân ngự lâm quanh Nhật Lễ phải bị giết hoặc giải tán.
Phục hồi nhờ chỉnh đốn của Trần Duệ tông, quân chính quy lại bị tiêu diệt triệt để trước chân thành Đồ Bàn vào mùa xuân năm 1377.
Năm 1377, mùa hạ, Chiêm Thành chiếm Thăng Long. Phần quân tinh nhuệ còn lại tan rã nốt.
Năm 1378, chủ lực được tái tổ chức bởi Đế Hiện lại tan vỡ dưới sức tấn công của Chế Bồng Nga. Kinh thành thất thủ.
Qua bao thất bại, Nghệ tông mất lòng tin nơi quan quân. Dân chúng cũng thế.
Năm 1380, dân Tân Bình, Thuận Hóa theo dẫn dụ của người Chiêm đi cướp phá Nghệ An, Diễn Châu. Rõ ràng, Ứng Long cảm thấy thất vọng trong buổi loạn lạc. Thời này không thuộc về Ông.
Suy nghĩ hướng ra xã hội nhanh chóng quay lại tâm tình cá nhân trong bài thứ nhì cùng chủ đề:
謾曾一第詫鄉鄰, 
誰道清風不療貧。 
霜後菊花還酒客, 
雪中梅意可詩人。 
吟邊客舍雙蓬鬢, 
夢裡天門八翼身。 
城月浦雲相望處, 
故人來地欲清春。
Kỳ II
Mạn tằng nhất đệ sá hương lân, 
Thuỳ đạo thanh phong bất liệu bần. 
Sương hậu cúc hoa hoàn tửu khách, 
Tuyết trung mai ý khả thi nhân. 
Ngâm biên khách xá song bồng mấn, 
Mộng lý thiên môn bát dực thân (a). 
Thành nguyệt phố vân tương vọng xứ, 
Cố nhân lai địa dục thanh xuân.
(a) Bát dực thân: Đào Khản (259 – 334), danh tướng nhà Đông Tấn, nằm mơ thấy thân mọc ra 8 cánh, bay qua chín tầng cửa trời. Đến cửa cuối cùng bị gác cửa dùng gậy đánh rơi xuống đất, các cánh bên trái đều gãy. Ở đây, Ứng Long thể hiện ước mong làm quan to.
Kỳ 2
Uổng công từng thi đậu làm kinh ngạc xóm làng, 
Ai bảo phong cách thanh tao không giải tỏa được cảnh nghèo? 
Sương tan, hoa cúc lại về cùng khách rượu, 
Giữa mùa tuyết, ý hoa mai thật hợp với người thơ. 
Tàn cuộc ngâm, hai đám tóc mai rối rắm nơi quán khách, 
Trong giấc mộng, tấm thân tám cánh bay lên cửa trời. 
Ngóng trông nhau chỉ còn cách ngắm trăng trong thành, mây trên bến, 
Cầu mong nơi cố nhân sắp đến có mùa xuân trong sáng.
Cách sống từ tốn phong lưu đậm chất nho gia được Ứng Long giữ gìn trong thời chiến. Tuy nhiên, Ông thoáng luyến tiếc vì việc đỗ đạt không giúp thoát khỏi cảnh nghèo. Mộng làm quan to tiếp tục dày vò, tuy vậy, Ông hết sức vô tư, không nghĩ ngợi nhiều đến đại sự mà một đại quan phải đối đầu.
Tiếp tục xướng họa với Nguyễn Hán Anh, nhân trình bày việc dựng nhà cạnh phủ Tướng để tiện vào triều, Ứng Long một lần nữa cho biết Ông làm quan trong Sảnh, có vẻ an phận chứ không nghĩ là tạm thời như bài thơ trước:
洪州復前韻,復寄答之
槐府西邊晚卜鄰, 
翛然一室樂清貧。 
床頭金劍酬知己, 
枕畔黃梁夢故人。 
湖海當年天下士, 
風流此日省郎身。 
客程歲暮寒砭骨, 
最愛冰壼別樣春。
Hồng Châu phúc tiền vận, phục ký đáp chi
Hoè phủ tây biên vãn bốc lân, 
Tiêu nhiên nhất thất lạc thanh bần. 
Sàng đầu kim kiếm thù tri kỷ, 
Chẩm bạn hoàng lương mộng cố nhân. 
Hồ hải đương niên thiên hạ sĩ, 
Phong lưu thử nhật sảnh lang thân. 
Khách trình tuế mộ hàn biêm cốt, 
Tối ái Băng Hồ biệt dạng xuân.
Hồng Châu phúc đáp bài thơ trước, xin lại trả lời
Muộn màng chọn chỗ ở phía tây tướng phủ, 
Dựng ngôi nhà thong dong tự tại, vui với cảnh nghèo. 
Gươm báu để đầu giường, tạ người tri kỷ, 
Giấc kê vàng đến bên gối, tưởng đến cố nhân. 
Khách giang hồ ngày xưa hiện là danh sĩ trong thiên hạ, 
Kẻ phong lưu hôm nào nay làm thuộc quan ở sảnh. 
Trên đường đất khách cuối năm trời lạnh buốt xương, 
Hết sức ngưỡng mộ nét xuân riêng của Băng Hồ.
