Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

XÃ HỘIThói đố kỵ – trọng bệnh của người Việt



Người Việt hay để ý của nhau nên mới biết nhà kia có gì hay, có gì hơn của nhà mình. Nếu thấy người ta mua được con xe máy đắt tiền thì cũng cố để mua được con xe… đắt tiền hơn. Thấy người ta xây căn nhà mới, nếu sau đó nhà mình cũng xây thì luôn cố gắng làm to hơn một tí, cao hơn một tí… Ngược lại, nếu mình không được như nhà hàng xóm thì sinh ra ganh ghét, so bì.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Từ cái thìa thủng đến những thanh sắt chắn ngang vỉa hè

>> Những người thích đăng ảnh tự sướng thường thiếu hụt tình dục

>> Học văn ở Mỹ, tôi thực sự thấy mình là ‘trung tâm’
>> Trung tướng Lê Đông Phong: 'Dùng Facebook nhận tin báo tội phạm'


Tạ Mỹ Dương




















VNN - “Tôi dám chắc sẽ chẳng có "giải pháp kỹ thuật" nào có thể ngăn chặn một cách hữu hiệu, căn cốt nhất khi không lay chuyển được cái tư duy tranh giành, tùy tiện, sợ mất phần của số đông...” - KTS Tạ Mỹ Dương.

Khoảng thập nhiên 60 thế kỷ trước, tại các cửa hàng "điểm tâm giải khát" mậu dịch quốc doanh ở Hà Nội, khách thường khuấy cà phê, nước chanh bằng chiếc thìa nhỏ đã được đục thủng. Ý tưởng này nhằm hạn chế việc thất thoát thìa do một số vị khách luôn cầm nhầm.

Cũng thập niên đó, các hàng bia hơi, trong cái nắng hầm hập như dội lửa, hàng dài người kiên nhẫn chờ đến lượt để mua "mỗi người một vại". Nhà tôi gần hàng bia góc Hàng Bài-Trần Hưng Đạo, từ đấy đến giữa phố Nguyễn Chế Nghĩa quãng gần 300m, mà có hôm cái dãy hàng chờ mua bia gần chạm cổng nhà.

Tôi thường nghe kể về những cái ly thủy tinh xấu xí màu sắc nhợt nhạt, lốm đốm bọt thủy tinh được sản xuất vội cho kịp nhu cầu đời sống, nhưng khi bia được rót vào có cái mầu vàng óng và lớp bọt sủi trắng phau trở nên lung linh hơn bất cứ cốc pha lê nào, mùa hè như dịu hẳn với vại bia ấy trong tay.

Thế cho nên người ta cố xếp hàng, cố tìm mọi cách chen ngang, cãi, đánh, mắng mỏ nhau để có được một cái chỗ. Ưu tiên nhất là "thẻ thương binh" nhưng cũng chỉ "một vại", nhiều ông quay vòng, rồi cho mượn thẻ. Cô bán hàng túi bụi rót thời gian đâu mà soi xét. Bọt sủi, tràn ra ngoài, nhiều ông hí hửng bê được vại bia ra, tan bọt thấy còn được 2/3, vẫn coi như một chiến công!

Có nhiều chuyện gian lận, chen lấn, cãi vã… Khó ló khôn. Không rõ ai đó đã nghĩ ra một cách, gần chỗ quầy thu tiền họ làm một dải dây thép, trên đó gắn những đồng xèng đục thủng luồn vào, đến khúc đấy mỗi người mua bia nắm một đồng chờ tới lượt trả tiền, lấy bia. Mỗi người một xèng tương đương một vại, có chen vào hàng mà không xèng cũng vô ích. Từ đấy mấy hàng bia trật tự hẳn. Mẹo vặt vậy mà hiệu quả nhìn thấy ngay, cần gì mưu cao.

Nhìn dòng người nắm sợi dây thép chầm chậm bước dưới cái nắng 40 độ của mùa hè khiến tôi liên tưởng tới những đoàn người bị dẫn ra đảo lưu đầy. Nghiền bia thời ấy có khác gì bị đi đầy thật.

***

Vài năm trước rồi tôi ghé qua Đồng Tháp xem chim, ở hotel nhà tầng, máy lạnh, nước nóng đàng hoàng, khăn lau trắng tinh. Lúc xỏ vào đôi dép dưới chân, mỗi chiếc đã bị vạt một đường ngọt lịm ở đầu.

***

Và mới đây, trên vỉa hè Quân 1, trung tâm "hòn ngọc viễn đông", nơi chính quyền đang ấp ủ kế hoạch xây dựng đô thị thông minh, một "Singapore giữa lòng thành phố" người ta cho lắp đặt những chiếc barie chắn ngang vỉa hè để ngăn những người đi xe máy chồm lên mỗi lúc thành phố tắc đường.

***

Nhìn lại câu chuyện những cái thìa đục lỗ, những dãy người nắm đồng xu chờ mua bia, những đôi dép cắt vạt mũi… mới thấy cái “tư duy mẹo vặt" là điều đáng bàn tới.

Cái "tư duy mẹo vặt" kiểu ấy sinh ra có nhẽ từ những nền kinh tế "tiểu nông", trong sự khắc nghiệt của thiên nhiên dẫn đến sự nghiệt ngã của con người.

Trong dân gian vẫn lưu truyền những câu chuyện được kể như một sự "hãnh diện" về mẹo, từ ông "Trạng" quẹt phát năm ngón tay trong 2 giây vẽ năm con vật loằng ngoằng giun dế. Rồi đến chuyện một anh nông dân lừa trói con hổ vào cọc rồi bảo "trí khôn của ta đây", nếu ngẫm thật kỹ sẽ thấy giật mình. "Trí khôn" hay chỉ là "mẹo lừa" nhau?

Từ những câu chuyện dân gian lưu truyền cho tới những mẹo trong đời sống thật có gì đó cứ na ná giống nhau.

Những năm kinh tế khó khăn thời thập niên 60 của thế kỷ trước thì không nói làm gì, nhưng giờ là thế kỷ 21 rồi, thời của khoa học công nghệ, thời của thành phố thông minh mà vẫn có những đại gia sẵn sàng bỏ bạc tỷ xây khách sạn mà lại sợ khách cầm nhầm đôi dép giá mươi ngàn. Không tin thì rõ rồi, nhưng sự phòng xa đấy có phần "sỉ nhục”. Chả hiểu có bao nhiêu vị khách nào bỏ 300 ngàn thuê chỗ ngủ rồi tiện tay thó đôi dép chục ngàn? Nếu có chắc cũng chỉ một vài, họ có cần sỉ nhục số đông như vậy không?

Rồi cái vỉa hè sạch sẽ, có vườn hoa cỏ cũng vậy. Thật đáng trách những người phóng xe lên đó những lúc tắc đường. Cái tâm lý nóng vội lúc nào cũng sợ mất phần, từ một xuất mua nhà dự án, trèo rào dành một chỗ học trường điểm cho con…. dường như hiển hiện ở khắp nơi.

Tôi dám chắc sẽ chẳng có "giải pháp kỹ thuật" nào có thể ngăn chặn một cách hữu hiệu, căn cốt nhất những trong khi không lay chuyển được cái tư duy tranh giành, tùy tiện, sợ mất phần của số đông?

Hành động hai thanh niên bê cái xe máy qua lan can đường cao tốc khi nhìn thấy công an, hay chuyện ở nhiều nơi bà con tự ý phá bỏ dải phân cách để về nhà cho gần là những minh chứng rõ ràng nhất.

Để có một thành phố thông minh thì chắc chắn cần những con người thông minh. Để duy trì kỷ luật, trật tự trong các thành phố đô thị thông minh, người ta cần tư duy hơn cần mưu.

Nếu chỉ đầu tắt mặt tối, bươn chải mải lo giành giật từng tí trong những xóm trọ nghèo nàn; ngày đi sáng về hì hụi với cái bếp tạm, tô mì cho xong thì cũng chỉ loanh quanh "ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Mải lo bữa ăn rồi thì có muốn tư duy cũng khó.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NGƯỜI ĐÀN BÀ ĐA PHU Ở TÂY TẠNG


Trần Chính – Voyages Saigon - Đến thăm Tây Tạng nhiều lần, tôi từng nghe nói khá nhiều về tục đa-phu ở đất nước này, nhưng chỉ tận mắt nhìn thấy một lần, do may mắn. Đó là vào tháng 3 năm 2003 vừa qua, khi tôi đưa đoàn du-lịch “Tây Tạng mùa Xuân” đi thăm tỉnh tự trị Tây Tạng ở Trung Quốc.
Hôm ấy, trên đường từ Gyantse đi Shigatze, thành phố lớn thứ hai ở Tây Tạng, và là “kinh phủ” của các vị Ban-thiền Lạt-ma (Panchen Lama), chúng tôi ghé thăm một ngôi làng nhỏ. Nói là “một ngôi làng nhỏ” bởi vì nó là một tập hợp của khoảng một chục ngôi nhà xây dựng rời rạc hai bên con đường tráng nhựa chạy giữa một dải thung lũng rộng và khô cằn.


Ngôi làng này trông có vẻ khá giả hơn nhiều so với những ngôi làng mà chúng tôi nhìn thấy trên con đường đi lên hướng đông-bắc của thủ phủ Lhasa. Chamba, anh hướng dẫn viên trẻ tuổi của chúng tôi, đề nghị chúng tôi vào thăm căn nhà nằm ngay bên kia đường, đối diện với nơi chúng tôi vừa bước ra khỏi xe. Trời tuy có nắng vào buổi trưa nhưng gió thángba thổi rất lạnh nên chúng tôi ai nấy vội vàng băng qua đường và lách mình qua chiếc cổng nhỏ chỉ mở hé một cánh để bước vào bên trong.

