Kho giống má trên cánh đồng chữ nghĩa!

Chủ Nhật, 12 tháng 2, 2017

Trái chuối cho gia súc ăn và chuyện thương lái Trung Quốc


Ngô Nguyệt Hữu
























(Dân Việt) Trái chuối của nông dân ở hai huyện Trảng Bom, Thống Nhất (tỉnh Đồng Nai) đang chín rục trên cây, nông dân chặt xuống phân trái cho gia súc ăn.

Giá chuối giảm nhiều quá, năm ngoái thời điểm này là 13.000/kg. Hiện tại, giá ngày 11.2 đang từ 500 đồng đến 2.000 đồng/kg tuỳ chất lượng chuối. Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ấy nằm trong cụm từ quen thuộc, "thương lái Trung Quốc ngưng thu mua".

Tôi sinh ra ở Đồng Nai, huyện Thống Nhất. Ban sáng, đọc báo có tin về quê nhà lòng xót xa, mắt đỏ hoe. Ba má tôi là nông dân, hàng xóm tôi làm rẫy, bạn bè thiếu thời nhờ nải chuối, mớ rau, con gà quê... mà đến trường. Tôi hiểu người nông dân miền quê vốn hồn nhiên, cả tin, hay mơ mộng hy vọng và chịu nhiều hệ lụy như thế nào.

Những năm hết Đại học, tôi về quê chở chôm chôm từ vườn ra Quốc lộ bán cho thương lái, giá có lúc xuống 500 đồng/kg. Đường trơn trợt, ngã vài lần mới đến quốc lộ. Nhìn mình lem nhem, tôi tự vấn, bao giờ người dân quê tôi mới thoát khỏi nỗi buồn ấy.

Hai tạ chôm chôm sau yên xe máy, tay chân sưng vù vì ngã, muỗi chích hằn trên cơ thể ba má tôi vì cắt chôm chôm từ tảng sáng, vết kiến cắn trên tay anh tôi...đổi lại là một- trăm- nghìn- đồng.

Xuyên suốt những tháng ngày quê nhà, tôi chưa từng nghe được một lời khuyên nào từ nhà quản lý nông nghiệp, tôi cũng chưa từng nghe những điều gì khác. Những thứ mà đi làm báo, tôi nghe họ nói rất nhiều trong các hội nghị, đọc rất nhiều trong báo cáo và cả những quyết sách nông thôn mới làng quê mới gì gì đấy.

Tôi vẫn tin, một quốc gia có truyền thống nông nghiệp như nước ta sẽ vô cùng thuận lợi nếu chọn nông nghiệp là hướng đi chính. Một nền nông nghiệp với khoa học kỹ thuật cao, với sản phẩm nông nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn xuất khẩu, xanh sạch và an toàn.

Tôi vẫn tin người nông dân hoàn toàn có thể thoát nghèo, trở nên khá giả, thậm chí là giàu có với mảnh đất mà họ đang sở hữu. Vấn đề là người nông dân phải có được những điều kiện canh tác, những trang bị về kiến thức.

Tôi đọc thấy nhiều người mỗi lần tranh luận hay đổ vấy cho người nông dân tham làm vụn vặt, thích thu lợi cho mình còn hại người mặc kệ. Dẫn chứng là thuốc trừ sâu, thuốc tăng trưởng được sử dụng vô tội vạ.

Họ nói không có gì sai cả, nhưng phải chăng đó là đặc tính của người Việt mình. Nếu mọi người chịu khó suy xét  sẽ thấy có những cán bộ lãnh đạo đã vì cái tham lam vụn vặt của riêng mình mà gây thiệt hại cho ngân sách, cho niềm tin của nhân dân như thế nào. Tôi nghĩ, chúng ta sẽ có cái nhìn bao quát hơn. Có điều, không nhiều người chịu tìm hiểu để nhận ra, mỗi năm người nông dân thiệt hại khoảng  50.000 tỷ vì tình trạng phân bón giả.

Đau đớn thay, không ai bảo vệ và đòi lại quyền lợi hợp pháp cho họ.

Người nông dân, ngẫu nhiên, bị gạt ra khỏi cơn ảo mộng thép, công nghiệp nặng. Bất chấp, họ vẫn được nhắc nhớ đầy trân trọng tại hội thảo của một tập đoàn nào đó.

Khi một cá nhân gánh chịu hệ quả trong sự việc nhất định, đầu tiên cá nhân ấy phải tự trách hành động tiền đề của mình. Tôi hoàn toàn đồng ý điều này với điều kiện, cá nhân ấy không phải đóng thuế, không phải chịu áp chế bởi chính sách, pháp luật của một nhóm người nào đó.

Thế nên, khi người nông dân gánh chịu hậu quả của thứ cũ kỹ và đầy xót xa mang tên "thương lái Trung Quốc", phải xét đến trách nhiệm đầu tiên của địa phương. Kế đến là của huyện, của tỉnh. Thậm chí là của lãnh đạo cao hơn, trong công tác khuyến nông, công tác nâng cao nhận thức. Ấy là chưa muốn nói đến trách nhiệm an ninh về nhiều mặt.

