Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Thứ Ba, 14 tháng 2, 2017

TỄU - BLOG: THÔNG BÁO CỦA CLB LÊ HIẾU ĐẰNG VỀ LỄ TƯỞNG NIỆM 17...

TỄU - BLOG: THÔNG BÁO CỦA CLB LÊ HIẾU ĐẰNG VỀ LỄ TƯỞNG NIỆM 17...: THÔNG BÁO TƯỞNG NIỆM ĐỒNG BÀO VÀ CHIẾN SĨ HY SINH TẠI TRẬN CHIẾN BIÊN GIỜI PHÍA BẮC NĂM 1979 Câu lạc bộ Lê Hiếu Đằng sẽ tổ chức tư... Phần nhận xét hiển thị trên trang

Bí mật sau chủ trương xuất binh đánh Việt Nam năm 1979 của ông Đặng Tiểu Bình




Theo secretchina/Tinh Vệ biên dịch 
ĐKN - Tháng 2/1979, ông Đặng Tiểu Bình điều động 200.000 quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) xâm phạm Việt Nam. Trong vòng một tháng, quân ĐCSTQ tử trận trên 20.000 người, bị thương thì vô số, chịu thảm bại nặng nề.

Nguyên nhân của cuộc chiến này là: Cộng sản Campuchia do ĐCSTQ xúi giục và dung túng (Khmer Đỏ), đã tàn sát 1/4 dân số Campuchia, trong đó có cả kiều bào Trung Quốc và Việt Nam. Việt Nam lấy lý do bảo vệ kiều bào đã đưa quân sang Campuchia để lật đổ Khmer Đỏ, cứu người dân Campuchia thoát khỏi địa ngục. ĐCSTQ xuất quân đánh Việt Nam để trả thù việc Việt Nam đã đánh Khmer Đỏ.

Đến nay, Khmer Đỏ đã tan rã từ lâu, dư đảng còn lại thì giao cho Tòa án Quốc tế xét xử. Cuộc chiến biên giới Việt – Trung do ông Đặng Tiểu Bình khởi xướng không chỉ đại bại về quân sự mà còn đại bại về chính trị.

Ông Đặng Tiểu Bình là kẻ chủ trương đánh Việt Nam, trên thực tế có mục đích cá nhân khác: Ông ta muốn thông qua điều binh khiển tướng để giành thế lực quân sự từ tay của ông Hoa Quốc Phong, sau đó lật đổ quyền lực của ông Hoa Quốc Phong để độc chiếm bá quyền, đây là chiêu dương đông kích tây, thủ đoạn thường thấy trong đấu đá quyền lực ở Trung Quốc.

Đáng tiếc là không biết tại sao ông Hoa Quốc Phong lại không phát hiện được, bỗng dưng rơi vào thòng lọng của ông Đặng Tiểu Bình. Sự xảo quyệt của ông Đặng Tiểu Bình không khác gì Tư Mã Ý thời Tam quốc, tội nghiệp là có vô số thanh niên trong sáng đã biến thành cái bia đỡ đạn cho ông ta.

Năm 1989, ông Đặng Tiểu Bình giữ chức Chủ tịch Ủy ban Quân sự, đã điều động 1/3 quân chủ lực với hơn 300.000 quân tiến vào Bắc Kinh để khai hỏa với đối thủ là học sinh và thị dân tay không tấc sắt, đợt trấn áp phong trào dân chủ với quy mô lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Dưới mệnh lệnh cực đoan của ông Đặng Tiểu Bình, quân đội ĐCSTQ đã máu lạnh dùng xe tăng nghiền nát không thương tiếc người dân, dùng súng máy bắn quét làm máu người dân nhuộm đỏ Quảng trường, thây người tràn ngập khắp nơi. Một cuộc tàn sát chấn động thế giới.

“Giết 200 ngàn người đổi lấy 20 năm ổn định”, một câu “danh ngôn” của ông Đặng Tiểu Bình đưa ra. Trên bề mặt thì câu “danh ngôn” này là vì ổn định quốc gia, nhưng trên thực tế là vì quyền lực chính trị. Còn ý nghĩa khác của câu “danh ngôn” đó là dục vọng cá nhân ích kỷ của ông: Ít nhất giúp ông ta sống yên ổn những năm tháng cuối đời. “Để ta được hưởng vinh hoa phú quý khi còn sống. Sau khi ta chết, làm sao còn biết chuyện tội ác tày trời!” Nội tâm của ông Đặng Tiểu Bình đúng là mê loạn bệnh hoạn.