Ngôi nhà khá lớn, xây theo kiểu truyền thống nửa nhà nửa trang trại của vùng Tsang (phía tây Tây Tạng). Nhà có tầng lầu và tầng trệt, nhưng nhìn từ bên ngoài thì không biết là có hai tầng, bởi vì tầng trệt không có cửa sổ mà chỉ có một vài lỗ thông gió, và mặt tường bằng đá sơn trắng xây liền từ dưới lên trên. Chạy ra đón chúng tôi là một cô gái nhỏ trạc độ 14, 15 tuổi. Ngay trước cửa chính dẫn vào nhà, chúng tôi nhìn thấy một con trâu yack lớn và hai chú trâu nhỏ, chắc vừa mới sinh được vài tuần. Chamba trao đổi vài ba câu với cô gái, sau đó quay sang mời chúng tôi đi vào bên trong nhà. Bước qua ngưỡng cửa, mọi người ngạc nhiên một cách thích thú về cấu trúc của ngôi nhà. Tầng trệt được thiết kế như một gian phòng lớn và sử dụng làm chuồng cho trâu yack, dê và trừu, đồng thời cũng là nơi chứa rơm vào mùa đông. Tầng này do không có cửa sổ – ánh sáng duy nhất là từ chiếc cầu thang bằng gỗ ọp ẹp dẫn lên tầng trên – nên vào mùa đông chắc là ấm hơn nhiều so với bên ngoài. Mùi phân súc vật khiến vài người trong đoàn hơi khó chịu.

Chúng tôi leo lên tầng trên của ngôi nhà. Thiết kế của tầng này cũng khá đặc biệt: các gian phòng để ở và sinh hoạt được xây liền nhau tạo thành một hình vuông lớn khép kín, bao quanh một chiếc sân lộ thiên cũng vuông vức nằm ở giữa. Một người đàn bà trạc 40 tuổi hơn (thật ra rất khó đoán tuổi của người Tây Tạng, vì khí hậu cùng với cuộc sống khắc nghiệt thường làm họ già đi trước tuổi, nhất là phụ nữ) đang đứng ngoài sân cùng cậu con trai nhỏ khoảng 4, 5 tuổi. Bà tươi cười chào chúng tôi, nhìn chúng tôi một cách hiền lành nhưng có vẻ xăm xoi, và quay sang nói gì đó với Chamba. Chắc là bà ta hỏi về xuất xứ và mức độ lương thiện của chúng tôi. Chúng tôi cũng mỉm cười với bà để bày tỏ thiện cảm. Phía bên kia sân, đối diện với nơi chúng tôi đứng, có một người đàn ông gương mặt lam lũ nhưng khá trẻ đang ngồi trên một chiếc ghế thấp, lưng dựa vào tường. Anh ta nhìn chúng tôi như quan sát, miệng cắn một cọng rơm dài mà anh cầm trên tay. Khi bắt gặp tôi nhìn lại anh và có ý muốn chụp ảnh, anh ngượng nghịu khoát tay như bảo “đừng chụp!” tuy không tỏ vẻ gì là khó chịu. Tôi hỏi Chamba người đàn ông trẻ tuổi ấy là ai, có phải là chủ nhà không, nhưng cũng ngụ ý hỏi rằng anh ta là gì đối với người đàn bà đang tiếp chuyện chúng tôi.

Và đây là câu chuyện trao đổi giữa tôi (TC) và người phụ nữ nông dân Tây Tạng ở vùng Tsang (PN), qua nghệ thuật phiên dịch của anh hướng dẫn viên trẻ tuổi và thật thà (Chamba):

(TC) – xin phép được hỏi tên của bà?
(PN) – (cười) Tsering.
(Chamba) – Tsering có nghĩa là “sống lâu”.
(TC) – cô bé kia là con gái của bà?
(PN) – vâng (cười).
Cô bé có vẻ e thẹn, không dám nhìn chúng tôi.
(TC) – ngôi nhà này là của bà?
(PN) – vâng, của tôi... không, đúng ra là của gia đình chồng tôi.
(TC) – người đàn ông ngồi đằng kia là chồng bà?
(PN) – (quay nhìn người đàn ông trẻ) vâng, anh ấy là chồng thứ ba của tôi.
Mọi người trong đoàn nhìn nhau, ngạc nhiên một cách thích thú.
(TC) – tại sao lại là “chồng thứ ba”?
(Chamba) – bởi vì bà ấy lấy cả ba anh em ruột, trong cùng một nhà.
Mọi người lại nhìn nhau.
(TC) – cả ba anh em đều là chồng của bà ấy?
(Chamba) – vâng.

Mọi người bắt đầu xì xào; Những câu hỏi đủ loại bắt đầu bật ra từ những cái đầu hiếu kỳ và hay nghĩ bậy của một vài người trong chúng tôi (trong đó có tôi!).

(TC) – bà lập gia đình đã lâu chưa?
(PN) – (suy nghĩ)... tôi lấy ông anh cả cách đây 17 năm, lúc tôi 20 tuổi; Sau đó một năm tôi lấy người thứ nhì, em trai của anh ấy.
(TC) – còn người thứ ba?
(PN) – (quay nhìn người đàn ông trẻ ngồi đang ngồi phía bên kia sân và cười) anh ấy là em út, tôi lấy anh ấy cách đây 10 năm.
Người đàn ông mỉm cười, có vẻ lúng túng và xấu hổ; Anh ta đứng dậy và bỏ đi vào nhà.
(TC) – ông ấy nhiều tuổi hay ít tuổi hơn bà?
(PN) – anh ấy nhỏ hơn tôi 5 tuổi.
(TC) – còn hai người kia?
(PN) – ông anh cả lớn hơn tôi 3 tuổi, người em kế hơn tôi 1 tuổi.
(TC) – họ đâu cả rồi?
(PN) – cả hai đều đang làm việc ngoài đồng.
(Chamba) – những người ở vùng này phần lớn làm nghề nông và sống định canh định cư.
(TC) – khi nào họ mới về nhà?
(PN) – họ thường về nhà vào lúc chiều tối.
(TC) – tại sao ông chồng trẻ nhất của bà lại ở nhà?
Có tiếng ai đó nói đùa “tại vì anh ta được bà ấy cưng nhất cho nên không bắt phải làm lụng”, và mọi người ồ lên cười.
(PN) – hôm nay đến lượt anh ấy ở nhà. Ba anh em thay phiên nhau, mỗi người ở nhà một ngày để trông nom vợ con.
(TC) – bà có phải ra đồng để làm lụng không?
(PN) – có chứ, khi nào công việc nhiều và họ cần đến tôi thì cả bốn vợ chồng đều phải đi ra đồng làm việc. Nhưng bình thường thì tôi ở nhà vì tôi phải trông 2 đứa con còn nhỏ; Tôi cũng có rất nhiều việc nhà phải làm.
(TC) – bà có tất cả mấy đứa con?
(PN) – ba đứa. Con bé này lớn nhất, 14 tuổi (chỉ vào đứa con gái). Thằng nhỏ là em út của nó, mới 5 tuổi.
(TC) – còn một đứa nữa ở đâu?
(PN) – nó là đứa thứ hai, con trai, 8 tuổi, đi học chưa về.
[Ở Trung Quốc hiện nay, chính sách “một con” chỉ áp dụng đối với người Hán; Những dân tộc thiểu số, trong đó có người Tây Tạng, được quyền có nhiều con hơn]
(TC) – cô con gái lớn không đi học sao?
(PN) – hôm nay tôi bắt nó nghỉ học vì em nó bị bệnh, nó phải ở nhà trông em để tôi làm việc nhà.
(TC) – việc nhà của bà là gì?
(PN) – (cười) nhiều lắm; Nấu ăn, xay bột lúa mạch để làm bánh tsampa, vắt sữa trâu yack, đánh sữa làm bơ, đôi khi làm cả pho-mát.
(TC) – pho-mát làm bằng sữa trâu yack?
(Chamba) – pho-mát làm bằng sữa trâu yack là một món ăn đắt tiền, thường để dành ăn với trà-bơ.
(TC) – ngon không?
(Chamba) – ngon hay không còn tùy người; Riêng tôi thì rất thích.
Người đàn bà nói gì đó với Chamba và đứa con gái; Cô gái nhỏ đi vào nhà bếp ở gần đấy.
(Chamba) – lát nữa đây bà ta muốn mời quý vị dùng thử món pho-mát Tây Tạng làm từ sữa trâu yack.
(TC) – trong ba người chồng của bà, bà yêu người nào nhất?
(PN) – (cười, có vẻ e thẹn)... người nào cũng tốt và cũng đều làm lụng giỏi.
(TC) – họ có bao giờ ghen với nhau không?
(PN) – không, ba anh em rất quý nhau; Đôi khi họ cũng có chuyện qua lại, xích mích giữa đàn ông ấy mà... nhưng ghen thì không.
(TC) – trong ba người, bà yêu ai nhất?
(PN) – (cười)...
(TC) – bà không muốn trả lời cũng được.
(PN) – người nào cũng thương vợ con. (Nhìn về phía căn phòng nơi người đàn ông trẻ vừa đi vào) ông chồng thứ ba của tôi rất tốt với tôi; Anh ấy thường ở nhà với tôi nhiều hơn.
(TC) – chúng tôi có thể vào thăm bên trong nhà không ạ?
(PN) – (vồn vã) vâng, được chứ, xin mời vào, mời vào...



Chúng tôi và Chamba theo chân người đàn bà bước vào thăm các gian phòng trong ngôi nhà ở tầng trên. Cô gái nhỏ tay cầm một chiếc khay lớn bằng nhôm đang từ trong nhà bếp bước ra thì chúng tôi bước vào. Người mẹ đỡ lấy chiếc khay, chìa ra trước mặt từng người chúng tôi và ân cần mời mọc.

(Chamba) – bà ấy mời quý vị ăn thử món pho-mát Tây Tạng, làm từ sữa trâu yack, và làm tại nhà.