Câu 3 Ứng Long nói về nhạc gia, câu 4 và 5 về Hán Anh. Câu 6 nói về mình. Lúc này, có thể Ông đã có nhiều con nên phải làm nhà. Cũng có thể, trước khi về hưu chính thức, quan Tư Đồ dành thời gian lưu lại Côn Sơn nhiều hơn nên tùy tùng và người phục vụ phải đi theo. Do vậy, Ứng Long cùng gia đình phải sinh hoạt riêng.
Ứng Long rất bận rộn, chưa có dịp về động Thanh Hư thăm nhạc phụ. Ông trần tình hoàn cảnh qua lời dẫn 2 bài thơ “Trình Thanh Hư động chủ” như sau:
Tôi vì bận việc, chưa kịp theo đi thăm núi Côn Sơn, vẫn nặng lòng cảm nhớ, viết thành hai bài thơ bát cú luật Đường, một là để tụng đọc khi việc miếu đường rảnh rỗi mà được cái vui nhàn tản; một là để tả cái sẵn có trong lòng mà phát lộ ra âm thanh ca vịnh; xin chép lại đệ trình Chủ nhân động Thanh Hư (Thơ văn Lý – Trần III, 403)
Nguyên văn: 走以多事,未即陪昆山遊,感念之深,因成八句律二首,一以頌廟堂之暇而有閒適之趣,一以寫胸懷之素而播歌詠之聲,因錄呈清虛洞主 (Thơ văn Lý – Trần III, 402)
Tẩu dĩ đa sự, vị tức bồi Côn Sơn du, cảm niệm chi thâm, nhân thành bát cú luật nhị thủ; nhất dĩ tụng miếu đường chi hạ nhi hữu nhàn thích chi thú; nhất dĩ tả hung hoài chi tố nhi bá ca vịnh chi thanh; nhân lục trình Thanh Hư Động chủ.
Lời dẫn này phải được viết trước khi Ông hoàn tất “Thanh Hư động ký”. Điều lạ là dù bài ký ghi rõ năm sáng tác 1384, nội dung lại biểu hiện sinh hoạt nhàn dật của Băng Hồ như thể cụ đã về hưu:
Sau khi Người từ giã triều đình lui về nghỉ ở đây, có khi rong ngựa chơi vùng Gia Lâm, có khi chèo thuyền dạo miền Bình Than (Thơ văn Lý – Trần III, 497).
Nguyên văn: 公朝之退,匹馬嘉林,扁舟平灘。(Thơ văn Lý – Trần III, 493)
Công triều chi thoái, thất mã Gia Lâm, biển châu Bình Than. (Thơ văn Lý – Trần III, 496)
Như vậy, vài năm trước khi nghỉ chính thức, Nguyên Đán chủ yếu sống ở Côn Sơn, khi cần thiết mới lên kinh.
Ứng Long thực sự là rất bận trong các năm 1381, 1382, 1383, 1384. Triều đình có vô số sự kiện quan trọng phải huy động toàn bộ nhân lực, cụ thể:
Năm 1381, Thượng hoàng ra lệnh rước thần tượng các lăng ở Thái Bình và Nam Định về Yên Sinh, Đông Triều để tránh Chiêm Thành. Cuối năm, Đế Hiện lập kế giết con Thượng hoàng là Trần Húc.
Năm 1382, quân Trần dành thắng lợi trước người Chiêm tại Ninh Bình và Thanh Hóa.
Năm 1383, quân Trần xuất thủy sư đánh Chiêm nhưng gặp bão phải quay về. Giữa năm, Chiêm phản công bức bách kinh thành, Nghệ tông phải lánh sang cung Bảo Hòa (nay thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên Du, Bắc Ninh). Đầu năm 1384, Ngài tổ chức thi Thái học sinh tại đây sau khi quân Chiêm rút lui.
Chúng ta thấy dấu vết Ứng Long phục vụ Thượng hoàng qua bốn bài thơ đề cập các địa điểm thuộc Bắc Ninh là “Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác”,Dạo núi Phật Tích nhìn ra sông ngẫu nhiên làm thơ, “Bạc Nguyễn gia lăng”,Đậu thuyền nơi lăng nhà Nguyễn, “Đề Tiên Du tự”, Đề chùa Tiên Du, “Thiên Thánh hựu quốc tự tảo khởi”, Dậy sớm ở chùa Thiên Thánh hựu quốc. Dưới đây xét riêng bài “Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác” vì trong đó Ứng Long có nói đến tuổi mình.
遊佛跡山對江偶作
半生塵土負登臨, 
光景蹉跎便到今。 
浮世百年真一瞬, 
古人片樂值千金。 
前川午日傍花興, 
沂水春風與物心。 
仰止高山懷曩哲, 
澗河路次正幽尋。
Du Phật Tích sơn đối giang ngẫu tác
Bán sinh trần thổ phụ đăng lâm, 
Quang cảnh tha đà tiện đáo câm. 