Là chủ mưu gây cuộc tàn sát ngày 4/6 tại Thiên An Môn, cái tên Đặng Tiểu Bình bị đóng cây đinh kiên cố trên trụ cột ô nhục của dòng lịch sử.

Trước ngày 4/6, vào tháng 5/1989, Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương đã đến gặp ông Đặng Tiểu Bình và đề nghị cần đối thoại với học sinh để có thể tăng thêm gần gũi thông hiểu nhau hơn. Ông Đặng Tiểu Bình trả lời: Tôi đang cảm thấy vô cùng mệt mỏi, tai ù, đầu óc không suy nghĩ gì được, lời nói của ông tôi cũng không nghe rõ. Ông Đặng Tiểu Bình diễn lại độc chiêu “Tư Mã Ý giả bệnh lừa Tào Sảng” trong thời Tam quốc. Trên thực tế, ông Đặng làm nên sự nghiệp dựa vào khởi nghĩa vũ trang, nhờ vào lực lượng vũ trang ĐCSTQ giành chính quyền, một khi gặp sự chống đối thì điều đầu tiên nghĩ tới chỉ là bạo lực.
Sau phong trào học sinh sinh viên mùa đông năm 1986, ông Đặng đã tuyên bố, ta không ngại cho máu chảy để phong trào học sinh sinh viên kia tự động phải chùn bước. Lời nói của Đặng thật khiến người ta lạnh người.

Sau đó, cứ khi nghe thấy tin học sinh ra đường là Đặng lập tức mưu tính giới nghiêm hoặc quản chế quân sự, trong tâm thức đã lăm lăm tay cầm báng súng, cuộc tàn sát ngày 4/6 đủ để thu lại toàn hình ảnh cuộc đời của ông ta. Khi sắp chết chỉ có thể dặn dò: “Không giữ lại tro xương, rắc hết xuống biển”. Hành động này của Đặng là bắt chước ông Chu Ân Lai, nhưng chắc hẳn cũng sợ chút tro tàn thi thể bị nhân dân làm nhục. Hành động của ông Chu là do sợ ông Mao Trạch Đông, còn hành động của ông Đặng là do sợ nhân dân.

Sau khi ông Mao Trạch Đông chết, ông Đặng Tiểu Bình vì gặp thế bất lợi mới dốc sức chối bỏ Cách mạng Văn hóa, nhưng mượn cớ chối bỏ Cách mạng Văn hóa, ông Đặng lại sửa chữa Hiến pháp, thủ tiêu “tứ đại tự do” của dân chúng, tiến đến thủ tiêu quyền bãi công của công nhân. Sự phản tư của ông Đặng về Cách mạng Văn hóa khiến ông kiên quyết tước đoạt quyền dân chủ của nhân dân.

Còn nhớ khi ĐCSTQ khởi nghiệp đã tuyên bố “giai cấp công nhân là giai cấp lãnh đạo”, hở ra là phát động bãi công, chống lại chính phủ quốc dân đương thời, nhưng nào ngờ sau 30 năm ĐCSTQ nắm quyền thì chính họ lại “lập pháp” thủ tiêu quyền bãi công của công nhân. Điều này chứng minh chính quyền Đảng Cộng sản Trung Quốc chuyên chế, độc tài và phản động hơn bất cứ chính quyền nào trước đó.

Có người luôn hy vọng Trung Quốc dân chủ hóa, phó thác vào ông Đặng Tiểu Bình, còn cựu Tổng Bí thư ĐCSTQ Triệu Tử Dương đã gửi gắm lại lời nói thẳng thắn từ khi ông còn sống: Đặng Tiểu Bình nói dân chủ, chỉ là trò lừa đảo.