Chúng tôi nhìn vào chiếc khay rồi lại nhìn nhau. Trong khay chất đầy vun lên những khoanh pho-mát nhỏ quăn queo màu trắng ngà, có vẻ hơi cứng như loại pho-mát gruyère của Pháp, trông rất hấp dẫn. Nhưng do tôi đã đến thăm Tây Tạng nhiều lần và đã có khá nhiều kinh nghiệm về “hương vị” của những sản phẩm làm từ sữa và thịt của loài trâu yack, nên tôi đành lắc đầu từ chối khéo, lấy cớ là bụng yếu, ăn vào sợ có chuyện. Một số người trong đoàn đưa tay nhón một miếng pho-mát để ăn thử.
Nhà bếp chiếm cả một gian phòng khá rộng, tối mò mò và nồng nặc mùi mỡ trâu yack. Chúng tôi tìm hiểu cách nấu nướng hay chế biến một số món ăn chính của người Tây Tạng, xong kéo nhau đi qua “phòng ngủ chính”. Master bedroom đây rồi! Sở dĩ mọi người chú ý nhiều đến phòng ngủ là bởi vì chúng tôi đang đi thăm ngôi nhà của một người đàn bà lấy ba chồng!

Phòng ngủ chính là gian phòng lớn nhất trong ngôi nhà, hình chữ nhật. Bước vào, chúng tôi để ý ngay đến một chiếc tủ với hoa văn và màu sắc sặc sỡ dựng ở góc phòng dùng làm bàn thờ Phật. Ngay gần cửa ra vào đặt một máy phát điện loại gia-dụng, made in China. Phần lớn diện tích tường là cửa sổ kính, kể cả phần vách ngăn với những phòng bên cạnh. Hai chiếc giường với kích thước dài hơn là rộng được kê hai đầu đâu lại với nhau thành hình chữ L. Giường không có nệm mà được trải bằng những miếng thảm len rất dày. Trên giường có mấy tấm chăn bông kiểu Tàu cuộn tròn và nhiều chiếc gối vứt ngổn ngang. Dưới đất thì đồ đạc lỉnh kỉnh bày la liệt. Người ta đun trà ngay trong phòng ngủ để làm trà-bơ, đồng thời cũng để sưởi ấm.

(TC) – những ai ngủ trong phòng này?
(PN) – tôi và hai đứa con trai nhỏ.
(TC) – cô con gái của bà ngủ ở đâu?
(PN) – nó ngủ ở phòng bên cạnh.
(TC) – còn mấy ông chồng của bà?
(PN) – cũng vậy, họ ngủ ở phòng bên cạnh với con gái chúng tôi.
(TC) – cô bé ấy là con của ông nào?
(PN) – (cười)... tôi không biết nữa... nhưng chắc chắn nó không phải là con của người thứ ba.
(TC) – còn hai đứa con trai?
(PN) – (nói như phân trần) tôi cũng không biết... làm sao mà biết được?

Tôi quay sang Chamba: “hỏi những câu hỏi hơi tò mò vào đời tư của họ có sợ làm bà ấy phật lòng không?”, Chamba cười xuề xòa: “không sao đâu, quý vị cứ tự nhiên hỏi”.

(TC) – tôi nghĩ rằng bà ấy chắc phải biết đứa con nào là của ông chồng nào chứ?

Chamba và người đàn bà trao đổi qua lại với nhau, trong khi tôi nghe có một người trong đoàn cười khúc khích và bảo: “ăn chung ở lộn như vậy, nếu là tôi chắc tôi cũng chịu, làm thế nào mà biết đứa nào là con của ông nào!”
(Chamba) – bà ấy giải thích rằng bởi vì cả ba ông chồng đều sinh hoạt thân mật thường xuyên với bà nên khi có bầu bà không thể biết chắc người nào là cha của cái bầu ấy.
(TC) – ba đứa nhỏ xưng hô thế nào với ba ông chồng của bà?
(PN) – cả ba đứa con của tôi đều phải gọi ông thứ nhất là “cha”, bởi vì ông là anh cả trong ba anh em.
(TC) – thế hai ông em thì chúng gọi là gì?
(PN) – là “chú”, cho dù họ có là cha ruột của chúng đi nữa, bởi vì phong tục là như vậy; Nhưng thật ra chúng đều xem cả ba người là cha của chúng.
(Chamba) – và cả ba ông chồng đều xem chúng là con chung.



Chúng tôi đi sang phòng bên cạnh, cũng là phòng ngủ. Thực ra người Tây Tạng không có khái niệm “phòng ngủ”, mà đúng ra nơi họ ngủ, dù lớn hay nhỏ, cũng đồng thời là nơi họ ăn uống và sinh hoạt. Cách bài trí trong gian phòng này cũng gần giống như “phòng ngủ chính” mà chúng tôi vừa thăm; Cũng có hai chiếc giường dài kê đâu đầu lại với nhau, với đồ đạc lỉnh kỉnh vứt la liệt khắp nơi, chỉ khác là không có cái bàn thờ tô vẽ lòe loẹt.

Chúng tôi đi sang phòng kế tiếp, phòng này có vẻ sáng sủa hơn vì tường sơn màu vàng. Cũng lại là phòng vừa làm chỗ ngủ vừa làm chỗ sinh hoạt. Bước vào, chúng tôi nhìn thấy người đàn ông trẻ – ông chồng thứ ba của bà Tsering, bà “sống lâu để... hưởng!” – đang ngồi ở một mép giường. Anh ta đứng bật dậy, gãi đầu và mỉm cười với chúng tôi, vẻ lúng túng. Chamba nói gì đó với anh, hình như là chào hỏi. Anh trả lời Chamba, xong quay sang nói chuyện với người đàn bà.

(Chamba) – ông ấy hỏi quý vị từ đâu đến, và ngạc nhiên là tại sao người Mỹ mà lại không phải là người da trắng.
(TC) – chắc ông ấy không biết là có cả người Mỹ gốc Tây Tạng!
Có lẽ cảm thấy không được thoải mái khi bị chúng tôi đổ dồn hết những cái nhìn hiếu kỳ vào mình, ông chồng trẻ của người đàn bà bỏ đi ra ngoài. Thằng bé con trai bà cũng chạy theo “chú” nó.
(TC) – tại sao bà lại lấy cả ba anh em? Ai quyết định điều ấy?
(PN) – anh em họ quyết định.
(TC) – bà có bị ép buộc không?
(PN) – (đỏ mặt, cười) tôi cũng bằng lòng.
(Chamba) – phong tục không cưỡng bức người phụ nữ phải lấy nhiều chồng. Luật pháp của Trung Quốc cấm tình trạng đa thê hay đa phu, nhưng trên thực tế ở Tây Tạng không ai ngăn cản cả bốn người họ chung sống với nhau.
(TC) – tại sao cả ba anh em lại muốn lấy một mình bà?
(PN) – họ muốn bảo vệ điền sản và cả tài sản do cha mẹ để lại.
(Chamba) – họ không muốn phải chia nhỏ những thứ ấy ra. Giữ chung đất đai và tài sản thì dễ sinh lợi hơn.
(TC) – và cưới chung một bà vợ thì thú hơn! Tôi nói đùa, anh làm ơn đừng dịch lại. Nhưng ai làm chủ tài sản ấy?
(PN) – ông anh cả là người đứng tên đất đai và mọi thứ tài sản. Nhưng tất cả mọi thứ đều thuộc về tất cả mọi người.
(TC) – đất đai có thật sự thuộc về quý vị không?

(Chamba) – ruộng đất thừa kế từ ông bà cha mẹ thì người ta có quyền đứng tên, dù rằng trên nguyên tắc đất đai thuộc sở hữu của Nhà Nước. Ở Tây Tạng người thì ít đất đai thì quá nhiều, cho nên sở hữu ruộng đất không quan trọng bằng khả năng khai thác chúng.

(TC) – tài sản của gia đình bà gồm có những gì?
(PN) – ngôi nhà này, những máy móc và vật dụng trong nhà và đàn gia súc.
(TC) – có tiền mặt không?
(PN) – (cười) có chứ.
(TC) – ai là người giữ tiền?
(PN) – ông chồng thứ nhất của tôi.
(TC) – bà có giữ tiền không?
(PN) – (cười)... cũng có... nhưng không nhiều.
(TC) – có bao giờ xẩy ra xích mích giữa ba anh em vì tài sản hay tiền bạc không?
(PN) – thỉnh thoảng cũng có xích mích, tôi không rõ là chuyện gì... nhưng nói chung ba ông chồng của tôi rất quý nhau, họ là anh em ruột thịt mà!
(TC) – bà có dành ưu tiên cho người nào được vào ngủ trong phòng của bà không?
(PN) – (đỏ mặt, cười) ai muốn vào với tôi cũng được, nhà của chung mà.
(TC) – họ có bao giờ xích mích vì dành nhau chuyện ấy không?
(PN) – không, lúc nào hai ông em cũng nhường nhịn ông anh cả.
(TC) – xin lỗi bà, có bao giờ mấy ông chồng dùng vũ lực với bà không?
(PN) – không, không bao giờ.
(TC) – bà yêu người nào nhất?
(PN) – (cười) người nào cũng đối xử tốt với tôi... ông thứ ba quý mến tôi nhiều nhất.

Câu chuyện trao đổi giữa tôi và người đàn bà nông dân Tây Tạng ở vùng Tsang hình như kết thúc ở đấy... Wow! Tôi thật cũng không ngờ rằng nội dung câu chuyện lại cởi mở và có thể đi sâu vào những vấn đề riêng tư một cách thoải mái như vậy.
Đoàn chúng tôi từ giã người đàn bà đa phu, ông chồng thứ ba, hai đứa con và ngôi nhà khang trang của họ để tiếp tục hành trình đi Shigatze. Và đó là một trong những kỷ niệm lý thú và khó quên trong chuyến du lịch thăm Tây Tạng của chúng tôi vào mùa xuân năm ấy.

Mar 15, 2004
TRẦN CHÍNH.

ĐÀN BÀ TÂY TẠNG

Tây Tạng xứ tuyết, cảnh chồng chung
Uổng quá, sao tôi chẳng đi cùng
Trời ơi xứ đó người thưa thớt
Thêm một anh vô đâu có đông!

Lấy vợ thì ai cũng tốt thôi
Đời tôi yêu chỉ có một người
Nay sang cái xứ chồng chung ấy
Tớ được chia đôi, nửa cuộc đời...