Sẽ chẳng có hy vọng gì cả nếu tình trạng thương lái Trung Quốc vẫn còn đất sống dựa trên sự mơ mộng của người nông dân. Còn cán bộ thì cứ nói thản nhiên: "Đã khuyên mà họ không nghe". Bởi suy cho cùng, dân mình thì mình thương. Mà thương dân thì tuyệt đối không được để dân lâm vào bi kịch từ sự hiểm độc của người nước khác. 


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Có một loại thất bại gọi là ‘bận rộn một cách mù quáng’

>> Một TPP không có Mỹ vẫn tốt hơn là không có TPP

>> Việt Nam: Sắp xử vụ án Oceanbank
>> Trái chuối cho gia súc ăn và chuyện thương lái Trung Quốc
>> Ban Kinh tế Trung ương cần giải đáp vì sao kinh tế - xã hội chưa phát triển nhanh


Thiện Sinh (biên dịch)
ĐKN - Tại một ngôi chùa nơi khe núi có một lão thiền sư, ông có một đồ đệ rất là chuyên cần, không kể là đi hóa duyên, hay là xuống bếp rửa rau, vị đồ đệ này từ sáng đến tối, bận rộn không ngừng.

Nhưng trong tâm của tiểu đồ đệ rất là mâu thuẫn, vành mắt của cậu càng ngày càng tối sạm.

Cuối cùng, cậu không thể chịu đựng thêm được nữa, đến tìm sư phụ. Cậu nói với lão thiền sư rằng: “Sư phụ, con thật sự quá mệt mỏi rồi, nhưng cũng không thấy được thành tựu đâu cả, rốt cuộc là bởi nguyên nhân gì vậy?”.

Lão thiền sư trầm ngâm một lúc rồi nói: “Con hãy đem cái bát ngày thường con dùng để hóa duyên lại đây”.

Tiều đồ đệ liền đem cái bát ấy đến, lão thiền sư nói: “Tốt lắm, hãy để nói ở chỗ này, con hãy đi lấy mấy quả óc chó đến đựng đầy cái bát cho ta”.

Tiểu đồ đệ không rõ được dụng ý của sư phụ, ôm một đống hạch đào đi vào. Khoảng chục quả hạch đào này vừa đặt vào trong cái bát, toàn bộ cái bát đều đã đầy ắp cả.

Lão thiền sư hỏi tiểu đồ đệ: “Giờ con còn có thể cho thêm quả óc chó vào trong cái bát nữa không?”

“Không cho thêm được nữa, bát đã đầy rồi, nếu cho thêm nữa thì nó sẽ rơi ra ngay”.

“Ồ, bát đã đầy rồi phải không? Con hãy mang một chút gạo đến đây nữa”.

Tiểu đồ đệ lại mang một số gạo đến, cậu cho hạt gạo vào trong cái tô từ những khe hở của hạch đào, không ngờ lại có thể cho được nhiều hạt gạo vào đến như vậy, cứ cho mãi cho đến khi bắt đầu rơi ra ngoài. Tiểu đồ đệ mới dừng lại, bất chợt giống như ngộ ra được điều gì đó: “Ồ, thì ra cái bát lúc nãy vẫn còn chưa có đầy”.

Lão thiền sư: “Thế bây giờ đã đầy chưa?”.

Tiểu đồ đệ: “Bây giờ đã đầy rồi”.

Lão thiền sư: “Con hãy lấy một ít nước đến đây”.

Tiểu đồ đệ lại đi lấy nước, cậu lấy một gáo nước đổ vào trong cái bát, mãi cho đến khi nước trong bát tràn ra, lần này ngay đến cả khe hở cũng đều đã bị lấp đầy hết cả.

Lão thiền sư hỏi tiểu đồ đệ: “Lần này đã đầy chưa?”.

Tiểu đồ đệ nhìn thấy cái tô đã đầy rồi, nhưng lại không dám trả lời, cậu không biết liệu sư phụ có phải còn có thể cho thêm cái gì vào nữa hay không.

Lão thiền sư cười nói: “Con hãy đi lấy thêm một muỗng muối đến đây”.

Lão thiền sư lại cho muối tan vào trong bát nước, nước không có tràn ra chút nào. Tiểu đồ đệ như ngộ ra điều gì đó.

Lão thiền sư hỏi cậu: “Con nói xem điều này đã nói rõ gì nào?”

Tiểu hòa thượng nói: “Con biết rồi, điều này nói rõ thời gian chỉ cần ta biết khéo léo tận dụng thì luôn sẽ có đủ”.

Lão thiền sư lại cười, lắc đầu nói: “Đây vốn không phải điều ta muốn nói với con”.

Tiếp đó, lão thiền sư lại đổ những thứ trong cái bát kia vào trong một cái chậu, lấy ra một cái bát không. Hành động của lão thiền sư khá là chậm rãi, ông vừa đổ vừa nói: “Lúc nãy chúng ta cho quả óc chó vào trước, bây giờ chúng ta hãy làm ngược lại, xem thử sẽ thế nào?”.

Lão thiền sư cho một muỗng muối vào trong cái bát trước, rồi đổ nước vào, sau khi nước đầy rồi, thì vừa cho gạo vào trong cái bát, nước đã bắt tràn ra ngoài, và khi trong chén đã đựng đầy gạo rồi, lão thiền sư hỏi tiểu đồ đệ rằng: “Con xem, bây giờ trong chén còn có thể cho quả óc cho vào được nữa không?”.