Phù thế bách niên chân nhất thuấn, 
Cổ nhân phiến lạc trị thiên câm. 
Tiền xuyên ngọ nhật bàng hoa hứng, 
Nghi thuỷ xuân phong dữ vật tâm. 
Ngưỡng chỉ cao sơn hoài nẵng triết, 
Giản hà lộ thứ chính u tầm.
Dạo núi Phật Tích nhìn ra sông ngẫu nhiên làm thơ
Nửa đời bụi bặm phụ cảnh núi non, 
Hoài phí thời gian mãi đến hôm nay. 
Cuộc thế trăm năm thực như chớp mắt, 
(Nên) Người xưa quý niềm vui chốc lát đến ngàn vàng. 
Cái hứng bên hoa buổi trời trưa ngắm dòng nước, 
(Tựa như) Tấm lòng hòa cùng gió xuân bên sông Nghi. 
Ngước nhìn núi cao nhớ bậc hiền xưa, 
Tìm được thanh tịnh chính vào lúc dừng lại trên con đường bên suối.
“Bán sinh”, nửa đời theo ý niệm xưa là nửa chu kỳ 60 năm, tức 30 tuổi ta. Với tính chất mềm của văn, ta xác định bài thơ ra đời khi tác giả khoảng 29, 30 hay 31 tuổi, tức khoảng năm 1383, 1384, 1385.
Tắm sông Nghi, hóng gió đài Vũ Vu là lý tưởng cuộc đời của Tăng Tích, môn đệ Khổng Tử. Liên tưởng sông Nghi và triết nhân xưa giúp thu hẹp thời điểm bài thơ ra đời vào năm 1384, dịp Nghệ tông tổ chức cuộc thi Nho học tại cung Bảo Hòa, chùa Vạn Phúc trên núi này (a). Nhà Nho Ứng Long có thể thuộc nhóm nhân sự phục vụ cuộc thi.
(a) Giáp Tý [Xương Phù] năm thứ 8 (1384), (Minh Hồng Vũ năm thứ 17). Mùa xuân, tháng 2, Thượng hoàng cho thi Thái học sinh ở chùa Vạn Phúc núi Tiên Du, [lấy đỗ] bọn Đoàn Xuân Lôi, Hoàng Hối Khanh… 30 người (Toàn Thư II, 181).
Nguyên văn: 甲子八年明洪武十七年春二月上皇於僊遊山萬福寺試太學生段
春雷黄晦卿等三十名 (Toàn Thư IV, 251) Giáp Tí bát niên Minh Hồng Vũ thập thất niên xuân nhị nguyệt Thượng hoàng ư Tiên Du sơn Vạn Phúc tự thí Thái học sinh Đoàn Xuân Lôi Hoàng Hối Khanh đẳng tam thập danh.
Nhà thơ rất thanh thản thưởng thức thiên nhiên. Chiến tranh gây xáo trộn toàn xã hội chẳng lưu dấu vết nào trong văn chương khoáng dật. Giữa năm Giáp Tý 1384, Ông ở kinh đô quan sát công tác chuẩn bị cầu mưa, tinh thần vẫn tráng kiện.
Tuy nhiên khi trời trở lạnh, tâm trạng Ông buồn bã khác thường lúc lênh đênh trên Hoàng giang, gần Thiên Trường. Ông biết tin nhạc phụ sắp về hưu chăng?
黃江夜雨
蓼浦三秋雨, 
筠篷半夜聲。 
孤燈明又滅, 
湖海十年情。
Hoàng giang dạ vũ
Liễu phố tam thu vũ, 
Quân bồng bán dạ thanh. 
Cô đăng minh hựu diệt, 
Hồ hải thập niên tình.
Mưa đêm trên Hoàng giang
Mưa thu xuống trên bến mọc đầy rau đắng, 
Nửa đêm lộp độp mui thuyền tre. 
Đèn côi khi mờ khi tỏ, 
Cám cảnh mười năm phiêu bạt giang hồ.
“Mười năm hồ hải” giúp ta xác định bài thơ ra đời vào mùa thu năm 1384.
Nỗi lo lắng về tương lai bất định khi mất sự đỡ đầu của Tướng quốc hiện lên thê thiết trong bài “Cửu nguyệt thôn cư độc chước”, Tháng chín, ở quê uống rượu một mình. Cùng với tiếc nuối hội “Long Sơn”, tình trạng hoa cúc không nở được vì ít mưa giúp chúng ta có cơ sở đoán thời điểm tác phẩm hình thành cũng vào năm 1384.
九月村居獨酌
村醪酌罷自談詩, 
欲把幽懷更向誰? 
荒徑人行秋色少, 
故園雨勒菊花遲。 
龍山後會知何日? 
彭澤歸心最此時。 
萬事悠悠拚一醉, 
了知身到鳳凰池。
Cửu nguyệt thôn cư độc chước
Thôn lao chước bãi tự đàm thi, 
Dục bả u hoài cánh hướng thuỳ? 
Hoang kính nhân hành thu sắc thiểu, 
Cố viên vũ lặc cúc hoa trì. 
Long sơn (a) hậu hội tri hà nhật? 
Bành Trạch (b) quy tâm tối thử thì. 
Vạn sự du du phiên nhất tuý, 
Liễu tri thân đáo phụng hoàng trì.