Mấy bà Tây Tạng, sao sung sướng
Tóm trọn tiền nong, ba bốn tên
Thằng tôi nghèo rớt mồng tơi thế
Vỏn vẹn trên răng dưới bộ kèn!

Cái bà Tây Tạng lấy chồng chung
Xứ ấy dẫu tôi có đi cùng
Chắc chẳng đoái hoài dân lõ đít
Kèn kêu thì tiếng được tiếng không!!!

(Mar 18, 2004. Thân tặng Trần Chính – Voyages Saigon)
TRẦN THỤY LÂN.

Bài thơ tếu này ông Thụy Lân nhà chúng tôi cảm khái viết tặng anh Trần Chính sau khi đọc bài ký sự “Người đàn bà đa phu ở Tây Tạng” đăng ở phần trên. Chữ “chồng chung” mà tác giả dùng ám chỉ người đàn bà lấy một lúc ba ông chồng, và cả ba cùng sống chung với nhau.

Ký sự “Người đàn bà đa phu ở Tây Tạng” dưới đây do Trần Chính (Voyages Saigon) viết sau khi đọc và lấy cảm hứng từ bài khảo luận “Bản chất đàn ông” của Sầu Đông – Nguyễn Thọ Chấn. Ba tấm ảnh đăng kèm với bài ký sự này là của B.S. Daniel Phước Lee, một khách hàng của Voyages Saigon cùng đi với anh Trần Chính trong chuyến du-lịch Tây Tạng Mùa Xuân năm 2003.
Bài thơ “Đàn bà Tây Tạng” đăng ở phần cuối của Trần Thụy Lân.
SALADE EsPRESSO.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khu vườn cũ



Suốt năm này qua năm khác
Bạn đi quẩn quanh trong khu vườn của mình
Bạn nghĩ là bạn đang sáng tạo
Thực ra chưa có gì hình thành
Vẫn là đất cũ
Khu vườn cũ
Cỏ cây muôn năm rồi và rêu mọc xanh
Vẫn sâu cứng, sâu mềm rình trong kẽ lá
Dù cho trên đầu màu mây vẫn xanh
Cuộc khốc liệt của những người hàng xóm
Trổ tài khoe uốn lá tỉa cành
Chưa ai ươm được dáng cây cổ thụ
Bằng những ngẩn ngơ tăm tối gọi bằng chân thành
Ôi xứ sở bốn mùa hoa lá
Tự nhiên vắng đi gió từ biển thổi về
Và thiếu nắng, nắng điên rồ dữ dội
Chỉ có mưa phùn, gió bấc buồn tênh
Bạn muốn ra khỏi khu vườn chết tiệt
Yêu thương nhiều năm trói buộc mình
Những chiếc lá nhẹ lướt ngang cổ bạn
Mùi cỏ hăng hăng khiến bạn rùng mình
Bạn ngán đến cổ những lời khích lệ
Lích tích chim nhặt sâu, tiếng hoa rụng đầu cành
Giờ là lúc thèm chân trời vang động
Tiếng sấm mùa xuân gọi nụ biếc cho cành

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thơ vụn:


THÔI THÌ


Thằng dở thơ
chê thằng dở người..
Thương buổi văn chương đi vào ngõ cụt!
Lề phải ta đi cuối ngày hẫng hụt
không khá hơn,
lề trái lem nhem..
Còn gì ta tặng cho em?
Câu thơ nhặt ở chợ đêm mang về?
Câu thì cụt
Nghĩa thì què
“Mở miệng” nói dóc người nghe phát khùng!
“Vất thơ” mặc lấy váy hồng,
“Đôi hài vạn dặm”đã từng nắng mưa..
Người giận thơ
kẻ yêu thơ
Lênh đênh con sóng
đò đưa sông dài..
Thôi thì thơ nhé chia tay!
Lửng lơ phúc phận, gió bay, sóng ào?

Họa chăng thêm khúc chiêm bao??


KHÔNG NÊN BAY

Thơ chỉ có đôi cánh mỏng
Làm sao ta ngang qua bầu trời?
Ước gì có con ngựa sắt
Và tre đằng ngà làm roi?
Ta sẽ quất vào vô tâm, vô cảm
Thức lên tình núi sông này..
Băng qua cánh đồng dài rộng
Không tiếng kêu buồn, oan tiếng lá rơi.
Ngựa sẽ đưa ta băng qua biển cả
Nơi đảo xa sóng lấn từng ngày
Đỡ con thuyền chao nghiêng của người câu cá..
Để tiếng hò khoan vang ở phía chân trời..
Ta qua những phố phường nhiễu nhương cát bụi
Đăm đăm, nhăn nhúm lòng người
Qua những cánh rừng từ lâu trơ trụi
Lại từ đầu, trông thoi thóp dáng cây..
Chợt nghĩ: Liệu có hay gì nếu được bay như vậy?
Sông núi, cánh đồng, biển cả vẫn như xưa
Cả thành phố băn khoăn mệt mỏi..
Ta tìm đâu, cảm hứng cho thơ?
Ngày mưa gió, câu thơ buồn xếp cánh
Ngựa sắt xem ra cũng chồn chân rồi
Mọi chọn lựa đều thành vô ích
Khi ta thiếu điều:
không thể thiếu trong tay??

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Khi đá biết nói -- truyện ngắn "Thạch tinh trong ruột một người" của Nguyễn Tuân




Dưới đây là một truyện ngắn thuộc dạng yêu ngôn (yêu= ma, quái) của Nguyễn Tuân, thiên truyện lạ lùng bậc nhất mà lại chưa hề xuất hiện trong một tuyển tập nào của tác giả mấy chục năm nay.
  Sở dĩ người sưu tầm tha thiết muốn nhiều bạn đọc cùng đọc lại truyện ngắn in ra lần đầu  1943 này vì hai lẽ.
Thứ nhất nó có những đoạn cực tả về tình trạng thụ bệnh của một con người.     Xã hội ta hiện nay đầy rẫy những người bệnh tật, bệnh nổi có bệnh chìm có; và tổng quát lại có thể coi là một xã hội trong thời hậu chiến bệnh tật.   Chắc hẳn là sau những trạng thái bệnh bình thường, còn có biết bao nhiêu thứ bệnh kỳ lạ mà chỉ thời hiện đại mới có.
 Trước khi bàn chuyện kê đơn chữa chạy, đang cần những người biết miêu tả biết nói ra cho mọi người rõ về bệnh để cùng biết, cùng ngấm, cùng sợ.
   Hơn nữa, chữ bệnh theo nghĩa đen thường cũng tương ứng với một tình trạng bệnh tật về tinh thần,– chữ bệnh theo nghĩa bóng.
   Thứ hai truyện nói về sự báo oán báo thù cũng là cái thứ rất nặng nợ trong mối quan hệ giữa người với người thời nay.    Trong truyện ngắn dưới đây, báo oán  là sự trừng phạt kỳ cục với những kẻ lừa dối dẫn đến cái chết của mấy người đàn bà trẻ tuổi.
Ngày nay đang nẩy sinh những tội ác trên quy mô lớn, động chạm đến số phận tài sản nhân cách hàng vạn hàng triệu người.   Bất lực trước tình trạng công lý không có trên trần thế , hẳn các nạn nhân  có lúc sẽ nghĩ tới việc cầu cứu tới những thế lực siêu nhiên.
    Người ta cùng mong đợi một sự báo oán ghê rợn tột cùng sẽ xẩy ra với bọn ác.
     Niềm tin vào cái  thế lực  mơ hồ huyền bí ấy hình như rất sâu sắc nơi Nguyễn Tuân. Nó buộc ông ở cuối truyện, mượn lời một nhân vật , phải công khai đứng ra khuyên mọi người qua các tình tiết éo le để “tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức”.  
Tác giả thường bị mọi người coi là một ngòi bút ngang ngược, phá cách, duy mỹ, bất chấp cả những lẽ phải thông thường.
Ở đây, khi  tự nguyện đóng vai giáo huấn, ông có dịp thể hiện một sự “phá cách ngược” nghiêm trang hiếm thấy.
      Chính nó là cái dư vị kéo dài  khiến tôi tin là thiên truyện đáng được đông đảo chúng ta đọc đi đọc lại và liên hệ với tình hình thời sự.

GHI CHÚ VỀ VĂN BẢN       Sinh thời Nguyễn Tuân, các truyệnYêu ngôn đã viết chỉ mới kịp đăng báo chứ chưa được ráp thành tập. Dựa trên ý đồ và tài liệu sẵn có của tác giả, nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Mạnh đã tìm cách dựng lại Yêu ngôn rồi khai sinh cho nó thành một tập sách riêng.  Sách Yêu ngôn in ra lần đầu ở nhà xuất bản Hội Nhà văn 1999. 
     Chúng ta có dịp đọc lại ở đây Đới roi, Rượu bệnh, Xác ngọc lam, Loạn âm, Lửa nến trong tranh, ngoài ra còn có Khoa thi cuối cùng và Trên đỉnh non Tản (lấy từ Vang bóng một thời ),Tâm sự của nước độc (lấy từ Chùa đàn).   
Song theo chúng tôi tìm hiểu, Yêu ngôn của Nguyễn Tuân không chỉ có vậy.    
Thiên truyện  dưới  đây in ra lần đầu ở một tập sách mang tênThơ văn mùa xuân ( 1943 ), vốn là một thứ sách tập hợp sáng tác của nhiều người khác nhau. 
Điều đáng chú ý là trong truyện này, tác giả đã ghi chú là sẽ cho in Tổ tôm người và ở cuối truyện thì có ghi rõ là rút ở tập Yêu ngôn. 
Tiếp đó, tới đầu 1945, trên tạp chí Thanh Nghị số đặc biệt ( 100,101.102,103,104) , còn thấy NXB Tân Việt quảng cáo rằng đã in của Nguyễn Tuân một tập ký mang tên Xe đào ( ghi rõ bản thường mỗi cuốn 7 đồng ) và sẽ cho in Cậu lãnh một.  
Xe đào nói ở đây tức là xe điều, một quân trong cỗ tam cúc; còn lối gọi nhân vật là “cậu lãnh một” cũng xui người ta liên tưởng tới cách gọi nhân vật trong Chùa đàn.  
Lại một lần nữa chúng ta thấy sự liên tục của những mô típ và chất liệu.    
Bởi vậy mặc dù chưa tìm thấy các cuốn sách trên trong các thư viện (  hơn nữa  Cậu lãnh một có thể là mới rao thế thôi, nhưng tác giả chưa cho in, thậm chí chưa viết ), chúng tôi vẫn muốn tin rằng có cả một mạch tư duy “kiểu yêu ngôn“ mà vào khoảng 1942 – 1945, Nguyễn Tuân đã theo đuổi.  
   Có khả năng cả loạt tác phẩm đã được thai nghén, và dù chỉ một số đã xuất xưởng, số ấy cũng nhiều hơn những truyện trong tập Yêu ngôn chúng ta đang có.    
Thiên truyện Thạch tinh trong ruột một người, [ tinh chứ không phải tín]  in đúng như văn bản đã tìm thấy, kể cả cách viết hoa trong một số trường hợp ; chỉ riêng cách viết một số từ, chúng tôi sửa theo quy định chính tả hiện nay. Chú giải đầu tiên của tác giả đánh dấu hoa thị, các chú giải sau đều là của người sưu tầm. 