Lão thiền sư nói: “Nếu như sinh mệnh của con là một cái bát, khi trong cái bát toàn là những chuyện nhỏ nhặt giống như những hạt gạo này vậy, thì những quả óc chó đó của con làm sao có thể cho vào được đây?”.

Lão thiền sư hỏi tiểu đồ đệ: “Lần này đã đầy chưa?”.

Tiểu đồ đệ nhìn thấy cái tô đã đầy rồi, nhưng lại không dám trả lời, cậu không biết liệu sư phụ có phải còn có thể cho thêm cái gì vào nữa hay không.

Lão thiền sư cười nói: “Con hãy đi lấy thêm một muỗng muối đến đây”.

Lão thiền sư lại cho muối tan vào trong bát nước, nước không có tràn ra chút nào. Tiểu đồ đệ như ngộ ra điều gì đó.

Lão thiền sư hỏi cậu: “Con nói xem điều này đã nói rõ gì nào?”

Tiểu hòa thượng nói: “Con biết rồi, điều này nói rõ thời gian chỉ cần ta biết khéo léo tận dụng thì luôn sẽ có đủ”.

Lão thiền sư lại cười, lắc đầu nói: “Đây vốn không phải điều ta muốn nói với con”.

Tiếp đó, lão thiền sư lại đổ những thứ trong cái bát kia vào trong một cái chậu, lấy ra một cái bát không. Hành động của lão thiền sư khá là chậm rãi, ông vừa đổ vừa nói: “Lúc nãy chúng ta cho quả óc chó vào trước, bây giờ chúng ta hãy làm ngược lại, xem thử sẽ thế nào?”.

Lão thiền sư cho một muỗng muối vào trong cái bát trước, rồi đổ nước vào, sau khi nước đầy rồi, thì vừa cho gạo vào trong cái bát, nước đã bắt tràn ra ngoài, và khi trong chén đã đựng đầy gạo rồi, lão thiền sư hỏi tiểu đồ đệ rằng: “Con xem, bây giờ trong chén còn có thể cho quả óc cho vào được nữa không?”.

Lão thiền sư nói: “Nếu như sinh mệnh của con là một cái bát, khi trong cái bát toàn là những chuyện nhỏ nhặt giống như những hạt gạo này vậy, thì những quả óc chó đó của con làm sao có thể cho vào được đây?”.

Tiểu đồ đệ lúc này mới vỡ lẽ ra.

Nếu như bạn bôn ba cả ngày, vô cùng bận rộn, thế thì bạn hãy nghĩ thử: “Chúng ta làm sao mới có thể cho quả óc chó vào trong sinh mệnh trước đây? Nếu như sinh mệnh chỉ là một cái bát, lại nên làm thế nào để tách biệt quả óc chó và hạt gạo đây?”.

Chúng ta cần cho quả óc chó vào trong cái tô của sinh mệnh trước, nếu không cả một đời sẽ ở trong những chuyện nhỏ nhặt như hạt gạo, hạt mè, nước, thế thì ta không thể cho quả óc chó vào được nữa.

Bởi vì bận rộn mà bỏ lỡ những chuyện có ý nghĩa trọng đại đối với sinh mệnh, chính gọi là bận rộn một cách mù quáng. Bận rộn mù quáng có nghĩa là bạn đang đi đến thất bại, càng bận rộn càng nghèo khổ, càng nghèo khổ lại càng bận rộn!

Sinh mệnh là một cái chén không, nhưng nên cho cái gì vào trước? Cái gì mới là quả óc chó của bạn? Nếu như mỗi một người đều rõ ràng quả óc chó của mình là cái gì, thế thì cuộc sống đã đơn giản nhẹ nhàng hơn rồi.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

Ôi giời sáng kiến


Ở Sài Gòn, người ta đã và đang lắp nhiều thanh sắt chắn ngang (barrie) lề đường để ngăn chặn xe máy leo lên lề, giữ lề đường cho người đi bộ. Đây cũng là cách làm nghiêm luật giao thông.

Nhưng tôi cứ lo lo. Dù trên thanh sắt có dán giấy phản quang, giúp người đi bộ trong đêm tối nhìn thấy, nhưng ban ngày hay ban đêm, vẫn có thể xảy ra trường hợp người đi bộ lơ đễnh hoặc đang nghe điện thoại, trẻ em chạy đuổi nhau, những người mải nói chuyện... không để ý mà vấp phải, bị nó ngáng cho một phát, thì có mà như trời giáng, vỡ mặt như chơi. 

Chúng ta thấy thiếu gì trường hợp người đi bộ vấp phải rễ cây bị ngã, thụt xuống hố cống không nắp bị chìm, có phải lúc nào cũng vừa đi vừa chăm chú xem có rễ cây, hố cống hay không. Nay thêm hàng loạt "rễ sắt" như vậy, lo là phải. Nếu ai đó mừng về mấy thanh chắn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội này, tôi nghĩ đó là Bệnh viện Răng hàm mặt.

