Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Sáu, 17 tháng 2, 2017

Blog "DÂN LẦM THAN" viết:

MỤC ĐÍCH CỦA GIỚI RẬN CHỦ ĐẰNG SAU CÁC HÀNH ĐỘNG THẮP HƯƠNG TƯỞNG NHỚ CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI 1979


BỐN MÙA
Trong một số ngày qua nhân sự kiện tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ hi sinh trong chiến tranh biên giới phía Bắc – 1979 thì tại một số địa điểm như nghĩa trang Tây Tựu, nghĩa trang Lạng Sơn, vườn hoa Lý Thái Tổ…có các nhóm người tụ tập đến để đòi dâng hương tưởng niệm các liệt sỹ đã hi sinh trong trận chiến bảo vệ biên giới phía bắc, lãnh thổ của đất nước – 1979. Thiết nghĩ đây là một hành động vô cùng ý nghĩa mà bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng nên làm. Vì chúng ta được sinh ra, lớn lên trong một đất nước hòa bình, phát triển là có công lao rất lớn của các liệt sỹ đã hi sinh thân mình để bảo vệ đất nước. Và có lẽ sẽ chả có cơ quan, tổ chức nào đứng ra ngăn cản những hành động đầy ý nghĩa như vậy.
Thế nhưng nếu lợi dụng hành động đi thắp hương tưởng nhớ các anh hùng liệt sỹ đã hi sinh trong chiến tranh biên giới – 1979 để phục vụ mục đích cá nhân thì cần phải xem xét lại xem mục đích đó là gì. Để ý một chút chúng ta đều sẽ thấy không hiểu vì sao mà trong tất cả các nhóm người tụ tập tại một số địa điểm để tưởng niệm thì bọn họ đều lăm le vài cái máy ảnh, rồi tranh thủ giơ khẩu hiệu này nọ để tranh thủ chụp lấy chụp để. Và khi không được một số cơ quan tổ chức không cho chụp ảnh thì tất cả các nhóm người kịch liệt phản đối.
BIỂU TÌNH
Nhóm đối tượng thi nhau chụp ảnh tại các địa điểm tưởng niệm, ảnh internet
Vậy tại sao đi thăm hương tưởng nhớ các liệt sỹ thôi mà cần phải chụp nhiều ảnh đến vậy và tại sao cần phải lồng ghép các khẩu hiệu khi dâng hương tưởng nhớ???
Phải chăng vì các nhóm người này được một số tổ chức phản động, các vị rân chủ rởm giao việc đến một số địa điểm tụ tập ở đó rồi kích động gây mất an ninh trật tự rồi chụp ảnh lại để làm bằng chứng thì các nhóm người này mới được cho tiền. Chứ nếu chỉ là đi tưởng niệm bình thường thì có ai cần phải mang nhiều băng rôn, đâu cần phải chụp ảnh nhiều đến vậy.

Giờ đây sau khi sử dụng hết mọi chiêu bài chống phá thì giờ đến các anh hùng liệt sỹ đã hy sinh cho dân tộc, cho đất nước cũng bị các đối tượng phản động sử dụng để làm công cụ, phương tiện để cho bọn chúng phá hoại đất nước, kiếm tiền chia trác nhau một cách  trắng trợn. Quả thật đây là một hành động không thể nào chấp nhận được, những anh hùng liệt sỹ đã hi sinh để bọn chúng có một cuộc sống độc lập, tự do mà chúng còn không biết cảm ơn thì thôi đằng này chúng còn lợi dụng để kiếm lợi cho bản thân. Với những hành động như vậy thì bất kỳ người dân Việt Nam nào cũng sẽ không đồng ý cho bọn chúng xâm phạm những nơi yên nghỉ của các anh hùng liệt sỹ.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Vụ Kim Jong Nam ảnh hưởng Việt Nam ra sao?

>> Giáo sư mất việc vì phê phán Mao

>> Đại án 9000 tỷ: Đề nghị cấm xuất cảnh bà Trần Ngọc Bích
>> Vụ 9.000 tỉ: Cha con ông Thanh là đồng phạm giúp sức
>> Cảnh cáo kiểm sát viên làm oan vụ ‘đi tè’
>> Ông Vũ Quang Hải xin ở lại Sabeco như… nhân viên bình thường

VOA - Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng một ngày sau khi báo chí quốc tế nói một phụ nữ mang giấy tờ Việt Nam bị bắt ở Malaysia vì liên quan đến vụ ám sát anh trai của lãnh tụ Bắc Triều Tiên.

Hôm 16/2, Phó phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Nguyễn Phương Trà nói với báo chí qua email:

"Các cơ quan chức năng của Việt Nam đang phối hợp chặt chẽ với phía Malaysia để làm rõ những thông tin liên quan". Bà cũng khẳng định: "Chúng tôi sẵn sàng hợp tác với các nước trong công tác phòng chống, đấu tranh với các loại tội phạm".

Tuyên bố của bà Trà và tin tức trên báo chí trong nước đăng lại sau đó không có một chữ nào nhắc đến việc cảnh sát Malaysia ra thông báo hôm 15/2, nói rằng họ đã bắt một nữ nghi phạm mang giấy thông hành Việt Nam, với danh tính là Doan Thi Huong, sinh ngày 31/5/1988, quê Nam Định.