THẠCH TINH TRONG RUỘT MỘT NGƯỜI


“…đến lúc nào mà đá lại biết nói nữa,  thì chúng bay sẽ chết hết"
Kinh Sám Hối

Từ cái chuyến đi chơi hội Đèn mùa Xuân năm ấy và đánh Tổ Tôm Người (*) ở làng Nguyệt Tường về , là cậu Bảy đau nặng. Bệnh lạ quá. Động ăn chút gì vào là thổ ra hết. Thuốc, đến chén này là chén thứ bốn mươi hai — tính đến cụ lang xóm Bình Xa này là ông danh y thứ mười một –, không chén thuốc nào chịu đi qua cổ họng cậu Bảy.
Mặc dầu con bệnh cố nuốt nước thuốc mà thuốc không chịu xuống.  
Hễ uống ngụm nào là lại trả ra ngay.
Nền gạch lá nem dưới giường kia, từ ngày cậu Bảy nằm liệt đó, đã mất cái màu hồng tái cố hữu của nó. Những nước thuốc thổ ra đây đã sơn lên một màu cánh gián dày cộm, mỗi khi gặp kỳ hanh nó lại nứt rộp ra từng tảng cạnh uốn cong. Gặp gió nồm, những tảng sơn đó lại nhũn sũng ra, lênh láng sánh đặc.
   Trông cứ như là thuốc phiện tốt, chan hoà mà không trôi chẩy đi đâu cả.
Đến thế này thì con bệnh đã phụ thày và phụ thuốc nhiều quá.
Nước thuốc của đơn nào, cậu Bảy liền giả ngay cho thày đó, không hợp với ai cả.
Trong khi nằm chờ sự lành vững cũ trở về với thể xác, ở các lỗ chân lông con bệnh vẫn tiết ra một thứ mồ hôi đỏ như máu, mỗi ngày thay đều mấy lượt quần áo mà người vẫn cứ đỏ đẫm ra như máu.       Máu ấy khô cứng lại, dính bám vào da thịt, mỗi lần con bệnh bị dựng dậy để thay mặc, sự đau khổ thực không biết thế nào mà nói cho hết được.
Đũng và cạp quần, đường hồ lá sen áo cánh dính bết vào đã đành. Lại đến cả đường bâu áo dài cũng phải khéo tay gỡ lắm thì mới tránh được sự nhăn nhó rên la cho con bệnh.
Nhục hình đó, sớm chiều ngày nào cũng diễn lại.  
Vào những buổi thay áo và tắm khan cho cậu Bảy, thân quyến đều lánh đi hết. Chỉ có một người đầy tớ già làm việc bên giường.  
Cậu Bảy lo khổ về bệnh thì có một phần và đau xót về nỗi nhục nhã này thì có đến muôn nghìn.
Không rõ có phải đây là một chứng nan y hay không, nhưng con bệnh tưởng phụ ngay được đời sống bằng một việc quyên sinh còn hơn là kéo dài ngày chờ khỏi với cái cảnh tượng một phế nhân tanh tởm xấu xí này.
Hỡi ôi, trông cậu bây giờ, ai dám nghĩ rằng con người ấy, trước đây, đã từng bao nhiêu lần mặc áo gấm lam có vảy bạc và cưỡi một con ngựa màu phấn đạm. Cậu Bảy tuy là người của thế kỷ này, nhưng nhất định không dùng ô-tô, mặc dầu cậu thừa sức sắm được – mỗi lần ngừng nhạc (1) ở cổng vườn nhà nào để hỏi thăm tiểu chủ nhân xem đêm trước hoa rụng nhiều hay ít, thì miệng nói ra toàn là thơ và nhời của câu đối cả!
Con người phong lưu mã thượng ấy, giờ trông đáng kinh tởm lắm.
Ngày nào cũng vậy, ở các lỗ chân lông, thay cho mồ hôi của một thứ bệnh thoát dương,chưa có tên chua trong y khoa xứ này thời này, máu cứ đều đều rỉ tuôn ra tưởng như không bao giờ cái chất quý ấy ở một người lại có thể cạn kiệt được. Gian buồng bệnh, tanh hơn lòng thuyền của người đi bể đánh cá dài hạn.  
Cho người lạ chợt vào đây, cái cử chỉ đầu tiên của người ấy là cứng chân kìm đà bước, ưỡn ngửa người ra sau để đưa tay lên cố mà băn khoăn với một cơn mửa lộn hộc.  
Và nhìn người nằm đờ trên giường bệnh áo quần tẩm ướt đỏ ngòm và dưới gầm bóng loáng nước thuốc nâu cô sánh lại, người ta nghĩ đến một vụ án mạng — tử thi nằm chờ quan huyện đến khám nghiệm, đối chiếu xác với phép sách Tẩy Oan.
Thân quyến cũng héo dần trong sự ngậm ngùi.
Hết lễ bái ở đền này phủ nọ, hết bói toán tướng số thì lại ngờ đến mồ mả gia tiên xem có ai phạm tới không.
Ông thầy địa lý cũng không hơn gì được ông thầy bói và ông thầy thuốc.
Cô Chín — em ruột cậu Bảy — vốn biết anh mình không phải là một người thẳng thắn, trong tâm tính những lúc ra ngoài, ngờ anh đã dính vào một việc tình cảm ở chỗ đầu sông ngọn nguồn xứ Mường, đã chót chỉ non thề bể với con nhà lang đạo nào ở thượng du để đến nỗi người ta phải hờn giận mà chài ốm chăng.
Bèn nói với mẹ nên đem vàng nhang lên dò hỏi ở những chỗ rừng xanh núi đỏ.  
Cũng vô hiệu. Cũng vẫn không chỉ được cái thứ mồ hôi đó ngày ngày tuôn rỉ ra khắp mình Cậu Bảy.    Ấy là sự thuốc thang chạy chữa.  
Còn như việc cơm cháo hằng ngày thì con bệnh chỉ chịu uống có nước đậu xanh xanh lòng; còn bất cứ cái gì khác là cũng đều trả ra hết.  
Người, ăn uống như thế, gì mà chẳng teo ngót mãi đi. Tứ chi như bốn thân que, khắp mình đường gân xanh nổi lên rõ; ổ mắt trũng xuống, xương lồng ngực đội mãi lên; cuống họng thắt lại, tiếng nói bé dần, nói ra không ai nghe thấy gì nữa; rồi đến thính giác lại càng hỏng quá; không nghe thấy một tiếng động gì của ngoại cảnh lọt được vào và riêng trong đầu mình thì suốt ngày đêm cứ thấy có cái gì nó kêu gào ngay ở đấy  —  lắm lúc nghe sợ quá, con bệnh lại rú lên, vật vã giẫy giụa, trông thương thảm vô cùng.
Một hôm, theo lệ thường vào thay quần áo lần thứ nhất mỗi ngày cho Cậu Bảy, người nghĩa bộc có tuổi bỗng kêu to lên, làm kinh động cả một gia đình ít lâu nay chỉ còn sống trong âm thầm.
Y gọi cả nhà lại giường bệnh mà xem.
Người nằm đây không đỏ đẫm như mọi ngày nữa và giờ lại trắng bệch. Thì ra, không hiểu vì phép sinh lý gì, máu đỏ trong người con bệnh đã hết từ đêm trước và, tuôn ra các lỗ chân lông, giờ chỉ toàn là một thứ máu trắng.
 Lấy tờ giấy bản để lên mình con bệnh một lúc lâu cho nó thấm hút lấy ít máu trắng, người lão bộc thè lưỡi nếm vào mảnh giấy ướt, thấy nó nhạt như vị nước lã, bèn khóc oà lên với một câu: “Thế này thì cậu con chẳng còn sống được mấy chốc nữa đâu. Cả nhà lo liệu đi thì vừa thôi.”
Từ buổi nếm phải một thứ máu không có chất tanh, mặn và thay những quần áo không còn màu đỏ máu như trước nữa, người đầy tớ già xác tín rằng mình đang liệm sống cho một người lả dần về cõi khác.
Cuối tháng đó, nguời chú Cậu Bảy lật đật về đến nhà, sau khi nhận được gia thư do Cô Chín gởi đi. Ông tức tốc vào buồng bệnh, đem thẳng ngay cát bụi của đường xa vào gian phòng sâm tịch (2), muốn giáp mặt ngay đứa cháu để hỏi chuyện.  
Đã từ lâu, Cậu Bảy vốn không nghe được tiếng gì và không nói được ra tiếng, chú cháu phải lấy giấy mực ra để bút đàm. Tờ giáp (3) cuộc hội đàm thân mật bằng bút này, xem lại y như những lời hỏi cung và những lời thú tội. Gọn rõ và cảm động.
Chú hỏi: “- Tháng giêng mùa vừa rồi, mày cho ngựa ngày ăn cỏ ở vùng nào?”
Cậu Bảy, cố thu hết thân lực vào đôi mắt, nhìn ông chú không chớp cố tỏ cho chú biết rằng mình không có điều gì phải minh (4) cùng ai hết.  
Biết đứa cháu có tính gàn bướng, ông chú bèn đấu dịu. Bèn viết lại: “Thầy cháu mất đi rồi, lớn nhất trong chi họ nhà ta, chỉ còn có chú. Vì sự mưu sinh, chú phải đi xa luôn. Chú không ở luôn ở nhà được để góp thêm tâm ý vào việc phục hưng gia tộc, thật là một điều lỗi đối với các cháu hàng dưới. Nay nhận được thư của em Chín cháu, kể rõ sự tai biến, chú vội về thăm cháu và cần nhất là hỏi cháu mấy điều, trước khi cháu chết — chú chẳng cần phải giấu mà không dám nói ngay cho cháu biết rằng sự sống của cháu bây giờ cũng chỉ là việc của khoảnh khắc đây thôi; có kéo dài lắm thì cháu cũng chỉ đậu được đến ngày thu phân tháng sau thôi”.
Đến đây, ông chú chừng cũng bùi ngùi thay cho đứa cháu bạc mệnh, ngừng viết, nhìn Cậu Bảy.
Mặt Cậu Bảy rớm lệ.
Ông chú viết tiếp:
– Tháng giêng vừa rồi, cháu chơi ở làng Nguyệt Sương?
– Vâng. Chơi Tổ Tôm Người.
– Đúng rồi. Chẳng lúc về đây, tiện đường, chú rẽ vào làng Nguyệt Sương thăm ông Chánh Ba và được nghe một câu chuyện tự ải (5). Người con gái quan Lãnh Tín gieo mình xuống đầm. Rồi ông Chánh Ba lại kể cho chú nghe về phong tư diện mạo một người khách phương xa đến chơi Tổ Tôm Người, khăng khít với một con Thang Thang. Cứ những dáng điệu người và lời thơ hạ chữ đối và gieo tử vận (6), do ông Chánh Ba thuật lại, thì chú đoán ngay ông khách phương xa ấy lại là cháu chú rồi. Thế còn cái con Thang Thang ấy? Ai sắm Thang Thang trong hội bài người?
– Bẩm chú, chính là con gái quan Lãnh.
Ông chú lịm người đi, tay rời hẳn bút ra. Thế này thì ông hiểu rồi. Chợt trong có một phút của trực giác, ông nhận thấy ngay liên can giữa bệnh người cháu và cái chết đuối của người con gái kia.
Ông gặng hỏi: “Vậy chớ mày thề thốt những gì với con gái ông Lãnh Tín?”.  
Cậu Bảy không trả lời, khẽ thở dài.
Ông đổi câu chuyện:  
– Giờ tao hỏi về bệnh mày. Thế trong người mày bây giờ nó như thế nào? Kể rõ cho chú nghe.
– Kể lại cũng vô ích. Thuốc thầy nào chữa nổi. Cháu chỉ còn chờ có chết để tạ lỗi cùng con bài Thang Thang. Việc cô con gái quan Lãnh tự vẫn, cháu được biết từ trước khi chú nói. Chỉ có lửa vạc dầu sôi của một thế giới khác là mới tẩy hết được căn bệnh của cháu. Lửa của cuộc đời này, không đủ nóng để diệt những trùng trong mình cháu. Thôi, ngày giờ của cháu đang bị tính đếm từng li từng phút, chú để cho cháu được yên tĩnh mà nghĩ tới một hậu kiếp của cháu ở ngoài thế giới này.
– Làm ích được cho đời sống này chút nào, ta vẫn cứ phải gắng, gắng cho tới phút cuối. Bệnh của cháu, tự cổ lai đến giờ, chưa có một y gia cổ kim Đông Tây nào nói đến. Y học Thái Tây thì lại càng không có bàn đến nữa. Nó là ở ngoài khu vực y khoa hiện đại. Cháu cứ kể rõ chú nghe. Chú ghi lại để rồi sau sẽ thuật chép ra để chất chính (7) cùng những bậc Biển Thước của năm cõi lục địa. Đã hay rằng việc này là một việc quả báo, một việc âm oán. Nhưng biết đâu đấy? Cháu cứ kể rõ. Cháu gây nên tội ác, cháu đau khổ nhục nhã đến như thế, tưởng cũng là đủ cho linh hồn cháu siêu thoát rồi. Đời cháu, vào quãng cuối, thế mà lại còn hơn cả những cuộc đời kẻ khác trọn đời không làm một điều thiện nào và cũng chẳng làm một điều ác nào. Cháu cứ bình tĩnh mà kể lại chứng bệnh cháu, may ra có bổ ích gì cho người đồng thời không?
Tay run run, Cậu Bảy cầm bút.  
Những dòng chữ chằng vào nhau và chữ nọ dính bắt qua chữ khác như chữ phép lá bùa trừ tà.
Chữ ít, không có linh khiếu, thiếu cả kiến lẫn thức (8), và lại không bác văn quảng học thì có người lại sẽ tưởng đây là một câu thai (9) của sứ Tầu gởi đố và ai giảng được thì sẽ nhất đán (10 ) được làm Trạng – theo đúng vào một lời tiên tri của Tả Ao bắt hòn đất nhà mình phải phát vào ngày giờ ấy đây.