(Ảnh của báo Thanh Niên)

Nguyễn Thông

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Con người tự do, nhân ái là đích đến của giáo dục nhân cách

>> Uber VN sẽ phải đóng cửa?

>> Dự án hạ tầng "ưu tiên" của Đà Nẵng dính một loạt vi phạm
>> “Giải mã” nguyên nhân trụ sở hơn 4.000 tỷ đồng của Bộ Ngoại giao chậm tiến độ


LẠI NGUYÊN ÂN
LĐO - Con người là sinh vật xã hội; mọi cá thể người được sinh ra đều cần được trải qua một quá trình “xã hội hóa” để trở thành sinh vật xã hội như những con người khác. Nhân cách là kết quả của quá trình ấy.

Tiền đề của sự hình thành nhân cách, trước hết là môi trường sinh trưởng của mỗi cá thể người, là những sự liên hệ, liên hội được mỗi cá thể tích lũy từ ấu thơ, là quá trình giáo dục, là những đặc điểm của các chế định gia đình, của thái độ đối với đứa trẻ… Có những ý kiến theo đó thì cá thể người ta là do được sinh ra, còn nhân cách người ta lại do được lắng đọng lại.

Chính vì nhận thấy nhân cách là “cái lắng lại”, là kết quả những tác động từ nhiều phía đến cá thể, người ta từ xưa đến nay đều chú trọng đến giáo dục. Cũng chính vì thấy rõ nhân cách là cái có thể tạo ra từ những tác động ngoại tại, cho nên, các chính thể, các tập đoàn người trong lịch sử đã từng đề xuất những “mô hình” nhân cách khác nhau, coi như đích đến của họ trong sự nghiệp giáo dục.

Ở nước ta, suốt hàng ngàn năm, trong xã hội nông nghiệp làng xã dưới chế độ quân chủ chuyên chế theo Nho giáo, “mô hình” nhân cách duy nhất được tạo ra chính là “con người chức năng”: Con người không có giá trị tự thân, chỉ có danh phận trong các quan hệ và trật tự thứ bậc. Như nhận định xác đáng của nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu: “Con người là của gia đình, của họ hàng, của làng của nước. Bản thân họ không có gì là của mình: Thân thể là của cha mẹ cho, phận vị là của vua cho, số mệnh là của trời cho. Có được cái gì cũng là nhờ ơn vua ơn trời. Giá trị của nó được tính theo chỗ nó là con ai, thuộc họ nào, làng nào, có chức sắc gì, chứ không theo chỗ bản thân nó là gì. Trong xã hội tất cả là thần dân của vua, đều được xếp vào bậc thang tước vị, rồi lại chia thành hạng cha chú hay con cháu. Con người phải nhìn xuống nhìn lên trong cái thang trật tự trên dưới đó, tự xác định vị trí của mình mà ăn mặc, nói năng, đi đứng cho phải phép. Đó là con người chức năng trong xã hội luân thường chứ không có nhân cách độc lập” (Trần Đình Hượu: Đến hiện đại từ truyền thống, H., 1996, tr. 395).

Người nông dân hay nhà Nho - hai mẫu người phổ biến nhất dưới thời quân chủ chuyên chế - đều là những dạng “con người chức năng”, tuy ít nhiều có khác nhau.

Người nông dân, tức là người lao động nông nghiệp, cuộc sống gắn với làng xã, về căn bản là những con người tiểu kỷ, cam phận nhỏ bé hèn mọn, sống với những tính toán ích kỷ vụn vặt; ngay cả cái khôn ngoan, cái tốt đẹp ở họ cũng chưa vượt ra ngoài khuôn khổ chất tiểu kỷ làng xã, sự tư lợi ở họ chưa phải chủ nghĩa cá nhân, sự tùy tiện ở họ chưa phải chủ nghĩa tự do phóng túng.

Nhà Nho, sản phẩm của nền giáo dục duy nhất - du nhập từ thời ngàn năm Bắc thuộc rồi định hình trong thời độc lập dưới chế độ quân chủ chuyên chế - là học chế Nho giáo, truyền giảng Tứ thư ngũ kinh của đạo Khổng. Nhà Nho được rèn và phải tự rèn mình theo mô hình người quân tử, đỗ đạt thì làm quan giúp vua trị dân, không thành đạt thì lui về làm thầy của dân quê làng xã. Điểm nổi bật ở nhà Nho Việt Nam không phải là học vấn uyên bác mà thường chỉ là năng lực làm văn làm thơ, không phải là khả năng thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển mà chỉ là năng lực duy trì một cuộc sống ổn định, phù hợp với xã hội đứng yên không phát triển. Nhà Nho Việt Nam có thể là những tấm gương về đạo đức, nhất là về lối sống cao khiết tự tại, nhưng rất khó có thể là những thợ cả hay thủ lĩnh về sự sáng tạo.

Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sự bành trướng và xâm lược của tư bản Âu Tây sang Viễn Đông nói chung, trong đó có Việt Nam, vừa tước đoạt nền độc lập của xứ sở chúng ta, lại vừa lôi cuốn xã hội Việt Nam vào quỹ đạo một quá trình Âu hóa, thế giới hóa, hiện đại hóa. Ở xã hội Việt Nam từ 1858 đến 1945, một nền kinh tế tư bản đã hình thành bên cạnh kinh tế nông nghiệp tự túc cũ, một xã hội thị dân đã hình thành bên cạnh làng xã của nông dân trong làng quê cổ truyền; mô hình nhân cách tự do đã hình thành cả ở giới doanh gia lẫn giới lao động, nhất là giới trí thức. Một diện mạo mới của con người và xã hội Việt Nam thời hiện đại đã bộc lộ rõ, sau những đổi thay về lối sống, nếp sống, về văn hóa tinh thần, diễn ra vừa âm thầm vừa bột phát.

Tuy vậy, diện mạo hiện đại ấy chưa hề được gia cố vững bền thì những chuyển động đầy xung đột bạo liệt của các trào lưu chính trị thế giới trong thế kỷ XX đã tràn đến, lôi cuốn cuộc sống xứ sở chúng ta, khiến cả diện mạo xã hội lẫn diện mạo con người đều chịu những đổi thay khốc liệt. Nền chính trị độc lập được khôi phục, sự thống nhất lãnh thổ được thực hiện, nhưng cuộc sống đất nước suốt nửa thế kỷ bị chi phối bởi chiến tranh, bởi nền kinh tế tập thể hóa, quốc doanh hóa, nền quản lý quan liêu hóa, đã làm biến dạng gần như toàn bộ những gì đã có trước đó. Cho đến những năm đầu 1980, người nông dân càng trở về dạng tiểu kỷ hơn khi chỉ còn thiết tha với mảnh ruộng “phần trăm” ít ỏi còn được tự chủ; người công nhân càng ý thức rõ hơn thân phận làm thuê khi lãnh đạo xí nghiệp càng tỏ rõ là những ông chủ. Vào lúc nhiệt tình cách mạng thời đầu đã dần dà phai nhạt từ lớp người trước qua lớp người sau, mô hình người cán bộ - một thời được hình dung như kẻ có sứ mệnh xả thân sáng thế - càng ngày càng tỏ ra gần gũi với mô hình nhà Nho xưa kia, bộ phận thành đạt ngày càng được cảm nhận như hạng quan chức hãnh tiến, bộ phận còn lại ngày càng giống đám thầy thợ ăn theo nói leo, cuộc sống công sở lương ba cọc ba đồng không có gì nhiều để khích lệ sự học hỏi hay sáng tạo.

Công cuộc đổi mới khởi lên giữa những năm 1980 đã đem lại sức sống, đem lại sinh sắc cho xã hội và con người, chuyển biến đất nước từ trì trệ sang phát triển. Ba chục năm mở cửa cho đầu tư phát triển kinh tế, ta đã thấy nhiều dấu hiệu chuyển biến trong chiều sâu thể chất xã hội và con người, tuy hầu như tất cả đều đang còn dang dở. Những mô hình con người được nêu làm khuôn mẫu của thời bao cấp đã mất dần sức sống, sức cuốn hút. Những mô hình con người kiểu khác đang thành hình, trong đó những đường nét của nhân cách tự do đã xuất hiện và đang tự khẳng định. Cùng lúc ấy, những mô hình con người ích kỷ, phi nhân, cơ hội, bám vào cơ chế cũ, vào lợi ích nhóm, chống lại các xu thế tiến bộ và nhân bản… cũng cạnh tranh quyết liệt giành chỗ đứng trên trường đạo đức của xã hội.

Về việc xây dựng một mô hình nhân cách, nhà nghiên cứu Trần Đình Hượu đã từng khẳng định: “Trước khi bàn về một mô hình nhân cách thì phải khẳng định sự tồn tại của nhân cách độc lập đã. Có nhân cách độc lập mới có con người tự trọng. Có tự trọng mới thành con người đáng giá để có sự quan hệ với người khác, với đất nước, với nhân loại. Muốn khẳng định nhân cách độc lập, con người cần được giải thoát khỏi tình trạng phụ thuộc… vào gia thế, vào họ, vào làng, khỏi mặc cảm vào ân huệ, để không phải sống chờ đợi, ỷ lại, tìm cách tự bảo vệ bằng dối trá, che đậy, hay tìm ô dù để nấp bóng. Tóm lại là cần có thể chế dân chủ, cần có luật pháp bảo vệ nhân quyền.” (sđd., tr. 395).

Như vậy, điều kiện tiên quyết của việc xây dựng một mô hình nhân cách, là tạo ra những điều kiện cho nhân cách độc lập, con người tự chủ; đó là những khuôn khổ luật pháp và thực thi tư pháp để đảm bảo những quyền năng cơ bản của con người nói chung trên khắp hành tinh này mà Liên Hợp Quốc đã ra tuyên ngôn năm 1948 và Nhà nước Việt Nam đã tham gia từ những năm 1980. Tất nhiên, từ tuyên bố đến thực hiện là những khoảng cách không ngắn, đòi hỏi những giám sát thường trực và nghiêm ngặt.

Còn lại, việc xây dựng một mô hình nhân cách với một số nội hàm định tính cụ thể, tuy vẫn là phần việc chung toàn xã hội, song có phần là sự can dự tích cực của giáo dục, của hệ thống nhà trường từ phổ thông đến cao đẳng, chuyên nghiệp, đại học.

Thiết nghĩ, trong sự định hướng, sự tác động vào quá trình hình thành nhân cách của các thế hệ trẻ, điều cần tránh, cần chống lại chính là những ý đồ lũng đoạn thế hệ trẻ, biến họ thành công cụ, thành phương tiện thực thi các mục tiêu của các nhóm lợi ích nào đó. Tinh thần nhân bản cần được giữ vững trong việc giáo dục đào tạo con người. Được sinh ra làm người là hạnh phúc của mỗi cá thể; mỗi con người là một giá trị tự tại; không ai, không thế lực nào được phép nhào nặn người khác thành công cụ, thành phương tiện cho các mục tiêu riêng của nhóm phái mình. Cũng cần chống lại những mưu toan thổi phồng các giá trị cục bộ để biệt lập thế hệ trẻ nước mình khỏi những giá trị nhân loại chung. Con người là sản phẩm chung, là thành tạo lịch sử chung toàn nhân loại; không có thuộc tính hay đặc tính nào của con người lại không thể trở thành đặc tính hay thuộc tính của con người Việt Nam.

Nhân cách tự do của con người các thế hệ mới sẽ là cái đảm bảo cho quyền năng sống của nó, cũng là cái đem lại khả năng sáng tạo lớn lao cho nó, trong thế giới hiện tại và tương lai.

Con người của các thế hệ sắp bước vào đời cần được cung cấp sự hiểu biết và phương pháp hiểu biết mà nhân loại đã có, cần được truyền cho cái năng lực sống của các thế hệ trước. Nhưng cuộc sống mà họ sẽ trải qua chưa chắc đã lặp lại các thế hệ đã qua. Hãy để họ lựa chọn cách sống của họ, bởi sẽ không ai có thể sống thay người khác, sống thay thế hệ sau.

Nếu cần định hướng điều gì cho người của thế hệ sẽ bước vào đời, thiết nghĩ, ấy là tính nhân ái, nhân bản, vì họ cũng như chúng ta, là những con người, đều thuộc loài người. Tính nhân ái, nhân bản còn đang cần được phổ cập rộng hơn, sang thế giới các sinh vật khác, sang thiên nhiên, khi mà việc bảo vệ sinh thái của ngôi nhà chung – trái đất – đang ngày càng trở nên cấp thiết. Nhân ái, nhân bản, vì thế sẽ vượt quá phạm vi một thứ tình cảm để trở thành một thứ nhận thức lý trí.

Nếu có thể định tính cho một mô hình nhân cách, thì cái nên chọn là nhân cách tự do, nhân ái. Con người tự do, nhân ái là đích đến của giáo dục nhân cách.

Phần nhận xét hiển thị trên trang

Thứ Bảy, 11 tháng 2, 2017

Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa sở hữu khối tài sản trăm tỉ

>> Việt Nam, Trung Quốc dịu giọng trên vấn đề Biển Đông

>> VN: chính sách đất khiến dân phải sống nghèo?
>> Mỹ chơi poker nhưng Nga bắt hậu, chặt chân vua
>> Sụp đổ tài khóa quốc gia’: Thủ tướng Phúc không muốn phải ‘đổ vỏ’?


NGỌC AN - TRẦN VŨ nghi





























TTO - Bộ Công thương khẳng định việc Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa sở hữu lượng lớn cổ phần tại Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang có từ trước khi được bổ nhiệm thứ trưởng và đã thực hiện đúng quy định kê khai tài sản.

Ngày 10-2, báo Tuổi Trẻ đã đặt câu hỏi tới Vụ Tổ chức cán bộ và văn phòng Bộ Công thương về tính hợp lý, minh bạch và nguồn gốc tài sản là vốn cổ phần có trị giá hàng trăm tỉ đồng mà Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa và gia đình sở hữu tại Công ty Điện Quang.

Nắm vốn trước khi được bổ nhiệm thứ trưởng

Chiều 10-2, thông báo phát đi của Bộ Công thương cho biết hiện Ban cán sự Đảng Bộ Công thương đã đề nghị Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa và các đơn vị liên quan có báo cáo. Theo đó, khẳng định số cổ phần mà bà Thoa nắm giữ là từ trước khi được bổ nhiệm thứ trưởng vào năm 2010.

Trước khi được bổ nhiệm làm thứ trưởng, bà Hồ Thị Kim Thoa đã có 18 năm công tác tại Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang. Từ năm 2000 đến 2005 bà Thoa giữ chức bí thư đảng ủy, tổng giám đốc công ty; từ năm 2005 đến 2010 là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc công ty.

Bộ Công thương khẳng định việc nắm giữ cổ phần tại Công ty Điện Quang đã được kê khai đầy đủ trong hồ sơ bổ nhiệm thứ trưởng vào năm 2009. Bộ này cũng khẳng định vấn đề này đã được báo cáo lên các cơ quan có thẩm quyền trước khi có quyết định bổ nhiệm thứ trưởng đối với bà Thoa.

Bộ Công thương cũng nhấn mạnh trong quá trình công tác, bộ đã chỉ đạo đối với Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa thực hiện đúng quy định về quản lý cán bộ và kê khai tài sản. “Trong các bản kê khai tài sản hằng năm, Thứ trưởng Thoa đều kê khai số lượng cổ phiếu đang nắm giữ tại Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang” - 
bộ này khẳng định.

Sở hữu bao nhiêu cổ phiếu?

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, Điện Quang lên sàn chứng khoán vào tháng 2-2008. Trong bản cáo bạch công bố trước khi lên sàn vào tháng 11-2007, bà Thoa giữ chức tổng giám đốc kiêm chủ tịch HĐQT Điện Quang, vốn điều lệ công ty 157,17 tỉ đồng, tương ứng 15,717 triệu cổ phiếu, trong đó có 15,434 triệu cổ phiếu được lưu hành dưới dạng phổ thông.

Tại thời điểm này, Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC - là cổ đông nhà nước) chỉ còn chiếm tỉ lệ 20,77%, cổ đông ngoài công ty là 60,71% và cổ đông trong công ty giữ tỉ lệ 18,52%.

Theo nguồn tin của Tuổi Trẻ, đến tháng 12-2009 (trước khi bà Thoa được bổ nhiệm làm thứ trưởng Bộ Công thương - PV), cá nhân bà Thoa đã sở hữu gần 858.000 cổ phiếu.

Đến tháng 11-2010 (lúc này bà Thoa đã được bổ nhiệm làm thứ trưởng - PV), số cổ phiếu của bà Thoa tăng lên xấp xỉ 1,16 triệu cổ phiếu (làm tròn) do cổ tức được chia cho năm 2009 mà Điện Quang chi cổ đông lên đến 30%.

Và kể từ thời điểm lên sàn cho đến nay, hằng năm Điện Quang đều chia cổ tức bằng tiền mặt hoặc cổ phiếu cho cổ đông. Tính đến tháng 10-2016, số cổ phiếu lũy kế mà bà Thoa sở hữu đã lên đến 1.686.415 cổ phiếu.

Đóng cửa giao dịch ngày 10-2, cổ phiếu Điện Quang (mã CK DQC) đứng ở mức giá 54.000 đồng/CP.

Trong suốt thời gian được bổ nhiệm làm thứ trưởng cho đến nay, Sở Giao dịch chứng khoán TP.HCM không ghi nhận bất kỳ giao dịch mua bán cổ phiếu Điện Quang nào mà bà Thoa đang sở hữu.

Tại sao có số tài sản lớn?

Trao đổi với Tuổi Trẻ, TS Ngô Minh Hải - phó trưởng ban Câu lạc bộ doanh nghiệp nhà nước (Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương) - cho rằng thông tin được Bộ Công thương đưa ra “không đi đến tận cùng” của sự việc, khi còn nhiều vấn đề thiếu tính minh bạch đối với việc Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa sở hữu lượng tài sản khủng tại 
doanh nghiệp này.

Trong đó, có hai vấn đề được ông Hải đặt ra. Trước hết là nguồn gốc tài sản được Bộ Công thương xác nhận là có từ trước khi bà Thoa được bổ nhiệm làm thứ trưởng, nhưng đã được xác minh rõ tính minh bạch hay chưa? Bởi vì Công ty Điện Quang đã cổ phần hóa vào năm 2005 - cũng là thời điểm bà Thoa nắm giữ vị trí lãnh đạo chủ chốt.

Theo ông Hải, nếu quá trình cổ phần hóa không được thực hiện nghiêm túc, giám sát kỹ lưỡng có thể dẫn tới trường hợp lợi dụng chức quyền, “nhập nhằng” mua đi bán lại cổ phiếu để nắm giữ quyền kiểm soát. Như vậy, có thể dẫn tới việc gây thất thoát vốn nhà nước, rơi vào nhóm đặc quyền, đặc lợi.

Do đó, trong trường hợp bà Thoa từ vai trò là bí thư đảng ủy, tổng giám đốc, tiếp đến là chủ tịch HĐQT Công ty Điện Quang có tài sản được hình thành từ trước khi bổ nhiệm làm thứ trưởng, ông Hải cho rằng sẽ khiến dư luận đặt ra dấu hỏi là “tại sao lại có tài sản lớn như vậy?” và “liệu có vấn đề lợi dụng cổ phần hóa để 
sở hữu cổ phần?”.

Nhiều vấn đề chưa rõ ràng

Trao đổi với Tuổi Trẻ, một nhà quản lý lâu năm trong lĩnh vực chứng khoán cho biết theo quy định pháp luật hiện nay không cấm việc cán bộ, công chức mua cổ phần tại các doanh nghiệp cổ phần hóa.

Tuy nhiên, với trường hợp một cán bộ đảm nhiệm các chức vụ tổng giám đốc, chủ tịch HĐQT và được bổ nhiệm làm thứ trưởng thì phải đảm bảo tính công khai, minh bạch trong quá trình cổ phần hóa.

Câu hỏi thứ hai được ông Hải nêu ra là khi ở vị trí thứ trưởng Bộ Công thương, mặc dù sở hữu lượng lớn cổ phần tại Công ty Điện Quang nhưng tại sao bà Thoa vẫn được Bộ Công thương phân công quản lý chính lĩnh vực có liên quan đến công ty này? (Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa từng được phân công chỉ đạo ngành công nghiệp nhẹ - PV).