Có người bình luận: Ông Đặng Tiểu Bình mới là Hoàng đế cuối cùng của Trung Quốc. Trên thực tế, ông Hoa Quốc Phong đã kết thúc nền chính trị chuyên chế cực đoan kiểu Mao, bước đầu mở rộng dân chủ trong Đảng. Nhưng do hoàn cảnh bất thường, trong vài năm, ông Đặng Tiểu Bình dùng thủ đoạn bỉ ổi triệt tiêu ông Hoa Quốc Phong, ngang tàng phục hồi hình thức chính trị chuyên chế cực đoạn kiểu Mao. Ông Đặng tự xưng là trung tâm thứ hai kế tục sự nghiệp của Mao, tất cả tai họa do ông ta mà ra từ đây.

Mùa xuân năm 1992, ông Đặng Tiểu Bình 88 tuổi, bỗng nhiên noi theo ông Mao Trạch Đông trình diễn vở kịch tuần thú phía nam, lúc này ông ta bất mãn với việc ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng nắm quyền chính trị, nhận thấy họ quá thiên tả nên đã xướng ra phe hữu, mục đích chính thực ra để phòng ngừa phe tả. Ông Đặng tuần tra Quảng Đông rộng lớn, vừa đi vừa chửi, buông ra những lời nặng nề: “Kẻ nào không cải cách, kẻ đó phải rút lui.”

Người hiểu tình hình từng tiết lộ: Khi đó ông Đặng Tiểu Bình có âm mưu hạ ông Giang Trạch Dân và Lý Bằng, muốn làm mới lại bằng trọng dụng ông Triệu Tử Dương; giống như Mao về cuối đời đã trọng dụng bản thân ông Đặng. Nhưng ông Giang và Lý đề phòng vô cùng kín kẽ, khi đó ông Đặng thì thân không quyền hành, đến chức Chủ tịch Quân ủy cũng không phải; thêm nữa sau khi ông đi tuần phía nam trở về Bắc Kinh thì bất ngờ cảm thấy cơ thể khó chịu, sức khỏe suy kiệt, dù muốn can dự vào cục diện chính trị cũng lực bất tòng tâm.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Luật và photocopy


Cần phân biệt hành vi photocopy tài liệu để học tập với việc xuất bản, in ấn theo quy định của pháp luật.

Bất cứ giáo trình, giáo án nào đang được sử dụng trong nhà trường, sinh viên đều có quyền photo lại để sử dụng. Điều đó pháp luật không cấm. Người dân có quyền làm tất cả những gì mà pháp luật không cấm.

Tuy nhiên, nếu cô sinh viên kia photo tài liệu - giáo trình, không chỉ để sử dụng mà còn đem bán kiếm lời, tức là vừa có hành vi vi phạm bản quyền, vừa buôn bán bất chính, thì cô ấy phải bị xử lý theo những quy định của pháp luật. Đình chỉ học 1 năm có khi còn nhẹ.

Nếu cô gái kia chứng minh được cô ấy bỏ tiền túi photo nhiều bản (8 bản) nhưng chỉ để cho, biếu, giúp người nhà, bạn bè có hoàn cảnh kinh tế khó khăn... mà không hề thu một xu nào thì phải khen cô ấy. Đoàn trường đại học Luật phải nêu gương cô này cho sinh viên học tập, chứ đừng Ban giám hiệu bảo gì nghe nấy.

Trường đại học Luật, cũng như mọi cơ quan đơn vị khác, có những nội quy (quy định nội bộ) nhưng không được vượt ra khỏi những gì mà pháp luật quy định. Đừng ai nghĩ rằng đây là trường luật nên không thể có chuyện sai về luật. Nhiều khi càng luật càng sai bởi cậy thế, ra vẻ ta đây.

Trong vụ việc trên, theo tôi, Ban giám hiệu trường Luật đã đi quá đà, nhất là định "ngăn sông cấm chợ", độc quyền giáo trình để bán theo giá do mình tự đặt ra. 

Tôi biết cô Quỳ hiệu trưởng, cô ấy là người giỏi, tôi tin cô ấy sẽ biết sửa sai.

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Làm tí thơ:

MƯA BÓNG MÂY
Người quê xơ xác nắng
trời chỉ mưa bóng mây
Không đủ để mát tóc
nói chi mềm luống cày?
Khao khát cứ khao khát
cứ mong chuyện đổi dời..
Vận khí còn thiếu gió
trời chỉ mưa bóng mây!
Người thành tâm chưa nhỉ?
mà chưa thấu đến trời?
Tâm loạn, ý, lý loạn..
trời đành mưa bóng mây!!
Bàn tính chi bấn rộn?
Khi cờ chưa gió bay?
Còn bao chuyện khó nói
Đành thôi
mùa trắng tay!