Cậu Bảy kể rằng: 
    “Tính về thời kỳ thụ bệnh kể từ hôm người cháu tiết ra một thứ máu trắng cho đến về trước, cháu không biết gì cả. Thân xác cháu ở ngoài Thời Gian và Không Gian. Những chuyện mồ hôi đỏ như máu tuôn rỉ khắp mình cháu là sau này người lão bộc kể lại thì cháu mới rõ đấy thôi. Rồi mới biết kinh sợ và cháu thừa biết là cháu hỏng mất rồi, là đời cháu hết rồi.   
“Máu đỏ chảy cạn hết, thì tiếp ngay đến việc cháu điếc và cháu câm. Ngày lại ngày, cháu nhìn lớp máu trắng tuôn đầy trên mình cháu thay cho lớp máu đỏ trước, tịnh không nghe được ai nói vào một câu nào và cũng tịnh không nói ra với ai một lời nào.   
“Đầu cháu rức nặng như bị đánh đai sắt vào. Ngủ được tí nào thì thôi, chứ hễ thức giấc dậy là như có người la ó trong đó. Tiếng kêu trong đầu rất là phồn tạp hỗn loạn. Có khi như gió ngàn đuổi mãnh thú. Có khi như bẻ bão rượt sóng bờ. Có khi vang dậy như hầm thuốc súng nhỡ bén chạm phải lửa ngoài. Có khi lại xa vắng u tịch như vọng hưởng của đàn chiêu hồn bên sông không có đò chở. 
     Ở trong đầu thì vang dậy kinh động như vậy mà nhìn ra quanh mình để lắng lấy tiếng một cái gì quen thuộc của hằng ngày nó có thể làm bạn với mình và nhắc cho mình nhớ rằng mình vẫn là người của cuộc đời này, thì cháu chỉ thấy có im lặng. 
     Những bóng người qua lại của cả nhà này đều câm cả.
        Những hình ảnh đó cử động và mấp máy môi như người trong trò phim câm.  
“Mất đến ba tuần khổ loạn như thế ở trong đầu. Được đúng một ngày một đêm, trong đầu cháu tắt hẳn tiếng kêu. Nhưng đến ngày sau thì trong người cháu lại có một việc biến rất mới lạ. Là ở trong bụng, lại có tiếng người rì rầm lào xào.  
     Hình như đấy là một cuộc nói chuyện tay đôi của hai con người. Không rõ họ là già hay trẻ, đàn ông hay là đàn bà. Vì cái tiếng nói của họ là một thứ âm thanh không có tuổi không phân ra giống cái giống đực. 
     Họ nói tuy bé nhưng rồi sau cháu cũng nghe được.   
Có lẽ vì cháu đã thành một người điếc đối với tất cả biểu diễn của cuộc đời bên ngoài bằng tiếng động, có lẽ vì thính giác của cháu chỉ còn có thu dồn vào để mình lại lắng cái tiếng của cuộc đời bên trong thôi, có lẽ vì thế mà cháu đã nghe nổi những cuộc đối thoại của họ trong bụng cháu chăng?
   Buổi sớm họ cười đùa, buổi trưa họ hờn giận, buổi chiều họ cãi nhau xỉ vả nhau để lúc khuya khoắt thì lại làm lành và cợt nũng nhau. 
     Không rõ họ có ngủ phút nào trong người cháu không, chứ hễ cháu thức lúc nào là nghe thấy họ kể lể than vãn khúc khích lúc ấy.   
     “Một buổi nặng bụng buồn tay quá, cháu có đem việc này kể ra giấy cùng tên nghĩa bộc vẫn luôn luôn có mặt ở bên giường cháu. Ngay chiều ấy, cháu nghe thấy một cuộc than khóc vật vã của họ, tiếng thê thảm đưa từ dưới lên trên đầu, rung mạnh các thớ màng óc. Cháu nghe rõ mồn một. Câu của người thứ nhất:
” -Này, nó định trục hai đứa ta ra khỏi lòng nó đấy.   
” Câu của người sau:  
” – Sao biết? Và nó định dùng thuật pháp gì? Lòng nó là quê của ta rồi. Một vào nổi là ở mãi, trăm ngàn năm cũng không ra nữa. Chỉ có nó chết, là ta mới chịu rời đi đâu thôi. Chúng ta mà vào ngồi vững được ở đáy lòng nó thì càng là việc Giời. Giời đã bảo ta vào thì rồi cũng chỉ có Giời là bắt ta ra được thôi. Chứ thứ nó thì làm gì nổi. 
“Đến đây, hai người lại hạ thấp giọng xuống.  
” – Tao nghe thấy người nhà nó đang định cho nó ăn thịt chó để đánh bật chúng ta ra ngoài. Người nhà nó, chắc đoán ra hai đứa ta là ai rồi. Vậy chớ mày có sợ mùi thịt chó không? 
” – Nếu thế này, thì cơ nguy đã đến nơi rồi. Ra ngoài, lạnh và lạ lắm. Mà rồi ăn vào đâu, ở vào đâu.   ” – Vậy mày sợ? Tao thì yên trí lắm. Nó muốn làm gì thì làm. Tao vững lắm. Không ra. 
” – Người có chất dương như anh, không sợ đã đành. Nhưng tôi thuộc về chất âm, nghe cái tin này, rất lấy làm buồn sợ. Chúng ta sẽ phải chia rời từ đây. Ra rồi thì khó mà vào lắm. Những lúc tưởng nhớ đến nhau, tôi ở ngoài sẽ thông tin với người ở trong bằng cách nào? Chẳng nhẽ biệt nhau lại có nghĩa là mất hẳn?  
“Đến lúc này, cháu mới rõ rằng trong lòng cháu, có cả một người đàn ông và một người đàn bà và họ đang xây dựng một cái gì trong người cháu.       Cháu lấy làm nghĩ nhiều. Cháu liền cho gọi lão bộc vào hỏi. Y cũng nói lại rằng ở nhà ngờ bệnh cháu thuộc về âm loạn và có người mách cho rằng muốn trừ tà khí thì không gì bằng thịt loài cầy và sắp nấu cầy cho cháu ăn.      Cháu cười và bảo lão bộc nên thôi việc ấy đi. Cháu nghĩ rằng đằng nào thì cháu cũng tận số đến nơi rồi. Có trừ khử được những quái vật ấy ra khỏi lòng dạ mình thì cuộc đời của cháu ở cõi đời này cũng vẫn cứ phải tắt hết như thường.    
Trước, lúc còn lành mạnh, đã gây nên điều lỗi với đàn bà; giờ, người đã bạc nhược hao mòn đến thế này thì còn nên gây oán luỵ làm gì với một người đàn bà khác – mặc dầu người đó là thuộc về giống yêu, giống quái đang mượn cái lòng bị hình phạt của mình để làm một nơi chung họp với một con quái khác.  
Không phải là cháu nghĩ đến sự báo thù của giống yêu quái này mà cháu sợ đâu. Điều oán của cháu gây nên ở đời thực tại này, cháu tin rằng cháu đã trang trả xong bằng cái chết mòn này rồi.  
Nhưng cái tương lai của cháu là ở ngoài đời thực tại này kia.  
Công việc kiến thiết của cháu lại phải ở ngoài thế giới này.  
Chết trong bây giờ ở đây, để mai kia cháu sẽ gặp lại con gái quan Lãnh ở chỗ khác để lập lại với nàng một cuộc sống khác công bằng hơn và đẹp hơn. 
“Bây giờ cháu nhờ chú một việc này. Là chú sẽ cho táng cháu ở mé gò Bạch Ảnh, ở bờ phía đông đầm làng Nguyệt-Sương, gần ngay chỗ con quan Lãnh gieo mình. Các bề trên trong gia tộc có gì phản đối về việc chôn cất này, chú thề với cháu là phải làm theo ý nguyện của cháu. 
Thôi, lạy chú, chú ra đi. Và cho đào huyệt sẵn đi thì vừa. Cái chết đã dâng lên đến nửa phần người cháu rồi.”*    