Theo ông Hải, việc một cán bộ nhà nước và người nhà sở hữu lượng lớn cổ phần tại doanh nghiệp, nhưng lại đồng thời nắm vai trò quản lý lĩnh vực liên quan sẽ có nguy cơ tạo nên đặc quyền, đặc lợi cho doanh nghiệp trên thị trường. Như vậy, có thể sẽ tạo ra sự thiếu minh bạch và thiếu công bằng với doanh nghiệp khác trên thị trường.

LS Trương Thanh Đức - Trung tâm Trọng tài quốc tế - cho rằng nếu một cán bộ lãnh đạo vừa quản lý, vừa nắm cổ phần lớn tại doanh nghiệp, và người nhà lại nắm giữ các vị trí chủ chốt, tức là “vừa đá bóng, vừa thổi còi”.

Do đó, với trường hợp này cần phải xem thời điểm bổ nhiệm các thành viên trong gia đình bà Thoa, làm căn cứ để xem xét có hay không việc vi phạm quy định tại Luật doanh nghiệp, Luật phòng 
chống tham nhũng.
***

Khiển trách bà Hồ Thị Kim Thoa liên quan công tác cán bộ

Ngày 21-1, Thủ tướng đã ký văn bản thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách Thứ trưởng Bộ Công thương Hồ Thị Kim Thoa vì vi phạm liên quan tới công tác cán bộ tại Bộ Công thương.

Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra trung ương, bà Thoa có phần trách nhiệm về các vi phạm, khuyết điểm của Ban cán sự Đảng Bộ Công thương nhiệm kỳ 2011-2016. Cá nhân bà Thoa có vi phạm, khuyết điểm trong việc đồng ý với đề xuất tiếp nhận, bổ nhiệm Trịnh Xuân Thanh trái quy định; thực hiện không đúng nguyên tắc, quy định khi ký quyết định.

Cả gia đình sở hữu hơn 718 tỉ đồng

Theo báo cáo quản trị doanh nghiệp của Công ty CP bóng đèn Điện Quang (mã chứng khoán: DQC), tính đến ngày 30-11-2016, bà Hồ Thị Kim Thoa nắm giữ 1.686.415 cổ phiếu DQC, tương đương 4,91% vốn, với giá trị ước tính trên 100 tỉ đồng.

Mặc dù không nằm trong nhóm cổ đông lớn nhưng với lượng cổ phiếu đang nắm giữ, bà Thoa vẫn đứng vị trí thứ 6 trong nhóm cổ đông.

Con gái lớn của bà Thoa là Nguyễn Thái Nga đang giữ chức phó tổng giám đốc DQC từ tháng 6-2013 đến nay. Bà Nga sở hữu 4,1 triệu cổ phiếu, tương đương tỉ lệ sở hữu là 12,01%. Con gái thứ hai của bà Thoa là Nguyễn Thái Quỳnh Lê nắm giữ hơn 2,23 triệu cổ phiếu, tương đương 6,49%.

Em trai của bà Thoa là ông Hồ Quỳnh Hưng (hiện là chủ tịch HĐQT kiêm tổng giám đốc công ty) sở hữu hơn 2,5 triệu cổ phiếu DQC, tương đương tỉ lệ 7,33%.

Ngoài ra, các thành viên khác trong gia đình như bà Nguyễn Thị Mỹ Xuân (mẹ) nắm giữ 1,22 triệu cổ phiếu, tương đương 3,83%. Như vậy, với việc nắm giữ lượng cổ phiếu lớn của DQC, gia đình Thứ trưởng Hồ Thị Kim Thoa đang sở hữu khối tài sản lên tới hơn 718 tỉ đồng.


Phần nhận xét hiển thị trên trang

NHÌN RA BIỂN



Dồn hết cặn bã
đóng gạch xây tường
Những ngôi nhà siêu mỏng
ngay sát kề biển đông..
Anh đâu biết mình là tên khùng?
giữa xóm giềng tráo trở?
Bây giờ thì nắng và gió
cuồn cuộn giấc mơ cũ đổ về
H7 hay là H5 đều không quan trọng nữa
quan trọng bây giờ là qua bờ bến mê..
Những thợ giỏi đã tha phương cầu thực
còn lại trong thôn bọn tráo trở
vụng về
còn lại hoài nghi
khắc khoải..
Lẽ nào anh bỏ đi?
Ngày nắng quái
soi trên tường bình dị
Trong ngôi nhà siêu mỏng
anh nhất thời say mê..
Đêm
anh nhìn ra biển
Lấp lánh sao
gió thẽ thọt gọi về.
Suốt một đời mới thấy mình kì lạ!
mới thấy mình không làm được gì!
cuộc tình dài thế kỷ
bao giờ qua bến mê?

Phần nhận xét hiển thị trên trang

NẮNG ƠI LÀ NẮNG!



Buồn buồn giở nắng ra phơi
tưởng đâu nắng mới?
Vẫn trời nắng non!
Chưa huy hoàng
Đã hoàng hôn..
Vội vàng tráo đổi
Nguồn cơn hỡi người?
Lòng muốn khóc
miệng ta cười!
Nắng ơi là nắng
lạy trời nắng lên!!

Phần nhận xét hiển thị trên trang