CẨN THẬN CÂU NÓI

Đang bận: “những khuôn mặt cũ”
Từ từ
sẽ đến lượt anh
“Nhà văn” giàu lòng đố kị
Không chút lòng nhân, không muốn kể,
thôi đành!.
Cái sân chơi vốn không sạch sẽ
Anh cứ ôm đi,
cất để riêng mình.
Tôi thà về đồng chăn trâu cắt cỏ
Chứ không hạ gối lụy tình..
Bức vách có tai
hãy nói năng cẩn trọng!
Nếu anh còn trọng “cái danh”
Tài bằng mắt muỗi,
gặp may hí hửng
Đừng tưởng thế gian không kẻ hơn mình!

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ngôi nhà thật


Hà Thanh Hiển
(Tác giả gửi Blog Hahien)

Ngôi nhà ảo
Mạng xã hội – Ngôi nhà thật trên thế giới ảo? (Hình st từ Thế Giới Ảo)
Cả đời vụng về lóng ngóng
Giờ mới tự xây được ngôi nhà nhỏ
Nền lục bát
Thềm bậc thụt thò
Mái son đố si
Cột cống xàng xê
Không tường
Địa chỉ đăng ký tại Phường On-lai
Đồ đạc trong nhà lộn xộn sơ sài
Cất những thứ trò đùa
Không khóa
Chia cho mọi người tất cả
Có hôm bị Còm ném đá
Hôm rồi
Có một nàng trên trời xuống chơi
Đúng cháu bà Ê-va xinh tươi
Môi hồng mắt xanh
Chân trần
(Cả những chỗ không phải chân cũng vậy)
Mời ở lại luôn cho tươi mát cửa nhà
Thỉnh thoảng liếc nhau cười
Không bao giờ cãi vã
Cả đời ảo mộng hão huyền
Bây giờ mới có vốn riêng – Ngôi Nhà
Thật!
Nhân “Ngày Thơ” của nước Ta 2017
H.T.H
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Nạn 'con ông cháu cha', họa 'đồng hương đồng khói'


Nguyễn Vũ Mộc Thiêng 

TNO - Xưa, “một người làm quan cả nhà được nhờ”. Nay, nếu có một người làm quan to thì cả họ, cả làng, cả tỉnh đều được cậy và nhiều người còn được làm quan vừa, quan bé.

Báo chí và dư luận đang xôn xao vụ cả họ làm quan ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội. Chuyện quá đỗi bình thường ở Việt Nam và chỉ ồn ào khi báo chí đưa tin.

Các công ty gia đình thì không nói, vì chủ nhân có quyền quyết định nhân sự. Chẳng chủ doanh nghiệp nào dám liều mạng giao phó cơ ngơi cho con cái nếu chúng không có thực tài, bởi làm vậy trước sau cũng sạt nghiệp và phá sản. Các doanh nghiệp nhà nước hoặc cơ quan đoàn thể thì khác vì được bao cấp, hoặc đã có người chống lưng (ngôn ngữ dân gian gọi là bảo kê) hoặc nếu có sao thì cứ việc đổ tội cho tập thể và rút kinh nghiệm sâu sắc là... xong.

Tôi đã gặp những doanh nghiệp nhà nước chỉ toàn người cùng tỉnh. Người ngoại tỉnh là hàng hiếm, chỉ chiếm vài phần trăm. Thậm chí có những ngành mà tính vùng miền vẫn đậm đặc. Chẳng hạn, ngành hàng không thì dân Nam bộ là thiểu số, ngành ngoại giao càng hiếm. Không biết tự bao giờ sinh ra cái lệ cứ một người trong cơ quan hay doanh nghiệp nhà nước được bảo lãnh cho một người thân vào làm mà không cần sát hạch hoặc chỉ tuyển dụng sơ sài, chiếu cố. Chỉ cần mươi năm “sinh sản vô tính” như vậy, cả doanh nghiệp hay cơ quan sẽ trở thành cộng đồng hàng họ và láng giềng.