(a) Hội Long Sơn: tiệc mừng tết Trùng dương ở núi Long Sơn do Hoàn Ôn (312 – 373) chủ trì với câu chuyện “Long Sơn lạc mạo”, Rơi mũ ở Long Sơn, rất phổ biến. Nguồn gốc điển tích lấy từ Tấn Thư, Mạnh Gia truyện. Ở đây, chỉ các buổi tiệc nhân ngày chín tháng chín do Tư Đồ Nguyên Đán tổ chức.
(b) Bành Trạch: nơi Đào Tiềm ở ẩn.
Tháng chín, ở quê uống rượu một mình
Uống hết rượu đục quê mùa, tự mình ngâm thơ, 
Muốn giải tỏa u hoài biết nói cùng ai? 
Người đi qua lối hoang, vẻ thu phai nhạt 
Mưa ít rơi trên vườn cũ, hoa cúc muộn mằn. 
Sau hội Long Sơn biết ngày nào nữa? 
Lòng về Bành Trạch chính giữa lúc này! 
Muôn sự dài dằng dặc ném hết vào cuộc say, Mới biết mình đã đến ao Phượng Hoàng!
Trùng cửu thường là ngày Tướng quốc uống rượu thưởng cúc với tri kỷ và các con rể. Ngày vui như thế sẽ vĩnh viển không còn. Ý noi bước Đào Tiềm lại dấy lên trong lòng nhà thơ sầu muộn. Ông muốn Bành Trạch, nhưng khi đủ say, lại thấy hồn mình đến nhiệm sở. Dằng co giữa Nho và Đạo kéo dài hầu như suốt đời thư sinh họ Nguyễn.
Khi cha vợ tại vị, Ứng Long vẫn bị điều tiếng thị phi. Nay tướng quốc nghỉ quan, hẳn tương lai bất ổn khiến Ứng Long phải nghĩ ngợi nhiều. Cùng làm việc với vị thái học sinh Đạo Khê nhân dịp xét duyệt sổ sách các quan văn võ đầu năm 1385 (a), Ông thổ lộ can tràng như sau:
酬道溪太學春寒韻
渺渺春城雪正漫, 
東風牢鑽未全乾。 
宦情細惹楊煙薄, 
客緒偏隨杏雨殘。 
流水高山琴下韻, 
紅旗赤幟夢將闌。 
鄰渠萬姓皆吾與, 
此屋誰家面面寒。
Thù Đạo Khê thái học "Xuân hàn" vận
Diểu diểu xuân thành tuyết chính man, 
Đông phong lao toản vị toàn can. 
Hoạn tình tế nhạ dương yên bạc, 
Khách tự thiên tuỳ hạnh vũ tàn. 
Lưu thuỷ cao sơn cầm bất vận, 
Hồng kỳ xích xí (b) mộng tương lan. 
Lân cừ vạn tính giai ngô dữ, 
Thử ốc thùy gia diện diện hàn.
(a) Ất Sửu, [Xương Phù] năm thứ 9 (1385), (Minh Hồng Vũ năm thứ 18). Mùa xuân, tháng giêng, xét duyệt sổ sách quan văn võ (Toàn Thư II, 181).
Nguyên văn: 乙丑九年明洪武十八年春正月閲定文武從官帳籍 (Toàn Thư IV, 251).Ất Sửu cửu niên [Minh Hồng Vũ thập bát niên] xuân chính nguyệt duyệt định văn võ tòng quan trướng tịch .
(b) Hồng kỳ xích xí: chỉ mộng lập công danh bằng chiến tích.
Dùng vần bài thơ “Xuân hàn” đáp Thái học Đạo Khê
Tuyết phủ trùm, thành xuân mờ mịt,  
Gió xuân vừa lách khỏi nơi giam giữ nên trời chưa khô hẳn.  
Vướng vít quan trường, (mới biết) tình người mỏng như mành liễu,  
Sự nghiệp nơi đất khách nghiêng theo mưa hạnh tiêu tan.  
Đàn lạc nhịp “cao sơn lưu thủy”,  
Mộng cờ hồng cờ đỏ cũng hầu tàn.  
Muôn họ nơi chòm xóm đều là đồng bào ta,  
Dưới nếp nhà này gia đình nào trú ngụ mà mọi khuôn mặt đều giá buốt?
Đạo Khê có thể là vị Thái học sinh vừa qua kỳ thi năm 1384 tổ chức tại cung Bảo Hòa và chưa nhận chức tước. Ứng Long nhẹ nhàng thông tin cho vị tân khoa biết nghiệt ngã trong nghề làm quan. Người sắp ra chào đón kẻ bước vào bằng bài ca u ám.
Tinh nghĩa hai câu 3, 4 tụ lại các chữ “tình 情”, “bạc 薄”, “tự 緒”, “tàn 殘”.
Tình đời bạc nên sự nghiệp lụn tàn. Người vốn “bạc”, tập hợp người nơi quan trường phải “rất bạc”. “Dương yên” là mành liễu rũ mong manh như khói, tương tự nghĩa “dương yên” trong câu từ Ngọc Lâu Xuân lừng danh “Lục dương yên ngoại hiểu hàn khinh 綠楊煙外曉寒輕”, Hơi buổi sớm se lạnh bên ngoài mành liễu xanh của Tống Tử Kinh (998 – 1065). Chữ “tế nhạ” khơi gợi suy nghĩ mông lung, Ứng Long tự trách mình dây dưa công danh khiến cuộc đời khó tính. Chúng ta hiểu rõ tác giả hơn nếu biết nguồn cơn chữ “nhạ” từ câu thơ “Triêm nhạ hư danh ngộ thử thân 霑惹虛名誤此身”, Dây vào hư danh khiến thân này lầm lỡ của Vương Vũ Xứng (954 – 1001).