Lúc Cậu Bảy vừa thở hơi cuối cùng, quạ ở tám phương trời rủ nhau bay đến sao mà nhanh và nhiều đến thế. Những cây và các luỹ tre các làng phụ cận bỗng hoá ra màu đen cả.   Ở những cây đen ngòm ấy, loài ác điểu ngày đêm kêu không ngớt tiếng.  Trông thi hài Cậu Bảy, người thương tiếc thì ít mà sợ tởm thì rất đông.   Trời là một đấng biết tha thứ, biết xoá bỏ, đối với một người đã biết hối lỗi là gì rồi, sao Trời lại còn bày thêm ra một việc thảm mục (11) đến thế nữa. Cái thây Cậu Bảy ở giữa giường thực không còn hình nữa. Ra từ lúc còn sống, xương Cậu Bảy đã rũa mòn dần mà không ai để ý tới.  
Thành thử cỗ quan làm cho người chết hoá ra to rộng quá. Bỏ bao nhiêu cỗ tổ tôm, bao nhiêu cuốn lịch, bao nhiêu giấy bản, bao nhiêu trà phát du (12) vào đấy cho vừa. Nói cho đúng ra, thì phải đến năm cỗ thi hài Cậu Bảy nữa thì mới chắc kín lòng săng.
Người ta lại phải thửa áo quan khác. Nó lại chỉ bé bằng thân hình cái tiểu sành có viền đường gấm hoa chanh. Thành ra lúc đám khởi hành, việc hung táng mà người không rõ chuyện lại tưởng là cát táng (13).
     Lúc hạ huyệt, quạ trên một giời cao, một loạt chà xuống mép bờ đầm bâu cứ đen đặc lại. Đứng xa trông, bờ đầm Nguyệt Sương như có người viền một vành khăn đen tròn không nhoè lép lấy một nét.
Việc tang ma chôn cất người cháu quá mấy tuần cơm cúng rồi, bấy giờ ông chú mới ngồi ở buồng sách tại mái tây biệt thự đã được xông hương trầm mà giở cuốn Gia huấn trong họ nhà ra ghi vào đấy những dòng dưới đây:
  ” Đây là những lời quý báu ta để lại cho lũ con chính thống của ta và cho lũ cháu trong họ nhà. Tụi bay, đứa lớn rồi thì phải đọc lấy mà làm trọng và đe mình từ ngay phút này; còn đứa nhỏ thì noi các đàn anh mà gắng hiểu ngay để sớm biết mà e sợ.
  “Việc Cậu Bảy bị chết trong cảnh nghịch biến thương thảm – ta đã có thuật rõ kèm vào đây, ở chương Cố sự nơi cuối tập Gia huấn này – là một điều cảnh cáo của ý Trời. Ta vốn nặng lòng với những điều thuộc về đạo đức thường, ta rất lấy làm đau xót cho danh dự gia tộc đã bị Cậu Bảy làm tì ố. Người chết đã biết sám hối. Ta cũng đã biết tha thứ. Nhưng còn ta còn sống, còn lũ bay còn sống đó!
“Nhân việc tai biến vừa xảy đến trong họ, ta lại nhớ đến một việc cũ.
“Trước đây, ta đã nhiều phen lên rừng xuống biển để tìm chân nhân.     Một chuyến đò đi bể, còn độ phần tư đường, thì ghé được tới đảo có người bên ta bị bọn giặc bể Tầu Ô bắt.     Ta được thoát chết vì cái đức bình thản của ta trước sự rộ nạt của giáo mác lũ giặc. Đứa đầu đảng bèn đãi ta vào bực khách, lúc ăn ngủ ra vào đều lấy các thứ lễ tiết đối với cao sĩ ra mà dùng. Ngoài những lúc chúng phải bóc lột thuyền buôn để duy trì cuộc sống của chúng trên mặt nước cả, đầu đảng bọn cướp thường vời ta tới bàn để hỏi về thiên văn, địa lý và nhân luân.
Hắn biết rằng hắn hỏi ta chẳng phải để mà theo; ta biết rằng ta có nói ra, cũng chẳng phải là để cho hắn nghe.    Nhưng đã đãi nhau là đám có chữ, lấy chữ ra mà nói chuyện thì hỏi đến đâu ta đều trả lời rất thành thực và hắn cũng lấy lễ độ cất những câu ta viết ra.  
Từ đấy, hắn đãi ta vào bực thượng khách.
Một buổi thuyền Tầu Ô vào vịnh Hạ Long, ghé đảo Cát Bà. Đổ bộ, hắn đưa ta vào hầm đựng của, ở trong một hang núi cách bờ độ lụi hết hai nén hương. Ta vào, chân tay bị vướng bởi vàng lụa, ngà voi, sừng tê, quế chính sơn, mật ong, sa nhân và nhiều thứ nữa.
Hắn hỏi ta muốn gì và cười, tay giơ thẳng vào đống của cướp.
Ta cũng cười, hai tay giơ lên giời, nghĩa là đụng vào trần hang.
Ta để ý xem xét thấy bị mắc kẹt vào bọn châu báu phi nghĩa kia là một cuốn sách đã gần mục. Giở ra xem thì đấy là một tập lữ ký của Trần Dĩ Luyện – một hàng nhân trong một đoàn tuế cống sứ (14) qua Trung-Quốc, về đời Thiệu-Trị — nói về những điều tai nghe mắt thấy, bên cạnh con đường đi sứ ở Tàu (Ta vốn có khiếu riêng để nhớ những dã sử của nước nhà).
Ta không đủ thời giờ để hỏi tên cướp xem hắn bắt được sách này ở trường hợp nào. Ta chỉ kịp bảo hắn rằng vàng bạc của hắn định cho ta, ta không lấy gì làm thú bằng việc xin hắn cuốn sách ấy.       Hắn thuận và cố giữ ta ở lại.
     Ta nhất định bỏ hắn và thoái thác là nhớ quê cũ lắm. Sau hắn phải chịu, cho ta xuống thuyền nhỏ nhìn ta xuôi về Hải Ninh (15) với một cuốn sách cũ.
     “Sách đó, Cậu Bảy, vì thiếu tiền đi chơi đã bán cho một người nước Hiệp Chủng du lịch qua xứ mình.
     Ta tiếc giận vô cùng. (Nếu tụi bay mà tiền và lực có dư và lại muốn nhìn thấy sách đó, ta dám cam đoan với lũ bay rằng sẽ thấy sách đó ở tủ kính một viện bảo tàng Mỹ nào, chứ không sai).
Sách mất, nhưng trí nhớ của ta thì mất sao được. Ta đọc sách đến đâu, chữ cứ như chôn vào ruột. Vì thế mà ta mới nhớ nổi chuyện lạ của quan Hàn Lâm Trần Dĩ Luyện chép được ở dọc đường đi sứ, để kể nữa – không sai lấy một chữ một lời — cho tụi bay nghe lại:
“Đất Giang-Tô, nhiều người đưa lụa trắng ra cho đoàn sứ nước ta đề thi. Thi (16) hay và chữ đẹp quá, họ đều lấy làm cảm kích.
Một nhà kia thanh bạch, không biết lấy gì tạ lại người đi qua chỉ có một thuở, bèn đem luôn một cái thảm sử trong gia tộc ra mà kể, tưởng làm như thế cũng là đáp được cái duyên tri ngộ trong muôn một.  
 Tổ họ ấy ở đất ấy – tên người và tên đất, ngài Phó Công Sứ Nguyễn Đại Nhân có ghi rõ –, vốn là người có tài và có duyên, lúc ra ngoài, quanh năm chỉ đi chơi, chẳng mấy khi phải ăn bữa nào ở nhà.     Những lúc ra ngoài, lại hay thề thốt với rất nhiều giai nhân bên đường.
   Cơm thiên hạ hay có nhiều sạn sỏi, ăn nhiều vào, sỏi sạn ấy tích lữy và đúc lại thành những hòn cuội trong dạ dầy. Ruột ông tổ nhà họ ấy đã có cuội.
   Kế đến một lần, ông tổ nhà họ ấy dám thề nhảm với một nguời đàn bà và rủi lại gặp giờ thiêng, sau khi uống láo những giọt nước mắt của người đàn bà vào ruột, những hòn cuội cũ kia bèn hoá thành thạch tinh (17).
Những thạch tinh ấy biết nói chuyện và biết làm hại người sống. Nó phá từ trong lòng người ta mà phá ra. Phá hại lúc còn sống chưa đủ, nó lại còn theo rồi đến lúc xuống huyệt nữa kia.
Vì thế mà thi hài tổ họ ấy đã mai táng xong xuôi tưởng yên ấm, bỗng một đêm về sáu tháng sau, nó bật lên như có kẻ cắm cốt mìn vào mà bắn.
“Có lẽ hai con nguời biết nói chuyện trong ruột Cậu Bảy là giống thạch tinh đó.  Đời Cậu Bảy, tung tích bôn tẩu hồng trần, chắc trong bụng không thiếu gì sỏi sạn của cơm thiên hạ. Và nước mắt thiêng Cậu Bảy uống liều vào trong cơn trí trá với lòng người, chính là nước mắt của con gái quan Lãnh Tín làng Nguyệt Sương đó.“Lũ bay nên khớp hai chuyện chênh nhau về cả thời lẫn không-gian, nhưng đều chung một lý do huyền bí, để tìm lấy một ý niệm trong đời sống đạo đức.“Ta góp việc này vào tập Gia huấn, tự coi nó như một điều cần đáng thêm vào thập điều trong gia pháp. Lũ bay khá vâng theo”./.