Trên thế giới, không ở đâu mà tính cục bộ lại công khai và mặc định như ở Việt Nam. Có khi địa phương này tẩy chay địa phương khác, bằng mặt chứ không bằng lòng, ngồi chung bàn mà tư duy đối nghịch. Tôi vốn gốc Nghệ An, có người chị họ yêu chàng trai Thanh Hóa. Gia đình người yêu quyết liệt phản đối, cấm cản vì “xấu Thanh hơn lành Nghệ”. Không chịu nổi áp lực, cả hai đành ngậm ngùi chia tay. Chưa ai thống kê nổi, có bao nhiêu nghịch cảnh tương tự. Bao nhiêu nhân tài bị trù dập và loại bỏ vì nạn “con ông cháu cha”, vì họa “đồng hương, đồng khói?”.

Phải chăng, đây mới chính là căn nguyên của bệnh “mạnh ai nấy làm”, thiếu hợp tác, thậm chí “quân ta hại quân mình” làm cho đất nước ngày càng tụt hậu? Con ông cháu cha và đồng hương đồng khói không có tội, thậm chí càng khuyến khích nếu biết làm đẹp truyền thống gia đình và chia ngọt sẻ bùi, giúp nhau trong cuộc sống. Càng thân quen càng phải gương mẫu. Tội nặng vì những kẻ lợi dụng để “thêm bè kết cánh”, củng cố quyền lực và tham nhũng nhóm.

Ngoài chuyện riêng chung nhập nhằng trong hành xử và công việc, nạn “con ông cháu cha”, “đồng hương đồng khói” thì người Việt, đặc biệt là các vị lãnh đạo, còn mắc bệnh tình nghĩa trong bố trí nhân sự. Chính sách cộng điểm ưu tiên là biến tướng của căn bệnh này. Mới đây, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Thể dục Thể thao Lê Bửu thừa nhận việc du di cho một vị lãnh đạo của VFF hiện nay đi học Liên Xô trước kia là vì tình nghĩa với ông bố, đồng nghiệp của ông. Có lẽ ông cũng ít nhiều hối hận vì quyết định ấy. Suất du học đó, đáng lẽ thuộc về một người khác, xứng đáng hơn. Nhưng vì cả nể, vì tình nghĩa đã cướp mất cơ hội của họ, bắt họ rẽ qua một hướng khác, đầy bất trắc. Ở Việt Nam, những trường hợp như vậy, phải tính bằng 6 con số. Một khi lẽ công bằng bị méo mó, thì xã hội đảo điên là đương nhiên, bởi “nhân nào thì quả đó”.

Cùng chung hệ tư tưởng, dù chỉ là danh nghĩa nhưng Trung Quốc đã có nhưng thành tựu đáng kinh ngạc về khoa học, công nghệ, kinh tế lẫn quân sự. Đơn giản, họ dám đoạn tuyệt với chủ nghĩa lý lịch vì “mèo trắng, mèo đen không quan trọng; miễn là bắt được chuột”; dám quyết liệt chống chủ nghĩa giáo điều “Chân lý phải được kiểm nghiệm bằng thực tiễn” (Đặng Tiểu Bình). Tôi rất căm ghét Đặng Tiểu Bình vì đã xua quân xâm lược Việt Nam vào tháng 2.1979, nhưng phải thừa nhận ông là nhà cải cách triệt để. Chừng nào chưa thoát được tư duy “Một người làm quan cả họ được nhờ”, chưa dám tuyên chiến với nạn “con ông cháu cha’, “đồng hương đồng khói” và bệnh cả nể tình nghĩa thì Việt Nam cứ mãi mãi nghèo và xứng đáng nghèo.
Phần nhận xét hiển thị trên trang