Trong mùa xuân phất phơ dương liễu, Tử Kinh hạ câu tuyệt bút chấn động văn đàn đến bây giờ: “Hồng hạnh chi đầu xuân ý náo 紅杏枝頭春意鬧”, Ý xuân nôn nao trên đầu cành hồng hạnh. Đứng từ niềm “nôn nao” của ý xuân sẽ nhìn thấy trọn vẹn sự “tàn lụi” công danh của Ứng Long nơi đất khách.
Câu chuyện Bá Nha – Tử Kỳ đặt ra ở câu 5 cho biết người hiểu, đánh giá cao tác giả sắp không còn chức vụ, cũng hàm ý Thượng hoàng và Vua không nhìn thấy khả năng của Ông xuyên qua đàm tiếu. Chính câu này củng cố giả định thời điểm bài thơ hình thành là vào mùa xuân năm 1385.
Xuất thân bình dân, Ứng Long có điều kiện gần gũi và thông cảm dân thường. Ông thường đặt tình cảnh khó khăn của riêng mình trong bối cảnh bất hạnh chung của dân đen. Thời tiết thêm lạnh lẽo khi mộng công hầu tan vỡ. Ông không làm quan, lấy ai cứu rỗi trăm họ?
Tỏ lòng thương xót lê dân, cầu mộng quan tước để có điều kiện ưu quốc, con người tự hào suốt đời “đi trên tơ trắng” rồi cũng đến nơi cần đến. Nhưng Ứng Long đủ khí phách, tài năng để hiện thực hóa tâm nguyện của mình hay không lại là chuyện khác.
Theo dòng mạch trên, bài thơ dưới đây lại lần nữa than thở hoàn cảnh công danh dang dở.
三月初一日曉起
已無畫燭醉裙紅, 
更倚青燈照鬢蓬。 
破屋吟殘紅杏雨, 
清都夢醒紫薇風。 
一身九竅七情內, 
萬事千憂百慮中。 
慌底不知寒食過, 
啟窗花又折梧桐。
Tam nguyệt sơ nhất nhật hiểu khởi
Dĩ vô hoạ chúc tuý quần hồng, 
Cánh ỷ thanh đăng chiếu mấn bồng. 
Phá ốc ngâm tàn hồng hạnh vũ, 
Thanh Đô mộng tỉnh Tử Vi phong. 
Nhất thân cửu khiếu thất tình nội, 
Vạn sự thiên ưu bách lự trung. 
Hoảng để bất tri hàn thực quá, 
Khải song hoa hựu chiết ngô đồng.
Ngày mùng một tháng ba, sáng dậy
Không có đuốc hoa để mê đắm khách quần hồng, 
Chỉ nhờ ngọn đèn xanh soi tóc mai bù rối. 
Nhà dột nát, mưa hồng hạnh khiến khúc ngâm lụi tàn, 
Chốn kinh đô, gió tử vi làm chiêm bao bừng tỉnh. 
Chín khiếu bảy tình gom vào một thân, 
Trăm nghĩ ngàn lo chìm trong vạn sự. 
Cập rập, không biết tiết hàn thực đã qua, 
Mở cửa sổ hoa, lại bẻ thêm cành ngô đồng.
Qua “Băng Hồ di sự lục”, Chuyện cũ về Băng-Hồ Tiên sinh (4)Nguyễn Trãi cho biết mẹ Ông mất trước ông ngoại. Không rõ bà mất năm nào, nhưng ở đây Ứng Long cho thấy căn nhà một thời hạnh phúc đã trở nên vắng lạnh, hoang tàn. Dù làm quan nhỏ, khó nói rằng Ông nghèo đến mức thiếu phương tiện chỉnh trang nhà ở cho tươm tất. Chỉ có thể hiểu rằng Ông không định lưu lại kinh đô khi cha vợ từ giã triều đình nên bỏ mặc nhà cửa. Mặt khác, bà Thái có thể đã về Côn Sơn chuẩn bị nơi chốn nghỉ ngơi cho cha. Mưa hồng hạnh rơi từ bài thơ thù tạc với Đạo Khê dai dẳng mãi đến tác phẩm ngậm ngùi này. Làn “Tử Vi phong”, gió từ cung nội, đánh thức cơn mê danh vọng hàm ý nhà vua không nhiệt thành tiếp tục dùng Ông.
Ngô đồng là nơi phượng hoàng tìm đậu, hành động bẻ cành ngô đồng biểu trưng nỗi bất bình của Ứng Long với quan niệm tổ chức của hoàng gia.
Dường như tựa đề có điểm bất ổn vì hàn thực là ngày mồng ba tháng ba, nếu Ứng Long viết thơ vào sáng ngày mồng một, khó bảo rằng đã qua tiết này.

(còn tiếp)


Tài liệu tham khảo:
A. Bản chữ Hán thơ văn Nguyễn Phi Khanh, Trần Nguyên Đán được lấy từ quyển Thơ văn Lý-Trần tập III của Viện Văn học, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1978).
B. Các chi tiết lịch sử đều trích từ bộ Đại Việt sử ký toàn thư, bản in Nội các quan bản, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội (tái bản 2004). Dịch giả: Ngô Đức Thọ, Hoàng Văn Lâu, Ngô Thế Long. Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Toàn Thư – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.
C. Các ghi chép của người Minh đều trích từ bộ Minh Thực Lục, quan hệ Trung quốc – Việt Nam thế kỷ XIV – XVII (bản dịch Hồ Bạch Thảo), Nhà xuất bản Hà Nội (2010). Để chú thích đỡ rườm, thông tin từ sách này được chú là (Minh Thực lục – Tập – Trang) ngay tại đoạn trích.
D. Bản chữ Hán các đoạn kinh Thi trích từ phần “Shijing” thuộc trang web http://ctext.org/book-of-poetry.
(1) Đoàn Trung Còn (dịch), Tứ Thư, phần Luận Ngữ, Nhà xuất bản Thuận Hóa (Huế 2013), trang 134.
(2) Xem Phạm Đình Hổ & Nguyễn Án, Tang Thương Ngẫu Lục (bản dịch Trúc Khê), Nhà xuất bản Hồng Bàng – Pleiku (tái bản 2012), trang 116.
(3) Để rõ hơn thông tin về biến đổi khí hậu tại Đông Nam Á trong giai đoạn này, tham khảo Brendan M. Buckley et al (2010). Climate as a contributing factor in the demise of Angkor, Cambodia. http://www.pnas.org/cgi/doi/10.1073/pnas.0910827107.
(4) Xem Viện Sử học, Nguyễn Trãi toàn tập, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội – Hà Nội (1976), trang 91.