Chú giải
(*) Xem truyện Tổ tôm người sẽ đăng ở Thơ văn, tập mùa hạ
(1 ) tức là dừng ngựa
(2) sâu và vắng
(3) Ngày nay hay viết : tờ nháp
(4) làm rõ,cắt nghĩa
(5) Cũng có nghĩa tự tử tuy nghĩa ban đầu nói rõ là tự thắt cổ
(6) Cái vần gieo đến mức tuyệt vời . Tương tự như tử công phu là hết sức công phu .
(7) Gạn hỏi để tìm câu trả lời đúng
(8) Kiến : điều thấy ; thức : điều biết ; đây chỉ cả kinh nghiệm lẫn hiểu biết qua sách vở
(9)Câu đố
(10) Một ngày kia
(11) Đau xót cho con mắt ( khi phải chứng kiến những chuyện thương tâm )
(12) Chúng tôi chưa tra cứu được
(13 ) Người chết chôn xuống lần đầu gọi là hung táng , bốc mả chôn lại gọi là cát táng
(14) Đoàn đi cống theo chu kỳ hàng năm ; hành nhân , nghĩa đen là người đi đường , nhưng đây chỉ người phiên dịch đi theo các sứ bộ
(15) Tên một tỉnh cũ sát biên giới Việt Trung , sau nhập vào thành tỉnh Quảng Ninh
(16) Đầu thế kỷ XX, trong ngôn ngữ hàng ngày , nhiều người vẫn gọi thơ là thi .
(17) Chỉ phần tinh tuý của đá


Mời xem thêm một bài viết khác có liên quan tới bài trên:
Tư duy nghệ thuật của Nguyễn Tuân trong các truyện Yêu ngôn:
http://vuongtrinhan.blogspot.com/2013/03/tu-duy-nghe-thuat-cua-nguyen-tuan-trong.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đoàn Thị Hương có 'cuộc sống khép kín'

Cuối cùng thì báo chính thống cũng được phép nêu tên nghi phạm người Việt.

Từng học trung cấp dược, suốt 10 năm xa quê Đoàn Thị Hương chỉ về thăm nhà vài lần, ít giao tiếp và được đánh giá là "ngoan hiền". Chiều 20/2, đại diện Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết đã chỉ đạo Đại sứ quán Việt Nam tại Malaysia "khẩn trương làm rõ các thông tin liên quan việc Malaysia bắt giữ một nghi phạm mang hộ chiếu Việt Nam dưới tên Đoàn Thị Hương".
Nghi phạm mang hộ chiếu Doan Thi Huong xuất hiện 
tại sân bay Malaysia, nơi ông Kim Jong-nam tử vong.
Nguồn tin của VnExpress cho hay, Công an tỉnh Nam Định đã nhận được chỉ đạo của Bộ Công an yêu cầu xác minh thông tin về Đoàn Thị Hương (29 tuổi) đang bị tạm giữ do nghi liên quan cái chết của người được cho là Kim Jong-nam - anh trai Chủ tịch Triều Tiên Kim Jong-un, tại Malaysia. Thông tin trên hộ chiếu thể hiện, Đoàn Thị Hương có địa chỉ thường trú tại tỉnh Nam Định.

Lãnh đạo Bộ Công an cũng xác nhận "đang kiểm tra, xác minh”. "Hiện phía cảnh sát của Malaysia chưa có văn bản hoặc công văn chính thức đề nghị phối hợp điều tra”, vị này nói.

Hôm 16/2, tổ công tác của Công an tỉnh, Công an huyện đã về địa phương thu thập thêm thông tin về Đoàn Thị Hương. Trưởng công an xã cho hay đã cung cấp các yêu cầu liên quan lai lịch của cô gái này. Đoàn Thị Hương được chính quyền cho biết chưa có tiền án, tiền sự, từ nhỏ chưa điều tiếng. Cơ quan công an đang xác minh thông tin về 10 năm sống xa quê của cô gái này.

Cuộc sống khép kín

Trong căn nhà cấp 4 tuềnh toàng nằm cuối xã, cạnh bờ kênh thủy nông, ông Đoàn Văn Thạnh (bố của Đoàn Thị Hương) xác nhận với VnEpxress đã được nhà chức trách mời cung cấp thông tin. Người thương binh hạng 2/4 này có 5 con, Đoàn Thị Hương là út.

Ông Thạnh cho hay Đoàn Thị Hương ngoan, hiền song càng ngày càng sống khép kín, ít chia sẻ với người thân. Con gái út của ông "thoát ly" gia đình từ khi về Hà Nội học trung cấp dược, 2-3 tháng về thăm nhà một lần.

Cô nói với gia đình ở và làm việc tại Hà Nội, song suốt 10 năm qua, dù ông Thạnh và gia đình gặng hỏi, Hương lảng tránh, không trả lời địa chỉ tạm trú cũng như nơi làm việc. Gia đình nghèo khó, vợ ốm mất 2 năm trước, bản thân ông là thương binh nên chưa có điều kiện về Hà Nội tìm hiểu con sống thế nào.

"Lần nào con bé cũng về vào lúc 8-9 giờ tối và đi vào sớm hôm sau, ít trò chuyện và thường không ra khỏi nhà. Nó không đưa tiền phụ giúp bố mẹ song cũng chưa bao giờ xin", ông Thạnh nói. 


Ông Đoàn Văn Thạnh, bố của Đoàn Thị Hương là thương binh 2/4. Ảnh: Giang Chinh.

Ông Thạnh nhiều lần giục lấy chồng song Hương đều nói "chưa nghĩ đến". Trong mô tả của người bố, con gái ông cao chừng 1,6 m, tóc uốn xoăn.

10 năm xa nhà, cô gái này chỉ về nhà một mình, chưa từng đưa bạn bè về thăm gia đình. "Những bức hình chụp chung với gia đình, con cũng không có mặt", ông nói.

Lần gần nhất Đoàn Thị Hương về thăm quê là ngày 25/1 đến 29/1/2017 (mùng 2 Tết Đinh Dậu), cô chỉ ở trong nhà mà không thăm họ hàng, bạn bè.

Ngày 13/2, công dân Triều Tiên mang hộ chiếu có tên Kim Chol (được cho là Kim Jong-nam, anh trai cùng cha khác mẹ của lãnh đạo Triều Tiên Kim Jong-un) bị hai phụ nữ tấn công, nghi bằng chất độc, tại sân bay quốc tế Kuala Lumpur, Malaysia.

Hai nữ nghi phạm mang hộ chiếu nước ngoài đã bị cảnh sát Malaysia bắt giữ. Indonesia xác nhận một nữ nghi phạm là công dân nước này và cho biết đang yêu cầu được tiếp cận lãnh sự để hỗ trợ pháp lý. Nghi phạm nữ còn lại mang hộ chiếu với tên gọi không dấu Doan Thi Huong sinh năm 1988, quê Nam Dinh. Hiện chưa có bất cứ thông tin nào xác nhận tính hợp pháp của cuốn hộ chiếu mang tên Doan Thi Huong.




Diễn biến vụ hạ độc trong vòng 5 giây với ông Kim Jong-nam (bấm để xem chi tiết).

Trong một diễn biến mới nhất, Triều Tiên vừa lên tiếng không xác nhận người đàn ông bị sát hại ở sân bay quốc tế Kuala Lumpur là Kim Jong-nam, anh trai cùng cha khác mẹ của lãnh đạo Kim Jong-un.

Giang Chinh - Bá Đô
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/doan-thi-huong-co-cuoc-song-khep-kin-3542375.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang