Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Điểm sách: Biển Đông - Điểm nóng cho hợp tác khu vực hay các yêu sách chủ quyền gây xung đột?

 

Cuốn sách do hai học giả C. J. Jenner và Trần Trường Thủy hiệu đính và do Nhà xuất bản Đại học Cambridge xuâ là một trong những công trình xuất bản mới nhất, cập nhật nhất về tranh chấp ở Biển Đông với sự đóng góp của nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu có uy tín trong lĩnh vực. Nội dung cuốn sách bao hàm về tầm quan trọng của Biển Đông, lợi ích của các quốc gia, các vấn đề về luật pháp, quân sự, cạnh tranh giữa các nước, đánh bắt cá và những đề xuất hợp tác khu vực.

Cuốn sách là một trong những công trình xuất bản mới nhất, cập nhật nhất về tranh chấp ở Biển Đông với sự đóng góp của nhiều chuyên gia và nhà nghiên cứu có uy tín trong lĩnh vực. Cuốn sách gồm có bốn phần. Phần 1 đánh giá về tầm quan trọng của Biển Đông đối với hệ thống thế giới. Phần 2 phân tích lợi ích của các nước ở Biển Đông từ các cấp độ khác nhau, từ nội bộ, quốc gia cho đến khu vực. Phần III nhìn nhận các tranh chấp ở Biển Đông qua lăng kính luật pháp. Phần 4 thảo luận về một số vấn đề cụ thể, như hiện đại hóa quân sự, cạnh tranh các nước lớn, đánh bắt cá, và đề xuất về những hợp tác chuyên ngành ở khu vực. Kết luận của cuốn sách nêu bật tác động của các nhân tố lịch sử và chiến lược của các nước đến quá trình phát triển của các tranh chấp.
Đọc cuốn sách nổi lên một số điểm đáng chú ý sau. Về tầm quan trọng của Biển Đông, học giả Goeffrey Till nhận định dù Trung Quốc cho rằng tranh chấp Biển Đông chỉ là vấn đề song phương và khu vực, nhưng thực tế nó ngày càng được nhìn nhận như một quan ngại toàn cầu. Có bốn lý do quốc tế ngày càng quan tâm đến Biển Đông. Một là, Biển Đông có ý nghĩa quan trọng đối với kinh tế toàn cầu. Thứ hai, Trung Quốc ngày càng lộ rõ động cơ thực sự và quan niệm về lợi ích cốt lõi ở địa bàn này. Thứ ba, là sự phát triển của các mối quan hệ chiến lược, mạng lưới hợp tác, đối tác an ninh trong khu vực. Cuối cùng, đó là sự hội tụ của các chiến lược lớn của các nước, khiến Biển Đông trở thành địa bàn trọng điểm trong cạnh tranh giữa các nước lớn. Tranh chấp Biển Đông thu hút được sự chú ý bởi lo ngại của các quốc gia bên ngoài khu vực về khả năng tác động đến tự do hàng hải, hàng không qua khu vực, đồng thời về động cơ và mục đích của các chương trình hiện đại hóa quy mô của hải quân khu vực.
Rodolfo Severino lại cho rằng tình hình ở Biển Đông trở nên căng thẳng hơn do cách tiếp cận khác nhau của các nước có yêu sách ở vùng biển này. Ở bề nổi, những khác biệt đó cơ bản liên quan đến yêu sách về vùng nước cho các cấu tạo địa chất, tính mơ hồ về pháp lý của yêu sách đường chín đoạn của Trung Quốc. Việc các nước không có khả năng triển khai hợp tác chuyên ngành, bế tắc trong triển khai DOC và đàm phán COC, và việc Trung Quốc khăng khăng yêu cầu đàm phán song phương làm cho tranh chấp trở nên khó giải quyết hơn. Tuy nhiên, đằng sau những căng thẳng đó chính là lợi ích ngày càng khác biệt giữa các bên, đặc biệt là Bắc Kinh ngày càng nhìn nhận trật tự pháp lý hiện tại không phù hợp với lợi ích cốt lõi của họ. Chính điều đó làm gia tăng mâu thuẫn, căng thẳng giữa Trung Quốc với các nước láng giêng và với các nước lớn khác.
Renato Cruz De Castro chỉ ra cạnh tranh Trung-Mỹ là nhân tố quan trọng quyết định tầm quan trọng của Biển Đông trên bàn cờ quốc tế. Castro cho rằng Mỹ theo đuổi chính sách tái cân bằng về Châu Á-Thái Bình Dương để theo đuổi hai mục tiêu cơ bản: (1) đảm bảo cho các đồng minh; (2) tìm kiếm các biện pháp và cách thức để thúc đẩy hợp tác chiến lược với các đối tác khác ở khu vực để kiềm chế Trung Quốc. Mỹ không muốn đối đầu với Trung Quốc, mà chỉ tìm cách hợp tác với các nước khác để thuyết phục Trung Quốc chấp nhận cách tiếp cận dựa trên thượng tôn pháp luật và đa phương để giải quyết tranh chấp. Tuy nhiên, Trung Quốc đã sử dụng mối quan hệ kinh tế, chính trị chặt chẽ với các nước Đông Nam Á để hạn chế phần nào chiến lược tái cân bằng của Mỹ.
Một nghiên cứu đáng chú ý khác của Mark Valencia đã chỉ ra hai nhân tố quan trọng tác động đến tình hình Biển Đông. Thứ nhất, Đông Nam Á là khu vực rất nhạy cảm với sự can thiệp của các cường quốc bên ngoài. Lịch sử của khu vực Đông Nam Á cơ bản là quá trình đấu tranh để giành độc lập và tự quyết, chống thực dân hóa. Thứ hai, sự dịch chuyển cán cân quyền lực là nhân tố căn bản làm xoay chuyển tình hình ở Biển Đông. Dựa trên hai nhân tố đó, Valencia dự đoán chính trị Biển Đông sẽ tiếp tục dao động giữa hai kịch bản cực đoan nhất, một là ổn định trở lại nếu COC được hình thành hoặc là xung đột trực tiếp Mỹ - Trung. Valencia cũng dự báo một số khả năng có thể xảy ra xung đột là: Trung Quốc cản trở các hoạt động thăm dò của Việt Nam và Philippines, hoặc va chạm giữa tàu do thám của Mỹ và các lực lượng của Trung Quốc.
Cơ bản, phần đầu cuốn sách nhấn mạnh tầm quan trọng của Biển Đông. Có thể thấy, yếu tố quan trọng để Biển Đông trở thành điểm nóng là do Trung Quốc trỗi dậy và đòi hỏi lợi ích lớn hơn ở khu vực, từ đó thách thức các trật tự hiện hữu do Mỹ lãnh đạo. Sự can dự của Mỹ làm cho tình hình trở nên phức tạp hơn, và gia tăng tính bất định đối với trật tự ở khu vực. Theo đó, tranh chấp ở Biển Đông trở nên căng thẳng phản ánh những thay đổi trong tương quan lực lượng ở khu vực và điều chỉnh lợi ích cũng như chính sách của Trung Quốc và Mỹ.
Trong Phần 2, tranh chấp Biển Đông được phân tích ở các cấp độ chính trị nội bộ, chính sách quốc gia và quan hệ quốc tế trong khu vực. Alice Ba và Ian Storey phân tích ba động lực của tranh chấp Biển Đông: (i) nỗ lực của các bên nhằm tăng cường các yêu sách về chủ quyền lãnh thổ và đặc quyền với các vùng biển; (ii) cạnh tranh về tài nguyên, và (iii) chủ nghĩa dân tộc và chính trị đối nội.  Các tác giả cho rằng tranh chấp về tài nguyên tiếp tục là động lực chính làm gia tăng căng thẳng, trong khi đó chủ nghĩa dân tộc và chính trị nội bộ các nước làm phức tạp thêm tình hình, hạn chế không gian để các chính phủ có thể thỏa hiệp với nhau. Sự căng thẳng giữa Trung Quốc với Việt Nam và Philippines tạo ra rạn nứt trong quan hệ giữa các nước ASEAN, và làm suy yếu quan hệ giữa Trung Quốc và ASEAN, và buộc Mỹ phải tìm cách can dự. Việc Mỹ ưu tiên tái cân bằng về quân sự và an ninh thể hiện quan ngại của nước này đối với sự trỗi dậy của Trung Quốc.
