Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Hai, 20 tháng 2, 2017

Bài toán nông nghiệp là gì?


ĐỨC HOÀNG 20.02.2017, TTCT - Thỉnh thoảng, ở đâu đó bạn bắt gặp một nỗ lực “đi tìm lời giải cho bài toán nông nghiệp Việt Nam”. Thậm chí có thể bắt gặp cả tuyên bố “đã tìm được lời giải cho bài toán”. Nhưng có một thực tế là chưa có một nỗ lực đáng kể nào để đi tìm... bài toán là gì.

Đất đai cằn cỗi, nông dân càng phụ thuộc vào hóa chất. ảnh Chí Quốc
Các dòng sông đều chảy... nhanh
Một người nông dân ở Đồng Tháp và một cố vấn của Cơ quan Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) có điểm gì chung? Họ cùng nhìn thấy một vấn đề nông nghiệp của đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Trong một buổi chiều, người viết đối thoại với cả hai nhân vật ở hai đầu đất nước. Một người phải thường xuyên dừng lại để làm rõ các phương ngữ và thổ âm.

Một người sử dụng nhiều từ tiếng Anh chuyên ngành. Dù không hề biết đến quan điểm của nhau, cả hai cùng đưa ra một thông điệp: các dòng sông ở ĐBSCL đang chảy quá nhanh.

Người nông dân là Võ Văn Tiếng - một chàng trai trẻ ở Hồng Ngự, Đồng Tháp - đang quyết tâm trồng lúa không có thuốc trừ sâu và phân bón hóa học trên ruộng đồng của cha mẹ. Còn vị chuyên gia là Koos Neefjes, cố vấn của UNDP - một học giả uy tín trong lĩnh vực biến đổi khí hậu tại Việt Nam.

“Khởi nguyên, các dòng sông không chảy ra biển dễ dàng như vậy” - ông Koos Neefjes nói. Tháng 8 năm ngoái, ông đã xuất hiện trên tờ The Economist và đưa ra một tuyên bố rất đáng chú ý: hạ tầng thủy lợi của chính Việt Nam đang gây hại cho nguồn nước tại ĐBSCL nhiều hơn cả các đập thủy điện mà Trung Quốc xây trên thượng nguồn.

“Thủy điện Trung Quốc” xưa nay vốn là một quán tính tư duy khi đề cập đến lý do làm nguồn nước hạ lưu sông Mekong bất ổn. Nhưng ông Neefjes tin rằng hệ thống đê điều và kênh rạch cũng đã làm giảm đáng kể khả năng trữ nước của vùng đồng bằng này.

“Quá trình làm khô (đất đai) và làm giảm khả năng trữ nước này đã tăng lên trong vài thập kỷ qua vì khao khát được cấy vụ lúa thứ ba trong năm, tại các vùng trũng và sâu như Đồng Tháp Mười hay Tứ Giác Long Xuyên.

Điều này đồng nghĩa với việc trị thủy - xây đê để đảm bảo không có quá nhiều nước vào mùa ngập, và như thế giảm khả năng trữ nước của vùng đồng bằng” - ông phân tích.

Võ Văn Tiếng, bằng một ngôn ngữ khác, mô tả quá trình này: “Ở quê em ngày xưa chỉ làm hai vụ lúa thôi. Bây giờ một năm làm ba vụ. Người ta cứ làm lúa hoài, làm hoài. Ngày xưa mỗi năm xả đê 3-4 tháng, để nước ngập đồng ruộng. Năm nào đất cũng được nhận phù sa mới. Bây giờ họ bao đê lại. Năm năm rồi quê em chưa xả nước vào đồng”.

Cứu đất

Hai người cùng gặp nhau trong việc chỉ ra một trong những hệ quả nguy hiểm của phương pháp trị thủy này. Đó là việc đất đai trở nên cằn cỗi hơn, và như vậy, người nông dân trở nên phụ thuộc vào chất hóa học trong quá trình trồng trọt.

“Sử dụng phân bón khi trồng ba vụ lúa buộc phải tăng lên. Khả năng tự bồi dưỡng của đất đã giảm vì hai lý do: ngập đã giảm - do đê điều ngăn nước; ngay cả hàm lượng dinh dưỡng của nước sông cũng giảm vì chất lượng phù sa giảm - do các con đập trên thượng nguồn hạn chế hàm lượng phù sa” - ông Neefjes phân tích.

Quá trình này diễn ra trong nhiều thập kỷ, được khuyến khích bởi các chính sách nhằm tăng năng suất lúa gạo, tạo ra một vòng xoáy mà ở trung tâm của nó người nông dân bị hút vào phân bón hóa học và thuốc trừ sâu.

Và đó chính xác là “bài toán” mà chàng nông dân Võ Văn Tiếng đang cố gắng giải trên mảnh ruộng của cha mẹ, hay rộng hơn là cho làng quê của mình.

Út Tiếng từng bị gọi là “khùng” khi quyết định rằng mình sẽ chuyển từ làm ba vụ như làng xóm sang còn hai vụ, đồng thời không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón để tạo ra hạt gạo hữu cơ có giá trị thương phẩm cao.

Tiếng gia tăng chất lượng đất bằng việc bơm thêm nước vào đồng để lấy phù sa từ sông. Phần lớn mọi người đều tin Tiếng sẽ thất bại. Bà con chòm xóm không biết rằng cậu đang làm theo quy trình “cứu đất” của những chuyên gia hàng đầu. Đó cũng là những nội dung mà ông Koos Neefjes đề xuất khi bàn đến giải pháp.

Bây giờ thì Tiếng đã có một cánh đồng hữu cơ, hai vụ một năm, nhưng cho giá trị hạt gạo thương phẩm cao hơn nhiều so với những người cùng làng. Những lô gạo của Tiếng đưa ra Hà Nội được mua hết chỉ trong vài ngày.

Đất của cậu được bồi dưỡng liên tục bằng nhiều phương pháp tự nhiên. Tính cả khả năng chăn thả trên đồng ngập nước, mặc dù năng suất gạo của Tiếng chỉ bằng 60% các cánh đồng xung quanh nhưng thu nhập bình quân trên cùng diện tích của cậu cao gấp rưỡi.

Tiếc rằng không phải ai cũng có khả năng học hỏi để trở thành một người nông dân như vậy. Võ Văn Tiếng trở nên nổi tiếng vì cậu đặc biệt. Những người nông dân xung quanh đã không còn chế nhạo Tiếng. Nhưng mọi người không đủ khả năng thay đổi ước mơ của mình.

“Nông dân quê em vẫn chỉ mơ về năng suất thiệt cao” - Tiếng than thở. Ước mơ đó đã không thay đổi trong suốt hơn 30 năm. Trong tư duy của những con người một nắng hai sương này, tăng thu nhập vẫn sẽ là tăng khối lượng gạo sản xuất ra.

Nhưng đó là điều ngày càng trở nên khó khăn. Với chi phí đầu vào cao và giá gạo bấp bênh, Tiếng tính rằng mỗi nông dân canh tác trên 5.000m2 sẽ lời từ 5 đến 7 triệu đồng một vụ. Mỗi năm ba vụ, tổng thu nhập năm nếu chỉ trồng lúa chỉ là 15 đến 20 triệu.

“Thanh niên đi hết rồi anh” - Tiếng nói. Trong làng giờ chỉ còn người già, và một lượng rất nhỏ thanh niên chịu ở lại làm nông cùng gia đình. Họ bỏ lên thành phố làm thuê. Một kịch bản quen thuộc với phần lớn các vùng nông nghiệp nước ta hiện nay.

Hành trình của Tiếng

Điều quan trọng nhất trong hành trình của Tiếng, thật ra, là việc lựa chọn mô hình thương mại: ngay từ đầu cậu đã xác định rằng mình sẽ làm ra hạt gạo có thương hiệu.

Một trong những lý do tạo nên “vòng xoáy” của những cánh đồng không có hóa chất chính là việc hạt gạo không có thương hiệu, không có giá trị cao trên bản thân thị trường nội địa. Xuất khẩu được ưu đãi, khiến cho các công ty tập trung cho xuất khẩu hạt gạo giá rẻ.

“Vòng kim cô chính sách”, như là nghị định 109, đặt điều kiện quá cao đối với một doanh nghiệp muốn xuất khẩu gạo, khiến cho những doanh nghiệp nhỏ đứng ngoài cuộc chơi.

Còn với thị trường trong nước, họ đối mặt với một tập quán tiêu dùng bền chắc: gạo đến bàn ăn mỗi nhà được phân phối qua các tiểu thương thuộc khu vực kinh tế phi chính thức và có lợi thế kinh khủng về... thuế.

Việc làm gạo đóng gói và có thương hiệu cho thị trường trong nước, thật ra, là trăn trở của những doanh nghiệp đang muốn tạo đột phá trong nông nghiệp. Cậu nông dân Đồng Tháp đã chọn một con đường vĩ mô.

Tiếng đặt cho hạt gạo của mình một cái tên: “Tâm Việt”. Những buổi đầu tiên, hạt gạo làm ra bán rất chậm. Tiếng không có chi phí cho marketing, cũng không có hệ thống phân phối. Cậu túc tắc bán thông qua người quen và truyền miệng.

Đầu vụ thứ hai, gọi điện, Tiếng mới nói rằng mình vừa bán xong gạo của vụ thứ nhất. Nhưng mô hình của Tiếng bắt đầu được biết đến, và đó là lúc các bộ phận khác của chuỗi giá trị được lắp vào: “tâm” của chàng trai 20 tuổi này thuyết phục được nhiều doanh nghiệp và cơ quan truyền thông.