bài đã đăng của lê tư



Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nguyễn Khôi: Đôi điều về thơ hay




...liệu có thơ hay?
Xưa nay trong các cuộc Thảo luận/ tranh luận về Thơ...đều nhằm mục đích tìm (phát hiện) ra "Thơ hay" và loại bỏ "Thơ dở". Vậy Thơ chỉ có 1 tiêu chuẩn 1 chữ là HAY hoặc DỞ mà thôi.
Thơ là tuyệt đỉnh của văn chương vì Thơ ít chữ nhưng nói được nhiều hơn văn xuôi. Thông qua tư duy, người ta đạt đến Nghệ thuật và khoa học; nhưng với Thi ca thì không như vậy, bởi vì Thơ là ngẫu hứng (là tài hoa mà Thi nhân phát tiết ra).

Một tác phẩm Thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay đến bấy nhiêu. Ở Đức, Thơ là chốn ẩn mình của những Tác giả có tài và bất tài, song đều chung nhau ở một điểm là ít dính dáng đến trí tuệ (nói theo Thi hào Goethe). Còn theo Heine thì "Thơ ca là căn bệnh lạ kỳ, căn bệnh đẹp nhất của nhân loại " ; chả thế mà Chế Lan Viên cũng nói "Thi sĩ không phải là người (bình thường), nó là Người Mơ,Người Say, người Điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ"; còn nói văn vẻ như Tchékov (Nga) thì "các thiên tài của tất cả các thời đại và các nước nói bằng các thứ tiếng khác nhau, nhưng trong các thứ tiếng ấy có cùng một ngọn lửa cháy".

Đổng Trọng Thư (đời Hán) :"Thơ ca không thể giải thích được". Vương Sĩ Trinh (đời Minh) :"Thơ khó ở chỗ nếu không giải thích được thì thơ vô vị,mà giải thích được thì hết thi vị "

Thần đồng thơ Trần Đăng Khoa " thơ hay là thơ gồm 6 chữ : giản dị, ám ảnh, không quên". Trần Đăng Khoa kêu gọi : "mỗi người chỉ làm 1 bài thơ thật chất lượng, 1 bài thơ "để đời".

Tóm lại : 1 bài "thơ hay" phải hội đủ 3 yếu tố : lời hay, ý đẹp, truyền cảm.

Nói một các khác là : Thơ hay phải là Ý mới / Tứ lạ / có Hồn. Khi Thi nhân cảm hứng. ý thơ tuôn trào, hồn thơ lai láng, đó là giây phút xuất thần thường cho "thơ hay".

Một câu thơ hay thường phải đạt 4 yếu tố : Ý mới, tứ lạ / hình tượng thơ sống động / Ngôn ngữ thơ tinh luyện, nhạc điệu truyền cảm /có tính đột ngột tạo được ấn tượng .

Tiêu chí 1 bài thơ hay : Ý mới, tứ lạ : biểu hiện ý tưởng bao quát của bài thơ / Từ ngữ tinh tế , kiệm lời, có sáng tạo "từ" như "chữ mắt"- nhãn tự làm tỏa sáng.../có giọng điệu riêng (thi cách)/ Hình ảnh sống động, tươi mới / nhạc điệu cuốn hút, âm vang.

Hoài Thanh :" Thơ hay vẫn là sức đồng cảm mãnh liệt và quảng đại. Một bài thơ hay là cánh cửa mở cho tôi đi vào một tâm hồn."

Một vài câu thơ hay mà NK thích thú :

* vài ba giọt rượu hoen tà áo
Một chút trắng ngà vướng tóc râu
(Bàng Bá Lân)

*Ai đem rắc bướm lên hoa
rắc bèo xuống giếng, rắc ta vào nàng.
( Nguyễn Bính)

*Một mai rũ áo ra đi
Chỉ là quay gót trở về cố hương
Tạ ơn trăm nhớ ngàn thương
Buông tay chỉ một vô thường thế thôi
(Dương Kiền)

Trên đây là NK đã tổng hợp gói lại Ý kiến của nhiều người để các Bạn thơ tham khảo...và NK xin gút lại cuộc thảo luận / tranh luận bằng 2 câu thơ bỏ ngỏ Gửi nàng thơ Tuyên Quang là :

Thôi, cứ để cho thời gian gió thổi
Gieo vào lòng một chút sóng sông Lô...