Bonnie Glasier giải thích rõ hơn về tam giác quan hệ ASEAN-Mỹ-Trung Quốc, tìm cách giải mã những chuyển động trong tam giác này trước và sau năm 2007. Glasier chỉ ra ba thay đổi lớn trong tam giác này là: (1) Trung Quốc ngày càng trở nên quyết đoán để thực thi yêu sách của mình ở Biển Đông; (2) các nước ASEAN do đó lo ngại về chiến lược biển của Trung Quốc và tìm cách lôi kéo Mỹ can dự vào khu vực; (3) Mỹ theo đuổi chính sách tái cân bằng, tăng cường can dự toàn diện, từ ngoại giao, kinh tế đến an ninh, quốc phòng đối với khu vực. Theo đó, tác giả kết luận tranh chấp ở Biển Đông sẽ còn biến động phức tạp, không có triển vọng giải quyết trong ngắn hạn. Tuy nhiên, không nên phóng đại về nguy cơ đối đầu Mỹ-Trung ở khu vực, hay sự sụp đổ của ASEAN, cũng như là mối đe dọa về một chiến tranh toàn diện.
Các học giả khác cũng xem xét lợi ích và chính sách của các nước khác đối với Biển Đông. Về phía Ấn Độ, Vijay Sakhuja cho rằng New Delhi quan ngại về tình hình Biển Đông do hai lý do: (1) Ấn Độ có lợi ích kinh tế ở khu vực này, đặc biệt là các hợp đồng hợp tác với Việt Nam thăm dò và khai thác dầu khí ở khu vực; (2) quan ngại về an ninh liên quan đến Trung Quốc mở rộng cái gọi là “lợi ích cốt lõi” và đơn phương thiết lập vùng nhân diện phòng không như đã diễn ra ở Hoa Đông. Ấn Độ lo ngại Trung Quốc sẽ áp dụng cách tiếp cận ở Biển Đông đối với các khu vực đang tranh chấp giữa Ấn Độ và Trung Quốc ở Himalaya và ở Biển Đông. Nguyễn Hùng Sơn và C. J. Jenny xem xét vận động chính trị nội bộ ở Trung Quốc, Việt Nam và quan hệ trong nội khối ASEAN về vấn đề Biển Đông, và cho rằng tranh chấp ở Biển Đông không chỉ diễn ra theo logíc của chủ nghĩa hiện thực chính trị. Cạnh tranh giữa các nhóm lợi ích, bản sắc và chủ nghĩa dân tộc, quan điểm truyền thống đều có tác động nhất định đến chính sách và hành xử của các nước liên quan.
Trong phần 3, Stein Tonnesion cho rằng một số thành tố của Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ có thể được coi cơ sở để giải quyết tranh chấp ở các khu vực khác trên Biển Đông, đó là: sử dụng luật pháp quốc tế, sử dụng được trung tuyến để đảm bảo công bằng, ảnh hưởng hạn chế của các đảo trong phân định, thoả hiệp trong chia sẻ nguồn cá, hợp tác cùng phát triển và cùng khai thác dầu khí và khoáng sản. Nguyễn Thị Lan Anh cho rằng Biển Đông đang hội tụ nhiều nguy cơ an ninh truyền thống và phi truyền thống. Chính trị cường quyền gia tăng ở khu vực, khiến cho rủi ro xung đột tăng lên. Bên cạnh đó, còn có các thách thức phi truyền thống khác như ô nhiễm môi trường, cạn kiệt nguồn cá, đang đe doạ đến sự ổn định ở khu vực. Từ đó, học giả Lan Anh cho rằng Trung Quốc và ASEAN cần coi UNCLOS là cơ sở để xây dựng COC để đảm bảo quản lý Biển Đông một cách công bằng, ổn định và bền vững, trong đó có chú ý đầy đủ đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia.
Erik Franck và Marco Benatar tập trung phân tích khía cạnh pháp lý và thực tiễn việc áp dụng đường cơ sở quân đảo ở Biển Đông, cho rằng việc thiết lập các đường cơ sở thẳng quanh các nhóm đảo ở giữa biển khơi không thuộc quốc gia quần đảo là đi ngược lại với tinh thần và lời văn của UNCLOS. Robert Beckman và Leonardo Bernard cho rằng mặc dù Trung Quốc đã “bảo lưu” điều khoản về xử lý tranh chấp bắt buộc đối với các tranh chấp chủ quyền và ranh giới biển, nhưng điều đó không có nghĩa là cánh cửa để áp dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc hoàn toàn đóng kín. Theo đó, Philippines có thể kiện Trung Quốc về những vấn đề liên quan đến áp dụng và diễn giải UNCLOS, ví dụ về quyền của quốc gia ven biển, về điều 121, hay về quyền và quyền tài phán của Trung Quốc trong đường lưỡi bò. Các nước tranh chấp cũng có thể sử dụng các cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc khi cho rằng một bên yêu sách đã vi phạm UNCLOS và các nguyên tắc quan trọng của luật quốc tế, hoặc đe doạ sử dụng vũ lực. Các nước cũng có thể yêu cầu ITLOS cung cấp quan điểm tư vấn về một số vấn đề pháp luật liên quan đến tranh chấp.
Phần IV, cũng là phần kết luận của cuốn sách, xem xét các nhân tố tác động đến triển vọng hợp tác và xung đột ở Biển Đông. Carl Thayer cho rằng với tương lai của Biển Đông phụ thuộc vào 5 xu thế chính: (1) cạnh tranh chiến lược Mỹ-Trung; (2) quá trình hiện đại hoá hải quân ở khu vực; (3) việc phát triển các lực lượng chấp pháp dân sự; (4) sự tiến triển của cấu trúc an ninh ở khu vực; (5) kết quả của tham vấn giữa Trung Quốc và ASEAN liên quan đến COC. Về cơ bản Thayer cho rằng ít có khả năng xảy ra xung đột trong ngắn hạn, nhưng các cơ chế an ninh ở khu vực vẫn chưa đủ hiệu quả để quản lý tranh chấp ở Biển Đông. Kiến trúc an ninh khu vực sẽ phát triển chậm chạp, trong khi cạnh tranh Mỹ-Trung sẽ tiếp tục gia tăng nhưng không đến mức đối đầu nhau. Trong khi đó, Sukjoon Yoon và C. J. Jenner lại cho rằng việc hình thành cơ chế hợp tác giữa các cường quốc hạng trung, trong đó Hàn Quốc đóng vai trò dẫn dắt, có thể đóng góp hiệu quả vào việc quản lý tranh chấp ở Biển Đông. Học giả quá cố Jon M. Van Dyke cho rằng các nước ở Biển Đông có nghĩa vụ hợp tác với nhau để duy trì hoà bình và bảo vệ các lợi ích chung ở khu vực. Cùng quan điểm, Kuan-Hsiung Wang lập luận đã đến lúc phải thiết lập cơ chế quản lý nghề cá cấp khu vực để khai thác tài nguyên sinh vật biển ở Biển Đông một cách bền vững. Kết luận cuốn sách, C. J. Jenner cho rằng Biển Đông đang bị tác động nhiều xu thế lớn: (1) động lực phát triển kinh tế đang chuyển từ Bắc Mỹ về Đông Nam Á; (2) việc hình thành các mạng lưới thông tin và kinh tế phức tạp ở khu vực và toàn cầu; (3) sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và các cường quốc hải quân khác đã biến Biển Đông thành trọng điểm của đấu tranh địa chính trị và nhân tố quan trọng trong các chiến lược biển. Rõ ràng, những thay đổi trong  cán cân quyền lực ở khu vực và toàn cầu đang hội tụ ở Biển Đông.
Về cơ bản, cuốn sách là một tập hợp nhiều nghiên cứu có giá trị, đáng tham khảo cho những người nghiên cứu về Biển Đông nói riêng và chính trị ở khu vực nói chung. 
C. J. Jenner and Tran Truong Thuy (eds), The South China Sea: A crucible of Regional Cooperation or Conflict-Making Sovereignty Claims, Cambridge University Press, Cambridge (UK), 2016.
Hải Đỗ


Tin cũ hơn:

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Triển lãm một số bìa sách chống TQ xâm lược năm 1979


Bình luận án - 
 
Là người Việt Nam, ai cũng phải nhớ rằng cách nay không lâu, mới 38 năm, ngày 17/2/1979, bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh, do đảng cộng sản Trung Quốc lãnh đạo chỉ đạo, đã xua trên 500.000 quân lính bất ngờ tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Quân và dân Việt Nam đã anh dũng chiến đấu, đánh bại bọn tàu xâm lược. Tuy nhiên, tổn thất về sinh mạng cũng là rất lớn. Nhân dịp kỷ niệm 38 năm ngày không quên ấy, Bình luận án Blog mở một trang triển lãm một số bìa sách, báo, xuất bản phẩm ... mà Nhà nước Việt Nam đã phát hành trong giai đoạn này, nội dung vạch mặt và chỉ rõ thủ đoạn, âm mưu thâm độc của bọn lãnh đạo "phản động" Trung Quốc khi đó. 

Một bìa sách trong bộ sách được triển lãm lần này (nguồn ảnh: internet)

Tháng 2/1979, trong không khí "tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới, quân xâm lược bành trướng dã man đã giày xéo mảnh đất tiền phương, lửa đã cháy và máu đã đổ trên khắp dải quê hương" (lời bài hát "Tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới" của Phạm Tuyên), cả nước ra trận, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, khi đó là Bộ trưởng quốc phòng, đã có bài viết đăng trên báo Nhân dân và Quân đội nhân dân, với tựa đề: NHÂN DÂN VIỆT NAM NHẤT ĐỊNH THẮNG LỢI, GIẶC TRUNG QUỐC XÂM LƯỢC NHẤT ĐỊNH THẤT BẠI.

Đoạn mở đầu bài viết của Đại tướng Võ Nguyên Giáp như sau: Ngày 17 tháng 2 năm 1979, bọn cầm quyền phản động Bắc Kinh đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược quy mô lớn chống nước CHXHCN Việt Nam. Từ những ngày đầu, quân và dân ta ở các tỉnh biên giới, từ Lai Châu, Hoàng Liên Sơn, đến Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh đã nêu cao tinh thần quyết chiến quyết thắng, chiến đấu cực kỳ anh dũng bảo vệ từng tấc đất thiêng liêng của tổ quốc, gây cho quân giặc những tổn thất nặng nề.

.........

Ghi chú: Chúng tôi sẽ bổ sung khi tìm thêm được đầu sách mới



http://dandensg.blogspot.com/2017/02/trien-lam-mot-so-bia-sach-chong-trung.html#more

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Yêu nước: nói hay không?





Hoàng Linh
Ngày 17/2 của tôi bắt đầu bằng một cú điện thoại của một người bạn là nghệ sĩ ở nước ngoài.
Anh nói mấy hôm anh xem loạt bài về cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc 17-2 trên nhiều tờ báo của Việt Nam, đã sao in ra để cho các con của anh đọc. Ở nơi xứ người các con không hề biết về việc này. Anh nói: phải dạy trẻ con về lòng yêu nước.
Anh còn muốn biết tâm tư, tình cảm của giới showbiz tại Việt Nam về vấn đề này. Vậy là tôi hẹn một giờ sau sẽ chuyển cho anh link các trang cá nhân của những nghệ sĩ Việt Nam nổi tiếng.
Nhưng sau đó, tôi phải nói dối anh là bận quá, không có thời gian tìm hiểu. Thật ra tôi đã tìm đọc trang cá nhân của những nghệ sĩ đang "hot" hiện nay, nói đúng hơn là đang hốt bạc từ công chúng. Nhưng thật buồn. Không hề có dòng chữ nào, hình ảnh nào liên quan đến ngày kỷ niệm. Thắc mắc tôi liên lạc, gọi hỏi.
Rất nhiều bạn phản ứng cho đó là quyền riêng tư, không thích thì không nói, không bày tỏ. Có nghệ sĩ còn nói rằng chỉ cần kiếm tiền, không quan tâm dính dáng gì đến chính trị.
Nhưng tôi không đặt vấn đề chính trị, tôi chỉ muốn nói về giá trị cơ bản của người Việt là yêu nước và biết ơn tiền nhân.
Tôi nói với những người bạn nghệ sĩ có cả vạn người theo dõi kia, rằng đừng bao giờ thờ ơ với chính trị. Bởi “chính trị” không phải thứ gì cao siêu. Nó là nồi cơm của các bạn, là tài khoản đang dầy lên của các bạn trong ngân hàng, là những villa mà các bạn đang có, là sự tự tin và kiêu hãnh mỗi khi các bạn đi ra bên ngoài.
Khi mà các bạn có thể định hướng tâm tư tình cảm của cả một cộng đồng những người trẻ - những người còn thiếu kiến thức và chiêm nghiệm - thì việc nói với họ về chủ quyền đất nước, có nên xem là trách nhiệm?
Điều đáng mừng là trong nhiều sự kiện, ngày kỷ niệm nhiều nghệ sĩ đã lên tiếng khẳng định lòng yêu nước và chủ quyền quốc gia. Đáng kính trọng, đa phần những nghệ sĩ này đều là “lao động tự do”, không hội đoàn, không chức vụ trong các tổ chức, hội đoàn ngốn ngân sách kinh niên. Những “Hội nghệ sỹ” danh vọng mà khi cần có tiếng nói thì chẳng thấy vị nào lên tiếng.
Tôi chợt nhớ đến chuyện thả thơ lên trời, tôi không biết trong số các vị thơ bay tận cao xanh ấy có vị nào lên tiếng trong ngày hôm nay không? Vì rằng tiếng nói của các vị có tác động đến cộng đồng.
Đó không phải là ý tưởng của riêng tôi. Đó là điều mà rất nhiều nghệ sỹ lớn đã làm, đã đi vào lòng công chúng.
Huyền thoại Marlon Brando từng từ chối tham dự và nhận giải Oscar lần thứ 2 cho vai diễn xuất chúng trong Bố già, thay vào đó, ông cử đại diện là một cô gái da đỏ bản địa lên nhận giải và đọc tuyên bố của ông trước hàng chục triệu người theo dõi lễ trao giải trực tiếp trên khắp thế giới. Ông tuyên bố không nhận giải bởi nước Mỹ đối xử không ra gì với người da đỏ và cướp đất, phá hủy văn hóa của họ. 
Đạo diễn Steven Spielberg đã từ chối lời mời của Trung Quốc làm đạo diễn lễ khai mạc Thế vận hội Bắc Kinh 2008 vì không đồng ý với quan điểm của chính phủ nước này về vấn đề Sudan lúc đó. 
Nhưng vị đạo diễn người Mỹ này cũng làm đau đầu nhiều đời tổng thống Mỹ vì các phát biểu chống các quan điểm chính thức của chính phủ Mỹ, đơn cử như chiến tranh Việt Nam trước 1975.
Một ví dụ khác, tại sao người Hồng Kông yêu mến Châu Nhuận Phát? Vì thái độ rõ ràng của anh về các vấn đề tồn vong của Hồng Kông và các giá trị cơ bản của nó, anh bày tỏ sự ủng hộ cuộc biểu tình của sinh viên đồng thời kêu gọi dân chúng bình tĩnh, sáng suốt. “Tôi đã gặp những người dân Hồng Kông, những sinh viên Hồng Kông đi biểu tình cho những yêu cầu của mình, họ thật là dũng cảm, làm người khác thấy cảm động. Còn cảnh sát, theo tôi ngay từ ngày đầu tiên họ đã sai rồi, sử dụng cái gì mà đạn hơi cay chứ? Toàn bộ sinh viên đều rất lý trí, có một điều cần nói là nếu như chính phủ có một phương án mới, làm vừa lòng người dân hoặc là sinh viên Hồng Kông, thì việc phản đối kia tôi cho rằng sẽ được dừng lại”.
Đối với người nghệ sĩ, người có ảnh hưởng đến công chúng thì những chuyện như thế này  là lúc chứng tỏ mình thuộc về đất nước dân tộc hay là một thứ gì đó xu thời…
Rồi cuộc điện thoại an ủi cuối cùng cũng đến trong lúc chiều muộn từ một người nổi tiếng:
"Ông ạ, mình im lặng nhưng không có nghĩa là mình không yêu nước, buồn lắm, có nhiều chuyện khó nói lắm…"
Với các nghệ sĩ có lòng yêu nước, xin hãy tha thứ cho tôi nếu có gì đó không đúng hoặc mạo phạm.
Hoàng Linh
Nguồn: http://vnexpress.net/tin-tuc/goc-nhin/yeu-nuoc-noi-hay-khong-3543091.html

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Cuộc chiến 1979 thực sự đã ‘bắt đầu từ trước’


Quốc Phương
17-2-2017
Ông Hà Văn Thịnh cho rằng thực ra cuộc chiến 1979 trên Biên giới Việt - Trung đã khởi thủy từ năm 1974 khi Trung Quốc tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: FB Hà Văn Thịnh.
Ông Hà Văn Thịnh cho rằng thực ra cuộc chiến 1979 trên Biên giới Việt – Trung đã khởi thủy từ năm 1974 khi Trung Quốc tấn chiếm quần đảo Hoàng Sa. Ảnh: FB Hà Văn Thịnh.
Cuộc chiến nổ ra ngày 17/2/1979 trên biên giới Việt – Trung thực ra đã nổ ra từ lâu trước đó, theo một sử gia từ Đại học Huế của Việt Nam.
Bình luận với BBC hôm thứ Sáu nhân 38 năm đánh dấu cuộc chiến đẫm máu trên biên giới phía Bắc của Việt Nam sau khi Trung Quốc khởi binh tấn công trên toàn tuyến biên giới giữa hai nước, nhà sử học Hà Văn Thịnh nói:
“Tôi quan niệm hơi khác mọi người một chút, tôi cho rằng cuộc chiến tranh năm 1979 đã thực sự bắt đầu từ 19/01/1974 khi Trung Quốc đánh chiếm toàn bộ Hoàng Sa, đó là bắt đầu cuộc chiến tranh Việt Nam.
“Bắt đầu năm 1979 là đỉnh cao, năm 1988 nó biến thái, ngày 14/3/1988 chiếm Gạc Ma, một phần của Trường Sa, rồi tiếp đó, chúng ta biết đầu thế kỷ 21, nào là thành phố Tam Sa, nào là đường lưỡi bò (bản đồ đường chín đoạn).
“Rõ ràng là cuộc chiến tranh năm 1979 tôi nhấn mạnh là nó bắt đầu từ năm 1974, đến bây giờ nó vẫn đang tiếp diễn…
“Theo quan điểm quả tôi, chừng nào mà đất đai, biển đảo, máu thịt của Tổ quốc vẫn bị xâm lược Trung Quốc chiếm đóng, thì chừng đó chưa thể coi là bạn được”.
Sử gia từ Huế chia sẻ một thống kê riêng của ông theo đó chỉ 5-10% sinh viên không thuộc ngành sử mà ông đã giảng dạy trong những dịp đánh dấu sự kiện biết được ngày 17/2/1979 là ngày gì và có ý nghĩa ra sao.
Khi được hỏi ông có tư vấn gì cho giới soạn thảo sách giáo khoa, giảng dạy, nghiên cứu và phổ biến lịch sử ở Việt Nam liên quan sự kiện trên và cuộc chiến Việt – Trung bắt nguồn từ đó, ông Hà Văn Thịnh nói:
“Trong hội đồng soạn thảo sách giáo khoa, có không ít các thầy của tôi, bây giờ bảo khuyên các thầy thì nó không đúng, nhưng với tư cách một học trò, tuy lớn tuổi rồi và cũng am hiểu đôi chút, tôi rất muốn góp ý là kính đề nghị các thầy, kính đề nghị các đồng nghiệp bằng tuổi tôi hoặc ít hơn tuổi tôi là cần phải tôn trọng lịch sử, cần phải tôn trọng sự thật.
“Chứ không thể nào chung chung, rồi mơ hồ, nửa biết, nửa không như vậy, trắng không ra trắng, đen không ra đen…,” ông Hà Văn Thịnh, người có nhiều thập niên giảng dạy và nghiên cứu sử học tại Đại học Huế nêu quan điểm với BBC.
Phải tạo áp lực
Cũng hôm 17/2/2017, BBC đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Quang Thạch, nhà chủ xướng chương trình Sách hóa Nông thôn ở Việt Nam, ông cho BBC hay, hiện tại trong sách giáo khoa phổ thông ở nhà trường Việt Nam chí có vỏn vẹn ’11 dòng’ nói về cuộc chiến Việt – Trung năm 1979 với sự kiện mà ông gọi đích danh là ‘Trung Quốc xâm lược Việt Nam’.
Về ý nghĩa của việc người dân, nhất là giới trẻ, cần nắm được sự kiện 17/2/1979 nói riêng và những trang sử của quốc gia, kể cả những thăng trầm của dân tộc, nhà vận động văn hóa sách ở nông thôn Việt Nam nói:
“Những năm tháng, giai đoạn, những tấm thảm sử của đất nước, nếu người dân không biết, chúng ta phải luôn luôn nhắc nhở chính mình là một đất nước đánh lại, chống lại được ngoại xâm, trước hết chúng ta phải tự cường, tự lực, phải có sức mạnh và phải biết đến những tấm thảm sử của dân tộc để chúng ta cùng nhau lao động, học tập, cùng nhau đặt nền tảng cho sự phát triển của quốc gia, để chúng ta có một sức mạnh…
“Bản thân sức mạnh là sự tự kháng đối với những thế lực mà muốn bành trướng, xâm chiếm quốc gia, thành ra việc chúng ta phải nhắc lại những câu chuyện của lịch sử là nghiễm nhiên và mỗi chúng ta phải nỗ lực.
“Nếu trường hợp sách giáo khoa thời gian tới người ta chưa làm, thì chúng ta phải tạo áp lực xã hội, tạo dư luận để buộc người ta phải đưa vào. Đấy là chuyện đương nhiên.
“Còn một mặt nữa, với tư cách công dân, những người hiểu biết… phải biết phổ biến nó, nói với những người xung quanh mình, nói với những đứa trẻ, với đồng nghiệp, với bạn bè của mình để sự nhận biết về lịch sử được lan truyền trong dân chúng là việc nghiễm nhiên,” ông Nguyễn Quang Thạch nói với BBC hôm thứ Sáu.
Quý vị có thể bấm vào đường dẫn này để theo dõi toàn văn cuộc trao đổi giữa BBC với ông Nguyễn Quang Thạch hôm 17/2/2017.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Kinh nghiệm viết bài cho tạp chí học thuật quốc tế (Physical Review Letters, và nhóm Nguyễn Đình Đăng)


Đầu tiên là một bài trên báo phổ thông.

Chú ý nhỏ: ở Nhật Bản, nơi anh Nguyễn Đình Đăng đang làm việc, không có học vị Tiến sĩ Khoa học (TSKH). Tất cả chỉ là Tiến sĩ (nguyên tiếng Nhật là Bác sĩ). TSKH là học vị của riêng phía Việt Nam đặt ra và sử dụng phổ biến, phù hợp với tình hình Việt Nam từ khoảng năm 1996 đến nay (mục đích là để hợp thức hóa học vị "Phó Tiến sĩ" trước đây thành "Tiến sĩ" từ khoảng năm 1996).

Tư liệu bổ sung sẽ đưa dần sau.


Ba nhà khoa học Việt có công trình trên tạp chí vật lý hạng nhất quốc tế

Ba nhà khoa học người Việt đã tạo nên kỳ tích mới cho lịch sử ngành vật lý Việt Nam, khi lần đầu tiên có nghiên cứu được đăng trên tạp chí vật lý hạng nhất quốc tế.

Công trình nghiên cứu "Simultaneous microscopic description of nuclear level density and radiative strength function" (Mô tả vi mô đồng thời mật độ mức và hàm lực phóng xạ của hạt nhân nguyên tử) được đăng tải trênPhysical Review Letters ngày 9/1/2017.
Trong số ba tác giả có hai người đang làm việc ở Việt Nam là PGS.TS Nguyễn Quang Hưng (Đại học Duy Tân, Đà Nẵng) và nghiên cứu sinh Lê Thị Quỳnh Hương (Đại học Khánh Hòa, Nha Trang); còn TSKH Nguyễn Đình Đăng làm việc tại Viện RIKEN, Nhật Bản.
"Đây là công bố thứ 5 của tôi tại Physical Review Leters, nhưng lần này là bài báo đầu tiên về vật lý hạt nhân mà cả ba tác giả đều là người Việt Nam", tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng nói và thông tin thêm, qua sự kiện này cho thấy đã có các nhà nghiên cứu vật lý hạt nhân ở Việc Nam đạt được kết quả quan trọng ở tầm được công bố tại tạp chí vật lý hạng nhất quốc tế. 
Ba nhà khoa học từ trái sang: Lê Thị Quỳnh Hương
Ba nhà khoa học từ trái sang: thạc sĩ Lê Thị Quỳnh Hương, PGS.TS Nguyễn Quang Hưng và TSKH Nguyễn Đình Đăng.
Trong vật lý hạt nhân việc nghiên cứu hai đại lượng mật độ mức và hàm lực phóng xạ đã trở thành đề tài then chốt, bởi chúng có vai trò quan trọng trong việc tìm hiểu quá trình tổng hợp hạt nhân trong vũ trụ, cũng như công nghệ sản xuất năng lượng hạt nhân và xử lý chất thải hạt nhân.
Lĩnh vực trên được đẩy mạnh từ năm 2000, sau khi các nhà vật lý thực nghiệm tại Đại học Oslo (Na Uy) đề xuất một phương pháp cho phép đồng thời chiết trích xuất được cả hai đại lượng này, từ phổ sơ cấp phân rã gamma thu được trong cùng một thí nghiệm. Tuy nhiên phương pháp trên có những bất định trong quá trình chuẩn hóa.
Từ trước tới nay chưa có một lý thuyết thống nhất đủ khả năng mô tả đồng thời một cách vi mô cả hai đại lượng này. Vì vậy việc xây dựng cơ sở lý thuyết nhất quán để hiểu hai đại lượng trở thành nhu cầu cấp thiết.
Trong công trình nghiên cứu của mình, nhóm nhà khoa học Việt đã lần đầu tiên xây dựng được một mô hình lý thuyết cho phép mô tả đồng thời cả hai đại lượng là mật độ mức và hàm lực phóng xạ. "Mô hình của chúng tôi có giá trị ở chỗ nó là mô hình vi mô và nhất quán, mô tả tốt các số liệu thực nghiệm mà không cần phả đưa thêm bất cứ một tham số mới nào, cũng như không hề phải hiệu chỉnh tham số theo nhiệt độ hay năng lượng tia gamma", ông Nguyễn Đình Đăng cho biết.
Bài báo được ba tác giả gửi đến tạp chí Physical Review Letters ngày 13/9/2016 và trải qua ba vòng phản biện với ba phản biện kín là các chuyên gia hàng đầu thế giới trong cùng lĩnh vực nghiên cứu. Tại các vòng phản biện, cả ba phản biện đều công nhận bài báo thỏa mãn tiêu chí thứ 2 của tạp chí là "nghiên cứu giải quyết, hoặc làm những bước căn bản để giải quyết, những vẫn đề cấp thiết đang tồn tại".
TS Nguyễn Quang Hưng cho biết, yêu cầu khắt khe của tạp chí khiến giai đoạn viết bản thảo là khó khăn nhất. Bài báo phải thật ngắn gọn, không vượt quá 3.750 từ nhưng vẫn truyền tải đầy đủ nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng. Bên cạnh đó ngôn ngữ thể hiện phải chuẩn xác và trong sáng. "Chúng tôi đã mất 90 ngày để hoàn thiện bản thảo đầu tiên của bài báo", ông Hưng nói.
Physical Review Letters là tạp chí quốc tế hạng nhất trong các tạp chí vật lý và toán học trên thế giới. 5 năm gần đây tỷ lệ được đăng ở tạp chí này là khoảng 30%, tức là cứ cứ 10 bài gửi đăng thì 7 bài bị loại.
Một bài báo để được công bố trên tạp chí Physical Review Letters, phải đạt được một trong 3 tiêu chí. Thứ nhất, công trình nghiên cứu phải mở ra một lĩnh vực mới, hoặc những lộ trình nghiên cứu mới trong một lĩnh vực đã thiết lập, ảnh hưởng quan trọng tới nghiên cứu trong các lĩnh vực khác. Thứ hai, công trình nghiên cứu phải giải quyết, hoặc làm những bước căn bản để giải quyết, những vẫn đề cấp thiết đang tồn tại.
Thứ ba, công trình nghiên cứu phải trình bày một kỹ thuật mới, hoặc một phương pháp luận mới, đóng vai trò then chốt trong nghiên cứu vật lý trong tương lai và có những hệ quả rõ ràng trực tiếp cho các nhà vật lý.
ThS Lê Thị Quỳnh Hương tốt nghiệp cử nhân ngành vật lý, trường ĐH Sư Phạm Huế và thạc sĩ ngành vật lý kỹ thuật, Đại học Đà Lạt. Chị đang là giảng viên tại Khoa khoa học tự nhiên và công nghệ, Đại học Khánh Hòa, Nha Trang và nghiên cứu sinh năm thứ 3 của Đại học Khoa học tự nhiên, TP HCM 
PGS Nguyễn Quang Hưng tốt nghiệp tiến sĩ ngành vật lý lý thuyết và vật lý toán tại Viện Vật lý, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam và Viện nghiên cứu vật lý và hoá học, RIKEN (Nhật Bản). Anh từng nghiên cứu sau tiến sĩ tại Viện RIKEN và được mời trao đổi và tham gia hợp tác nghiên cứu tại khoa Vật lý, Đại học Notre Dame (Mỹ); phòng thí nghiệm gia tốc siêu dẫn quốc gia NSCL, Đại học bang Michigan (Mỹ) và trung tâm nghiên cứu hạt nhân CENBG, Đại học Bordeaux (Pháp). Trở về nước tháng 9/2010, tiến sĩ Hưng từng làm việc tại trung tâm Vật lý hạt nhân, Viện Vật lý (Hà Nội); khoa kỹ thuật, trường ĐH Tân Tạo (Long An); và nay là Viện nghiên cứu và phát triển công nghệ cao, trường ĐH Duy Tân (Đà Nẵng). 
TSKH Nguyễn Đình Đăng là nhà nghiên cứu lý thuyết vật lý hạt nhân. Năm 1990 anh nhận bằng tiến sĩ khoa học toán lý tại Đại học quốc gia Moscow (Liên Xô). Hiện anh làm việc tại Viện nghiên cứu vật lý và hóa học Nhật Bản (RIKEN). Bên cạnh đó, anh còn là thành viên hội mỹ thuật Việt Nam, hội viên hội mỹ thuật chủ thể Nhật Bản.






























































































































Phần nhận xét hiển thị trên trang

Xã hội dễ bị lừa gạt bởi những lời dối trá?


image
"Một lời dối trá nếu được lặp đi lặp lại đủ mức thì nó sẽ trở thành sự thật" là nguyên tắc tuyên truyền của Joseph Goebbels, một bộ trưởng tuyên truyền của Phát xít Đức.

Các nhà tâm lý học gọi đây là 'ảo tưởng về sự thật' và dưới đây là cách phổ biến mà người ta thường thử nghiệm điều này:

Những người tham gia được yêu cầu đánh giá liệu điều mà họ nghe thật đến đâu, ví dụ như "từ 'prune' là cách gọi một quả mận khô".

Đôi lúc một số điều là thật (như điều phía trên), và đôi lúc những người tham gia được cho nghe những điều không đúng sự thật, ví dụ như "từ 'date' (quả chà là) là cách gọi một quả mận khô".

Sau khi nghỉ giải lao khoảng vài phút hoặc thậm chí vài tuần, những người tham gia quay trở lại cuộc thử nghiệm nhưng lần này họ được yêu cầu đánh giá một số điều mới, và một số điều họ đã từng thấy trong lần thử nghiệm thứ nhất.

Kết quả nghiên cứu cho thấy người ta nhiều khả năng sẽ tin những thứ họ từng thấy, dù nó có đúng sự thật hay không, chỉ bởi vì nó gần gũi với họ hơn.

Kết quả này gần như chứng minh nguyên tắc tuyên truyền của Goebbels.

girl eyes eye inspiration liar
Và nếu bạn nhìn quanh mình, cũng không khó để thấy các chính trị gia hoặc các nhà quảng cáo đang sử dụng nguyên tắc này ra sao.

Tuy nhiên, yếu tố tác động được ghi nhận trong phòng thí nghiệm chưa hẳn đã là yếu tố tác động lên niềm tin thực sự ngoài đời.