Một doanh nghiệp nông sản cùng tham gia việc đóng gói để hạt gạo Tâm Việt có một bao bì chuyên nghiệp.

Những nhà phân phối nông sản sạch, đại diện cho một quyền lực đang lên của thị trường hiện nay, tìm đến. Kết quả: giờ Tiếng thậm chí không còn gạo để bán lẻ. Gạo trên cánh đồng đã được người ta tiêu thụ hết. Chỉ sau hai năm, bây giờ cơ ngơi của Võ Văn Tiếng, với sự đầu tư về vốn từ niềm tin cộng đồng, đã là 40ha.

Cuộc hành trình của Võ Văn Tiếng, dù ở quy mô rất nhỏ, là một cuộc phản biện cho nông nghiệp Việt Nam.

Những mệnh đề từ lâu đã được nhắc đến trên báo chí: xuất khẩu gạo giá rẻ mà không xây dựng được thương hiệu; ám ảnh với việc tăng năng suất dẫn đến suy thoái đất và lạm dụng thuốc hóa học; người nông dân không tự làm chủ cánh đồng của mình mà phụ thuộc vào hệ thống thương lái. Chúng xoắn vào nhau thành một khối bế tắc. Tiếng gỡ ra, phản biện từng mục một.

Nhưng cuộc hành trình lớn không chỉ nhờ một “tấm gương” mà thành. Những người nông dân xung quanh đã không còn chế nhạo Tiếng. Nhưng mọi người vẫn không đủ khả năng thay đổi ước mơ của mình. “Nông dân quê em vẫn chỉ mơ về năng suất thiệt cao” - Tiếng than thở

Ước mơ đó đã không thay đổi trong suốt hơn 30 năm. Trong tư duy của những con người một nắng hai sương này, tăng thu nhập vẫn sẽ là tăng khối lượng gạo sản xuất ra. Sẽ cần một sự cổ vũ ngược từ cả hệ thống để họ làm điều ngược lại.■


http://cuoituan.tuoitre.vn/tin/van-de-su-kien/chuyen-de/20170220/bai-toan-nong-nghiep-la-gi/1265575.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Liệu Thủ tướng có định ám chỉ gì không?


Ngày 19 tháng 2 một số báo và VTV đưa tin Thủ tướng chính phủ làm việc với lãnh đạo tỉnh Nghệ An (NA). Ngoài những nhiệm vụ về xây dựng, phát triến, cuối cùng bài tường thuật có câu sau: “Thủ tướng cũng đã trả lời và chỉ rõ hướng giải quyết với các kiến nghị khác của tỉnh; cũng như chỉ đạo tỉnh tiếp tục đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm pháp luật”.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì buổi làm việc 
với Hà Tĩnh chiều 1-5 về vụ cá chết - Ảnh: Tấn Vũ
Câu chỉ đạo này của TT diễn ra sau mấy ngày nhân dân Song Ngọc tổ chức đi nộp đơn kiện Formosa bị ngăn cản, bị cho là làm rối trật tự công cộng, cản trở giao thông, bị thông tin chính thống tại Nghệ An lên án vi phạm pháp luật. Trong lúc đó nhiều tường thuật trên mạng xã hội dân sự phản ảnh những thủ đoạn gian dối và đàn áp của công an, là chính quyền “Bốc lửa bỏ tay người”. Việc này làm dấy lên trong toàn quốc sự quan tâm chính đáng. Thế nhưng, theo tường thuật, trong báo cáo với TT, lãnh đạo NA không đề cập đến, trong phát biểu TT không đả động đến. Như vậy họ không biết hay có biết mà cố tình lờ đi, cho đó là chuyện quá nhỏ mọn.

Và rồi liệu lời chỉ đạo của TT có ám chỉ đến việc trên hay không. Tôi có một vài phán đoán sau:

1- Thủ tướng quả thật không biết vì ông bận nhiều việc quá, không xem báo, không vào mạng, không ai báo cáo cho biết. Như thế thì quá tồi tệ. Phán đoán này dễ bị bác bỏ.

2- Thủ tướng có biết, nhưng chỉ được thông tin một chiều và tin chắc rằng nhân dân Song Ngọc bị phản động mua chuộc để gây bạo loạn tiến tới lật đổ chế độ. Nếu như thế chứng tỏ nhận thức, trình độ của TT quá kém, quá nguy hiểm. Đúng ra TT phải nghe được cả 2 bên, phải tìm cách biết được sự thật. Ngày 17/2 / 2017, làm việc với Hội đồng TƯ Liên hiệp các hội KH và KT VN, Thủ tướng nói: “Trong bối cảnh thực hiện Chính phủ kiến tạo, liêm chính, hành động phục vụ người dân, Chính phủ càng cần nghe ý kiến của người dân, của trí thức”.

Nếu phát hiện ra những dối trá của cấp dưới mà cố tình bao che hoặc làm ngơ thì làm sao tạo được lòng tin của nhân dân.

3- Thủ tướng biết thông tin cả 2 phía và đang rất hoang mang, tiến thoái lưỡng nan, há miệng mắc quai, thôi thì tạm im, tạm lờ. Điều này chứng tỏ phẩm chất quá kém. Tôi nghĩ, nếu việc này tôi mà làm thủ tướng thì chỉ sau vài ngày tôi sẽ thu được khá đầy đủ thông tin để xử lý.

4- Trong lúc hoang mang, mà không đả động gì đến lại sợ bị ai đó hạch tội. Thôi thì dùng lối ám chỉ: “chỉ đạo tỉnh tiếp tục đảm bảo an ninh trật tự trên địa bàn, xử lý nghiêm những đối tượng vi phạm pháp luật”. Không biết TT đã lường trước sự nguy hiểm của lối ám chỉ này không. Đó là con dao hai lưỡi.

Bình luận: Dân ta có câu, “Lời nói gió bay”. Nhưng lời nói của những người quyền cao chức trọng thì bão cũng không thổi bay được vì nó có gang, có thép. Sẽ có những kẻ dựa vào đó để thực hiện âm mưu thâm độc. Xin theo lời của Phu Xich nhắc rằng: “Mọi người hãy cảnh giác”.