Cho dù Bắc Triều Tiên đã xác nhận rằng người đàn ông mới bị giết tại Malaysia là ông Kim Jong Nam, anh trai cùng cha khác mẹ của lãnh tụ Bắc Triều Tiên Kim Jong Un, song tại cuộc họp báo ở Hà Nội, người phát ngôn Bộ Ngoại giao vẫn chỉ dùng cụm từ “công dân Triều Tiên Kim Chol” khi nói về vụ việc này.

Bà Nguyễn Phương Trà nói Việt Nam lên án mạnh mẽ các hành vi tội phạm dưới mọi hình thức và mọi mục đích.

Tin tức mới nhất cho hay đến thời điểm này cảnh sát Malaysia đã bắt giữ 3 nghi phạm trong đó có 2 nữ, 1 nam. Trong số này, 1 nữ nghi phạm mang giấy tuỳ thân Việt Nam, 1 nữ nghi phạm mang giấy tờ Indonesia. Nam nghi phạm được cho là bạn trai của 1 trong 2 nữ nghi phạm.

Khác với Việt Nam, Indonesia xác nhận một trong các nữ nghi phạm là công dân nước này và cho biết đang yêu cầu được tiếp cận lãnh sự để hỗ trợ pháp lý.

Sự xuất hiện của một cái tên Việt Nam trong vụ án gây chấn động thế giới này dẫn đến nhiều người đặt ra câu hỏi quan hệ của Việt Nam với các nước liên quan sẽ bị ảnh hưởng ra sao.

Ông Nguyễn Ngọc Trường, Chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế, bình luận với VOA rằng những diễn biến đã được đưa tin chỉ là “cái ngọn” trong khi gốc của vấn đề là “ai được lợi khi ông Kim Jong Nam bị giết”.

Theo Tiến sĩ Trường, Việt Nam “không đứng sau” và không bị ảnh hưởng bởi vụ này:

“Theo tôi Việt Nam không có lợi ích gì trong việc tiêu diệt, giết nhân vật như vậy liên quan đến CHDCND Triều Tiên. Ở đây có mấy người có thể cần phải nghi vấn. Thứ nhất là Bình Nhưỡng. Thứ hai là Bắc Kinh. Thứ ba là Hàn Quốc. Thứ tư là Nhật Bản. Rồi thứ năm mới đến các nhân tố khác. Nhưng mà theo tôi ở đây người đứng đằng sau thì liên quan nhiều đến Bình Nhưỡng, bởi vì đây là một lá bài của Trung Quốc. Các cơ quan tình báo của Trung Quốc từng đã nói với Bình Nhưỡng là ông Kim Jong Nam là bạn của Trung Quốc, vì vậy đừng có đụng vào. Thế thì bây giờ ai đụng vào con bài này của Trung Quốc? Con bài của Trung Quốc dùng để làm gì? Tại sao lại có một thế lực muốn diệt con bài mà Trung Quốc xem là bạn của mình? Còn tôi nghĩ chuyện này không ảnh hưởng gì đến quan hệ giữa Việt Nam với Malaysia và Trung Quốc. Và theo tôi cái này không có vai trò của Việt Nam, không có lợi ích của Việt Nam và không ảnh hưởng đến quan hệ quốc tế của Việt Nam”.

Vị chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Phát triển Quan hệ Quốc tế đặt ở Hà Nội cho rằng vụ ám sát ông Kim Jong Nam sẽ ảnh hưởng đến cặp quan hệ Bình Nhưỡng-Bắc Kinh. Tiến sĩ Trường cũng thận trọng nói thêm rằng “nhiều vấn đề sẽ vĩnh viễn không có lời giải đáp”.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Năm, 16 tháng 2, 2017

Vài dòng về cuộc đi thắp nhang tưởng niệm chiến sĩ và đồng bào đã hy sinh trong cuộc chiến tranh biên giới chống quân Trung Quốc xâm lược


Tương Lai
Hôm nay, 17.2.2017, là ngày hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ nhiệm Câu Lạc Bộ Lê Hiếu Đằng đến thắp nhang tưởng nhớ và ghi ơn chiến sĩ và đồng bào ta đã ngã xuống trong cuộc chiến đấu kiên cường chống quân Trung Quốc xâm lược trong cuộc chiến tranh biên giới 17.2.1979.
Vừa bước xuống đường định mở cửa taxi đã đợi sẵn thì một chàng trai đến hỏi: “Chú đi đâu đấy ạ”. Tôi đáp: “Đi có việc”. Anh ta định chui vào taxi: “Cho cháu đi cùng với”. Tôi gạt ra không cho. Biết là lái xe đã bị khống chế, tôi bỏ xe đi bộ. Anh ta ra hiệu cho đồng bọn tìm cách phong tỏa mọi taxi trong khu vực. Khi tôi lên một chiếc xe khác, anh ta ập đến. Tôi đinh đến Phòng Nha khoa để soi lại cái răng vừa nhổ đang đau nhức rồi đi tiếp lên Tượng Trần Hưng Đạo ở bến Bạch Đằng nhưng anh ta cứ bám theo đòi cùng đi. Lại phải hủy việc đến Phòng Nha Khoa, định vào rủ NTN cùng xuống nhà ngồi uông cà phê vì đang còn sớm, khi có điều kiện sẽ đi thẳng ra bến Bạch Đằng, nhưng gọi điện không thấy N trả lời, đành ngồi một lúc rồi quay về tìm cách khác.
Suốt quãng đường chàng trai tỏ vẻ lễ phép và nhẫn nại, chứng tỏ anh ta đã được huấn luyện nghiệp vụ tốt để cố chịu đựng những câu hỏi dồn dập của tôi về lý do ngăn hành động yêu nước và ghi ơn đồng bào chiến sĩ bị Trung Quốc giết hại của một ông già tuổi ngoài tám mươi như tôi. Loanh quanh vẫn những luận điệu của các dư luận viên đã được tập huấn, tuy nhiên thái độ hiền lành và kiên nhẫn của anh ta, chỉ bằng tuổi cháu tôi, tôi thấy thật đáng thương hại. Gần một tiếng đồng hồ, mọi điều qua tiếng lại thật vô bổ, may ra có để lại chút ít dư âm nhục nhã trong tâm hồn tuổi trẻ vì miếng cơm manh áo mà phải bị buộc đi làm cái việc mà anh ta cũng biết là nhục, nhưng không thể cưỡng lệnh. Đành chia tay thôi. Tôi lên nhà, viết một khẩu hiệu, vừa để góp phần với đồng đội, vừa biểu thị thái độ và cũng để làm một phép thử đối với chàng trai tội nghiệp bị tôi mắng mỏ suốt cả tiếng đồng hồ: nhờ anh ta chụp hộ tôi tấm ảnh tôi giương khẩu hiệu: “QUÉT SẠCH LŨ BÁN NƯỚC VÀ LŨ CƯỚP NƯỚC”, câu của Cụ Hồ trong Báo cáo Chính trị tại Đại hội II, 1951 tại Việt Bắc.
Tôi nói: “Anh bảo là không dám ngăn cản lòng yêu nước của bác, nhưng sợ bác tuổi cao, ra chỗ đông người, đám trẻ lợi dụng, gây bạo loạn làm bác dễ bị vạ lây thì đây, tôi đứng đây, biểu thị lòng yêu nước, chống lũ bán nước và lũ cướp nước, đây là lời Chủ tịch Hồ Chí Minh, chú chụp đi”. Anh ta thật sự lúng túng không dám cầm máy của tôi đưa để chụp, lúng túng như ngậm hạt thị. Tôi nói rõ: “Tôi thử xem điều chú giải thích nãy giờ có được phần nào sự thật không, nay thì tôi hoàn toàn thất vọng vì chú đúng chỉ là một công cụ mạt hạng được người ta sử dụng đi ngăn chặn những người yêu nước già cả như tôi. Bố mẹ chú chắc sẽ buồn vì có đứa con như chú”. Anh ta nửa cười, nửa mếu, thật tội nghiệp. Tôi nói với anh ta rằng tôi sẽ gửi tấm hình này cho Nguyễn Phú Trọng.
Dưới đây là ba tấm hình:
1. Hình tôi đứng trước cổng nhà với khẩu hiệu biểu tỏ thái độ
clip_image002
2. Nội dung khẩu hiệu tôi đã giương lên
clip_image004
3. Một người trong nhóm của anh chàng tội nghiệp nọ đang ngồi trước cửa hiệu cạnh nhà tôi làm nhiệm vụ ngăn không cho tôi đi thắp nhang tưởng niệm
clip_image006
T. L.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Tháng 2/1979: Những ngày trong trại tập trung bên kia biên giới


Hoàng Hường 

VNN - “Chuyến tàu chạy hết một ngày đêm, đến nơi nào đó trên đất Trung Quốc rồi tất cả bị đưa vào trại tập trung. Có cả nghìn người  Việt Nam bị đưa vào đó.”

Buổi sáng hỗn loạn

Chiến tranh chống Mỹ kết thúc, quân nhân Hoàng Trọng Dương giải ngũ về quê, được bổ nhiệm là bí thư, chủ tịch xã Đại Đồng, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Nhưng sự bình yên bị gián đoạn bởi quân xâm lược. Khi tiếng súng đã vang trên bầu trời biên giới Việt - Trung, anh lại cầm súng chiến đấu bảo vệ từng tấc đất quê hương, bảo vệ từng người dân thân yêu trên đúng mảnh đất cha ông anh đã gây dựng từ ngàn đời.

Rạng sáng 17/2/1979, phía Trung Quốc đồng loạt tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam. Tại Lạng Sơn, quân Trung Quốc tràn vào cửa khẩu Đồng Đăng và thị xã Lạng Sơn, lửa đã cháy và máu đã đổ ở khắp nơi. Khu vực pháo đài Đồng Đăng hơn 400 quân và dân Việt Nam đã bị giết bởi pháo đạn của quân xâm lược.

Ông Hoàng Trọng Dương, khi đó là bí thư xã Đại Đồng, Tràng Định, cũng là thành viên đội dân quân xã không bao giờ có thể quên thời khắc: “rạng sáng 17, cả dải biên giới sáng rực đạn pháo. Tiếng ùng oàng liên tiếp. Người dân được lệnh di tản khẩn cấp, dân quân ở lại chiến đấu bảo vệ bản làng.

Người già phụ nữ trẻ em bồng bế nhau chạy, đằng sau, đạn pháo vẫn nã đuổi theo họ.

Anh Hoàng Dư, cũng người làng Đại Đồng kể, khi đó mới 17 tuổi và là thành viên đội dân quân xã. Anh là một trong những người cuối cùng rời bản làng.

Men theo bờ ruộng ven rừng, chạy ra đến cầu Bản Trại, anh tậm mắt nhìn thấy dòng sông Kỳ Cùng “đầy xác người” trôi nổi. Hầu hết là phụ nữ và trẻ em.

Trong trại tập trung bên kia biên giới

Chạy được vài hôm, lương thực cạn kiệt. Nhiều người đàn ông can đảm ngược về làng tìm thực phẩm cho gia đình. Trong hoàn cảnh thiếu thốn, anh Nông Văn Láu đã cùng vài người về lấy lương thực, không may lọt vào ổ phục kích của quân Trung Quốc. Chúng nhận ra anh Láu là dân quân nên đã bắn chết tại chỗ.

Một nhóm ba người đàn ông và hai phụ nữ khác cũng không may bị lính Trung Quốc bắt được.

Ông Hoàng Văn Ngọc và ông Hoàng Văn Đâu là hai trong nhóm 5 người làng Đại Đồng bị bắt đưa đi kể lại: “Chúng tôi bị đánh, bịt mắt, trói giật cánh tay và bị buộc vào nhau theo hàng dọc rồi bị dẫn đi rất xa. Đi bộ như thế cả ngày. Cả nhóm bị giải lên huyện Đông Khê, Cao Bằng. Ở đó, chúng tôi gặp nhiều người khác cũng bị bắt từ nhiều nơi, rồi tất cả bị đẩy lên tàu hỏa. Chuyến tàu chạy hết một ngày đêm, đến nơi nào đó trên đất Trung Quốc rồi tất cả bị đưa vào trại tập trung. Có cả nghìn người Việt Nam bị bắt sang đây”.

Ở trại tập trung, những người dân Việt Nam hàng ngày bị buộc phải học về tình bạn bè giữa “hai nước là láng giềng cùng là đồng chí, cùng là anh em” và học cả về “tinh thần đoàn kết bền vững”…

Theo quan sát của những người bị bắt, hầu hết lính Trung  Quốc “đều sống ở các vùng giáp biên Việt Nam” vì họ đều nói tốt tiếng Tày, Nùng, vốn là ngôn ngữ phổ biến tại các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng.

Sau vài tháng, nhờ sự tác động của Hội Chữ thập đỏ quốc tế và thỏa thuận giữa hai nước, những người dân Việt Nam hiền lành lương thiện đã được quân xâm lược trả về với quê hương qua cửa khẩu Hữu Nghị.

38 lần tháng 2 đã trôi qua. Hàng năm cứ đến ngày 17/2, những người dân biên giới lại cùng nhau kể về cái buổi sáng “đỏ rực trời đạn pháo”, khắp nơi tiếng khóc xé lòng của trẻ thơ… hình ảnh những người phụ nữ hoảng loạn tìm cách trốn chạy đạn pháo của quân Trung Quốc xâm lược và cả hình ảnh của những người con anh dũng đã nằm xuống cho biên giới mùa xuân xanh trở lại.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Chuyện chưa kể về 12 ngày đêm quyết tử với quân Trung Quốc giữa đèo Khau Chỉa




Hải Minh (Theo ký ức của cựu binh Đinh Ngọc Phong cùng các đồng đội)
(VTC News) – Bên hướng Thạch An và hướng Thông Nông, quân Trung Quốc tràn qua được và đánh tới thị xã Cao Bằng, nhưng ở hướng Tà Lùng, chúng đã vấp phải bức tường bằng sắt, không thể tiến thêm bước nào nữa.

Những ngày này 38 năm về trước, hơn 60 vạn quân xâm lược Trung Quốc đã bất ngờ tấn công trên toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta với chiêu bài “dạy cho Việt Nam một bài học” theo lời Đặng Tiểu Bình. Quân xâm lược không ngờ được rằng, tuy bị bất ngờ, nhưng với truyền thống quật cường, quả cảm, quân dân ta trên 6 tỉnh biên giới đã giáng trả bọn cướp nước những đòn chí mạng.

Ở Cao Bằng, hướng tiến công chính của quân Trung Quốc theo 2 ngả Thông Nông – Hà Quảng và Phục Hòa – Đông Khê. Huy động lực lượng kiểu lấy thịt đè người nên ngay từ những ngày đầu đối phương đã có nhiều mũi tiến khá sâu vào lãnh thổ Việt Nam. Ngày 19/2, quân Trung Quốc đã áp sát thị xã Cao Bằng.

Tuy nhiên, ở một địa điểm cách cửa khẩu Tà Lùng 15km theo QL3 ngược ra, đó là đèo Khau Chỉa, thuộc địa phận thị trấn Hòa Thuận (Phục Hòa, Cao Bằng), ngày 17/2/1979, quân Trung quốc đã tấn công theo hướng này cỡ gần quân đoàn với rất nhiều xe tăng.

Sau khi nhanh chóng chiếm được cửa khẩu và thị trấn Phục Hòa, chúng tiếp tục đánh về hướng thị xã để hợp với cánh quân đánh Trà Lĩnh kéo ra tại đỉnh đèo Mã Phục theo kế hoạch định sẵn. Thế nhưng, đến đèo Khau Chỉa thì quân Trung Quốc đã bị chặn lại bởi Trung đoàn 567 cùng dân quân Cao Bằng. Lính Trung Quốc được hỗ trợ bởi xe tăng, pháo binh… trong suốt cuộc chiến nhưng không vượt nổi qua con đèo, mặc dù đơn vị này bị cô lập hoàn toàn và chiến đấu độc lập.

Ở đèo Khau Chỉa, gần như không còn bất cứ một dấu tích nào của cuộc chiến năm xưa. Hỏi những người dân xung quanh thì được biết thời gian đó họ chạy loạn hết, khi biết tin Trung Quốc đánh vào. Chẳng ai được chứng kiến 12 ngày đêm khốc liệt ấy.

Cũng thật may mắn, trong chuyến đi tìm những nhân chứng của cuộc chiến năm xưa tại xã Hưng Đạo, TP. Cao Bằng, chúng tôi được gặp ông Đinh Ngọc Phong, một cựu binh của Trung đoàn 567 từng chiến đấu tại đèo Khau Chỉa trong trận đánh 38 năm về trước.

Năm nay ông Phong đã 60 tuổi. Ông đã ra quân và vui thú với cuộc sống điền viên. Nhắc lại những kỷ niệm cũ, ánh mắt người cựu binh này lại rạng rỡ. Với ông, đó là những kỷ niệm không bao giờ quên trong suốt cuộc đời binh nghiệp của mình.

Đơn vị của ông Phong được thành lập năm 1976 ở Hà Bắc. Ông thuộc Đại đội 7, Tiểu đoàn 2. Sau một thời gian huấn luyện, ông Phong cùng đồng đội nhận lệnh hành quân lên đóng chôt trên biên giới Cao Bằng.

Trung đoàn 567 vốn là trung đoàn bộ binh, sau có thêm sự hỗ trợ của một tiểu đoàn pháo mặt đất thuộc tỉnh đội. Thời điểm xảy ra chiến tranh ngày 17/2/1979,  đơn vị của ông đang đóng quân cách biên giới tầm 20km, ngay chân đèo Khau Chỉa.

Trước đó là những ngày nóng bỏng. Khu vực biên giới trở nên cực kỳ phức tạp. Phía Trung Quốc giở đủ các biện pháp phá hoại. Người Trung Quốc thường xuyên tìm cách lén vượt biên sang các làng bản bên Việt Nam, kích động lôi kéo bà con các dân tộc thiểu số làm nội gián.

Chúng còn cho một số bộ đội biên phòng phía bên kia giả làm bọn đầu trộm đuôi cướp, phục kích những chỗ mà cán bộ ta hay đi lại để bắt cóc đem về khai thác gây hoang mang dư luận. Đêm khuya chúng di chuyển cột mốc, chặn cả suối cho dòng chảy chuyển sang hướng khác…

“Từ năm 1978, chúng tôi đã chuyển sang trạng thái sẵn sàng chiến đấu. Tuy nhiên, cũng không thể đoán được là quân Trung Quốc có gây chiến với mình hay không, gây chiến lúc nào, mặc dù hàng đêm, chúng tôi thỉnh thoảng vẫn nghe thấy những tiếng nổ ì ầm ngay sát biên giới”, người cựu binh tâm sự.

Về sau, mọi người mới biết, ngay từ đêm 16/2, các tổ thám báo của Trung Quốc đã bí mật mang theo bộc phá luồn sâu, móc nối với những thành phần nội gián, thành lập các toán vũ trang phục sẵn các ngã ba đường, bờ suối, các cây cầu nhằm ngăn chặn quân Việt Nam. Đồng thời, chúng cũng bí mật cắt đường dây điện thoại để cô lập chỉ huy sư đoàn với các chốt, trận địa pháo của bộ đội ngay sát biên giới.

Mấy hôm sau, có người chạy loạn kể lại, sau khi vượt qua biên giới, lính Trung Quốc đã đào lên mấy cái hầm bí mật khá to, chứa rất nhiều súng đạn, quân trang. Theo một người dân, chúng đã đào và chôn cất ở đây khá lâu, chứng tỏ đã có âm mưu chiến tranh với Việt Nam từ trước.

5h sáng 17/2/1979, sau tiếng nổ liên hồi, xe tăng và xe bộ binh Trung Quốc đã nhất tề tràn ngập lãnh thổ Việt Nam. Không ai bảo ai, ông Phong cùng các đồng đội nhanh chóng tiến vào vị trí chiến đấu, dù lúc đó đường dây thông tin liên lạc đã bị cắt mất, không nhận được chỉ thị của cấp trên phối hợp chiến đấu.

“Các đơn vị của Trung đoàn 567 cùng với dân quân địa phương chiến đấu chống trả quyết liệt, suốt một dải từ biên giới Tà Lùng, sang đến nhà máy đường Phục Hòa, cho đến chân đèo Khau Chỉa, lính Tàu bị chặn đứng. Xe tăng, xe bộ binh Trung Quốc cái thì tan xác, cái thì lật ngửa pháo lên trời, cái thì bốc cháy lao vào bụi tre…

Một câu chuyện vui được kể lại, có anh dân quân người địa phương chập tối 18/2 lấy đâu được 1 khẩu K44, liền ngay lập tức tham chiến. Đến lúc chỉ còn 2 viên đạn, mới nhận ra là mình đang ở giữa thung lũng, 2 bên là 2 cánh bộ binh Trung Quốc đang tìm mọi cách để tiến sang.

Anh dân quân bắn vào mỗi bên 1 phát đạn, rồi nhanh chóng chạy vào trong hốc đá, thế là 2 cánh quân xâm lược cứ thế núp kín rồi bên này bắn bên kia. Đến khi bọn lính thông tin nhận ra được tín hiệu của đồng bọn, thì đã thiệt hại lớn về nhân mạng.

Mới đầu, quân xâm lược chỉ tìm đánh với các lực lượng vũ trang chốt giữ ở biên giới, nhưng đến lúc không tiến lên nổi, chúng quay sang điên cuồng đốt phá trả thù chẳng khác gì một đám giặc cỏ. Chúng đã đánh giá quá thấp sức chiến đấu và khả năng cơ động, linh hoạt của quân dân Việt Nam”, ông Phong tự hào thuật lại.

Đến ngày thứ 3, thì có 4 chiếc xe tăng chọc thủng phòng tuyến, chạy thẳng lên đèo Khau Chỉa. Đơn vị của ông Phong nhận lệnh phải tiêu diệt bằng được.

4 xe tăng lên đến giữa đỉnh đèo thì ngay lập tức đụng phải chướng ngại vật là 1 chiếc ô tô dựng sẵn cùng một đống cây cối. Chưa kịp xoay xở, chúng đã bốc cháy ngùn ngụt sau mấy quả đạn B41. Những tên lính trong tháp pháo nhảy xuống chạy trốn cũng nhanh chóng chịu chung số phận.

Sự kháng cự không hề nao núng của bộ đội và dân quân Việt Nam chốt trên hướng Khau Chỉa buộc Trung Quốc phải thay đổi chiến thuật. Chúng chia quân thành những đơn vị cỡ tiểu đoàn cơ động để tham gia vào các hoạt động tìm kiếm, khóa đường, lùng sục. Nhưng với sự cơ động và linh hoạt của các chiến sĩ, suốt cả tuần lễ, lính Trung Quốc vẫn không thể vượt qua con đèo này.

Ngày 23/2/1979, ông Phong cùng đồng đội nhận được tin quân Trung Quốc chuẩn bị một trận quyết đấu, mang một lực lượng lớn, dồn lính quyết mở thông đường qua Khau Chỉa về đèo Mã Phục hội quân. Mọi người nín thở chuẩn bị sẵn sàng, chờ đợi trận quyết đấu.

Chính trị viên đại đội tên Nguyễn Chí Cương cùng với mấy đồng động nữa chia nhau chốt giữ một nhánh đường phía bắc đèo Khau Chỉa, thì thấy có 3 chiếc xe tăng có in dòng chữ Bát Nhất tiến lại, có vẻ như lính Tàu sử dụng xe tăng đi thăm dò tình hình.

Ông Cương lặng lẽ ẩn nấp dưới giao thông hào gần đó, chờ xe đi qua, mới dùng súng B40 bắn, sau đó chạy thẳng lên đồi dưới làn đạn của giặc. 2 chiếc xe đi trước quay lại cứu đồng bọn đang bị mắc kẹt trong chiếc xe vừa bị bắn đang bốc cháy, trong phút chốc cũng chịu chung số phận. Trong trận đánh đó, ông Cương hy sinh khi quân xâm lược phát hiện ra vị trí ẩn nấp của mình ở trên núi.

Chiều hôm đó, một tổ chiến sĩ khác chốt giữ lại thấy có xe chở đầy lính Trung Quốc chạy đến giao thông hào, rồi nhảy hết vào một bản ở gần đấy. Chốc chốc, chúng lại khiêng ra xe nào gà, nào vịt, nào lợn. Các chiến sĩ căm giận lắm nhưng chưa được lệnh nổ súng, đành phải nén lòng chờ đợi, không bắn vào nhóm này mà chờ những đơn vị lớn hơn.

Sáng hôm sau, cả đoàn xe tải nối đuôi nhau chạy vượt lên đèo. Trên xe ngoài lính tráng còn chất cả những bao hàng và những chiếc xe đạp hỏng, đó là những thứ chúng cướp được dọc đường. Chiếc xe đầu đã lọt vào trận địa phục kích mà ông Phong cùng đồng đội vẫn chưa được lệnh đánh.

Hàng chục con mắt và đôi tai chiến sĩ cứ căng ra và đổ dồn về phía thủ trưởng chờ đợi, chỉ sợ mình không kịp nghe lệnh để rút nụ xòe và tung lựu đạn xuống đầu địch. Và cứ mỗi chiếc xe chở lính Trung Quốc chạy qua tầm súng, các chiến sĩ lại thêm một lần hồi hộp chờ nổ súng.

Khi chiếc xe cuối cùng vào đúng vị trí khóa đuôi trên đèo thì tiểu đoàn trưởng ra lệnh bắn. Trên vai anh, quả B41 vọt ra khỏi nòng, cắm thẳng vào thùng xe và nổ tung. Trong quầng lửa màu da cam hiện rõ từng tên lính bị hất lên rồi ném xuống mặt đường nằm bất động. Phát B41 cũng là khẩu lệnh của trận đánh, tiếp đó là tiếng lựu đạn nổ, tiếng thủ pháo xen lẫn từng tràng liên thanh của AK dồn dập đánh địch.