Nếu bạn thực sự có thể biến lời nói dối trở thành sự thật chỉ bằng cách lặp đi lặp lại nó, có lẽ chúng ta đã không cần phải học những cách thuyết phục khác.

image
Ảo tưởng về sự thật' là thứ vũ khí nguy hiểm trong tay những người làm công tác tuyên truyền như Joseph Goebbels

Kiến thức và óc phê bình có giúp bạn vững vàng trước những lời dối trá?

Một trong những trở ngại cho việc biến lời nói dối thành điều khiến người khác tin là thật chính là điều bạn đã biết.

Kể cả đó là một lời nói dối có thuyết phục tới đâu đi nữa, nhưng vì sao bạn lại phải để nó áp đảo những điều mình đã biết?

Gần đây, một nhóm nghiên cứu do Lisa Fazio từ Đại học Vanderbilt dẫn đầu đã tìm hiểu ảo ảnh của sự thật có thể tác động lên những kiến thức sẵn có của chúng ta ra sao.

Họ trộn lẫn những điều thật và không thật vào với nhau. Tuy nhiên những điều này được phân loại theo hướng từ dễ đến khó nhận biết (ví dụ như 'Thái Bình Dương lớn nhất Trái Đất' là một điều có thật và được nhiều người biết, và 'Đại Tây Dương là đại dương lớn nhất trên Trái Đất', là điều không có thật, thế nhưng nhiều người lại tưởng thật'.

fashion sea ocean california los angeles
Kết quả cho thấy ảo ảnh sự thật phát huy tác dụng đối với cả những điều phổ biến lẫn ít phổ biến hơn. Điều này cho thấy kiến thức có sẵn cũng không giúp ta vững vàng hơn trước những lời nói dối được lặp đi lặp lại nhiều lần.

Để  bảo đảm tính bao quát, các nhà nghiên cứu thực hiện thêm một thử nghiệm nữa, trong đó những người tham gia được yêu cầu đánh giá điều họ nghe được thật đến đâu dựa theo thang điểm từ 1 đến 6.

Các nhà nghiên cứu cũng thực hiện một thử nghiệm song song trong đó những người tham gia được yêu cầu chỉ đánh giá điều họ nghe là 'thật' hay 'giả'.

Kết quả cho thấy những điều dối trá sẽ được đánh giá ngày càng cao điểm hơn trên thang điểm từ 1 tới 6 và nhiều khả năng được đánh giá là 'thật' nếu được lặp lại đủ lâu.

Những điều dù là sự thật hay nguỵ tạo, là phổ biến hay ít phổ biến, cũng trở nên dễ tin hơn nếu chúng được lặp đi lặp lại nhiều lần.

'Tuy nhiên, sự thật vẫn là sự thật'

EditingAndLayout the office true truth agree
Ban đầu điều này nghe có vẻ như là một tin xấu cho nhân loại, nhưng khi diễn giải khoa học tâm lý, bạn cần nhìn vào số liệu thực tế.

Fazio và các đồng nghiệp nhận ra yếu tố lớn nhất để khiến một người tin hay không tin một điều, là liệu nó có thực sự có thật hay không.

Việc lặp đi lặp lại một lời nói dối không đủ để che đậy sự thật. Dù có lặp lại hay không thì người ta vẫn nhiều khả năng sẽ tin vào sự thật hơn là lời nói dối.

Điều này cho thấy cách cơ bản mà chúng ta cập nhật niềm tin của mình - sự lặp lại giúp cho một điều nghe giống thật hơn, bất chấp kiến thức có sẵn của chúng ta, thế nhưng nó không thay thế kiến thức đó.

Câu hỏi tiếp theo là vì sao lại như vậy?

Câu trả lời đó là việc suy nghĩ logic về tất cả những điều bạn nghe thấy đôi khi sẽ quá khó.

Bởi nếu bạn phải so sánh tất cả những điều mình nghe thấy với kiến thức sẵn có, thì điều đó có lẽ giống như việc bạn vẫn đang nghĩ đến bữa sáng trong lúc trời đã vào đêm khuya.

Chúng ta có nhu cầu cần nhanh chóng đưa ra những phán đoán hay quyết định, cho nên chúng ta thường đi đường tắt - bằng cách phỏng đoán, vốn thường đúng hơn là sai.

image
Việc đánh giá một điều gì đó là thật hay không dựa vào tính phổ biến của nó cũng là một cách. 

Ở bất cứ đâu mà sự thật được lặp đi lặp lại nhiều hơn sự dối trá, ngay cả khi với tỷ lệ 51% - 49%, thì đây vẫn là một cách nhanh chóng và dơ bẩn để phán xét mọi thứ.

Chúng ta sẽ gặp rắc rối nếu tin vào một điều gì đó chỉ vì nó được lặp đi lặp lại nhiều lần. Nhưng thực tế không phải vậy.

Dù con người có giỏi thuyết phục đến mấy đi nữa thì nó cũng chỉ là một công cụ hạn chế. 

Não bộ của chúng ta bị ảnh hưởng bởi ảo giác của sự thật bởi vì bản năng sử dụng đường tắt để phán xét mọi thứ.

Hãy tỉnh táo trước những gì bạn nghe thấy, và đừng tiếp tay cho sự dối trá.

Một khi đã biết về hiệu ứng này, chúng ta có thể bảo vệ bản thân trước nó.

Chúng ta có thể tự hỏi vì sao mình tin vào một điều gì đó, và nếu một điều gì đó nghe có lý, liệu có phải vì nó là sự thật, hay vì nó được lặp lại quá nhiều?

Đây là lý do mà các học giả luôn phải dẫn chứng các lập luận của họ - để chúng ta có thể lần ra nguồn gốc của chúng, thay vì tin bằng bản năng.

Thế nhưng một trong những cách tốt nhất để bảo vệ bản thân khỏi ảo giác sự thật, đó là ngăn chặn những điều dối trá.

Chúng ta sống trong một thế giới nơi mà sự thật đóng vai trò quan trọng, và cần đóng vai trò quan trọng.

image
Nếu bạn lặp đi lặp lại một điều gì đó mà không cần kiểm tra liệu nó có thật hay không, thì chính là bạn đang góp phần biến thế giới thành một nơi thật-giả dễ bị lẫn lộn hơn. Hãy nghĩ đến điều này trước khi bạn lặp đi lặp lại một thông tin gì đó.



Tom Stafford


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Người Đông và Tây suy nghĩ rất khác nhau?


image
Khuynh hướng tự thổi phồng mình gần như không thấy có ở các một loạt các nghiên cứu khắp Đông Á

Năm 1871 khi Horace Capron tới đảo Hokkaido, ông tìm bóng dáng sự sống ở nơi rừng núi và cánh đồng rộng lớn. "Đó là sự tĩnh lặng của cái chết," ông viết. "không một lá cây lay động, không tiếng chim, không sự sống." Đó là nơi phi thời gian, nơi của thời tiền sử, ông nghĩ.

"Thật lạ lùng là vùng đất giàu và đẹp này, tài sản của một trong những quốc gia cổ xưa và đông dân nhất thế giới … lại không có ai ở trong một thời gian dài và gần như không được biết đến như sa mạc ở châu Phi," ông nói thêm.
Đó là vùng biên giới của Nhật, giống như Miền Tây Hoang dã" của Mỹ. Các đảo Hokkaido phía cực Bắc của Nhật là nơi xa xôi tách khỏi Honshu bởi biển sóng dữ. Ai vượt qua biển này sẽ phải chịu cái rét dữ dội, địa hình núi lửa lởm chởm và muông thú hoang dã. Do vậy chính phủ Nhật để nó cho người bản xứ Ainu, họ sống nhờ vào săn bắn và đánh bắt cá.

Giữa thế kỷ 19, sợ Nga xâm chiếm, chính phủ Nhật quyết định lấy lại đảo Hokkaido này và đưa các Samurai đến đó ở. Rồi những người khác tiếp nối, các trang trại, cảng, đường và đường sắt mọc lên khắp đảo. Các nhà nông học Mỹ như Capron được mời tới hướng dẫn những người tới định cư để khai khẩn, và trong vòng 70 năm dân từ vài nghìn đã phát triển thành hơn 2 triệu. Vào thiên niên kỷ mới, con số lên gần 6 triệu người.