Nguyễn Đình Cống
FB Nguyễn Đình Cống



Phần nhận xét hiển thị trên trang

BAO NHIÊU NGƯỜI CHẾT TRONG CÁCH MẠNG VĂN HOA


Thiên Kỳ


“Cách mạng Văn hóa” là phong trào chính trị do cố lãnh tụ đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông cùng “Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương” khởi xướng và lãnh đạo kéo dài cả thập kỷ (từ 5/1966 – 10/1976). Giới sử học xem đây là “mười năm hỗn loạn” hay “mười năm thảm họa” của Trung Quốc.
Cựu lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng trả lời phỏng vấn: “Số người chết thật sự trong Cách mạng Văn hóa e rằng là con số thiên văn, mãi mãi không thể tính ra được”.Cựu lãnh đạo đảng Cộng sản Trung Quốc Đặng Tiểu Bình từng trả lời phỏng vấn: “Số người chết thật sự trong “Cách mạng Văn hóa” e là chữ số thiên văn, mãi mãi không thể tính ra được”.
Nhà văn Trung Quốc Tần Mục (1919 – 1992) từng viết: “Đây là thảm họa vô tiền khoáng hậu, làm hàng triệu người bị khốn đốn, hàng triệu người ôm hận đến cuối đời, vô số gia đình phải ly tán, trẻ em bị biến thành côn đồ lưu manh, không biết bao nhiêu sách vở bị thiêu đốt, di tích bị phá hoại, mộ tiên hiền bị đào lên, đã gây ra vô số tội ác dưới danh nghĩa cách mạng!”.
Cuối cùng thì “Cách mạng Văn hóa” giết chết bao nhiêu người? Những số liệu nghiên cứu đều cho thấy có nhiều triệu người bị chết trong phong trào chính trị này. Trong một hội nghị, nguyên lão Trung Quốc Diệp Kiếm Anh (Ye Jianying) từng chỉ ra, “Cách mạng Văn hóa” đã chỉnh đốn cả trăm triệu người, khoảng hai triệu người bị hại chết. Đặng Tiểu Bình từng thừa nhận với phóng viên nước ngoài, “số người chết trong “Cách mạng Văn hóa” phải tính bằng con số thiên văn…”.
Nghiên cứu của học giả nước ngoài
Trong tác phẩm «Trung Quốc: Lịch sử mới» của giáo sư Phi Chính Thanh (Fei Zhengqing) thuộc Đại học Harvard của Mỹ đã đưa ra con số một triệu người bị hại chết.
Giáo sư Đinh Trữ (Ding Shu) về lịch sử đương đại Trung Quốc là học giả sống tại nước ngoài chỉ ra, “Cách mạng Văn hóa” làm khoảng hai triệu người Trung Quốc chết bất thường. Ông phân tích: Năm 1966 giết chết 100.000 người, thời đầu “Cách mạng Văn hóa” giết chết khoảng 200.000 người, thời võ đấu (1966 – 1969) giết chết từ 300.000 – 500.000 người, hơn 500.000 người chết vì Đội Thanh, phong trào “nhất đả tam phản” và “thanh tra đội phản cách mạng 516” đã hại chết khoảng 200.000 người.
Giáo sư Tô Dương (Su Yang) thuộc phân hiệu Irvine Đại học California thống kê theo số liệu từ 1.520 cuốn Huyện Chí đã ước tính ở nông thôn có ít nhất 750.000 – 1,5 triệu người bị bức hại đến chết; một số người tương đương bị tra tấn tàn tật; ít nhất 36 triệu người bị bức hại chính trị dưới các hình thức khác nhau. Con số này chưa kể nạn nhân tại các thành phố lớn.
Trong chuyên khảo, ông thừa nhận: Vì tất cả các cuốn Huyện Chí thường che giấu sự thật theo những mức độ khác nhau nên tính toán số người tử vong của ông có thể vẫn còn thấp hơn rất nhiều so với thực tế.
Còn Giáo sư r. J. Rummel viết trong sách «Thế kỷ thảm khốc của Trung Quốc» có khoảng 7,73 triệu người thiệt mạng trong “Cách mạng Văn hóa”.
Cach mang van hoa
Số liệu của chính quyền Trung Quốc
Theo trong “Suy nghĩ của tôi về Cách mạng Văn hóa”, cựu Tổng Biên tập «Hoàng Đàm Xuân Thu» Dương Kế Thằng (Yang Jisheng) cho biết, theo ông Diệp Kiếm Anh báo cáo tại Hội nghị mở rộng Bộ Chính trị Trung ương (sau Hội nghị toàn thể TW1 đảng Cộng sản Trung Quốc khóa 12) thì số người chết như sau: (1) Phong trào võ đấu làm chết khoảng 123.700 người; (2) 2,5 triệu cán bộ bị đấu tố, hơn 302.700 cán bộ bị bỏ tù, hơn 115.500 cán bộ bị chết bất thường; (3) Khoảng 4,8 triệu nhân sĩ các giới tại các đô thị bị quy các tội như học giả phản động, phần tử chủ nghĩa tu chính, phần tử khác giai cấp, chống cách mạng…, trong đó khoảng 638.000 người chết bất thường; (4) Hơn 5,2 triệu địa chủ và phú nông ở nông thôn bị bức hại, khoảng 1,2 triệu người chết bất thường; (5) Có khoảng 113 triệu người bị đàn áp chính trị với mức độ khác nhau, trong đó hơn 557.000 người mất tích.
Còn «Những phong trào chính trị trong lịch sử đảng Cộng sản Trung Quốc» do Trung tâm Nghiên cứu Lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc biên soạn ghi lại: Sau 2 năm 7 tháng điều tra, số liệu thống kê mới vào tháng 5/1984 về “Cách mạng Văn hóa” là: hơn 21,44 triệu người bị thẩm tra, tấn công; 125 triệu người bị liên lụy, ảnh hưởng; 4,2 triệu người bị bỏ tù; 17,28 triệu người chết bất thường; 135.000 người bị kết án tử hình vì tội phản cách mạng; 237.000 người chết trong võ đấu, 7,03 triệu người bị đánh tàn tạ, hơn 70.000 gia đình bị ly tán.
Cho dù số liệu không thống nhất nhưng đều thừa nhận có hơn hai triệu người chết bất thường trong thời “Cách mạng Văn hóa”.
Chuyên gia Tống Vĩnh Nghị (Song Yongyi), giáo sư Đại học Tiểu bang California chuyên nghiên cứu về thời kỳ này chỉ ra mâu thuẫn trong số liệu thống kê của phía nhà chức trách Trung Quốc. Ví dụ trong sách «Quảng Tây của Trung Quốc đương đại» xuất bản năm 1992 thừa nhận số người chết bất thường trong thời “Cách mạng Văn hóa” khoảng 83.000 người, nhưng trong tài liệu mật «Ký sự Cách mạng Văn hóa Quảng Tây, 1968» ghi lại, sau khi Ủy ban Cách mạng Văn hóa Quảng Tây thành lập đã giết chết ít nhất 100.000 người “phe tạo phản 422”. Hay ví dụ như số người chết tại Nội Mông Cổ trong phong trào diệt phản động “đảng Cách mạng Nhân dân Nội Mông Cổ” công bố vào năm 1980 là 12.222 người, nhưng trong «Lịch sử Khu tự trị Nội Mông Cổ» xuất bản năm 2004 thì cho biết, trong 10 năm “Cách mạng Văn hóa” có tổng số hơn 27.900 người bị hại chết. Hay như tại tỉnh Vân Nam, theo số liệu của chính quyền đưa ra vào năm 1982 thì số người tại đây bị hại chết là 17.000 người, nhưng trong «Báo cáo Cách mạng Văn hóa tỉnh Vân Nam» hoàn thành năm 2005 thì con số là 23.000 người chết.
Cuối cùng thì có bao nhiêu người chết? Tống Vĩnh Nghi cho rằng, có lẽ chỉ khi nào chính quyền Trung Quốc cho công bố hồ sơ mật thì mới hy vọng xác định được.
Diệp Kiếm Anh nói chuyện trong nội bộ
Ngày 24/9/2014, báo Tân Kinh của Trung Quốc đăng bài viết «Bàn về số liệu “Cách mạng Văn hóa” với Khổng Khánh Đông» của người lấy bút danh “Tây Pha”, tác giả chất vấn việc giáo sư Khổng Khánh Đông của Đại học Bắc Kinh so sánh số người bị hại chết trong “Cách mạng Văn hóa” với số người bị chết vì súng ống của Mỹ. Theo bài biết, nguy hại của “Cách mạng Văn hóa” không chỉ là vấn đề số người bị hại mà còn là trở ngại nghiêm trọng và kéo dài đối với phát triển quốc gia.
Bài viết còn chỉ ra, ngày 13/12/1978, trong lúc bế mạc một Hội nghị Công tác Trung Quốc, ông Diệp Kiếm Anh nói: số người bị hại và liên lụy trong thời “Cách mạng Văn hóa” lên đến hơn một trăm triệu người, chiếm 1/9 dân số Trung Quốc.
Trong suốn sách mang tên «Rửa oan: Sửa lại những án oan sai» do Nhà xuất bản Nhân dân An Huy xuất bản năm 1997, hai tác giả gồm Phó Chủ nhiệm Lịch sử Đảng tỉnh Sơn Đông Đinh Long Gia (Ding Longjia) và Phó Giáo sư Đại học Sơn Đông Đổng Bảo Huấn (Dong Baoxun) đã dẫn ý kiến phát biểu ngày 13/12/1978 của Phó Chủ tịch Trung ương Diệp Kiếm Anh: Qua 2 năm 7 tháng điều tra toàn diện trung ương đã xác định có 20 triệu người chết trong “Cách mạng Văn hóa”, số người bị bức hại chính trị là hơn 100 triệu người, chiếm 1/9 dân số Trung Quốc, tiêu tốn 800 tỷ RMB (nhân dân tệ).
Kỳ lạ là bài phát biểu của Diệp Kiếm Anh trong nghi thức bế mạc Hội nghị Công tác Trung Quốc lại không được ghi âm lại, nhưng lại có trong «Tuyển tập Diệp Kiếm Anh» xuất bản tháng 3/1996. Trong tác phẩm này, tác giả cho biết: “Bài học quan trọng mà Cách mạng Văn hóa để lại cho chúng ta là Tổ Cách mạng Văn hóa Trung ương đã lợi dụng quyền lực giành được để thực hiện hành vi phát xít, trên xử cán bộ, dưới xử dân chúng, gây ra vô số án oan sai, án giả tạo… Số người bị hại và liên lụy trong trận bức hại thảm khốc này lên đến hơn trăm triệu người, chiếm 1/9 dân số cả nước. Một bài học vô cùng đau đớn”.
Trong phát biểu được xuất bản công khai này không nhắc đến con số cụ thể hai triệu người chết.
Ngày 19/12/2008, cô con gái của ông Diệp Kiếm Anh là Diệp Hướng Chân cho biết, tác phẩm «Diệp Kiếm Anh nói chuyện tại Hội nghị Công tác Trung ương» do chủ nhiệm văn phòng của Diệp Kiếm Anh là Vương Thủ Giang (Wang Shoujiang) cùng thư ký quân sự Vương Văn Lý (Wang Wenli) soạn đã được đăng 227 kỳ trên tạp chí Tài Chính. Theo lời kể, bản thảo sau này được tóm gọn và sửa chữa lại nhiều. Những chi tiết liên quan đến Hoa Quốc Phong và Tập Trọng Huân (cha của ông Tập Cận Bình) đã bị loại bỏ. Ví dụ đoạn: “Tại Hội nghị này, Chủ tịch Hoa Quốc Phong công khai thẳng thắn phê bình tôi trước toàn Đảng khiến tôi vô cùng cảm động. Về mặt này Chủ tịch là tấm gương cho tôi”.
Những chi tiết bị cắt bỏ cùng việc không cho ghi âm lại lời phát biểu của Diệp Kiếm Anh cho thấy có nhiều điểm nhạy cảm trong bài nói chuyện này.
Đặng Tiểu Bình: Số người chết e rằng là… con số thiên văn
Theo «Văn tuyển Đặng Tiểu Bình», từ ngày 21 – 23/8/1980, tại Đại lễ đường Nhân dân, ông Đặng Tiểu Bình hai lần trả lời phỏng vấn của nữ phóng viên người Ý nổi tiếng thế giới Fallaci.
Phóng viên Fallaci là người đã phỏng vấn hơn 200 nguyên thủ quốc gia trên thế giới.
Fallaci đặt câu hỏi đầu tiên: “Có nên tiếp tục treo bức ảnh chân dung Mao Trạch Đông tại quảng trường Thiên An Môn không?” Câu hỏi thứ hai: “Người Trung Quốc thường cho rằng Cách mạng Văn hóa là do Tứ nhân bang gây ra, thế nhưng khi nói Tứ nhân bang thì lại giơ ra 5 ngón tay là sao?
Sau đó Fallaci tiếp tục hỏi: “Cuối thì có bao nhiêu người chết trong đại Cách mạng Văn hóa?”
Đặng Tiểu Bình trả lời: “Con số người chết thật sự trong Cách mạng Văn hóa e rằng là con số thiên văn, mãi mãi không thể tính ra được”.
Ngoài ra, Đặng Tiểu Bình còn nêu ví dụ một vụ án oan kinh điển: Bí thư tỉnh ủy Vân Nam Triệu Kiện Dân (Zhao Jianmin) bị Khang Sinh cho là phản đồ, đặc vụ Quốc dân đảng. Vì thế đã hạ lệnh Bộ trưởng Công an Tạ Phú Trị (Xie Fuzhi) bắt giam. Chỉ riêng vụ án này đã có hơn 1,38 triệu người liên lụy, trong đó hơn 17.000 người bị đánh chết, hơn 6.000 người bị đánh tàn tạ. Chỉ riêng khu vực Côn Minh số người bị đánh chết đã là 1.493 người, bị thương tích tàn tạ là 9.661 người.
Thiên Kỳ
Theo trithucvn

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nhà thơ Huy Tưởng


Nhà thơ Huy Tưởng
Sơn dầu trên vải, 80x60cm (2017)

Phần nhận xét hiển thị trên trang

3 TRUYỆN CỰC NGẮN


QUÁ KHỨ...

Chúng tôi đã đi qua một cuộc chiến. Cha tôi nói:
“Đó là một hợp đồng. Xương máu đã được quy ra tiền và biến thành cơ hội làm ăn của các nhà ngoại cảm.”
Tôi đã ở đó, nhìn cha ngồi vào một cái bàn lớn, cùng với nhiều người, ký tên. Chữ ký của cha khá ngoằn ngoèo, vì tên của cha rất dài. Cha nói:
“Con phải chờ đợi cho đến khi mọi thứ được an toàn. Khi khói lửa đã tan, sẽ có người xuất hiện và vẫy tay chào những người may mắn sống sót, từ một lễ đài.”
Tôi không hiểu cha muốn gì, nhưng tôi vẫn nhớ nụ cười của cha khi ông tả với mọi người về đứa con trai của ông, là tôi. Với đôi dép râu và chiếc mũ vải mềm lãng tử, rất đẹp và hợp mốt, cha lúc ấy đã ba mươi tuổi, gấp đôi tuổi của tôi.
Tôi hỏi cha:
“Cha ơi, cha vừa nói gì với mọi người thế?”
“Con đã thành một người máy.” Cha nói.
“Người máy?” Tôi hỏi.
“Ừ, nhìn vào con ai cũng biết đúng là như vậy.”
“Chỉ cần nhìn thôi ư?” Tôi hỏi.
“Thôi nào, bạn ơi...” Cha cười và nói tiếp với tôi. “Tôi biết bạn không hiểu, vì tôi cũng đã từng cố hiểu một vài lần, và cuối cùng tôi cũng không thể hiểu.”

CÁCH MẠNG...

Nàng nhìn vào đứa con trai bé nhỏ của mình, tự hỏi: “Không biết nước mắt đang biến đi đâu?” Cuối cùng nàng quyết định: “Chúng ta sẽ cùng chờ Công lý.”
“Nhìn này,” một người nông dân trong làng nói với nàng, “những vết bầm tím.”
Cơn gió đã thổi qua thi thể đứa con trai bé bỏng, và nàng nhìn đăm đăm vào những vết bầm tím mà người nông dân vừa chỉ. Người nông dân vẫn nghẹn ngào: “Tôi không chắc lắm, nhưng các nghĩa quân, các nghĩa quân... Họ đã bắt chước phong cách của Quân chính phủ.” Ông ta vẫn lắp bắp: “Tôi không biết, tôi không biết. Những nghĩa quân cách mạng, bây giờ họ đã tàn ác y hệt như quân chính phủ...”
Nàng thốt ra một tiếng nấc, và để che giấu, nàng nói với người nông dân: “Nó chỉ là một cậu bé ở nông trại. Chắc ông cũng không biết nó là con ai, phải không?”
Thi thể đứa bé chồm lên, ôm lấy mẹ của mình, khóc những tiếng nức nở.
Nước mắt của nàng rơi thành những hạt bụi, li ti, và không bao giờ còn bay lên...

SỰ TIẾN HOÁ CỦA CÁCH MẠNG...

Sau cuộc cách mạng, nàng lơ lửng trên mặt đất, và nhìn những con tàu vũ trụ chuẩn bị rời bệ phóng, bay vào không gian.
“Thật kỳ diệu.” Nàng nhủ thầm và ước gì mình có thể khóc cho hàng triệu người đã chết.
“Họ sẽ không còn nghe chúng ta.” Một kẻ đối tác của nàng nói. “Chúng ta đã cho phép họ được trả giá. Và họ đã trả giá, không rẻ. Có lẽ do họ chưa quen mua bán.”
“Chúng ta không bao giờ sai lầm?” Nàng hỏi.
“Tất nhiên chúng ta có thể. Nhưng cả triệu người mà nàng đang muốn khóc thương cũng đã hoá thành những phôi người đông lạnh. Họ vẫn tồn tại cho đến khi chúng ta tìm thấy một hành tinh khác cho họ sinh sống. Chúng ta sẽ hướng dẫn họ và nhắc nhở họ về số phận của Trái đất.”
“Tôi biết điều đó!” Nàng nói.
“Và chúng ta sẽ thành công.” Kẻ đối tác của nàng nói.
“Như vậy là kiêu ngạo!”
Nhưng thật ra cũng chẳng ai còn gì để mà kiêu ngạo. Họ và nàng cùng rách nát và thảm hại như những kẻ ăn mày. Nàng biết điều đó, và lặng im nhìn những con robot hoang tưởng mang dép râu đang đứng lố nhố quanh con tàu vũ trụ. Chúng đóng mở một cái gì đó để con tàu chuẩn bị khởi động. Có lẽ chúng đang lắp thêm một ít ốc vít cho con tàu...


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Albert Enstein: Trực giác là thứ duy nhất thực sự có giá trị

 

 (Ảnh: Internet)

(Ảnh: Internet)
Bình luận sự kiện khám phá ra sóng hấp dẫn, trang web của Đại học Boston kêu lên: “Cái tên Einstein bao lâu nay vẫn đồng nghĩa với thiên tài”. Mọi người đều tán thành với điều này, nhưng một lần nữa, câu hỏi cũ lại dấy lên: Làm sao Einstein có thể có một sức mạnh tư duy phi thường đến như vậy? Câu trả lời là… “trực giác, thứ duy nhất thực sự có giá trị”, như chính Einstein đã nói.
Trực giác là một khái niệm được mọi người thừa nhận, kể cả người vô thần lẫn hữu thần. Tuy nhiên, người vô thần và hữu thần có cách giải thích khác nhau về bản chất của trực giác. Người hữu thần coi đó là một quà tặng đặc biệt của Thần, trong khi người vô thần cho rằng trực giác, dù thế nào chăng nữa, cũng chỉ là một dạng thức của tư duy – một dạng hoạt động đặc biệt của bộ não. Vì thế, bản chất của trực giác phụ thuộc vào cấu tạo vật chất của bộ não, và do đó có thể giải thích được bằng khoa học. Đó là lý do để người ta đi tới quyết định sẽ nghiên cứu bộ não của Einstein sau khi ông mất, hòng khám phá xem yếu tố vật chất cụ thể nào đã làm cho Einstein trở thành một thiên tài phi thường đến như vậy. Và quyết định đó đã được thực hiện:
Không đầy 7 tiếng rưỡi đồng hồ ngay sau khi Einstein mất, người ta đã mổ hộp sọ của ông để lấy bộ não mang đi nghiên cứu. Thậm chí đôi mắt của ông cũng bị lấy đi và được giao cho một bác sĩ nhãn khoa. Trong quá trình nghiên cứu, bộ não đã bị cắt ra thành 240 phần, mỗi phần khoảng 1cm3, hiện phần lớn được lưu giữ tại Bảo tàng Quốc gia Mỹ về Sức khỏe và Y khoa, và 46 phần được lưu giữ tại Bảo tàng Mütter ở Mỹ.
Nhưng theo Wikipedia, việc lấy não của Einstein để nghiên cứu đã trở thành một vấn đề gây tranh cãi, vì người ta không biết chắc chắn việc này có được sự đồng ý của chính Einstein trước khi mất hay không. Trong tiểu sử Einstein viết năm 1979, Ronald Clark nói rằng “ông (tức Einstein) cứ nhất định muốn bộ não của mình được sử dụng để nghiên cứu và xác ông được hỏa táng”, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy điều Clark nói không đúng, và việc bộ não của ông bị lấy đi để nghiên cứu thực ra đã không được phép của cả Einstein lẫn những người thân của ông (xem Wikipedia, Albert Einstein’s brain, Fate of the brain).
Tôi thấy ý kiến của Clark khó tin, bởi làm sao mà Einstein “cứ nhất định” (insist) muốn bộ não của ông phải đem ra nghiên cứu? Thủ tục phẫu thuật thường bao gồm chữ ký tán thành của bệnh nhân hoặc người thân của bệnh nhân. Tại sao trong trường hợp này không thấy nhắc đến, nhất là khi đã có dư luận nghi ngờ. Vả lại, nói như Clark thì xem ra Einstein tự coi mình là một siêu nhân phi phàm, điều này không phù hợp với tính cách khiêm tốn của ông nói chung.
Tóm lại, nếu việc mổ xẻ này mà không được ông và người thân của ông cho phép thì thật là thất đức. Điều khó hiểu hơn nữa là đôi mắt của ông cũng bị lấy đi. Tại sao phải lấy? Chẳng lẽ thiên tài còn phụ thuộc vào đôi mắt nữa ư? Đó là hệ quả của tư duy duy vật và vô thần. Nhưng hãy tạm gác chuyện này để tìm hiểu xem việc nghiên cứu bộ não của Einstein có kết quả gì không.

Kết quả nghiên cứu bộ não của Einstein

Theo Wikipedia, bộ não của Einstein chỉ nặng 1230 grams, nhẹ hơn mức trung bình của một người trưởng thành, vốn là 1400 grams. Từ đó lập tức suy ra rằng khối lượng não, hay cụ thể hơn là số lượng tế bào não, không tỷ lệ thuận với trí tuệ!
Chú ý rằng các nhà tiến hóa rất thích chứng minh sự tiến hóa của khỉ lên người bằng cách chỉ ra kích thước ngày càng lớn của bộ não: não lớn hơn là bằng chứng của sự tiến hóa hơn. Vậy các nhà tiến hóa sẽ nghĩ gì khi biết bộ não của Einstein nhỏ hơn người bình thường?
Cũng nên liên hệ tới số gene của người. Trước khi hoàn thành bản đồ gene người, các nhà khoa học đều nghĩ rằng số gene của con người phải nhiều hơn loài vật rất nhiều. Ý nghĩ này dựa trên một ấn tượng duy vật chủ nghĩa, rằng sinh vật càng phức tạp càng có nhiều gene, sinh vật càng tiến hóa cao càng có nhiều gene.

Nhưng khi bản đồ gene được công bố năm 2000, các nhà khoa học đều ngã ngửa: số gene của người cũng xấp xỉ như loài chuột, thậm chí chẳng nhiều hơn loài giun là bao.

Thiết nghĩ, đó là một trong những bài học lớn dạy cho loài người rằng tư duy vật chất cân đong đo đếm là một kiểu tư duy thổ thiển ấu trĩ. Nhưng tiếc thay, kiểu tư duy ấy dường như đã thấm vào xương tủy các nhà khoa học duy vật, đến mức không thể thay đổi. Vậy nếu tổng số tế bào của toàn thể bộ não không nói lên được điều gì thì hãy tìm hiểu số lượng tế bào trong từng khu vực đặc biệt của bộ não. Trước sau vẫn quy về số lượng.
Thật vậy, năm 1999, tạp chí y học Lancet của Anh công bố kết quả nghiên cứu của Sandra Witelson và các cộng sự của bà tại Đại học McMaster, Ontario, Canada cho thấy những điều mới lạ về bộ não của Einstein: Phần thuỳ phụ trách tư duy tưởng tượng và tư duy toán học lớn hơn phần thùy của người bình thường 15%. Sự kiện này được xem như một khám phá quan trọng đến nỗi báo chí Úc cũng đưa tin. Tờ Sydney Morning Herald ngày 19/06/1999 viết:
Trong khoa học, kích thước là yếu tố rất quan trọng. Vào khoảng đầu thế kỷ 20 người ta quan tâm rất nhiều đến vấn đề liệu những người có bộ não lớn hơn có thông minh hơn không. Sau Thế Chiến II, việc nghiên cứu chủ đề này gần như bị huỷ bỏ, nhưng gần đây công nghệ hiện đại cho phép xử lý hình ảnh bằng computer nên các nhà khoa học lại hướng vào việc tìm mối tương quan giữa thể tích não và chỉ số thông minh IQ. Sau khi Einstein mất năm 1955, bộ não của ông đã được bảo quản và đo đạc, nhưng người ta không đo thể tích của nó mà chỉ đo trọng lượng.

Kết quả cho biết trọng lượng não của Einstein không khác gì mấy so với trọng lượng não của hầu hết mọi người bình thường khác.

Các nhà khoa học kết luận: Một bộ não lớn (nặng) không phải là điều kiện thiết yếu để có một trí tuệ phi thường. Vì thế họ đã chuyển sự chú ý vào phần thuỳ của não (parietal lobes), mà theo họ đó là khu vực nhạy cảm có chức năng sản sinh và điều khiển các hình ảnh không gian ba chiều và trình bày các khái niệm toán học. Điều bất ngờ đã được phát hiện: Phần thuỳ trong não của Einstein rộng hơn 15% so với phần thuỳ trong não của 35 người đàn ông và 50 người đàn bà có trí tuệ bình thường được chọn để nghiên cứu. Bài báo đặc biệt nhấn mạnh rằng khả năng nhận thức về hình ảnh không gian, tư duy toán học và tưởng tượng về chuyển động, tức những nhân tố thiết yếu để phát minh ra Thuyết tương đối, phụ thuộc rất lớn vào phần thuỳ trong não. Thêm một điều đặc biệt nữa: Não của Einstein là trường hợp duy nhất không có đường rãnh “sulcus” ngăn cách phần thuỳ thuộc thái dương (temporal lobe) với phần thuỳ dưới hộp sọ (parietal lobe). Trong não của Einstein, đường rãnh này lại nằm ở một vị trí khác. Các nhà khoa học suy đoán rằng sự vắng mặt đường rãnh tại phần thuỳ có thể cho phép hình thành thêm nhiều neuron thần kinh tại khu vực này, thiết lập nên một kênh thông tin nối liền các phần não với nhau để cùng làm việc chung một cách dễ dàng, tạo ra một khu vực rộng phi thường trên vỏ não có khả năng tổng hợp cao.
Kết quả nghiên cứu nói trên có giải thích được điều gì về thiên tài của Einstein không?
Theo tôi là KHÔNG! Nó chỉ nói lên được một điều, rằng một bộ não có cấu tạo thể chất tốt sẽ có khả năng hoạt động nhạy bén, tức là có chỉ số IQ cao. Nhưng chỉ số IQ và ý thức là hai vấn đề hoàn toàn khác xa nhau. Trong thực tế, có người có chỉ số IQ cao không những không đem lại lợi ích gì cho xã hội mà thậm chí còn làm hại xã hội. Tương tự như một chiếc computer tốt không có nghĩa là nó chứa đựng hoặc đưa ra những thông tin hữu ích.
  Tóm lại, việc giải mã thiên tài của Einstein không thể dựa vào những yếu tố vật chất, vì thực ra ý thức và trực giác của con người là những hiện tượng hoàn toàn phi vật chất. Để hiểu biết bản chất của ý thức và trực giác, phải có phương pháp tiếp cận phi vật chất.

Bản chất của ý thức và trực giác

Loài người đã tiến rất xa trong việc khám phá bí mật của tự nhiên nhưng hầu như chẳng tiến được bước nào trong việc tìm hiểu chính mình. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa có một lời giải thích nào thỏa đáng về bản chất của ý thức, cái làm nên giá trị người nhiều nhất, và có thể sẽ không bao giờ có. Tại sao vậy?
Vì khoa học tự trói buộc mình trong thế giới vật chất, trong khi ý thức là một thực tại khách quan phi vật chất, nằm ngoài thế giới vật chất. Không thể dùng vật chất để tác động tới thế giới phi vật chất.
Cụ thể hơn, tôi cho rằng ý thức thuộc một tầng nhận thức cao hơn khoa học. Chẳng hạn, thiền sẽ giúp ta tiệm cận tới bản chất của ý thức. Hoặc các suy niệm tâm linh cũng giúp chúng ta chứng ngộ ý thức là gì. May mắn hơn, nếu chúng ta được mặc khải bởi các lực lượng siêu nhiên. Muốn thế thì điều kiện tiên quyết là phải rũ bỏ cái áo chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, cho phép tư tưởng được hoạt động tự do, dựa trên những gì ta có thể cảm nhận được.
Cảm nhận giúp ta khám phá chân lý chứ không phải lý lẽ logic. Không cần phải thuyết phục ai, nếu người ấy không thể hoặc không muốn học hỏi bằng con đường cảm nhận. Charlie Chaplin nói: “Chúng ta tư duy nhiều quá nhưng cảm nhận ít quá” (We think too much and feel too little).
Có những người thích rao giảng khoa học bằng ngôn ngữ hàn lâm khó hiểu. Ấy là vì họ tư duy nhiều quá mà cảm nhận ít quá. Einstein khuyên: “Nếu bạn không thể trình bầy một vấn đề sao cho đơn giản, ấy là vì bạn chưa thấu hiểu vấn đề đó” (If you can’t explain it simply, you don’t understand it well enough).
Vậy tôi xin trình bày những gì tôi cảm nhận. Dưới ánh sáng của Định lý Bất toàn của Kurt Gödel và Lý thuyết Thông tin, tôi cho rằng:
● Một, phải khẳng định dứt khoát như Gödel, rằng chủ nghĩa duy vật – hệ tư tưởng cho rằng toàn bộ vũ trụ là vật chất và chỉ có vật chất – là một thế giới quan sai lầm. Lý thuyết thông tin chỉ ra rằng thông tin là một thực tại khách quan phi vật chất, tồn tại độc lập với vật chất. Đây là một kết luận mang tính cách mạng, mở ra một thế giới mới, bao gồm những thực tại phi vật chất. Trong thế giới mới này, những nguyên lý của khoa học vật chất không còn thích hợp nữa. Vì thế, việc đối lập duy vật với duy tâm là một kiểu nhận thức đã lỗi thời. Trong thời đại ngày nay, nên kết hợp mọi dạng nhận thức, miễn là tiếp cận càng tới gần sự thật càng tốt.
● Hai, ý thức là một thực tại khách quan phi vật chất. Ý thức có nhiều đặc điểm của thông tin. Nhiều nguyên lý của thông tin có thể áp dụng để giải thích các hiện tượng thuộc về ý thức. Ý thức có thể là một dạng siêu thông tin.
● Ba, vì mọi thông tin đều có nguồn, nên ý thức cũng có nguồn của nó. Nguồn của ý thức có thể là một lực lượng siêu tự nhiên mà nhân loại từng sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên, như Thượng đế, Đấng Tối cao, Chúa, Đấng Sáng tạo, Jehovah, Allah, Phật Đà, Đại Giác Giả, Thần, Bà Mẹ Tự nhiên, Nhà thiết kế vĩ đại… Bộ não của con người không phải là nguồn của ý thức, cũng không phải là cỗ máy sản xuất ra ý thức, mà chỉ là một bộ máy tiếp nhận, xử lý, chuyển giao thông tin.
Thí dụ: Thuyết tương đối là một sản phẩm cao cấp của ý thức. Xét cho cùng nó là một tệp tin (một file) về tự nhiên. Bộ não của Einstein nhận được những thông tin của tệp tin đó, xử lý nó, và chuyển giao cho chúng ta. Câu hỏi đặt ra là tại sao chỉ có bộ não của Einstein nhận được hoặc xử lý được tệp tin đó, mà không phải chúng ta?
Một lần nữa câu trả lời là: TRỰC GIÁC!
Ai cũng thừa nhận có trực giác, nhưng không ai biết bản chất của trực giác là gì. Bản thân Einstein rất nhiều lần nhắc đến trực giác, chứng tỏ ông rất chú ý đến hiện tượng này, rất coi trọng nó, nhưng ông thú nhận rằng ông cũng không biết gì về bản chất của nó. Hãy lắng nghe ông nói.

Tư tưởng về trực giác của Einstein

● “Thứ duy nhất thực sự có giá trị là trực giác” (The only real valuable thing is intuition)
● “Tri thức đóng vai trò thứ yếu trên con đường khám phá. Có một bước nhảy vọt trong ý thức, được gọi là trực giác hoặc gọi thế nào tùy bạn, lời giải đến với bạn mà bạn không biết như thế nào và tại sao… thứ có giá trị thực sự là trực giác” (The intellect has little to do on the road to discovery. There comes a leap in consciousness, call it intuition or what you will, the solution comes to you and you don’t know how or why… the truly valuable thing is the intuition).
albert-einstein-physicist-there-is-no-logical-way-to-the-discovery-of-these● “Tôi tin vào trực giác và cảm hứng… Những lúc đó tôi cảm thấy chắc chắn tôi đúng mặc dù không hiểu tại sao” (I believe in intuition and inspiration… At times I feel certain I am right while not knowing the reason).
● “Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng và tư duy lý lẽ là một tên đầy tớ trung thành. Chúng ta đã tạo ra một xã hội vinh danh tên đầy tớ và bỏ quên món quà tặng” (The intuitive mind is a sacred gift and the rational mind is a faithful servant. We have created a society that honors the servant and has forgotten the gift).
● “Không có con đường logic để khám phá ra những định luật cơ bản này. Chỉ có duy nhất con đường của trực giác, được trợ giúp bởi một cảm giác về cái trật tự nằm đằng sau vẻ bề ngoài” (There is no logical way to discover of these elementary laws. There is only the way of intuition, which is helped by a feeling for the order lying behind the appearance).
● “Một ý tưởng mới thình lình xuất hiện và đúng ra là theo cách trực giác, nhưng trực giác chẳng là gì ngoài kết quả của những trải nghiệm trí thức trước đó” (A new idea comes suddenly and in a rather intuitive way, but intuition is nothing but the outcome of earlier intellectual experiences).
● “Điều ấy xẩy đến với tôi nhờ trực giác, và âm nhạc là động lực đằng sau trực giác. Khám phá của tôi là kết quả của nhận thức âm nhạc” (It occurred to me by intuition, and music was the driving force behind that intuition. My discovery was the result of musical perception)
Đọc những ý kiến của Einstein, tôi nghĩ ông không chỉ là một thiên tài khoa học, mà còn là một nhà hiền triết thâm thúy và sâu sắc. Tôi ghét triết lý sách vở bao nhiêu thì yêu thích những triết lý thiết thực bấy nhiêu. Triết lý của Einstein về trực giác là những triết lý rất thiết thực, làm sáng tỏ nhiều mảng tối trong nhận thức, đáng để cho người đời suy ngẫm và học hỏi.