Ở ngay vị trí chặn đầu, loạt đạn AK trúng ngay tên cầm lái, chiếc xe lảo đảo đâm vào vách núi rồi bật lại, xoay nửa vòng nằm chình ình chắn ngang đường. Đội hình 16 chiếc xe còn lại với hàng trăm tên lính nằm gọn trong tầm súng và biển lửa.

Chiến tranh biên giới 1979: Vết thương lòng của những người ở lại

Những loạt đạn B40, B41 phóng xuống những chiếc xe bốc cháy và nổ tung liên tiếp. Những xe còn lại rối loạn, bóp còi inh ỏi tìm đường tẩu thoát, nhưng chạy đâu được khi đã lọt vào trận địa phục kích.

Lính Trung Quốc trên xe nhảy xuống chỉ kịp dúi đầu xuống sàn xe bắn trả hoặc nằm rạp xuống 2 bên đường tìm chỗ ẩn nấp. Từ trên cao, các chiến sĩ ta quăng lựu đạn, thủ pháo, bắn AK xuống. Chỉ một thời gian ngắn, xác lính đã la liệt giữa đèo Khau Chỉa.

Ông Phong cùng đồng đội đang đánh địch thì hàng trăm tên lính Trung Quốc đang chốt trên những mỏm đồi gần đó, nghe thấy tiếng súng nổ và ngọn lửa bốc cao dưới đường đèo đã bỏ luôn súng, rủ nhau chạy lên đồi cao nhìn xuống trận địa nơi đồng bọn đang bị tiêu diệt.

Nắm đúng thời cơ, trung đội trưởng cối 82 ly ra lệnh đánh. Hàng chục quả đạn đã được tính toán kĩ lưỡng bắn nối đuôi nhau dội lửa xuống đầu địch, tiêu diệt hàng chục, hàng trăm tên nữa.

“Chỉ tầm hơn tiếng, trận đánh đã kết thúc. Chúng nó dự định kéo cả trăm xe qua đèo, nhưng chỉ có 17 xe lọt vào trận địa phục kích trải dài trên đèo. Những chiếc khác thấy động đã quay đầu chạy tán loạn, và bị các đơn vị khác chặn đánh dọc đường. Tôi ước tính, đoàn xe 17 chiếc này cũng phải đi tong cỡ 2 tiểu đoàn. Chúng tôi lấy được thêm súng đạn, lương thực, chiến lợi phẩm tiếp tục những ngày tháng chốt giữ trên đèo Khau Chỉa. Đây là một trận đánh xuất sắc”, ông Đinh Ngọc Phong, cựu binh Trung đoàn 567 tự hào kể lại.

Tính ra, bên hướng Thạch An và hướng Thông Nông, quân Trung Quốc tràn qua được và đánh tới thị xã Cao Bằng, nhưng ở hướng Tà Lùng, chúng đã vấp phải bức tường bằng sắt, không thể tiến thêm bước nào nữa.

Cay cú, Trung Quốc dồn một lượng quân lớn ở thị xã Cao Bằng, rồi đánh ngược lên biên giới theo hướng đèo Mã Phục, từ đằng sau đánh lên, kết hợp với quân lính từ bên kia tràn sang bổ sung quân theo đường Tà Lùng.

Mục tiêu của chúng là bao vây và diệt cho bằng hết Trung đoàn 567 cùng với các lực lượng dân quân địa phương chốt giữ ở Khau Chỉa, trả cho bằng được mối hận ấy. Đêm 29/2/1979, ông Phong cùng các đồng đội được lệnh rút lui chờ thời cơ phản kích.

Trung đoàn 567 hành quân về đến Quảng Uyên lại đụng độ và bắn nhau với địch một trận long trời lở đất nữa, nhưng vẫn bảo toàn được lực lượng, rút về địa điểm ém quân đã định.

“12 ngày đêm chiến đấu trên đèo Khau Chỉa và những khu vực lân cận ấy, về sau tổng kêt, mới biết cả Trung đoàn đã tiêu diệt tổng cộng 34 chiếc xe tăng, hàng loạt xe bộ binh, thiết giáp, số lính Tàu tử trận thì không kể xiết, lượng thương vong lớn. Dù rằng bên mình cũng có không ít hy sinh mất mát, nhưng dù sao, chúng tôi cũng đã chiến thắng. Để Trung Quốc thấy rằng, người Việt Nam đâu dễ dàng bị chúng ức hiếp, đâu dễ dàng bị bắt nạt”, người cựu binh khẳng định, nét mặt bâng khuâng như đang chìm đắm trong những ký ức. Câu chuyện xảy ra đã 38 năm, nhưng với ông Phong và các đồng đội, nó như vừa mới hôm qua.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

HN TƯỞNG NIỆM CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TRONG VÒNG VÂY AN NINH



Sơn Văn Lê
  
Lễ Tưởng niệm 38 năm Chiến tranh biên giới phía Bắc tại Tượng đài Lý Thái Tổ, Hà Nội. 17/02/10979 - 17/02/2017. 

Người dân Hà Nội đã qui tụ về khu vực tượng đài Lý Thái Tổ để thắp nén nhang dâng lên các anh hùng tử trận chống Trung Cộng xâm lăng biên giới phía Bắc 1979. Tuy nhiên, nhà cầm quyền Hà Nội đã dở mọi thủ đoạn để ngăn cản người dân tham dự buổi tưởng niệm này.