Ngày nay ít người sống ở Hokkaido phải tự họ chinh phục sự hoang dã. Thế nhưng các nhà tâm lý thấy rằng tinh thần khai khẩn vẫn có ở cách họ nghĩ, cảm thụ và lập luận, so với những người sống ở Honshu chỉ cách đó 54 km. Họ có tính cá nhân hơn, tự hào hơn ở thành công, tham vọng phát triển con người hơn, và ít liên kết hơn với người xung quanh. Thực tế, nếu so với các nước khác, tính cách họ giống người Mỹ hơn những người Nhật khác.

Câu chuyện về Hokkaido chỉ là một trong những trường hợp cho thấy là môi trường xã hội đã hun đúc nên tâm trí con người. Từ những khác biệt lớn giữa Đông và Tây cho tới những biến động nho nhỏ giữa các bang ở Mỹ, ta ngày càng thấy rõ là lịch sử, địa dư và văn hoá có thể làm thay đổi suy nghĩ của tất cả chúng ta một cách tinh vi và đáng ngạc nhiên, cho tới cả cách quan sát của ta nữa. Suy nghĩ của chúng ta có thể được hình thành bởi loại cây mà tổ tiên ta trồng, và một con sông có thể phân ranh giới giữa hai vùng có tính cách con người khác nhau.

image
Trước khi hoàng đế Minh Trị quyết định đưa dân đến đảo, người dân duy nhất sống ở Hokkaido là người bản xứ Ainu.

Dù ta sống ở đâu, nếu biết được sức mạnh này thì ta hiểu được tâm trí của ta hơn một chút.
Tâm trí 'kỳ quoặc'

Cho tới gần đây, các nhà khoa học không để ý đến sự khác biệt về suy nghĩ trên toàn cầu. Năm 2010, một bài báo trên tờ 'Khoa học về Não và Hành vi' đã cho hay phần lớn các đối tượng thử nghiệm tâm lý là "người phương Tây, có học, công nghiệp hóa, giàu và dân chủ", tóm lại là 'lạ lẫm'. Gần 70% là người Mỹ, và hầu hết là sinh viên hy vọng kiếm được tiền tiêu vặt hoặc có được tín chỉ lớp học bằng cách dành thời gian để tham gia vào các thử nghiệm này.

Người ta giả thuyết là nhóm người được chọn này có thể đại diện cho bản chất con người nói chung, rằng con người cơ bản là giống nhau. Nếu điều này đúng thì sự thiên vị cho phương Tây là không quan trọng. Tuy nhiên một số ít nghiên cứu đã làm với những con người có nền văn hoá khác cho thấy hoàn toàn không phải như vậy. "Người phương Tây, đặc biệt là Mỹ, là người có khác biệt rất xa," Joseph Henrich, ở Đại học British Columbia, là một trong những tác giả của nghiên cứu này, nói.

Một số khác biệt rõ rệt nhất xoay quanh quan niệm về 'tính cá nhân' và 'tính tập thể'; nghĩa là bạn có cho rằng bạn là độc lập và tự lập, hay là bạn coi mình ràng buộc và kết nối với những người khác quanh bạn và coi trọng tập thể hơn là cá nhân. Có nhiều ngoại lệ nhưng nhìn chung người phương Tây có khuynh hướng có tính cá nhân hơn, và người các nước châu Á như Ấn Độ, Nhật Bản hoặc Trung Cộng có tính tập thể hơn.

Trong nhiều trường hợp, kết quả là khác biệt lớn. Khi được hỏi về quan điểm và cách cư xử thì những người tính cá nhân ở phương Tây có xu hướng đánh giá cao thành công của cá nhân hơn là của tập thể, và kéo theo nhu cầu nhiều hơn về tự trọng và mưu cầu về hạnh phúc riêng tư. Nhưng sự khát khao giá trị bản thân cũng thể hiện trong sự quá tự tin và trong nhiều thử nghiệm cho thấy những người tình nguyện viên dễ đánh giá khả năng mình vượt mức. Thí dụ khi được hỏi về năng lực thì 94% các giáo sư Mỹ cho rằng mình "cao hơn mức trung bình".

image
Cách suy nghĩ toàn diện thấm sâu vào triết lý và văn hoá phương Đông.

Khuynh hướng tự thổi phồng mình gần như không thấy có ở các một loạt các nghiên cứu khắp Đông Á; thực tế, trong một số trường hợp những người tình nguyện tham gia dễ đánh giá khả năng mình thấp hơn. Những người trong xã hội mang tính cá nhân cũng có thể chú trọng hơn đến sự lựa chọn và tự do cá nhân.

Điều quan trọng là "thiên hướng xã hội" ảnh hưởng đến nhiều khía cạnh cơ bản của sự suy nghĩ. Người trong xã hội tập thể có 'tính toàn diện' hơn trong cách nghĩ, tập trung nhiều hơn vào quan hệ và bối cảnh của tình huống, trong khi người trong xã hội cá nhân tập trung vào các yếu tố rời rạc, và coi tình huống là cố định và không đổi.

Để lấy làm ví dụ, hãy tưởng tượng bạn thấy ảnh một người cao lớn đang dọa một người nhỏ nhắn. Nếu không có thông tin gì nữa thì người phương Tây dễ nghĩ điều cơ bản và cố định là người to lớn này hẳn là người không tốt. "Trong khi nếu nghĩ một cách toàn diện thì bạn sẽ nghĩ giữa hai người này đang có vấn đề gì, có thể người to lớn là thủ trưởng hay là bố," Henrich giải thích.

Và kiểu suy nghĩ này cũng ảnh hưởng đến cách bạn phân loại vật thể. Bạn sẽ nói gì nếu người ta hỏi bạn nêu tên hai vật thể có liên quan đến nhau trong một danh sách, thí dụ như "tàu hỏa, xe buýt, đường ray" (thử nghiệm 3 thứ). Người phương Tây chọn "xe buýt" và "tàu hỏa" bởi vì đây đều là xe cộ. Ngược lại, người suy nghĩ toàn diện chọn "tàu hỏa" và "đường ray" vì họ tập trung vào quan hệ chức năng, một thứ là cần thiết cho thứ kia.

Thậm chí nó có thể thay đổi cách nhìn của bạn. Khi nghiên cứu sự theo dõi của mắt, Richard Nisbett, ở Đại học Michigan, thấy rằng những tình nguyện viên ở Đông Á có khuynh hướng quan sát hậu cảnh của một hình ảnh, trong khi người ở Mỹ có khuynh hướng tập trung vào hình ảnh chính. Điều hấp dẫn là sự khác biệt này cũng được thấy ở các tranh vẽ của trẻ em của Nhật và Canada, nghĩa là cách nhìn khác biệt xuất hiện từ khi còn tuổi thơ. Và cách tập trung chú ý, hẹp hay bao quát, quyết định điều mà bạn sẽ nhớ sau này.

"Nếu điều trông thấy xác định con người, và chúng ta đang nhìn những thứ khác nhau, vậy chúng ta đang sống trong các thế giới khác nhau," Henrich nói.

Mặc dù một số người cho rằng khuynh hướng xã hội là do di truyền nhưng những bằng chứng cho tới nay cho thấy nó là do ta học được. Alex Mesoudi ở Đại học Exeter có nghiên cứu cách suy nghĩ của các gia đình người Bangladesh ở Đông London. Ông thấy trong phạm vi một thế hệ, trẻ em người nhập cư đã bắt đầu có một số yếu tố của quan điểm cá nhân. Đặc biệt, việc sử dụng phương tiện truyền hông ảnh hưởng lớn nhất đến việc chuyển đổi, hơn cả việc học hành ở trường.

Nhưng tại sao cách suy nghĩ khác nhau lại xuất hiện trước tiên? Đó là vì nó phản ánh những triết lý sống được thịnh hành ở từng vùng qua thời gian. Những nhà triết học phương Tây nhấn mạnh vào tự do và độc lập, trong khi truyền thống phương Đông như Lão giáo lại tập trung vào đoàn kết. Thí dụ Khổng tử nhấn mạnh vào "quan hệ nghĩa vụ giữa bày tôi và hoàng đế, cha mẹ và con cái, vợ và chồng, anh chị và các em, giữa bạn bè với nhau". Cách nhìn nhận thế giới như vậy đã ngấm sâu vào văn học, giáo dục và thể chế chính trị, nên có lẽ không ngạc nhiên gì là những tư tưởng này trở thành bản chất nội tại và ảnh hưởng đến một số quá trình cơ bản về tâm lý.