Bình luận của PVHg’s Home về trực giác

● Einstein nói “Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng…”. Vậy đó là quà tặng của ai? Nếu quà tặng đó là thiêng liêng thì người tặng hoặc nguồn tặng ắt phái rất cao quý, siêu nhiên. Tại sao Einstein không nói rõ? Phải chăng ông tế nhị, tránh va chạm với những người vô thần, vốn rất đông xung quanh ông trong giới khoa học nửa đầu thế kỷ 20?
Như trên đã nói, để mở rộng hiểu biết, ta phải cởi bỏ chiếc áo chật hẹp của chủ nghĩa duy vật, vậy tôi xin mạn phép “làm đầy đủ” câu nói của Einstein như sau:
Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng của Tạo Hóa / Tư duy trực giác là một quà tặng thiêng liêng của Thần…
Người Đông phương thường nói trực giác là cái năng khiếu Trời phú cho. Ta không thấy Ông Trời ở đâu cả, nhưng ta tin có Ông Trời phú cho ta nhiều năng khiếu khác nhau. Tổ tiên chúng ta nói thế, không lẽ tổ tiên chúng ta bịa đặt ư? Người vô thần cũng thường sử dụng chữ “thiên tài” để ca ngợi những tài năng đặc biệt mà họ ngưỡng mộ và tôn kính. Nhưng “thiên tài” là gì nếu không phải là tài năng Trời phú? Vậy cớ sao lại nói không có Ông Trời, không có Thượng Đế. Có người biện bác nói rằng Đức Phật nói không có Thượng đế. Theo tôi, những người này nói sai. Đức Phật không nói thế. Xin các nhà nghiên cứu về Phật giáo lên tiếng.
● Einstein phàn nàn rằng chúng ta đã tạo ra một xã hội bỏ quên món quà tặng. Đó là một lời phê phán nhẹ nhàng, tế nhị. Nếu nói thẳng, nói mạnh, thì phải nói rằng chủ nghĩa duy vật thô thiển đã tước bỏ vai trò của Đấng Sáng tạo, do đó không đề cao vai trò của trực giác. Điều này biểu hiện rõ nhất trong nền giáo dục hiện đại. Phương pháp giáo dục bây giờ nặng về nhồi nhét tri thức, tức là coi trọng “tên đầy tớ”, trong khi sao nhãng hoặc thiếu khả năng đánh thức người học, không biết kích thích trực giác, tức là bỏ quên “quà tặng thiêng liêng”. Kurt Gödel có ý nghĩ gần như Einstein, nhưng nói một cách thẳng thắn hơn, mạnh mẽ hơn, bộc trực hơn: “Chủ nghĩa duy vật là sai lầm” (Materialism is false).
Tóm lại, nếu thừa nhận trực giác tồn tại, thì không thể không thừa nhận sự hiện hữu của Thần. Bởi trực giác chính là quà tặng thiêng liêng của Thần.
● Nếu trực giác là thứ duy nhất thực sự có giá trị (mà tôi tin đúng là như thế) thì mọi thứ bằng cấp danh hiệu đều chỉ là những thứ trang sức phù phiếm. Bằng cấp là thước đo tri thức (vinh danh tên đầy tớ), chủ nghĩa bằng cấp và thói háo danh là một biểu hiện của sự vô minh của con người, bởi nó không ý thức được rằng thứ duy nhất có giá trị thực sự là trực giác, quà tặng thiêng liêng của Đấng Sáng tạo.
● Không nên nhầm lẫn khái niệm trực giác với sự suy diễn bề ngoài. Chẳng hạn, quan niệm về biến dị và di truyền của Darwin không xuất phát từ trực giác, mà xuất phát từ suy diễn. Darwin trông thấy những biến đổi nhỏ trong thế giới sinh vật, rồi suy diễn ra rằng những biến đổi nhỏ ấy tích tụ dần trong một thời gian dài hàng trăm triệu năm hoặc hàng tỷ năm để trở thành những biến đổi lớn, biến loài này thành loài khác, tức là tiến hóa. Câu chuyện về cái cổ của hươu cao cổ là thí dụ điển hình cho kiểu suy diễn của Darwin. Nếu phải biện hộ cho Darwin thì có một cách tiện lợi nhất, ấy là đổ hết các sai lầm cho Lamarck, vì thực tế là Darwin đã chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi quan niệm di truyền sai lầm của Lamarck. Thật vậy, sai lầm vô cùng lớn của Lamarck là ở tư tưởng cho rằng những biến đổi do ngoại cảnh đem lại (biến đổi không bẩm sinh) có thể di truyền cho các thế hệ sau. Thí dụ: Một động vật nào đó chẳng may bị cụt một chân, thì sự biến đổi này có thể di truyền cho thế hệ sau, thông qua đường máu. Darwin đã tiếp thu tư tưởng di truyền sai lầm đó, để từ đó tạo nên lý thuyết chọn lọc tự nhiên – sinh vật có xu hướng chọn lọc những biến dị có lợi, để rồi biến dị ấy được di truyền cho đời sau, tích tụ qua nhiều đời thành một biến đổi lớn. Giới tiến hóa ngày nay đánh lận con đen, gọi những biến đổi trong loài là vi tiến hóa (micro-evolution), và biến đổi lớn, tức biến đổi từ loài này thành loài khác, là tiến hóa vĩ mô (macro-evolution). Thực tế hoàn toàn không có tiến hóa nào cả, dù là vĩ mô hay vi mô. Cái gọi là “vi tiến hoá” chỉ là cách chơi chữ, đặt tên để cứu vãn thuyết tiến hóa. Thực tế đó chỉ là sự biến đổi trong loài, và không hề có sự tiến bộ nào trong những biến đổi này để gọi đó là vi tiến hóa.
● Không nên nhầm lẫn khái niệm trực giác với trí tưởng tượng. Thí dụ, tư tưởng cho rằng sự sống có thể hình thành từ vật chất không sống, mà trong sinh học gọi là lý thuyết sự sống hình thành tự phát (spontaneous generation), là một sự tưởng tượng 100%. Chẳng hạn từ một xác động vật chết ta thấy xuất hiện dòi bọ. Trí tưởng tượng của người Hy Lạp cổ đại cho rằng dòi bọ đã ngẫu nhiên hình thành từ không khí xung quanh xác động vật chết. Trong thế kỷ 19, Louis Pasteur đã chứng minh rằng trí tưởng tượng đó hoàn toàn sai, và ông khẳng định sự sống chỉ có thể ra đời từ sự sống. Đó là định luật nguồn gốc sinh học của sự sống (biogenesis). Nhưng thuyết tiến hóa vẫn tiếp tục theo đuổi lý thuyết sự sống hình thành tự phát, họ biến lý thuyết này thành giả thuyết “nồi soup nguyên thủy”, hay còn gọi là lý thuyết về nguồn gốc sự sống, thậm chí khoác một cái tên kêu hơn, đó là “thuyết tiến hóa hóa học” (chemical evolution). Thực chất, đây là sự ngụy biện cho một trí tưởng tượng ngây thơ từ thời cổ đại.
● Tất cả các nhà khoa học có những đóng góp thiên tài đều có trực giác thiên tài và đều thừa nhận vai trò quyết định của trực giác trong sáng tạo khoa học.
Blaise Pascal gọi trực giác bằng một cái tên văn chương hơn, đó là “lý lẽ của trái tim” (la raison du Coeur). Ông tuyên bố: “Trái tim có những lý lẽ mà lý lẽ chẳng hiểu gì cả” (Le coeur a ses raisons que la raison ne connait point). Pascal không chỉ có trực giác khoa học thiên tài, mà còn có trực giác tâm linh sâu sắc [để biết rõ điều này, xin đọc “Lửa của Pascal” trên PVHg’s Home ngày 16/12/2013]. Với trực giác đó, ông có một đức tin tôn giáo mạnh mẽ, đến nỗi ông cho rằng ai không có đức tin sẽ vô cùng thiệt thòi. Ông nói : « Nếu Chúa không tồn tại, thì dẫu sao bạn cũng chẳng mất gì khi tin Ngài; nhưng nếu Chúa tồn tại, bạn sẽ phải chịu mất tất cả nếu không tin Ngài » (If God does not exist, one loses nothing by believing in Him anyway; While if God exists, one stands to lose everything by not believing). Ông cho rằng biết có Chúa chưa đủ. Phải yêu kính Chúa mới thật sự là có đức tin. Ông nói: “Từ chỗ biết Chúa đến chỗ yêu kính Chúa vẫn còn quá xa” (The knowledge of God is very far from the love of God). Lấy tiêu chuẩn của Pascal làm thước đo, ta có thể nhận xét rằng Einstein tuy có trực giác siêu việt về thế giới vật chất – toàn bộ thế giới vật chất đã được ông tóm gọn trong công thức E = mc2 – nhưng trực giác tâm linh còn thấp. Thật vậy, Einstein tin có Đấng Sáng tạo nhưng không có tinh thần yêu kính Thần.
Henri Poincaré, một trong những nhà toán học vĩ đại nhất của mọi thời đại, người từng được mệnh danh là “con quỷ toán học” và “Mozart của toán học”, xác định rất rõ vài trò tiên phong của trực giác trong sáng tạo qua tuyên bố sau đây: “Nhờ logic ta chứng minh, nhờ trực giác ta khám phá” (C’est par la logique que nous prouvons; c’est par l’intuition nous inventons).
Louis Pasteur, người có trực giác thiên tài khi tiên đoán rằng tính bất đối xứng (thuận tay trái) là đặc trưng của sự sống. Sau hơn một thế kỷ rưỡi kể từ khi ông nêu lên nhận định đó, toàn thể giới sinh học đều thừa nhận đó là một định luật của sự sống. Thậm chí ông còn muốn khái quát định luật đó cho toàn bộ vũ trụ, rằng vũ trụ là bất đối xứng. Ông lấy làm tiếc đã không tiếp tục phát triển tư tưởng này đến mức hoàn chỉnh. Hết sức bất ngờ, vật lý hiện đại cũng đi tới kết luận vũ trụ bất đối xứng. Tôi sẽ trình bày vấn đề này trong một dịp khác.
Giới tiến hóa trong thâm tâm rất ghét Pasteur, một phần vì ông là người có tư tưởng tôn giáo sâu sắc, phần khác vì các định luật của ông tự động bác bỏ thuyết tiến hóa. Nhưng họ không có cách nào chống lại định luật sự sống thuận tay trái. Chừng nào không giải thích được tại sao sự sống thuận tay trái thì chừng ấy thuyết tiến hóa sẽ không thể chứng minh được nguồn gốc sự sống. Tuy nhiên Pasteur nhắc nhở chúng ta rằng: “Trực giác chỉ đến với những ai đã dày công chuẩn bị để đón nhận nó” (Intuition is given only to him who has undergone long preparation to receive it). Không thể có trực giác toán học nếu bạn không say mê toán học đến mức hiến dâng sức lực cho nó, thậm chí hiến dâng cuộc đời cho nó. Làm sao có thể có một thiên tài âm nhạc không dâng hiến cuộc đời cho âm nhạc?
● Không chỉ vĩ nhân mới có trực giác. Tất cả chúng ta đều có trực giác, chỉ khác nhau ở mức độ và thiên hướng mà thôi. Có người có trực giác mạnh trong âm nhạc, có người có trực giác mạnh trong toán học,… Kinh tế là lĩnh vực đòi hỏi trực giác rất cao. Nhiều người học hành ít nhưng có trực giác cực kỳ nhạy bén về làm ăn lỗ lãi mà các tiến sĩ kinh tế học không có. Nếu so sánh hai giới, ta thấy dường như phụ nữ có thiên hướng tư duy trực giác nhiều hơn, nam giới có xu hướng tư duy lý trí nhiều hơn, do đó phụ nữ tình cảm hơn và thực tế hơn, nam giới lý luận và viển vông hơn.
6 copyMarilyn Monroe, cô đào điện ảnh nổi tiếng nhất thế kỷ 20, đã nói thay mọi phụ nữ, rằng “Phụ nữ nhận thức bằng trực giác, hoặc bản năng, cái tốt nhất đối với cô ta” (A woman knows by intuition, or instinct, what is best for herself). Vì thế trong nhiều trường hợp, phụ nữ cảm nhận được sự thật nhanh hơn nam giới, hoặc chính xác hơn nam giới. Điều này hoàn toàn trái với quan điểm của Darwin cho rằng phụ nữ kém tiến hóa so với nam giới. Vì thế, mỗi người nên biết rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình để hợp tác với cộng đồng, tạo nên một xã hội vững mạnh. Một xã hội tốt là xã hội biết tạo điều kiện để mỗi cá nhân phát huy được điểm mạnh của mình và cùng hợp tác với nhau, bổ sung cho nhau làm nên một xã hội văn minh và tiến bộ. Vì thế, đề cao quy luật đấu tranh sinh tồn là phản lại xã hội, chống lại con người.

● Trong sáng tạo văn học nghệ thuật, trực giác đóng vai trò cốt yếu đến mức có thể đưa ra một lời khuyên rằng nếu bạn không có trực giác trong lĩnh vực này thì bạn không nên bước vào đó. Trực giác ở mức thấp có thể gọi là năng khiếu. Cao hơn, trực giác có thể tạo ra những khoảnh khắc ngẫu hứng thần kỳ. Trong tiểu sử Ludwig Van Beethoven, tôi nhớ nhất một chi tiết kể rằng, tại một salon quý tộc, Beethoven đã lật ngược một bản nhạc mà trước đó một danh cầm người Pháp vừa biểu diễn. Ông chơi câu đầu tiên của bản nhạc lật ngược đó, tất nhiên đó là một dãy nốt rất vô nghĩa, nhưng từ một chủ đề vô nghĩa ấy, ông bắt đầu biến tấu, sáng tác, vừa chơi vừa sáng tác, vừa chơi vừa biến hóa, thành những nét nhạc kỳ diệu, trước sự kinh ngạc của đám khách khứa có mặt. Hầu như tất cả các nhạc sĩ lớn như Mozart, Beethoven, Chopin,… đều có khả năng sáng tác và biểu diễn ngẫu hứng như thế. Những nghệ sĩ biểu diễn đoạt các giải thưởng âm nhạc quốc tế như Tchaikovsky, Chopin,… cũng là những người có trực giác âm nhạc rất nhạy bén, nhưng có lẽ không thể so sánh với các nhạc sĩ sáng tác bậc thầy. Điều này giới âm nhạc biết rõ hơn ai hết.
Giới biểu diễn sân khấu cũng đòi hỏi những phút ngẫu hứng xuất thần. Nếu phải bỏ phiếu bầu một nghệ sĩ vĩ đại nhất của mọi thời đại, tôi không cần đắn đo mà bầu ngay Charlie Chaplin. Chỉ cần một “Ánh đèn sân khấu” (Limelight) của ông là đủ để thấy cái vĩ đại đó. Đó là một câu chuyện cảm động rớt nước mắt nhưng đầy chất nhân bản, chan chứa tình người, tình yêu thương, đem lại cho ta một niềm hy vọng vào cái Thiện, cái Đẹp trong cuộc sống, khuyến khích ta đứng thẳng người lên để sống. Những đoạn hội thoại đầy ắp triết lý nhân sinh. Âm nhạc tha thiết, da diết, thanh khiết, gợi lên một thế giới thanh cao để vươn tới. Khó có giai điệu nào đẹp hơn thế nữa. Ông Calvero trong phim (chính là Chaplin) chơi violin hay đến mức tôi tưởng đó là Nicolo Paganini sống lại. Tất cả đều do Chaplin – một mình ông kiêm tất cả các vai trò quan trọng nhất của một bộ phim: đạo diễn, tác giả kịch bản, diễn viên chính, tác giả nhạc phim, người chơi nhạc cho phim. Nếu không phải là một thiên tài do Thần tạo ra, liệu có thể có một người chịu khó học hành để thành tài như thế không? Vậy mà Chaplin cũng chỉ được trao tặng một Giải Oscar cho toàn bộ sự nghiệp. Suy ra rằng các giải thưởng chỉ phản ánh được một phần nào sự thật mà thôi. Chỉ có những ai biết rõ tài năng là gì, trực giác là gì, thế nào là một món quà của Thần, thế nào là một quà tặng thiêng liêng,… chỉ những người ấy mới biết thưởng thức giá trị của các tài năng.
trực giácĐể kết phần này, tôi xin trích ý kiến của một diễn viên điển ảnh nổi tiếng trong thấp kỷ 1950-1960. Đó là Ingrid Bergman. Bà nói: “Bạn phải rèn luyện trực giác của bạn – bạn phải tin vào tiếng nói nhỏ nhẹ bên trong bạn, nó nói với bạn một cách chính xác nên nói gì, quyết định gì” (You must train your intuition – you must trust the small voice inside you which tells you exactly what to say, what to decide).