----

Làng Mọc Quan Nhân 15-2-2017
NGUYỄN KHÔI

http://tacphammoi.net/doi-die%CC%80u-ve%CC%80-tho-hay_n8374.aspx

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 23 tháng 2, 2017

"Kiến thức thì thời nào cũng như vàng ròng"


"Học, học nữa, học mãi"
Hiệu Minh Lê Nin nói không thừa "Học, học nữa, học mãi". Kiến thức không bao giờ thừa, kể cả kẻ cướp. 
( Chôm trên mạng của nhà cô Tịt Bin, cô Tịt Bin chôm của Quê Choa, Quê Choa chôm của ... Lê Nin ).
Image result for Học, học nữa, học mãi

Trong một vụ cướp nhà băng, tên đầu bọn hét lên: "Tất cả đứng im, nên nhớ tiền thuộc về Nhà nước, còn mạng sống thuộc về chúng....mày!"
Mọi người trong ngân hàng nghe xong liền im lặng nằm xuống.
Điều này được gọi là: "Cách thức khai tâm - Thay đổi những suy nghĩ theo lối mòn".

Một cô nhân viên nằm trên bàn trong tư thế khêu gợi. Một tên cướp hét lên: "Làm ơn cư xử văn minh, chúng tôi là cướp chứ không phải những kẻ hiếp dâm!"

Điều này được gọi là: "Hành xử chuyên nghiệp - Chỉ tập trung vào công việc mà bạn được huấn luyện!"

Khi tên cướp quay lại, một tên cướp trẻ hơn (có bằng MBA) nói với tên cướp già hơn (kẻ mới tốt nghiệp hết phổ thông): "Đại ca, có phải đếm xem được bao nhiêu tiền không?". Tên cướp già gằn giọng: "Đừng ngu, giờ đếm thế nào được? Đợi đi, tối nay TV sẽ nói chúng ta cướp được bao nhiêu!"

Điều này được gọi là: "Kinh nghiệm - Ngày nay thì kinh nghiệm quan trọng hơn giấy tờ, sách vở"

Sau khi băng cướp rời khỏi, giám đốc chi nhánh định gọi báo cảnh sát. Kế toán trưởng vội vã chạy đến, thì thầm vào tai ngài: "Đợi đã, hay để luôn 5 triệu chúng ta biển thủ vào trong số tiền bị băng cướp lấy mất!"

Điều này được gọi là: "Tát nước theo mưa - Chuyển đổi những tình huống bất lợi trở thành thuận lợi"

Vị giám đốc tự nhủ: "Vậy thật tuyệt nếu cứ mỗi tháng lại có một vụ cướp!"

Điều này được gọi là: "Hãy loại bỏ những điều khó chịu - Hạnh phúc là điều quan trọng nhất"

Ngày hôm sau, TV đưa tin 100 triệu đã bị cướp khỏi nhà băng. Những tên cướp đếm đi đếm lại thì chỉ có 20 triệu. Chúng giận dữ: "Chúng ta mạo hiểm mạng sống của mình chỉ để lấy 20 triệu, bọn chó ngồi chơi mà cướp được 80 triệu. Đúng là học hành, có bằng cấp thì chúng nó được ngồi cái ghế đấy, cướp tiền siêu đẳng hơn chúng ta!"

Điều này giải thích tại sao: "Kiến thức thì thời nào cũng như vàng ròng"!

Vì thế, chân lý của Lê Nin luôn đúng "Học, học nữa, học mãi."

HM sưu tầm và biên soạn.

http://hieuminh.org/2017/02/24/hoc-hoc-nua-hoc-mai


Phần nhận xét hiển thị trên trang

CÒN MỘT CHAI



" Truyện cười Nga "
Có năm ông vào rừng chơi, bị một con hổ rất hung dữ tấn công. Năm ông liền bỏ chạy, một lúc sau hổ vồ chết một ông. Nó không ăn thịt mà tiếp tục đuổi theo và vồ một người khác. Đến lúc chỉ còn hai người, con hổ lao tới, lập tức một ông liền rút súng ra bắn . Con hổ trúng đạn lăn ra chết tươi. Ông bạn còn lại liền hỏi : Sao lúc đầu mày không bắn , để nó vồ chết mất ba thằng ?
- Mày ngu lắm! Tao chỉ còn có một chai rượu , làm sao đủ cho cả năm thằng uống ?

Phần nhận xét hiển thị trên trang