Ngay cả như vậy, những biến hóa tinh tế giữa từng nước cho thấy nhiều yếu tố khác đáng ngạc nhiên cũng có tác động.

Ở tuyến đầu

Hãy xem xét nước Mỹ, nước mà tính cá nhân nhiều nhất trong các nước phương Tây. Các sử gia như Frederick Turner vẫn cho rằng việc khám phá miền Tây đã nuôi dưỡng tinh thần độc lập bởi vì từng người tiên phong phải chổng trả với sự hoang dã và chống trả với nhau để sinh tồn. Cùng với thuyết này, những nghiên cứu tâm lý gần đây cho thấy những bang cực Tây, như Montana, có tính cá nhân cao nhất. Tuy nhiên để chứng thực "thuyết định cư viễn Tây", các nhà tâm lý cũng muốn xem xét một trường hợp điển hình độc lập để nêu sự tương phản.

Vì lý do đó, đảo Hokkaido là nơi rất hấp dẫn. Cũng như hầu hết các nước Đông Á, nước Nhật có nếp nghĩ tập thể và toàn diện. Thế nhưng việc di cư ào ạt lên vùng đất phía Bắc là giống việc định cư đến viễn Tây ở Mỹ; Chính phủ của hoàng đế Meij thậm chí còn thuê các nhà canh nông như Horace Capron để giúp việc canh tác. Nếu lý thuyết định cư tự nguyện là đúng thì những người tiên phong ở Hokkaido này sẽ phải hình thành quan điểm độc lập hơn so với phần còn lại của nước Nhật.

Shinobu Kitayama của Đại học Michigan thấy dân ở Hokkaido đánh giá cao tính độc lập và thành tích cá nhân, và các cảm xúc như sự tự hào, hơn là người Nhật ở các đảo khác, và họ ít quan tâm đến quan điểm của những người khác. Các tình nguyện viên cũng tham gia thử nghiệm vào lập luận xã hội, họ được hỏi là họ nghĩ gì khi cầu thủ bóng chày dùng thuốc kích thích. Người Nhật ở các đảo khác dễ xem xét đến bối cảnh như sức ép phải chiến thắng, người ở Hokkaido lại dễ chê trách cầu thủ này hoặc coi là kém đạo đức. Phải nói lại là xu hướng chê trách này là đặc trưng của xã hội mang tính cá nhân. Những câu trả lời của người Mỹ cũng gần như vậy.

Thuyết bệnh là từ vi sinh

 image
So với những loại cây trồng khác, trồng lúa gạo đòi hỏi sự hợp tác lớn hơn trong phạm vi một cộng đồng do hệ thống tưới là phức tạp và qua nhiều cánh đồng.

Một ý tưởng khác là các nếp nghĩ tương phản này là do vi sinh. Năm 2008, Corey Fincher, ở đại học Warwick, cùng đồng nghiệp có phân tích số liệu dịch bệnh toàn cầu để chứng minh số lượng người chủ nghĩa cá nhân và chủ nghĩa tập thể ở một vùng hóa ra có tương liên đến sự lan truyền bệnh: bạn càng dễ mắc bệnh thì bạn càng có tính tập thể, càng ít mắc càng cá nhân. Khái quát là, chủ nghĩa tập thể, có đặc trưng là tuân thủ và tôn trọng người khác, làm cho con người có ý thức tránh cho bệnh khỏi lây lan.

Nhưng có lẽ lý thuyết đáng ngạc nhiên nhất lại là từ cánh đồng. Thomas Talhelm ở đại học Chicago mới đây có nghiên cứu 28 tỉnh của Trung Cộng, thấy rằng xu hướng suy nghĩ hóa ra là phản ánh nông nghiệp của địa phương trong vùng.

Talhelm nói ông lấy cảm hứng từ trải nghiệm của mình ở nước này. Khi đến phía Bắc của Bắc Kinh ông thấy người lạ dễ gần gũi hơn, "Nếu tôi đang ăn một mình thì người ta sẽ tới và nói chuyện với tôi", trong khi người ở Quảng Châu thì ít nói hơn và sợ làm mất lòng.

Sự tôn trọng người khác có vẻ là một dấu hiệu tinh tế của nếp nghĩ tập thể, và do vậy Talhelm bắt đầu tìm hiểu nguyên nhân của hai quan điểm này. Sự khác quan điểm có vẻ không liên quan đến những số liệu về sự giàu có hoặc hiện đại, nhưng ông nhận thấy sự khác biệt có thể là do cây trồng chính ở vùng này: lúa gạo ở phía Nam, và lúa mì ở phía Bắc. Sông Hoàng Hà phân ranh giới hai khu vực này.

Việc trồng lúa gạo cần sự nhiều sự hợp tác: cần nhiều lao động và yêu cầu hệ thống tưới qua nhiều cánh đồng khác nhau. Ngược lại, việc trồng lúa mì chỉ cần một nửa công sức và phụ thuộc nước mưa hơn là nước tưới, nghĩa là người nông dân không cần phải cộng tác với người lân cận và chỉ chăm sóc ruộng của mình.

Những khác biệt này có thể biến thành nếp nghĩ tập thể hay cá nhân không? Cộng tác với các nhà khoa học Trung Cộng, Talhelm đã làm thử nghiệm trên 1.000 học sinh ở những cánh đồng khác nhau, sử dụng các số đo như việc áp dụng phép thử 3 món cho việc suy nghĩ tập thể. Họ được yêu cầu vẽ biểu đồ quan hệ với những người hợp tác: người ở xã hội cá nhân có xu thế vẽ mình to hơn trong khi người của xã hội tập thể vẽ mọi người to bằng nhau. "Người Mỹ có chiều hướng vẽ mình rất to," Talhelm nói.

Người ở vùng trồng lúa mì có điểm đo tính cá nhân lớn hơn, trong khi người ở vùng lúa gạo thể hiện suy nghĩ tập thể và toàn diện hơn. Việc này đúng ngay cả ở ranh giới của 2 vùng khác nhau. "Đây là những người ở 2 tỉnh cạnh nhau (nhưng một trồng lúa gạo một trồng mì) nhưng ta vẫn thấy sự khác biệt văn hoá."

Sau đó ông có kiểm nghiệm giả thuyết của mình ở Ấn Độ với các vùng khác biệt, trồng gạo hoặc mì, kết quả cũng tương tự. Tất nhiên gần hết những người ông hỏi là không trực tiếp làm nghề nông, nhưng truyền thống lịch sử của vùng vẫn tạo hình cho những suy nghĩ của họ. "Văn hoá có quán tính của nó".

Sự nhận thức muôn màu

Cũng phải nhấn mạnh rằng điều nói trên chỉ là những xu thế chính với số lượng người rất lớn; còn trong từng dân tộc ta sẽ thấy một dãy khác biệt nhỏ. "Sự phân biệt rành mạch trắng đen kiểu nhân loại học là không có," Delwar Hussain, nhà nhân loại học ở đại học Edinburgh, nói. Ông chỉ ra rằng hiện có nhiều sự kết nối lịch sử giữa các nước Đông và Tây, nghĩa là một số người có cả hai cách suy nghĩ, và những yếu tố như tuổi tác và tầng lớp cũng sẽ có tác động.

Từ khi Henrich đăng bài nghiên cứu trên mạng phác thảo sự thiên vị 'lạ lẫm' đến nay đã được 7 năm, và ý kiến đáp lại là tốt. Ông đặc biệt hài lòng là các nhà nghiên cứu như Talhelm đã bắt đầu làm những dự án lớn để tìm hiểu sự muôn màu của cách suy nghĩ khác nhau. "Bạn muốn có một lý thuyết giải thích tại sao những dân tộc khác nhau có tâm lý khác nhau."

Nhưng mặc dù mục đích tốt, sự tăng tiến vẫn chậm chạp. Do có thời gian và có tiền nong để khảo sát trí óc con người trên khắp thế giới, phần lớn nghiên cứu vẫn còn xem xét các người tham gia của 'Những người kỳ quoặc'mà bỏ qua dự đa dạng lớn hơn. "Chúng tôi đồng ý về căn bệnh. Câu hỏi là sẽ phải dùng giải pháp gì."



David Robson

 image

Phần nhận xét hiển thị trên trang