Thay lời kết

Xem thế thì thấy nhà khoa học chân chính và nghệ sĩ chân chính rất giống nhau: họ đều có trực giác nhạy bén để khám phá ra chân lý, cái đẹp và cái thiện. Một cách tổng quát, ta có thể thấy Thuyết Tương đối của Einstein là một tác phẩm nói về Cái Đẹp của Tự nhiên. Cái đẹp ấy không chỉ biểu lộ ở công thức toán học rất đơn giản, cân đối và gọn đẹp của ông, mà còn ở tư tưởng toát ra từ lý thuyết ấy – một tư tưởng bao trùm vũ trụ, giống như một bức tranh hoành tráng mô tả vũ trụ. Ai từng có niềm đam mê ngắm bầu trời đầy sao đều có thể đam mê thưởng thức Thuyết Tương đối Tổng quát, bởi bản chất Cái Đẹp là Một.
Và thú vị thay khi ta thấy Albert Einstein, một bậc kỳ tài trong thiên hạ, lại tỏ ra mến phục và ngưỡng mộ Charlie Chaplin đến mức xin gặp Chaplin bằng được. Chaplin đã nhận lời và hai ông đã gặp nhau. Chaplin đưa Einstein đến phim trường của ông để tham quan. Trên đường đi, Einstein nói với Chaplin: “Ông là một người vĩ đại, vì đã sáng tạo ra những câu chuyện cười ra nước mắt mà ai cũng hiểu”. Chaplin đáp: “Ông cũng là một người vĩ đại, vì đã sáng tạo ra những phương trình không ai hiểu nổi”.
5Câu chuyện trên có nhiều dị bản. Dị bản sau đây có lẽ gần với sự thật hơn, và thú vị hơn:
Einstein: “Điều tôi ngưỡng mộ nhất về nghệ thuật của ngài là ở chỗ ngài không nói một lời nào, ấy thế mà… toàn thế giới hiểu ngài” (What I admire most about your art is that you do not say a word, and yet… the world understands you).
Chaplin: “Đúng thế… nhưng danh tiếng của ngài còn lớn hơn. Toàn thế giới ngưỡng mộ ngài trong khi không ai hiểu ngài” (It’s true… but your fame is even greater. The world admires you, when nobody understands you).
Nhưng dù sự thật chính xác là như thế nào thì hai bậc kỳ tài đó đã gặp nhau – hai tư tưởng lớn gặp nhau. Một người hướng ra vũ trụ ngoài tự nhiên, một người hướng vào vũ trụ trong lòng người, nhưng cùng được nhận món quà thiêng liêng của Thượng đế, thứ duy nhất thực sự có giá trị, đó là TRỰC GIÁC!
Chúc bạn có một trực giác tuyệt vời để thưởng thức Cái Đẹp của vũ trụ cũng như Cái Đẹp trong tâm hồn con người!
Tác giả: Phạm Việt Hưng,  viethungpham.com.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln đã làm gì khi bị sỉ nhục?


“Cái trán của Tướng quân rộng đến mức có thể phi ngựa, bụng của Tể Tướng rộng đến mức có thể chèo thuyền”.
Lâm Tắc Từ, một vị quan nổi tiếng thời xưa, cũng viết: “Hải nạp bách xuyên, hữu dung nãi đại; bích lập thiên nhận, vô dục tắc cương” , ý nói rằng biển vì có thể dung nạp trăm nghìn con sông mà trở nên rộng lớn, vách núi nghìn trượng sừng sững vì không mang dục vọng mới có thể giữ mình cương trực. Đây cũng là nói đến trí huệ của lòng bao dung.
Bao dung là một loại khí phách, cũng là một loại trí huệ. Có một câu chuyện kể về vị Tổng thống vĩ đại của nước Mỹ, Abraham Lincoln như thế này:
Tổng thống Mỹ thứ 16 Abraham Lincoln xuất thân trong một gia đình thợ giày. Lúc đó, xã hội Mỹ rất coi trọng thành phần xuất thân trong gia đình quyền quý. Đại bộ phận nghị sĩ thượng nghị viện Mỹ đều xuất thân trong gia đình thế gia vọng tộc. Là những người của xã hội thượng lưu Mỹ, họ thấy khó chấp nhận một vị Tổng thống là con trai của một thợ giày rất tầm thường.
Ngày đầu tiên làm tổng thống, ngay khi Lincoln lên phát biểu trong lễ nhậm chức Tổng thống, một nghị sĩ đã chen vào giữa bài phát biểu của ông. Ông ta nói: “Thưa ngài Lincoln, đừng quên rằng cha ngài thường đóng giày cho gia đình tôi”. Tất cả các nghị sĩ đều cười ầm lên. Họ nghĩ rằng họ đã khiến Lincoln trở thành trò hề.
Tuy nhiên, khi tiếng cười vừa chấm dứt, Tổng thống Lincoln không cao ngạo, cũng không tự ti mà chân thành nói: “Thưa ngài, tôi biết rằng cha tôi đã đóng giày cho gia đình ngài, cũng như nhiều gia đình các nghị sĩ khác… bởi vì không người thợ nào có thể làm được như ông. Ông là một người sáng tạo.
Giày của ông không chỉ là giày, ông đã đổ cả tâm hồn vào nó. Tôi muốn hỏi các ngài rằng, các ngài đã từng phàn nàn về giày của ông chưa? Bản thân tôi cũng biết cách đóng giày; nếu các ngài có phàn nàn gì, thì tôi có thể đóng cho các ngài một đôi giày khác. Nhưng theo tôi thấy thì, chưa ai từng phàn nàn về những đôi giày mà cha tôi đóng. Ông là một thiên tài, một nhà sáng tạo, và tôi tự hào vì cha tôi!”
Toàn bộ các nghị sĩ nín lặng. Họ nhận ra rằng họ chưa hiểu gì về Tổng thống Lincoln. Lincoln tự hào về người cha đánh giày của mình, vì chưa ai từng phàn nàn về những “tác phẩm” của ông. Và mặc dù đã là Tổng thống, Lincoln vẫn sẵn sàng đóng một đôi giày mới nếu có bất cứ ai phàn nàn.
Sau này có người đã khuyên Lincoln trả đũa người nghị sĩ nọ, nhưng Lincoln nói rằng: “Khi chúng ta trở thành bạn thì đối thủ đã không còn!” Chính sự chân thành và lòng khoan dung của Lincoln đã trở thành một phần nền tảng của văn hóa Mỹ.
Nhà thơ nổi tiếng Gibran từng nói: “Một con người vĩ đại có hai trái tim: Một trái tim chảy máu và một trái tim bao dung” . Khổng Tử nói: “Khoan dung thì được lòng mọi người”. Trong kinh Phật cũng dạy: “Chỉ một ý niệm cũng khiến hoàn cảnh thay đổi”. Cho nên, chỉ một câu nói, một hành động nhỏ hay chỉ một nụ cười thôi đã đủ để khiến cho người xấu quay đầu hướng thiện.
Lẽ trời cũng là lẽ của con người, chính bởi vì có thể bao dung mới có thể thành tựu được biển rộng, núi cao, cũng cải thiện được mối quan hệ giữa con người và con người, thành tựu được sự nghiệp to lớn lưu mãi ngàn đời của các bậc anh hùng, hào kiệt xưa nay.
Tục ngữ nói: “Vàng không thuần khiết, người không ai hoàn mỹ” . Khi đối mặt với sai lầm của người khác, nếu như canh cánh để ở trong lòng và đòi đáp trả thì sẽ chỉ khiến cho tâm linh của bản thân thêm nặng, thêm trầm trọng mà thôi. Thay vì để cho thù hận gặm nhấm tâm linh, chịu đựng thống khổ chi bằng hãy mở rộng lòng mà bao dung hết thảy, chẳng phải chúng ta sẽ được thản nhiên và tự tại sao?
Theo Tri Thức VN

Phần nhận xét hiển thị trên trang