Đại Đoàn Kết thời Nguyễn Ngọc Thạch

TDN

IMG_1383“Sức hấp dẫn chính trị”. Vâng. Hơn 30 năm trước, từ giữa thập niên 80 thế kỷ trước, ông đã làm báo trên tinh thần đấy. Thử tưởng tượng xem, đến giờ đã có ai “chính trị hoá” tờ báo một cách mạnh mồm như thế? Vậy mà từ hơn 30 năm trước, ông đã định vị cho Đại Đoàn Kết bằng một tuyên ngôn vậy: “Sức hấp dẫn chính trị là điểm mạnh và đặc thù của báo”.
Trông ông yếu quá. Chẳng biết có qua cơn tai biến nào mà miệng nhìn méo hẳn. Cánh tay phải hơi run. Đi lại đôi chỗ phải có người dìu.
– Nhớ em không?
– Trời, thằng Nhất, Trương Duy Nhất. Không nhớ mày thì nhớ ai!
Cảm động. 6 đời Tổng Biên tập, duy nhất ông là người khiến mình háo hức tìm. Trải bao “ấm lạnh nhân sinh” (chữ dùng của Cẩm Thuý), Đại Đoàn Kết thời ông là một giai đoạn đặc biệt, có thể nói là hãnh diện, một giai thời khiến các thế hệ sau luôn phải nhắc lại với niềm quí trọng nhất.
“Sức hấp dẫn chính trị”. Vâng. Hơn 30 năm trước, từ giữa thập niên 80 thế kỷ trước, ông đã làm báo trên tinh thần đấy.
Tôi bị ông cuốn theo, đến mức bỏ Công an về với ĐĐK, có lẽ cũng vì “hấp lực chính trị” này.
Thử tưởng tượng xem, đến giờ đã có ai “chính trị hoá” tờ báo một cách mạnh mồm như thế? Vậy mà từ hơn 30 năm trước, ông đã định vị cho ĐĐK bằng một tuyên ngôn vậy: “Sức hấp dẫn chính trị là điểm mạnh và đặc thù của báo”.
Thời của tôi, ngoài cụ Thái Duy, những Minh Tuấn, Nguyễn Chính… là các cây bút tài ba. Nhưng không có một Tổng Biên tập như Nguyễn Ngọc Thạch thì không thể có những “Hành trình giải oan”, “Thuỷ cung Thăng Long”…
Cho đến giờ, chứ huống chi thời đó, ngoài ĐĐK, chưa thấy tờ nào dám viết hoa chữ “Dân” và luôn đặt “Dân” trước “đảng”. Chính trị là “sức hấp dẫn”, là “điểm mạnh, đặc thù” của báo, nhưng không phải chính trị theo lối tường trình bám đít lãnh đạo. Sau này, ĐĐK “đồng chí” hoá một cách… tào lao. Chứ thời ông Thạch, ĐĐK không bao giờ cho phép cái danh xưng “đồng chí”, dù là nói đến Thủ tướng hay Tổng Bí thư…
Nhìn ông, nhắc đến ông, là nhớ về một thời ĐĐK lẫy lừng.
Tiếc rằng các đời sau, mỗi người phá một tí, tan tành tờ báo. Để đến giờ, nhiều khi ngẫm lại, không còn biết đâu là bản sắc, và “sức hấp dẫn” của tờ báo là gì?
Hôm lễ xong, ngồi vỉa hè 66 Bà Triệu, đùa với Duy Thanh (Phó Tổng): Cậu cho toàn bộ toà soạn giờ nghỉ giải lao một ngày, nhường cho ê kíp cũ bọn tớ vào ngồi làm thử một số, một số báo thôi – Thú vị đấy!
Là thương mà đùa, chứ chả trách chi. Bởi đâu chỉ ĐĐK, báo chí giờ còn được tờ nào ra hồn đâu.
Cái thời làm báo ấy xa rồi. Thế hệ ông. Rồi thế hệ những Tổng Biên tập như Võ Như Lanh, Kim Hạnh, Lê Văn Nuôi, Nguyễn Công Khế, Thế Thanh, Nam Đồng, Tống Văn Công… đã chỉ còn như là để nhớ!
Có vẻ như ai cũng muốn lao đến ôm riết ông vào lòng. Giữa bao thế hệ ĐĐK, có lẽ riêng ông là người hạnh phúc nhất.
Tôi ở với ĐĐK 16 năm 9 tháng, qua 6 đời Tổng Biên tập. Nhưng chỉ duy nhất ông, là vị Tổng Biên tập để lại trong tôi sự kính trọng thật sự, đúng nghĩa.
IMG_3134
(Ảnh: Trần Ngọc Kha)

Phần nhận xét hiển thị trên trang