Họ sử dụng loa tuyên truyền giải tán đoàn người, xúi dục và kích động một số phần tử côn đồ vào phá rối buổi tưởng niệm, một số kẻ nhảy múa trên khu vực sân trước tượng đài Lý Thái Tổ. Có kẻ phá rối các hãng thông tấn nước ngoài tác nghiệp và thách thức họ.

Đoàn người tưởng niệm vẫn kiên trì, ôn hòa để thành kính dâng lên những bông hoa, nén nhang cho các vị anh hùng dân tộc.






Người dân nói: "Trung Quốc là kẻ thù thâm độc, ngàn đời không quên"

" Kẻ nào cố tình ngăn cản, phá rối nhân dân tưởng niệm các vị anh hùng tử trận chống Trung Quốc chính là kẻ bán nước, tay sai cho Tàu".

Paulus Lê Sơn 
Ảnh: Trung Nghĩa
----------------
 
Phan Trí Đỉnh

Tại Nghĩa trang Hà nội - còn gọi là Nghĩa trang Tây Tựu. Anh chị em vào thắp hương, bày tỏ lòng biết ơn các Liệt sỹ bỗng xuất hiện mấy thằng mấy dậy, khốn nạn xông vào cản trở, không cho làm.

Giằng xé, cãi vã, chụp ảnh thì nó lượn lờ che ông kính ....

Mình túm cổ một thằng '' mày ăn mặc thế này khác đéo gì tao, mày làm gì có quyền không cho tao làm việc này việc kia.''

Một anh già can mình '' thôi ông ạ, cháu nó là an ninh ''

Thấy mấy người mặc sắc phục cảnh sát, mình le te chạy đến mách '' May quá có các anh, trong Nghĩa trang có mấy thằng mất dậy đang cản trở, gây rắc rối các anh ạ. Các anh xử lý bỏ mẹ chúng nó đi''

Đ. anh nào trả lời, tất cả vác mặt lên nhìn nắng tháng 2. 















Phần nhận xét hiển thị trên trang

Quanh chuyện 700 tỷ bà Thoa


Nghi ngờ, truy tra nguồn gốc tài sản của những doanh gia như thế. Trong khi lại không đặt dấu hỏi nào về tài sản của những quan chức vốn chỉ xuất thân từ một "thằng gánh củi", "gã hoạn lợn", hay một ... thằng y tá. Ngay cả trường hợp cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và gia đình. Tại sao không bị truy tra như bà Thoa? Nguồn gốc từ đâu, với khối tài sản, đất đai được cho là khủng khiếp của con cháu, anh em trong gia đình ông Dũng? Thiên hạ từng đồn đoán tài sản của gia đình, con cháu, dòng tộc "đồng chí X" nọ còn lớn hơn ngân khố quốc gia. Đừng để người dân nhìn vào bảo: Mấy ông giành miếng với nhau. Chúng nó đánh trừ nhau, chứ vì dân vì nước chi!
Tôi không nói việc truy tra nguồn gốc số tài sản 700 tỷ của bà Thoa (Hồ Thị Kim Thoa, Thứ trưởng Bộ Công thương) là sai. Nhưng nó thiếu công bằng, và nặng mùi đấu tố. Báo chí, bắt đầu lôi cả hình ảnh con gái bà Thoa ra bêu.

Công khai tài sản quan chức là đúng. Nhưng quan hàng Thứ trưởng hoặc cao hơn, xuất thân từ các “đại doanh” nhà nước, đâu một Hồ Thị Kim Thoa? Không quen biết bà Thoa, nhưng tôi quen biết nhiều "quan đại gia" mà số tài sản 700 tỷ chỉ là muỗi.

Điều này, tôi tin nhiều người thấy.

Trong số ấy, có kẻ bất tài dốt nát lót tiền mua chức. Nhưng cũng không phải là không có những người giỏi thật sự. Họ là những doanh gia giỏi, thành danh và giàu có trước khi vào chốn Ba Đình. Sự giàu có của họ, đáng phải được tôn vinh.

Nghi ngờ, truy tra nguồn gốc tài sản của những doanh gia như thế. Trong khi lại không đặt dấu hỏi nào về tài sản của những quan chức vốn chỉ xuất thân từ một "thằng gánh củi", "gã hoạn lợn", hay một ... thằng y tá, hoặc loại quan từ đôi dép lết ngoắt cái nhà dát vàng nạm ngọc.

Quan loại đó đâu phải ít? Thậm chí nhiều người vẫn đương quyền, lại còn trong diện "quy hoạch".

Ngay cả trường hợp cựu Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và gia đình. Tại sao không bị truy tra như bà Thoa? Nguồn gốc từ đâu, với khối tài sản, đất đai được cho là khủng khiếp của con cháu, anh em trong gia đình ông Dũng?

Tôi không bênh bà Thoa. Nhưng quan chức hàng bà, 700 tỷ là muỗi. Thiên hạ từng đồn đoán tài sản của gia đình, con cháu, dòng tộc "đồng chí X" nọ còn lớn hơn ngân khố quốc gia.

Nếu truy bà Thoa, thì nhân chuyện bà Thoa, làm tới đi. Đừng chừa một ai, đừng tha thằng X nào!

Đừng để người dân nhìn vào bảo: Mấy ông giành miếng với nhau. Chúng nó đánh trừ nhau, chứ vì dân vì nước chi!

Trương Duy Nhất


Phần nhận xét hiển thị trên trang